1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

QUA TRINH PHAT TRIEN QDND

5 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 80,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nh[r]

Trang 1

ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH

LIấN ĐỘI TRƯỜNG TH HÀM NINH

Kớnh thưa:

Thầy giỏo Phạm Anh Huy Bớ thư chi bộ, hiệu trưởng nhà trường

Cụ giỏo Hoàng Thị Ngoan Chủ tịch cụng đoàn, phú hiệu trưởng nhà trường

Quý thầy cụ trong nhà trường cựng toàn thể cỏc em học sinh thõn mến

Trong không khí hân hoan mà cả nớc đang hớng đến kỉ niệm 67 năm ngày thành lập QĐNDVN và 22 năm ngày QPTD 22/12 Tháng cao điểm mà cả Huyện tổ chức HKPĐ cấp huyện, các em cũng đang gấp rút dành hết thời gian vào học tập cho kì thi cuối học kì 1

Hôm nay đợc sự cho phép của chi bộ, công đoàn nhà trờng tôi xin thay mặt BCH chi đoàn, BCH Liên đội trờng TH Hàm Ninh Thông qua ngày truyền thống QĐNDVN

nh sau:

Quỏ trỡnh phỏt triển

Tiền thõn của Quõn đội Nhõn dõn Việt Nam là đội Việt Nam Tuyờn truyền Giải phúng quõn, được thành lập ngày 22 thỏng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc huyện Nguyờn Bỡnh, Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sỹ (3 nữ) do Vừ Nguyờn Giỏp chỉ huy chung; Hoàng Sõm được chọn làm đội trưởng; Xớch Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chớnh trị viờn, Hoàng Văn Thỏi phụ trỏch tỡnh bỏo và kế hoạch tỏc chiến; Lõm Cẩm Như, tức Lõm Kớnh, phụ trỏch cụng tỏc chớnh trị; Lộc Văn Lựng tức

Văn Tiờn làm quản lý

Lễ thành lập Việt Nam Tuyờn truyền Giải phúng Quõn

Ngày 15 thỏng 4 năm 1945, Hội nghị Quõn sự cỏch mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hũa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyờn truyền Giải phúng quõn sỏt nhập với lực lượng Cứu quốc quõn do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tờn thành Giải phúng quõn, lực lượng quõn sự chớnh của Việt Minh để giành chớnh quyền năm 1945 Lễ hợp nhất được

tổ chức ngày 15 thỏng 5 năm 1945 tại Chợ Chu (Thỏi Nguyờn)

Trang 2

Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944 Ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân

Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính quy Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt

Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân Lúc này

quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc

Bộ và Trung Bộ Một số chi đội "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công ở Nam Bộ

Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc

đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam[1], được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự [2] Trong thời kỳ 1945-1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ (Xem bài Chiến sĩ "Việt Nam mới")

Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh Có súng máy hạng nặng và súng cối

Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt

Nam.

Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh, cũng đã thành thạo việc đánh công kiên Biên chế các trung đoàn này đến nay vẫn còn như vậy, rất đặc trưng Việt Nam [3] Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950-1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351 Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong sư đoàn 351 như trung đoàn 237 (Cối lớn, trung

đoàn 367 (phòng không 37mm) Sư 351 còn dược gọi là bộ binh nặng, công pháo (công

binh, pháo binh)

Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân trong lịch sử thế giới của thế kỷ

20 Sau năm 1954, bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa Cuối chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam

có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích

Trang 3

Quân phục thường ngày K-03 của HSQ-CS Việt Nam từ 2003 đến nay

Sau 1954, Hoa Kỳ bắt đầu nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp, lập nên chế độ Việt Nam Cộng hòa và ngăn chặn việc thi hành hiệp định Geneve thống nhất Việt Nam Với mục tiêu đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam Người

Mỹ thường phân biệt họ với Quân đội Nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam") Cách gọi này xuất phát từ động cơ tuyên truyền, lợi dụng tên gọi vùng miền để biện hộ cho lý do tham chiến của Mỹ, cũng như gây chia rẽ nhân tâm người dân miền Nam Thực chất, Quân Giải phóng miền Nam cũng là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, không có gì phân biệt về vùng miền, tổ chức, chỉ huy Đây là lực lượng Vệ quốc đoàn còn ở lại miền Nam Việt Nam, kết hợp bộ phận tăng viện của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ miền Bắc và lực lượng chiêu mộ tại chỗ, thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Với mục tiêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào"[4], Quân đội Nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đánh bại 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ, buộc Mỹ phải rút quân viễn chinh khỏi Việt Nam qua hiệp định Paris kí năm 1973 Mất đi chỗ dựa từ Mỹ, chỉ 2 năm sau, hơn 1 triệu quân của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng bị Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh tan chỉ sau 55 ngày đêm của chiến dịch Mùa Xuân 1975

Nhờ sự kiên trì xây dựng từng bước lực lượng cũng như viện trợ của khối xã hội chủ nghĩa, năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam là đạo quân đông thứ 5 trên Thế giới, với gần 300 ngàn quân chủ lực và 700 ngàn du kích [5]

Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam Do yêu cầu tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Đông Dương, lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm được phát triển lên đến 1,1 triệu quân thường trực Theo C Thayer, viện trợ quân

Trang 4

sự của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1974 - 1989 lên đến chừng 14,5 tỷ đô

la [6] Sau những năm 1990, với việc Việt Nam hoàn tất rút quân khỏi Campuchia và bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam thực hiện việc cắt giảm quân đội Theo CIA hiện nay quân đội Việt Nam có hơn 400.000 quân bộ, hơn 50.000 lính hải quân và hơn 30.000 lính không quân

Trang 5

Các trận đánh lớn

Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã chiến đấu liên miên từ 1940 đến 1989 với 4 trong số 5 cường quốc:

 Chiến tranh thế giới thứ hai (Chống lại Đế Quốc Nhật Bản)

 Chiến tranh Đông Dương (Chống lại Cộng Hòa Pháp)

 Chiến tranh Việt Nam (Chống lại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và các đồng minh)

 Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia (Chống lại Kampuchea Dân Chủ)

 Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 (Chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa)

 Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990 (Chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa)

 Xung đột Thái Lan-Việt Nam 1982-1988 (Chống lại Vương Quốc Thái Lan và Khmer Đỏ)

 Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan (Chống lại Vương Quốc Thái Lan và bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)

 Xung đột năm 1997 tại Campuchia (Chống lại Khmer Đỏ và bảo vệ đồng minh Vương Quốc Campuchia)

bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)

 Các xung đột khác (chống lại phiến quân FULRO )

Các trận chiến quan trọng

 Chiến dịch Việt Bắc 1947

 Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng 1949

 Chiến dịch Biên giới 1950

 Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch đường 18) 1951

 Chiến dịch Tây Bắc 1952

 Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (chấm dứt Chiến tranh Đông Dương )

 Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968

 Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh 1968

 Chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971

 Chiến dịch Xuân hè 1972

 Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (trận Điện Biên Phủ trên không) 1972

 Chiến dịch Tây Nguyên 1975

 Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 (chấm dứt Chiến tranh Việt Nam )

Hµm Ninh, ngµy 12 th¸ng 12 n¨m 1011

TM.BCH CHI §OµN

GV TPT: Hoµng Hµ B¾c

Ngày đăng: 14/06/2021, 11:17

w