Việc Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là điều hoàn toàn phù hợp quyền dân tộc tự quyết, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp
Trang 1Về vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước
và xã hội
Trong quá trình thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có một số ý kiến khác nhau chung quanh quy định về vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Về vấn đề này chúng tôi có một số ý kiến như sau:
1- Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng Cộng sản Việt Nam có cơ sở lịch sử, chính trị - tư tưởng và pháp lý rõ ràng, vững chắc
Về mặt lịch sử, hơn 80 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay, Ðảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất
tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh gian khổ trong sự nghiệp cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược Công cuộc đổi mới đất nước do Ðảng
ta khởi xướng, lãnh đạo hơn 27 năm qua tạo nên vị thế mới của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế Vì lẽ đó, Ðảng Cộng sản Việt Nam xác lập được vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua uy tín của Ðảng và niềm tin của nhân dân
Về chính trị - tư tưởng, Ðảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; mục tiêu của Ðảng là xây dựng một xã hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Mục tiêu đó phản ánh chân thực và khách quan khát vọng của đại đa số quần chúng nhân dân ta và phù hợp với xu thế phát triển lịch sử
Về pháp lý, vai trò lãnh đạo của Ðảng được quy định tại Ðiều 4 của Hiến pháp năm 1992 được các đại biểu Quốc hội - đại diện cho nhân dân biểu quyết thông qua Việc Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là điều hoàn toàn phù hợp quyền dân tộc tự quyết, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc
Như vậy, vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Ðảng là đương nhiên và hợp pháp
2- Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là căn cứ xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật, điều chỉnh các mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị, kinh
Trang 2tế, xã hội và công dân Do đó, việc Hiến pháp khẳng định về mặt nguyên tắc Ðảng "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" không phải do Ðảng tự đề xướng, mà là có tính chất bắt buộc đối với chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật Vi phạm nguyên tắc này là vi phạm pháp luật, phải bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật
Ðồng thời, vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước và xã hội không chỉ được quy định trong Hiến pháp, mà còn được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hoặc điều lệ của các cơ quan, tổ chức tùy theo mối quan hệ cụ thể Như vậy, có thể nói, vai trò lãnh đạo của Ðảng được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Ðiều lệ Ðảng "đơn phương" quy định Ðây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ của quy định tại Ðiều 4 Hiến pháp và Ðiều lệ Ðảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội về mối quan hệ của Ðảng với các tổ chức khác
3- Với vai trò là hạt nhân chính trị trong hệ thống chính trị, Ðảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước Sự lãnh đạo chính trị của Ðảng được thể hiện thông qua quyền quyết định và quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị
Ðảng quyết định và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và phát triển của đất nước Quyền lực chính trị của Ðảng được kết tinh trong cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị, chủ trương tạo lập khung chính trị cho sự phát triển của đất nước, của từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp trong mỗi giai đoạn phát triển
Lý luận và thực tiễn phát triển của các quốc gia trên thế giới ngày nay cho thấy, bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc ở chỗ, Ðảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế Về sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay nhiều đảng, mà phụ thuộc vào tính khoa học, sáng tạo của đường lối phát triển đất nước và năng lực lãnh đạo của Ðảng cầm quyền Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể xem
Trang 3là căn cứ để đánh giá tính chất, trình độ của một nền dân chủ và sự năng động của nền kinh tế Sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản duy nhất cầm quyền đối với xã hội và Nhà nước không những không mâu thuẫn với bản chất của nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta
Do vậy, nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN
4- Ðảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tuy nhiên, trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, quyền lực của Ðảng luôn là quyền lực chính trị Ðảng cầm quyền, không có nghĩa là quyền lực chính trị của Ðảng trở thành quyền lực nhà nước Quyền lực chính trị của Ðảng cầm quyền và quyền lực nhà nước là hai phạm trù khác nhau, mặc dù liên quan mật thiết với nhau Quyền lực chính trị của Ðảng cầm quyền trong mối quan hệ với Nhà nước được thể hiện trên hai phương diện: quyền định hướng chính trị cho tổ chức và hoạt động của nhà nước và quyền sử dụng bộ máy nhà nước để thực hiện các mục tiêu chính trị của mình Ðảng cầm quyền không thực hiện quyền lực nhà nước và phải thông qua bộ máy nhà nước để thực hiện cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của mình Ðảng không làm thay công việc của Nhà nước Do vậy để đảm đương sứ mệnh cầm quyền, Ðảng phải chăm lo xây dựng, củng cố bộ máy nhà nước, bảo đảm cho bộ máy nhà nước thực hiện đúng các chức năng, nhiệm vụ theo luật định
Năng lực cầm quyền của Ðảng được xác định bởi năng lực xây dựng và quyết định đường lối chính trị; năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên được Ðảng giới thiệu để bầu cử (bổ nhiệm) vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước và bởi năng lực kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị của Ðảng trong hoạt động nhà nước Vì vậy, để thực hiện được vai trò cầm quyền của mình mà không làm thay công việc Nhà nước, Ðảng cần tập trung trí tuệ và bộ máy của mình vào thực hiện tốt ba công tác cơ bản: Xây dựng và quyết định đường lối chính trị; đào tạo, rèn luyện một đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ và uy tín để thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị của Ðảng thông qua các hoạt động của nhà nước; kiểm soát được quá trình thực hiện đường lối chính trị trong thực tiễn Có thể khái quát rằng, ba nhóm công tác cơ bản này về thực chất hợp thành nội dung cầm quyền của Ðảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Trang 45- Trong lịch sử, Ðảng Cộng sản Việt Nam xác lập được vị trí cầm quyền của mình thông qua uy tín của Ðảng, niềm tin của nhân dân và hiệu quả lãnh đạo của Ðảng đối với xã hội Trong bối cảnh mới, Ðảng chỉ có thể tiếp tục giữ vững được vị trí cầm quyền của mình khi uy tín của Ðảng trong xã hội tiếp tục được khẳng định và không ngừng nâng cao, khi niềm tin của nhân dân đối với Ðảng tiếp tục được củng cố, hiệu quả lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội được tăng cường
Mọi sự lạm dụng vốn uy tín và niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Ðảng được xây đắp trong các thời kỳ cách mạng sẽ dẫn đến nguy cơ làm suy giảm uy tín của Ðảng, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Ðảng Ðúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: "Nếu Ðảng ta không thật vững vàng về chính trị,
tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên"(Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI)
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ một số nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác xây dựng Ðảng Ðể đảm đương được vai trò lãnh đạo, Ðảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo
6- Trong điều kiện hiện nay của nước ta, các thế lực thù địch đang âm mưu
"diễn biến hòa bình", sử dụng chiêu bài "dân chủ" và tự do, đa nguyên chính trị, đa đảng, hòng từng bước làm thay đổi chế độ chính trị Mục tiêu của chúng
là từng bước hạn chế, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam Phương thức hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu đó là thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là xóa bỏ Ðiều 4 Hiến pháp năm 1992
Kinh nghiệm lịch sử về sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 cho thấy, xóa bỏ quy định về vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Liên Xô trong Hiến pháp là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm tan rã Ðảng và chế độ xã hội chủ nghĩa Ðiều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 quy định: "Lực lượng lãnh đạo và dẫn dắt
xã hội Xô-viết và hạt nhân của hệ thống chính trị, của tất cả các tổ chức nhà nước và tổ chức xã hội, là Ðảng Cộng sản Liên Xô Ðảng là của dân, và vì dân Ðảng Cộng sản, được trang bị bằng Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, quyết định mô hình chung cho sự phát triển của xã hội và đường lối đối nội và đối ngoại của Liên
Trang 5Xô, chỉ đạo các kế hoạch lớn của nhân dân Xô-viết, và có vai trò lên kế hoạch,
hệ thống hóa và chứng minh lý thuyết trong cuộc đấu tranh của nhân dân vì sự
thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản Mọi tổ chức đảng hoạt động trong khuôn khổ
Hiến pháp Liên Xô"
Do sự phản bội của ban lãnh đạo Ðảng, bằng lập luận "Ðảng Cộng sản Liên Xô
thông qua bầu cử, giành lấy và duy trì vị thế của Ðảng cầm quyền ", Nghị
quyết của Ðại hội đại biểu bất thường lần thứ ba của Ðảng Cộng sản Liên Xô tổ
chức ngày 12-3-1990, đã sửa đổi Lời nói đầu và Ðiều 6 của Hiến pháp năm
1977 nhằm xóa bỏ cơ sở pháp lý của việc Ðảng Cộng sản Liên Xô cầm quyền
suốt 73 năm kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Chỉ sau một năm, đã có khoảng
20 chính đảng cấp Liên bang, hơn 500 chính đảng cấp nước cộng hòa là những
lực lượng chính trị góp sức làm suy yếu, tan rã Ðảng Cộng sản Liên Xô Và cuối
tháng 8-1991, Ðảng Cộng sản Liên Xô bị giải tán, ngày 25-12-1991 là ngày tồn
tại cuối cùng của Liên Xô
7- Với những căn cứ trên đây, chúng tôi cho rằng, cần tiếp tục nghiên cứu bổ
sung, hoàn thiện quy định về vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam
trong dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013)
- Hoàn thiện quy định về Ðảng theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): "Ðảng Cộng sản
Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong
của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc"
- Ðể thắt chặt mối quan hệ giữa Ðảng và nhân dân, nghiên cứu bổ sung trong
Hiến pháp quy định "Tổ chức và hoạt động của Ðảng chịu sự giám sát của nhân
dân và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình trước nhân dân" Trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà
nước Do vậy, vị trí cầm quyền, nội dung và phương thức lãnh đạo của Ðảng đối
với Nhà nước và xã hội phải chịu sự giám sát của nhân dân và phải được hiến
định để tạo cơ sở luật hóa theo đúng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời do nhu cầu thực hiện sự chuyển biến khách quan từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
Cho đến nay, chủ nghĩa xã hội đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau Là sự phản ánh bằng lý luận phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, mỗi bước tiến của phong trào này đều làm nảy sinh các vấn đề thực tiễn đòi hỏi được giải đáp về lý luận, đồng thời cung cấp những chất liệu mới cho sự khái quát lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học Sự sống của chủ nghĩa xã hội khoa học thể hiện trong các giai đoạn phát triển của nó
Sau khi Lênin mất (21-2-1924), sự phát triển của chủ nghĩa xã hội bước sang một thời kỳ mới với những đặc điểm chủ yếu như: Lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học từng bước được vận dụng vào các cuộc cách mạng vô sản của nhiều quốc gia trên toàn thế giới Trong quá trình vận dụng, một số nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học đã được điều chỉnh, hoặc phát triển thêm sao cho phù hợp với điều kiện của từng quốc gia Và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện sau một thời gian phát triển lâm vào thời kỳ thoái trào, đòi hỏi cần phải có sự đổi mới và nhận
Trang 6thức lại đối với chủ nghĩa xã hội thời kỳ mới
Với tư cách là một bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời là cơ sở lý luận và là kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của hầu hết các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa giai đoạn sau V.I.Lênin Có thể chia quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn sau V.I Lênin qua các thời kỳ sau đây:
- Thời kỳ thứ nhất: từ sau V.I Lênin mất đến kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1924-1945)
- Thời kỳ thứ hai: từ năm 1945 đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX
- Thời kỳ thứ 3: Từ cuối những năm 1970 đến cuối nhữn năm 90 của thế kỷ XX
- Thời kỳ hiện nay
NỘI DUNG
CÁC ĐẢNG CỘNG SẢN BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN VÀ VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Sau khi Lênin mất, sự phát triển và vận dụng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học tập trung ở đại hội quốc tế cộng sản, ở cương lĩnh, Nghị quyết của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế Sự phát triển và vận dụng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học được thể hiện ở một số nội dung cơ bản như sau:
1 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản trong điều kiện lịch sử mới
Sau khi nội chiến kết thúc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhân dân Xô Viết đã xây dựng một đất nước từ lạc hậu trở thành một cường quốc công nghiệp hùng mạnh, trở thành một lực lượng chủ yếu tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phát hiệnệt, cứu loài người ra khỏi thảm họa phát xít vào những năm 40 Cùng với thắng lợi vĩ đại ấy, chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển ra nhiều nước, trở thành một hệ thống tác động lớn lao của chiến thắng này còn làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đường cho nhiều nước giành được độc lập ở những mức độ khác nhau Sau khi trở thành hệ thống thế giới, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Đảng Cộng sản Liên Xô trưởng thành về mọi mặt, chuyên chính vô sản ở Liên Xô ngày càng được củng cố vững chắc
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933, nguy cơ phát xít lên nắm quyền ngày càng tăng Các Đảng Cộng sản thì chưa đủ mạnh để dẫn dắt quần chúng trong những trận đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít đi đến thắng lợi
Trước tình hình đó, quốc tế cộng sản quyết định phải giúp xây dựng các Đảng Cộng sản vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin các đảng đó áp dụng học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước mình Đảng đó phải thực sự là đảng có tính chất quần chúng Đảng có tính chất quần chúng là Đảng mà trong bất cứ điều kiện nào (hợp pháp và không hợp pháp) cũng phải duy trì liên hệ mật thiết với các tầng lớp nhân dân đông đảo, phải là những người biểu hiện nhu cầu và nguyện vọng của họ, đảng phái chống chủ nghĩa biệt phái, và chủ nghĩa giáo điều; đảng phái có tính chất tập trung và nhất trí, lo cho phép bè phái trong hàng ngũ của mình, phải làm công tác tổ chức và tuyên truyền trong quân đội
Quốc tế cộng sản còn chỉ rõ, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở mỗi nước, cần phải có sự thống nhất của giai cấp công nhân và phải có một đảng thống nhất của giai cấp công nhân, đảng đó phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:
Một là, có sự độc lập hoàn toàn đối với giai cấp tư sản và khối xã hội - dân chủ, hoàn toàn đoạn tuyệt với giai cấp tư sản
Hai là, sự thống nhất hành động phải được thực hiện trước
Ba là, thừa nhận sự cần thiết phải dùng cách mạng để lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và thiết lập chuyên chính vô sản dưới hình thức Xô - Viết
Bốn là, không ủng hộ giai cấp tư sản trong cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa
Năm là, xây dựng Đảng trên cơ sở thiết lập chế độ tập trung dân chủ, chế độ này đảm bảo sự thống nhất ý chí hành động và đã được chứng thực bằng kinh nghiệm của những người Bôn sê vích Nga
2 Lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng ở những nước thuộc địa
Khác với các cuộc cách mạng trước đây - chỉ là sự chuyển biến từ xã hội có áp bức, bóc lột này sang xã hội có áp bức, bóc lột khác - cách mạng xã hội chủ nghĩa là một sự chuyển biến sang xã hội không có áp bức, bóc lột
Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cao trào đấu tranh chính trị, trong đó quần chúng lao động mà lực lượng tiên phong là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện bước quyết định tạo nên bước ngặt lịch sử - lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền Chính quyền được coi là mục tiêu chính trị cơ bản của cách mạng, do đó, việc chuyển chính quyền từ tay giai cấp tư sản sang giai cấp cách mạng được xem như dấu hiệu kết thúc cách mạng
Theo nghĩa rộng: cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình cải biến cách mạng toàn diện, triệt để và lâu dài Quá trình này bắt đầu từ khi giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó, tự giác lãnh đạo các tầng lớp quần chúng lao động và các lực lượng tiến bộ khác, hướng sức mạnh vào lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền mới làm công cụ để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Quá trình này chỉ kết thúc khi xã hội mới được tạo lập hoàn toàn và vững chắc Cách mạng xã hội chủ nghĩa, hiểu theo nghĩa rộng, sẽ bao gồm cả một thời đại lịch
sử của mỗi quốc gia, dân tộc, và trong bức tranh toàn cảnh, là một thời đại nổi bật trong lịch sử toàn nhân loại
Trên cơ sở phân tích sâu sắc về chủ nghĩa đế quốc, Quốc tế cộng sản và các Đảng Cộng sản chỉ rõ: các mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc ngày càng phát triển gay gắt thêm - đặc biệt là mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc Do sự phát triển không đểu của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa dẫn đến các mức độ chín muồi của cách mạng ở các nước riêng rẽ, từ đó tạo ra các điều kiện đặc thù, đa dạng của quá trình cách mạng Đại hội VI Quốc tế cộng sản chỉ rõ: ở nhiều nước thuộc địa, lạc hậu, sau thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nói chung với điều kiện có sự giúp đỡ, ủng hộ của nhà nước chuyên chính vô sản và phong trào công nhân quốc tế Cương lĩnh của Quốc tế cộng sản còn nêu rõ 3 loại hình cách mạng ở 3 loại nước khác nhau
Trên cơ sở phân tích sâu sắc giai cấp phong kiến và giai cấp tiểu tư sản, các văn kiện của Quốc tế cộng sản và các Đảng Cộng sản chỉ rõ: chẳng những phong kiến mà cả giai cấp tư sản dân tộc bấp bênh vẫn luôn luôn tạo ra nguy cơ thỏa hiệp với bọn đế quốc Từ đó đi đến khẳng định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cấu thành của cách mạng thế giới và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc
Để đảm bảo cho các mạng ở những nước thuộc địa và nửa thuộc địa giành thắng lợi Quốc tế cộng sản xác định: trước hết là thành lập và phát triển các Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp thiết nhất
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) đã đề ra đường lối cách mạng hoàn toàn đúng đắn cho phong trào cách mạng Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng Việt Nam tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa Đây là cương lĩnh cách mạng chống đế quốc và phát triển triệt để, soi sáng bước đi cho cách mạng Việt Nam
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định quyền lãnh đạo cách mạng Nội dung được xác định trong chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và những nội dung chiến lược chỉ đạo được xác định trong các Nghị quyết Trung ương là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, chỉ đạo cách mạng trong việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và dân chủ cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, đưa cách mạng Việt Nam phát triển đúng xu hướng của thời đại đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Điều cốt tử trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là lấy dân làm gốc, và sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định con đường phát triển của cách mạng
Với đường lối đúng đắn, sáng tạo, cách mạng Việt Nam đã giành thắng lợi năm 1945, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á
3 Những vấn đề chiến lược, sách lược trong giai đoạn cách mạng mới
Sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân muốn giành được thắng lợi cần có sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản chân chính Song, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đó phải có chiến lược đúng đắn, đồng thời phải có sách lược mềm dẻo, linh hoạt, phải tạo ra sự thống nhất hành động của giai cấp công nhân, tạo ra tính tích cực về chính trị của giai cấp công nhân và sự đonà kết các lực lượng của nó thành một đội quân chiến đấu thống nhất, có tinh thần cảnh giác và kịp thời hành động
Đại hội VI Quốc tế cộng sản đã kiến nghị với tất cả các Đảng Cộng sản triển khai đấu tranh để đoàn kết nông dân, tiểu tư sản thành thị và quần chúng lao động của các dân tộc bị áp bức thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống phát xít trên cơ sở mặt trận vô sản thống nhất
Chủ trương thành lập mặt trận thống nhất nhằm tập hợp lực lượng đông đảo chống chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh thế giới, thể hiện sách lược mềm dẻo, linh hoạt của Quốc tế cộng sản và các Đảng Cộng sản ở từng nước
4 Đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân
Trang 7Có thể nói sự thống nhất, đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân là điều kiện cần thiết để giai cấp này thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình Lênin viết: “Sự thống nhất như thế quý giá vô ngàn, quan trọng vô cùng, đối với giai cấp công nhân Công nhân rời rạc thì không thành cái gì cả Công nhân liên hợp lại thì là tất cả” (Sđd, 1980, tr.24, tr 242)
Để thực hiện chính sách xâm lược, đàn áp, bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở thuộc địa, chiến đấu đã dùng nhiều thủ đoạn Vì vậy, cách mạng ở thuộc địa và nửa thuộc địa muốn giành thắng lợi không những phải thực hiện đoàn kết công - nông - trí thức trong dân tộc, mà còn phải thực hiện đoàn kết quốc tế
Quốc tế cộng sản xác định: nhiệm vụ quan trọng nhất của các Đảng Cộng sản ở các nước đế quốc là phải có mối liên hệ với các công đoàn cách mạng ở chính quốc và các tổ chức cách mạng ở thuộc địa Khi phát xít Đức tấn công Liên Xô, Quốc tế cộng sản kêu gọi các Đảng Cộng sản phải đoàn kết các lực lượng yêu nước và tiến bộ chống phát xít xâm lược và bảo vệ Liên Xô, bảo vệ Liên Xô là bảo vệ tự do cho các dân tộc, là thước đo tinh thần quốc tế vô sản của những người cộng sản thế giới
Một biểu hiện của tình đoàn kết quốc tế cao cả, đoàn kết giai cấp công nhân: Quốc tế cộng sản đã kết nạp nhiều Đảng Cộng sản ở thuộc địa và nửa thuộc địa vào Quốc tế cộng sản - là một chi bộ của Quốc tế cộng sản Mặt khác bản thân Quốc tế cộng sản và các chương trình hoạt động của nó đã phản ánh đầy đủ tinh thần đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân trong giai đoạn này
Nhận xét:
Có thể nói thời kỳ thứ nhất này là thời kỳ mà lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học được vận dụng và phát triển một cách toàn diện từ lý luận đến hiện thực trên phạm vi một quốc gia Thời kỳ này, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học tiếp tục được các nhà lãnh đạo Xô Viết vận dụng một cách toàn diện để xây dựng và phát triển một chế độ xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế; chính trị - xã hội và văn hóa - tư tưởng Tính đúng đắn của lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học đã thể hiện thành tính ưu việt của chế độ mới, lần đầu tiên đưa nước Nga từ một quốc gia tư bản yếu kém trong hệ thống các nước tư bản cuối thời kỳ IX, đầu thời kỳ XX, trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa mang tính đặc tính ưu việt, đồng thời trở thành một trong những cường quốc trên thế giới
Vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là hợp lòng dân,
hợp hiến, hợp pháp
Với những thắng lợi giành được trong hơn 83 năm qua dưới sự
lãnh đạo của Ðảng, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến
đã trở thành một nước độc lập, tự do, phát triển theo con đường
XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ
đất nước, làm chủ xã hội, đất nước ta đã ra khỏi tình trạng kém
phát triển, thế và lực của đất nước không ngừng được nâng cao,
quan hệ quốc tế không ngừng được mở rộng Những thành tựu
trên đây không thể có được nếu không có sự lãnh đạo của Ðảng.
Vai trò lãnh đạo của Ðảng là phù hợp với chế độ chính trị và quy
luật phát triển đất nước Việt Nam
Hiến pháp năm 1992 đã xác định chế độ chính trị của nước ta là Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Chế độ ta là chế độ
XHCN Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Ðảng đã khẳng
định: "Ði lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng
đắn của Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử" (1) Ðảng Cộng sản Việt Nam
là lực lượng đại diện cho con đường XHCN - con đường hợp với quy
luật phát triển khách quan của đất nước do lịch sử và nhân dân đã lựa
chọn, chỉ có ÐCS lãnh đạo mới thực hiện được con đường XHCN thực
hiện được ý nguyện của nhân dân Chế độ XHCN và con đường
XHCN, vì vậy, tất yếu phải do ÐCS lãnh đạo mà không có một lực lượng
nào có thể thay thế được Ðây là sự thống nhất giữa xu thế khách quan
của sự phát triển đất nước với nguyện vọng của nhân dân, của toàn xã
hội Chỉ có đi theo con đường XHCN do ÐCS lãnh đạo thì mới thực hiện
được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 8Ngày nay trên thế giới, Hiến pháp của nhiều nước đều quy định về đảng chính trị Ðảng cầm quyền đã trở thành một khái niệm chính trị - pháp lý quốc tế Ðảng cầm quyền có thể là một đảng hoặc liên minh nhiều đảng nhưng có một đảng chi phối tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các đảng, vào kết quả bầu cử, vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước Chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo đều có mặt ưu và nhược
do điều kiện cụ thể mỗi nước, mỗi giai đoạn lịch sử quy định Vấn đề là
ở chỗ bản chất của đảng cầm quyền đó như thế nào, nó phục vụ cho giai cấp, tầng lớp xã hội nào Thực tế các nước trên thế giới đã cho thấy không phải cứ một đảng thì đất nước không phát triển được hoặc đa đảng thì mới phát triển được Có nước một đảng lãnh đạo (như Trung Quốc) nhưng phát triển rất nhanh, mạnh trong suốt hơn 30 năm qua, trong khi đó nhiều nước phương Tây theo chế độ đa đảng lại lâm vào khủng hoảng tài chính - kinh tế, khủng hoảng nợ công kéo dài, kinh tế trì trệ, suy thoái, có nước phải hơn một năm mới lập được Chính phủ mới
Ở Việt Nam, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước VNDCCH, ÐCSVN trở thành Ðảng cầm quyền Lúc đó ngoài Ðảng Cộng sản Việt Nam, còn có hai đảng đối lập là Việt quốc và Việt cách Lúc đó vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước được thực hiện thông qua vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ, đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước và chính quyền các cấp Ðến cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta di chuyển lên Việt Bắc để lập căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Còn hai đảng kia bỏ chạy ra nước ngoài theo gót chân của ngoại bang Như vậy thời kỳ đa đảng đối lập ở nước ta chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn Sau này có một thời kỳ, ngoài ÐCS, trong hệ thống chính trị nước ta còn có Ðảng Dân chủ và Ðảng Xã hội Cả hai Ðảng này đều tự nguyện chịu sự lãnh đạo của ÐCSVN, đi theo đường lối của ÐCSVN Ðến năm 1988 các Ðảng này đều tuyên bố tự giải tán Từ đó đến nay trong hệ thống chính trị nước ta, ÐCSVN là đảng duy nhất, độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đảng duy nhất cầm quyền, chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc Ðảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội đi vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vững bước trên con đường độc lập dân tộc và CNXH
Trang 9Như vậy chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là ÐCSVN đã được thực tiễn lịch sử quy định, nhân dân lựa chọn Ở Việt Nam không có cơ
sở khách quan để hình thành chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không một lực lượng nào, đảng phái nào, ngoài ÐCSVN có thể lãnh đạo dân tộc trên con đường đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong điều kiện một Ðảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền, Ðảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới,
tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền Ðảng phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Ðảng và ngoài xã hội, giữ vững đoàn kết, tăng cường kỷ luật, kỷ cương Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống những nguy cơ đối với một Ðảng cầm quyền là nguy cơ sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, xa dân, tham nhũng, sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước là nhân tố quyết định sự hoạt động, bản chất cách mạng và sức mạnh của Nhà nước Ðảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện, làm thay công việc Nhà nước Ðảng lãnh đạo phải làm sao phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước Tính hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước là thể hiện sức mạnh, năng lực lãnh đạo, hiệu quả lãnh đạo của Ðảng Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa Ðảng và Nhà nước, thể chế hóa vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Ðảng, tránh chồng chéo giữa chức năng lãnh đạo của Ðảng với chức năng quản lý của Nhà nước
Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ÐCSVN qua sửa đổi Hiến pháp 1992
Kế thừa Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ÐCSVN đối với Nhà nước và xã hội Ðiều 4 của Dự thảo là khẳng định cơ sở pháp lý, là sự Hiến định về vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của ÐCSVN Ðây là điều cực kỳ quan trọng của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Sau khi Hiến pháp 2013 được thông qua, Ðiều 4 của Hiến pháp - đạo luật gốc, văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng nhất của Nhà nước ta, sẽ là chỗ dựa pháp lý cho sự tồn tại, hoạt động, lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng Cộng sản Việt Nam
Trang 10Các thế lực thù địch trong âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng nước ta đều muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhằm đưa nước ta đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa, thủ tiêu thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã phải hy sinh biết bao xương máu mới giành được Vì vậy kiên định với vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là thể hiện lập trường chính trị, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên
Ðiều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 so với Hiến pháp 1992 đã
có một số đổi mới, bổ sung quan trọng:
- Thể hiện đầy đủ hơn bản chất của Ðảng theo tinh thần Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
- Thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Ðảng đối với nhân dân, dân tộc
- Thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn trách nhiệm của nhân dân đối với Ðảng
và đối với việc xây dựng Ðảng
- Thể hiện đầy đủ hơn yêu cầu của Nhà nước pháp quyền là các tổ chức của đảng và đảng viên (không chỉ là "tổ chức của đảng" như Hiến pháp 1992 quy định) phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Tuy nhiên cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện về nội dung và hình thức diễn đạt của Ðiều 4 cho phù hợp hơn Ngoài những nội dung hợp lý đã
có trong Dự thảo sửa đổi, cần:
Bổ sung thuật ngữ "Ðảng cầm quyền" vì đây là thuật ngữ chính trị -pháp lý đã được thế giới thừa nhận: "Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội"
- Nói rõ: Ðảng chịu trách nhiệm trước nhân dân, dân tộc (không chỉ chịu trách nhiệm về những quyết định của mình như trong Dự thảo, như vậy
sẽ bị hẹp)
- Có thể bổ sung về phương thức lãnh đạo của Ðảng (theo tinh thần
Cương lĩnh năm 2011) để cho thấy rõ Ðảng lãnh đạo bằng phương thức dân chủ, khoa học, không áp đặt
- Dùng từ "mọi" thay cho từ "các": "Mọi tổ chức của đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"
Việc quy định vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp và pháp luật là cực kỳ quan trọng Tuy nhiên để xứng đáng là Ðảng cầm quyền, là người lãnh đạo Nhà nước và xã hội, điều quan trọng hơn là Ðảng phải đẩy mạnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với