Trong khi những nhà thơ khác chọn những hướng đi màu sắc như phản ánh đau thương chiến tranh, yêu quê hương, đất nước hay thể hiện cái tôi cá nhân một cách riêng biệt thì trong khi đó Tr
Trang 1Câu 1: Phân tích bài thơ “Hạt gạo làng ta” của Trần
Đăng Khoa.
Trần Đăng Khoa_ “nhà thơ sinh ra để đi lạc”, đó là ý kiến nhận xét của nhiều nhà phê bình văn học Trong khi những nhà thơ khác chọn những hướng đi màu sắc như phản ánh đau
thương chiến tranh, yêu quê hương, đất nước hay thể hiện cái tôi cá nhân một cách riêng biệt thì trong khi đó Trần Đăng Khoa lại chọn cho mình một tiếng nói hồn nhiên của con trẻ, nhà thơ
đã đi lạc” trong thực tế không khí ác liệt chiến tranh và làm cho bao người đọc lạc mãi trong những vần thơ hồn nhiên, trẻ con
mà thấm đẫm tình yêu quê hương, yêu gia đình đó là bài “Hạt gạo làng ta”_một trong những bài thơ tiêu biểu trong tập
“Khoảng sân và góc trời” Bài thơ được tác giả sáng tác năm 11 tuổi Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng thơ của Trần Đăng Khoa để hiện rằng đây là một cậu bé chín chắn Cách ông làm thơ, cách ông lựa chọn từ ngữ và hình ảnh, mọi thứ đều rất sắc Bài thơ ra đời tiếp tục gây được ấn tượng mạnh với độc giả Hạt gạo vốn
dĩ đã quen thuộc với người dân Việt Nam nay được đem vào trong thơ Tuy đề tài không mới nhưng cách thể hiện, cách
chiêm nghiệm của tác giả lại mới mẻ và đầy sức thuyết phục Không vòng vo, không dùng cách nói phiếm chỉ mà với tính cách bộc trực của một đứa trẻ con lên 11 tuổi, Trần Đăng Khoa
đã gọi tên hạt gạo Việt Nam thật thân thương “Hạt gạo làng ta” Hạt gạo không nằm đâu xa xôi mà nó ở ngay trong làng ta
và thật kì diệu hạt gạo làng ta có không giống như những hạt gạo khác, hương vị của nó được kết tinh từ những tinh túy phù
sa của sông Kinh Thầy Hạt gạo không chỉ trắng trong, không phải là vị ngọt ở đầu lưỡi của chất glucozo và đặc biệt thay là vị phù sa, hương không chỉ thơm mà “hương sen thơm trong hồ nước đầy” Người đọc không khỏi liên tưởng đến hạt gạo trắng trong, căn mọng như những búp sen “no nước và bùn non” Trần Đăng Khoa đã tinh túy biết chừng nào khi kết tinh văn hóa dân tộc trong hạt gạo, mang đặc trưng riêng cho hồn thơ tác giả
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy
Trang 2Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay
Hạt gạo không tưởng chừng được nhân hóa, kết tinh từ vị phù sa, từ hương sen thơm thôi Nhưng khi đọc đến câu: hạt gạo làng ta…/ Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi hôm nay Hỡi ôi! Sao Trần Đăng Khoa lại có những phát hiện tài tình thế nhỉ Phải chăng những trưa hè, gió hiu hiu mát ngoài hiên, ngoài tiếng võng kẽo
cà kẽo kẹt đều tay của mẹ thì là những câu hát ru à ơi:
Bây giờ gặp phải hội này Khi trời hạn hán, khi hay mưa dầm
Khi trời gió bão ầm ầm, Đồng tiền lúa thóc, mười phần được ba
Câu hát của mẹ đã làm thao thức bao nhiêu thế hệ, bát cơm dẻo thơm không dễ gì mà có được mà biết bao thành quả lao động Chỉ mới khổ thơ đầu thôi nhưng đã khiến bao người đọc thổn thức về một miền kí ức làng quê nơi có cánh đồng xanh mướt, những mùa gặt nhộp nhịp ngoài đồng và khói lam chiều cộng với hơi từ nồi cơm nóng bốc lên
Hạt gạo lớn lên nhờ đất phù sa màu mỡ, lớn lên nhờ nước của sông Kinh Thầy Trong hạt gạo có hương thơm giống như hương của loài hoa sen trồng trong hồ nước đầy Và hạt gạo đi vào trong những câu hát ngọt bùi mẹ vẫn hát mỗi ngày Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã miêu tả hạt gạo với tất cả những gì đẹp
đẽ nhất, tinh tế nhất Hạt gạo vì thế đã gắn liền với đời sống tinh thần của con người Và để có được những hạt gạo trắng thơm như vậy thì con người đã phải trải qua không ít những khó khăn, gian khổ:
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
Sinh ra và lớn lên ở vùng đất khí hậu khắc nghiệt Sự nhạy bén của một cậu bé 11 tuổi đã cảm nhận hết tất cả những khó nhọc của người nông dân Việc cày cấy đã vất vả, khó nhọc và
Trang 3cả thêm chống chọi với thiên nhiên Mặc dù thế nhưng người nông dân chẳng dám quản công, ca thán lời nào Người mẹ trong bài thơ cũng như rất nhiều những người nông dân khác đều phải trải qua rất nhiều những khó nhọc chỉ mong có thể lấy công sức ấy đổi lấy những hạt lúa căng tròn và chén cơm mát ngọt Điều đó khiến cho ta có thể cảm nhận được những phẩm chất lao động đáng quý của người nông dân Việt Nam Tháng bảy thì trời nổi nhiều bão dông, những con bão nối tiếp nhau, lần lượt mà kéo đến không một lời thông báo trước Trời tháng
ba thì trời mưa xối xả, những cơn mưa đánh ngã thân cây lúa thì mềm đang mang trên mình những hạt lúa nặng trĩu Phải chăng hạt lúa đang chờ cơn sét để vươn mình trổ dậy nhưng không mà thay vào đó cơn mưa xối xả mặt mày Hai câu thơ không xuất hiện hình ảnh con người thế nhưng đằng sau đó ta vẫn biết họ đang ở đâu đó, có thể từ mái hiên nhìn xa xăm
đồng lúa ánh mắt đầy lo âu, có thể đang dạo quanh ruộng để ngóng ngày gặt đồng Chưa hết, tháng sáu trời nắng như đổ lửa Cái sức nóng được tác giả miêu tả một cách khắc nghiệt:
Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ Người nông
dân đã rơi biết bao nhiêu giọt mồ hôi để có được hạt lúa chín
Giọt mồ hôi sa, tác giả sử dụng động từ “sa”, cùng đồng nghĩa
rơi, rớt, vãi nhưng tác giả sử dụng từ “sa” để diễn tả mồ hôi ở đây không phải rớt từng giọt, từng giọt mà là là hồ hôi vã ra ra rất nhiều, ướt cả áo, cay cả mắt và thấm cả ruộng đồng Không cần phải đao “to búa lớn”, không cần phải diễn tả quá nhiều, chỉ cần bấy nhiêu thôi người đọc đã thấu nỗi nhọc nhằn của người nông dân Cách so sánh nước như ái nấu của nhà thơ đủ khiến người đọc cảm nhận được sự bỏng rát của nước Nó làm chết những con cá cờ Những con cua sống ở dưới nước cũng
phải ngoi lên bờ Đối lập với hình ảnh ấy: Mẹ em xuống cấy
Hình ảnh người mẹ còng lưng, áo áo bạc màu, nón tơi, đôi tay thoăn thoắt bó mạ non mà lòng đầy xót xa Tác giả sử dụng biện pháp đối lập đã tăng lên nỗi khó nhọc của người nông dân
Để có hạt gạo quả là biết công sức
Từ tình cảm yêu quê hương, đất nước ở khổ thơ thứ nhất thì sang đến khổ thơ thứ hai, tác giả thu nhỏ lại không gian tình cảm gia đình Hẳn Trần Đăng Khoa đã rất yêu mẹ nên đã vẽ lên bức tranh bà mẹ còng lưng trong cái nắng oi ức ngày hè tháng sáu
Những năm 1969, cái năm khắc nghiệt của chiến tranh chống Mĩ, chúng tàn phá đất nước ta Chúng ném bom, gieo tội
ác trên mảnh đất Việt Nam Biết bao nhiêu chàng trai, cô gái đã
Trang 4cầm súng lên đường ra nơi chiến tuyến để bảo vệ đất nước, bảo
vệ nền hòa bình Còn các bà, các mẹ ở nhà trở thành hậu
phương vững chắc Bên cạnh việc chiến đấu họ vẫn tiếp tục sản xuất và bảo vệ thành quả lao động của mình Những trận mưa bom có sức tàn phá và khủng khiếp gấp vạn lần sự khắc nghiệt của thiên nhiên
Những năm bom Mĩ Trút lên mái nhà Những năm khẩu súng Theo người đi xa Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông
Những câu thơ trên đã tái hiện ra khung cảnh đất nước trong những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng khốc liệt Để tàn phá đất nước ta, chúng không ngại đổ xuống đất ta vô vàn những trận mưa bom, bão đạn với sức hủy diệt ghê gớm Lúc này, những người ở lại đảm nhiệm một vai trò cũng lớn lao không kém, đó là làm một hậu phương vững chắc bằng cho tiền tuyến Tham gia lao động hăng say, bảo vệ những hạt gạo ngon mà gửi cho các anh, các chị bảo vệ đất nước Hạt gạo làng ta không có sức mạnh phi thường, mặc dù bom Mĩ trút những vẫn kiên cường vươn lên và dù đi bất cứ đi bất cứ đâu, không quản ngại khó khăn nó vẫn đi theo nằm yên
ở ba lô giúp ấm bụng, có sức mà chống giặc
Để làm ra hạt gạo dẻo thơm là mồ hôi, là công sức lao động, chống chọi với khắc nghiệt thiên nhiên, sự tàn ác của chiến tranh thế nhưng những ngày sắp thu hoạch chính cái khói
lửa của bom đạn làm cho nó tưởng chừng bỏ đi vàng như lúa đồng thì người ta vẫn cảm thấy ấm lòng Bát cơm mùa gặt/ Thơm hào giao thông Cơm ăn ở trong hào, bát cơm không chỉ
là tình cảm, lời nhắn nhủ của người nông dân mà còn là tinh thần lạc quan, tự tin chiến thắng của dân tộc Việt Nam Hoàn cảnh của chiến tranh tuy có nghiệt ngã, khốc liệt nhưng lại là dịp để làm nổi bật lên ở người nông dân ý chí, lòng quyết tâm,
sự can trường và tinh thần sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, thử thách Dù có khi sự nguy hiểm đe dọa đến sinh mạng con người nhưng họ vẫn không hề lùi bước để có được Câu thơ như khẳng định ý chí của con người Việt Nam, quyết tâm chiến thắng kẻ thù
Trang 5Ta thường nghe câu nói: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” hay như chị Út Tịch nói: “còn cái lai quần cũng đánh” Đó là tinh thần yêu nước, đấu tranh chống giặc quyết liệt, đầy hào khí Nhưng ở phong cách của Trần Đăng Khoa, lời của một đứa trẻ mang màu sắc hồn nhiên, tuy không nói nhiều nhưng làm được tùy vào khả năng của mình Đóng góp vào sự phát triển của cây lúa còn có công lao của các bạn nhỏ Những đứa trẻ đang tuổi
ăn, tuổi chơi nhưng đã biết giúp gia đình tưới nước chống hạn cho ruộng lúa, bắt sâu vào buổi trưa cho sâu khỏi ăn lúa, gánh phân để bón cho cây lúa phát triển:
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quét đất
Đáng lẽ, các em đang tung tăng, hồn nhiên nhưng cái khắc nghiệt của chiến tranh đã làm cho các em lớn trước tuổi Các
em biết tát nước những mùa nắng hạn để cho cây lúa trổ bông
Vục mẻ miệng gàu / Lúa cao rát mặt / Quang tràng quét đất,
hình ảnh dí dỏm, hồn nhiên và không kém phần tinh nghịch Các bạn nhỏ đã gặp phải nhiều khó khăn trong công việc nhưng
họ vẫn làm việc với sự hăng say nhất Đó chính là tuổi trẻ, là tương lai của đất nước Chính họ đã góp phần làm nên những hạt gạo dẻo thơm Để rồi khi lúa chín, mùa màng bội thu là niềm vui chung của đất nước Hạt gạo được gửi đi đến muốn nơi, gieo nên sự sống, gieo nên niềm vui cho con người:
Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa
Em vui em hát Hạt vàng làng ta
Khúc hát tươi vui vào ngày gặt hái thành quả của lao động miệt mài và hăng say Và hạnh phúc với tác giả ở đây, gạo
không phải chứa đày bồ,chất đầy kho mà hạnh phúc bởi thành quả lao động của mình gửi đi muôn nơi, giúp ích được nhiều người Đó là tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc
Với sự thành công biện pháp nghệ thuật đã khiến cho bài thơ “Hạt gạo làng ta” dễ phổ nhạc và nằm lòng bao thế hệ Tác giả sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ bốn chữ với các phép liệt kê
Trang 6những hương thơm, hương vị của hạt gạo; liệt kê những khó khăn của thiên nhiên những khắc nghiệt của chiến tranh; liệt kê hàng động lao động hăng say của các em nhỏ Một thành công nghệ thuật phổ biến của Trần Đăng Khoa là tác giả sử dụng phép điệp Bài thơ làm cho ta say sưa, dễ thuộc và hiểu được ý nghĩa của hạt gạo là lỗi điệu cấu trúc: “ hạt gạo làng ta” và điệp vòng, cứ bắt đầu mỗi khổ thơ là tác giả, nhấn mạnh “ hạt gạo làng ta” như một sự tự hào về hạt ngọc của dân tộc Hơn nữa, tác giả còn sử dụng phép đối để thấy được tinh thần của con người Việt Nam
Theo thức tế thơ Trần Đăng Khoa được đưa vào giảng dạy nhiều nhất trong chương trình Tiếng Việt tiểu học Bởi lí do, thơ Khoa mang tinh thần yêu nước, yêu quê hương, đất nước sâu sắc Hình ảnh giản dị, ngôn từ trong trẻo nhưng làm xao xuyến
người đọc dù là ở bất cứ thời kì nào Và chủ đề gần gũi ấy được thể hiện ở giọng văn dí dỏm, hồn nhiên của một đứa trẻ con Hơn thế nữa chính nhờ thành công về nghệ thuật đã góp phần hình thành kĩ năng tiếng Việt cho các em Với tư cách là một giáo viên tiểu học tương lai, thơ Trần Đăng Khoa mãi là khao khát chiếm lĩnh và chia sẻ cho thế hệ học trò
Câu 2: Chủ đề của tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của
Tô Hoài.
Dế Mèn phiêu lưu kí là tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng nhất của nhà văn Tô Hoài viết về loài vật, dành cho lứa tuổi thiếu nhi (truyện đồng thoại) Truyện được trích đoạn đưa vào giảng dạy
ở bậc tiểu học, chương trình lớp 2 và lớp 4 và cả bậc trung học Bởi vì truyện viết cho thiếu nhi nhưng chứa đựng chủ đề hết sức
ý nghĩa
Chủ đề của truyện: Thông qua việc miêu tả loài vật, Tô Hoài muốn nhấn mạnh đến cuộc sống con người: con người sống phải có lí tưởng, phải có khát vọng vươn lên và học hỏi những điều mới mẻ, biết khắc phục và sửa chữa sai lầm Sự tồn tại của con người phải dựa trên sự đối xử tốt giữa người với người và người với tất cả mọi vật