Với nỗ lực làm giảm gánh nặng đối với ngân sách nhà nước, chúng ta đãđưa ra chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn, hy vọng thu hồi được chiphí và tăng nguồn thu để mở rộng giáo dục
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
I Một số lý luận về chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên 4
1.1 Hình thức cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên 4
1.2 Chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên 5
1.3 Kinh nghiệm cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên tại một số nước và bài học đối với Việt Nam 10
II Thực trạng cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ở Việt Nam 16
2.1 Khái quát chính sách cho vay ưu đãi 16
2.2 Tình hình cho vay ưu đãi ở Việt Nam trong thời gian qua 17
2.3 Đánh giá 20
III Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ở Việt Nam 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, Việt Nam đang trải qua việc tăng mạnh nhu cầu giáo dục ở cácbậc học cao hơn tại thời điểm gặp khó khăn lớn về ngân sách nhà nước và cảicách mạnh mẽ hệ thống giáo dục nhằm nâng cao đáng kể tác động và sự phùhợp Với nỗ lực làm giảm gánh nặng đối với ngân sách nhà nước, chúng ta đãđưa ra chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn, hy vọng thu hồi được chiphí và tăng nguồn thu để mở rộng giáo dục trong khi cùng lúc tạo cơ hội chonhững người dân nghèo được tiếp cận với giáo dục ở các bậc học cao hơn
Chủ trương cho sinh viên, học sinh vay vốn ưu đãi bắt đầu triển khai năm
1999 Nguồn vốn ban đầu của chương trình là 160 tỷ đồng, do Ngân hàng Côngthương Việt Nam quản lý, tổ chức thực hiện Năm 2003, việc quản lý, cho vaytín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên chuyển giao cho Ngân hàng Chínhsách xã hội thực hiện Tuy nhiên vì nhiều lí do đặc biệt là vì dư nợ nên đến năm
2007, Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg và QĐ 157
để hoàn thiện hơn chế độ chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên.Chính sách tín dụng ưu đãi ra đời đã đem lại hiệu quả rất lớn, tạo cơ hộihọc tập cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên bên cạnhnhững thành tựu đó, chính sách này còn tồn tại nhiều hạn chế
Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Chính sách cho vay ưu đãi đối với họcsinh, sinh viên tại Việt Nam” làm đề án môn học Kết cấu đề án bao gồm 3phần:
Trang 3I Một số lí luận về chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh
viên
II Thực trạng cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ở Việt NamIII Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các chính sách cho vay ưu
đãi đối với học sinh, sinh viên ở Việt Nam
Do trình độ còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi sai sót, em rất mongnhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết được tốt hơn Em xin cảm
ơn TS Đỗ Thị Thu Hà đã hướng dẫn em hoàn thiện đề án này
I Một số lý luận về chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên
Trang 4I.1 Hình thức cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên
I.1.1 Khái niệm
Cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là hình thức cho vay với nhữngđiều kiện ưu đãi như lãi suất thấp, thời gian hoàn trả nợ dài mà chính phủ dànhcho đối tượng là học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhằm tạo điều kiện
để học sinh, sinh viên tiếp tục hoàn thành quá trình học tập của mình đặc biệt là
Trang 5hình thức cho vay ưu đãi đã góp phần làm giảm gánh nặng đồng thời tạo độnglực thúc đẩy học sinh, sinh viên vươn lên.
I.2 Chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên
I.2.1 Mục tiêu
Mỗi chính sách công đều mang những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước ứng với những đối tượng khác nhau Mục tiêu của chính sách chovay ưu đãi này bao gồm những nội dung cơ bản sau:
1 Mục tiêu ngân sách (tạo thu nhập từ học phí)
Tạo thu nhập để duy trì số tuyển sinh vào đại học và đầu ra/chất lượng,tương xứng với mức chi phí đơn vị tăng ở các trường đại học công lập(không có tài trợ bổ sung của chính phủ)
Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc cắt giảm chi tiêu chung củachính phủ, bao gồm chi tiêu cho ngành giáo dục
Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc phân bổ lại ngân sách giáo dụccủa nhà nước từ trường đại học sang các bậc học khác, đem lại lợi ích
xã hội cao hơn
3 Mục tiêu xã hội (bình đẳng/ cơ hội tiếp cận cho người nghèo)
Trang 6 Các khoản vay nhằm vào đốI tượng sinh viên có nhu cầu
Trợ cấp chéo: hỗ trợ cho sinh viên có nhu cầu bằng nguồn thu từ mứchọc phí cao hơn
4 Nhu cầu về nguồn nhân lực
Đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp cụ thể hoặc nguồn nhân lực khu vực
5 Hỗ trợ sinh viên
Giảm bớt khó khăn về tài chính cho sinh viên trong quá trình học
Tăng cường trách nhiệm của sinh viên
Mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên
I.2.2 Chủ thể và Đối tượng
C
hủ thể: chủ thể của chính sách công là những cá nhân, tổ chức có liên
quan tới việc thực hiện chính sách, đưa ra các phương án chính sách, quyết định,
tổ chức thực thi và định hướng chính sách Có rất nhiều chủ thể tham gia nhưngchủ thể quan trọng và trực tiếp vẫn là Chính phủ Cụ thể đối với chính sách tíndụng này, chủ thể bao gồm
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
Trang 7- Toà án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ,
- Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ, các Vụ, Cục, đơn vị trựcthuộc, Công báo
Đối tượng: là các chủ thể xã hội bị chính sách tác động Đối tượng của
chính sách cho vay ưu đãi này là: học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăntheo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấpchuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theoquy định của pháp luật Việt Nam, gồm:
- Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹnhưng người còn lại không có khả năng lao động
- Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong cácđối tượng:
Hộ nghèo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật
Hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèotheo quy định của pháp luật
Trang 8 Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tainạn, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học
có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú
- Sinh viên vay vốn phải trả nợ đúng thời hạn quy định (cả nợ gốc vàlãi)
- Mức cho vay tối đa đối với mỗi sinh viên là 860.000đ/tháng Mức chovay được tính là: 10 tháng/01 năm
- Thời gian và phương thức cho vay thực hiện theo qui định của Ngânhàng Chính sách xã hội
I.2.4 Điều kiện vay vốn
Trang 9Học sinh, sinh viên đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địaphương nơi cho vay có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 2 Quyết định này.Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặcgiấy xác nhận được vào học của nhà trường
Đối với học sinh, sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhàtrường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên
về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu
I.2.5 Mức vốn cho vay
Mức vốn cho vay tối đa là 860.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên theo nhưquyết định mới nhất của Thủ tướng chính phủ
Ngân hàng Chính sách xã hội quy định mức cho vay cụ thể đối với họcsinh, sinh viên căn cứ vào mức thu học phí của từng trường và sinh hoạt phí theovùng nhưng không vượt quá mức cho vay quy định tại khoản 1 Điều này
Khi chính sách học phí của Nhà nước có thay đổi và giá cả sinh hoạt cóbiến động, Ngân hàng Chính sách xã hội thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chínhtrình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh mức vốn cho vay.Hiện nay Ngân hàng này đang có phương án xin tăng mức cho vay tối đa lên1.200.000 đồng/tháng
Trang 10I.3 Kinh nghiệm cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên tại một số nước và bài học đối với Việt Nam
I.3.1 Chính sách cho vay ưu đãi ở một số nước
Hầu hết các nước châu Á đều đang trải qua việc tăng mạnh nhu cầu giáodục ở các bậc học cao hơn tại thời điểm gặp khó khăn lớn về ngân sách nhànước và cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục nhằm nâng cao đáng kể tác động
và sự phù hợp Với nỗ lực làm giảm gánh nặng đối với ngân sách nhà nước,nhiều nước đã đưa ra chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn, hy vọng thuhồi được chi phí và tăng nguồn thu để mở rộng giáo dục trong khi cùng lúc tạo
cơ hội cho những người dân nghèo được tiếp cận với giáo dục ở các bậc học caohơn
Sự thành công của chương trình cho vay (nhất là ở các nước đang pháttriển) là không rõ ràng Mặc dù một số chương trình đã được chứng minh là rấtthành công nhưng kết quả thường gây thất vọng xét theo cả khía cạnh đáp ứngmục tiêu đặt ra và tính bền vững về tài chính Trong trường hợp những chươngtrình ít thành công hơn thì nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém trong quy trình(yếu kém trong quản lý, kéo dài quá mức thời gian trả nợ hoặc không có mụctiêu có ý nghĩa) hoặc do những nguyên nhân từ bên trong, và đặc biệt là liênquan đến những điều kiện cho vay quá dễ dàng và được trợ cấp nhiều Sau đây
để làm rõ nhận định trên, chúng ta sẽ xem xét đến tình hình cho vay của hainước là Trung Quốc và Thái Lan
Trang 11rung Quốc
Chương trình cho sinh viên vay lần đầu tiên xuất hiện ở Trung Quốc năm
1986 Hai chương trình quốc gia chính thức được bắt đầu năm 1999 và hiện vẫnđang trong giai đoạn xây dựng; một chương trình do chính phủ trợ cấp vàchương trình thứ hai hoạt động theo hình thức thương mại Chương trình chosinh viên vay vốn do chính phủ trợ cấp (GSSLS) là chương trình cho vay chính
ở Trung Quốc Chương trình có đối tượng là sinh viên nghèo hệ chính quy tậptrung ở các trường đại học công lập Nguồn vốn vay do bốn ngân hàng thươngmại của nhà nước cấp Mặc dù các cơ sở giáo dục có xử lý bước đầu đơn xin vayvốn nhưng các ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm lựa chọn, cho vay và thunợ; họ cũng chịu hầu hết các rủi ro về việc người vay không trả nợ Các ngânhàng nhận được lãi suất cho vay và một nửa trong số đó do chính phủ trả Mặc
dù các ngân hàng thương mại cấp vốn vay nhưng tổng số vốn vay lại do hệthống "chỉ tiêu" kiểm soát theo tổng số lãi chính phủ hỗ trợ và sự sẵn sàng cấpvốn vay của các ngân hàng thương mại (nếu ngân hàng không muốn cho vaynữa thì sẽ cấp số vốn vay ít hơn so với chỉ tiêu) Không có người bảo lãnh chínhthức các khoản cho vay; uy tín của cá nhân sinh viên chính là một hình thức đảmbảo chứ không xem xét hồ sơ tín dụng của người xin vay Sinh viên sẽ phải trả
nợ trong vòng bốn năm sau khi tốt nghiệp
Thu nhập tương đối thấp của các sinh viên tốt nghiệp đại học cộng với giaiđoạn thu hồi vốn ngắn (4 năm) gây áp lực khá lớn đối với đối tượng vay vốn Họmất khoảng 24% tổng thu nhập hàng năm Chương trình này không mang lại sựcông bằng vì những sinh viên khó khăn có ít cơ hội nhận vốn vay hơn và sinh
Trang 12viên có hoàn cảnh kinh tế giống nhau ở các trường khác nhau lại nhận được sốvốn vay khác nhau Vì các ngân hàng phải chịu hầu hết các rủi ro về việc ngườivay không trả nợ nên họ có xu hướng phân biệt những sinh viên có nguy cơ này
- đó chính là những sinh viên nghèo hơn và học ở những trường có vị thế thấphơn Ngoài ra, vì chính quyền địa phương trợ cấp lãi suất cho các cơ sở giáo dục
ở địa phương nên những nơi nghèo hơn lại ít có khả năng hơn trong việc trợ cấplãi suất cho các trường đại học địa phương Không giống như chương trình dochính phủ trợ cấp, Chương trình cho sinh viên vay vốn theo hình thức thươngmại thông thường (GCSLS) do các ngân hàng thương mại (và các hợp tác xã tíndụng nông thôn) thực hiện lại dành cho sinh viên các trường đại học tư thục vàcông lập mà không tính đến hoàn cảnh kinh tế xã hội Lãi suất vay vốn đượctính theo giá thị trường và không được chính phủ trợ cấp Thời gian hoàn trả vốncũng khác nhau vì các ngân hàng tham gia có những quy định riêng về vốn vay
Vì vốn vay được đảm bảo thông qua tài sản của bố mẹ/người đỡ đầu để giảm tốithiểu rủi ro không trả nợ nên trong thực tế chương trình chỉ dành cho sinh viênxuất thân từ những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu có tài sản thếchấp theo yêu cầu
Chính vì thế, trong chương trình của Trung Quốc các ngân hàng thươngmại đóng vai trò chính trong cấp vốn, phân phối và thu nợ
Thái Lan
Chương trình cho vay của Thái lan bắt đầu hoạt động từ năm 1996 và cóđối tượng mục tiêu là học sinh, sinh viên khó khăn ở các trường THPT, trườngdạy nghề, cao đẳng, đại học công lập và tư thục Quy mô của chương trình là rất
Trang 13lớn và đến được khoảng một phần tư học sinh THPT, một phần ba sinh viên đạihọc (trừ hai trường đại học mở) và một nửa tổng số sinh viên các trường sưphạm Chương trình hoạt động thông qua Uỷ ban quốc gia cho học sinh, sinhviên vay vốn Uỷ ban này nhận được trợ cấp hàng năm từ ngân sách quốc gia Việc chọn lựa đối tượng cho vay được các cơ sở giáo dục thực hiện (trườnghọc, cao đẳng và đại học) Các cơ sở này nhận được ngân sách cho vay thôngqua hệ thống phân bổ ngân sách từ trên xuống dưới, từ uỷ ban cho vay vốn trungương thông qua Bộ Giáo dục và Bộ Đại học (nay là hai bộ phận thuộc Bộ Giáodục) Các cơ sở giáo dục có quyền tự quyết đáng kể trong quy trình cho vay vốn,bao gồm quyết định về quy mô vốn vay (lên đến con số tối đa được quy định) vàmục đích cho vay (học phí, chi phí ở và chi phí sinh hoạt khác); phương thứcphân bổ vốn được phân cấp nhiều như thế này dẫn đến sự bất công đáng kểtrong hệ thống giáo dục Mặc dù chương trình nhằm vào những học sinh, sinhviên có nhu cầu nhưng việc xác định đối tượng vay vốn lại được thực hiệnkhông hiệu quả Mức trần thu nhập gia đình để được vay vốn cao hơn ba lần sovới mức thu nhập chính thức được tính là mức nghèo Phân bổ ngân sách vốnvay cho các cơ sở giáo dục chỉ dựa vào bình diện xã hội của học sinh, sinh viên(đối với các trường đại học, tiêu chí phân bổ hoàn toàn không dựa vào mức độnghèo của sinh viên trong trường đại học hoặc không dựa vào nhu cầu) Sự pháttriển nhanh của chương trình (vượt đáng kể so với kế hoạch) đã dẫn đến việcgiảm ngân sách cho đối tượng vay vốn mới Điều này được thấy rõ thông quaquy mô vốn vay trung bình đang giảm theo thời gian (thậm chí trên danh nghĩa)chứ không phải qua số người vay vốn mới (con số này tiếp tục tăng ở bậc đại
Trang 14học) Rõ ràng là các cơ sở giáo dục muốn trải rộng số kinh phí vốn vay đanggiảm đi để phục vụ cho một số lượng học sinh, sinh viên tăng hơn và một lầnnữa việc này lại làm giảm đi tác động của chương trình trong việc hỗ trợ các họcsinh, sinh viên nghèo nhất.
Chương trình cho vay của Thái Lan nhận được mức trợ cấp của chính phủcao hơn đáng kể so với chương trình của các nước tiến hành nghiên cứu điểnhình khác; với lãi suất 1% và việc hoàn vốn chỉ trên danh nghĩa, trong thực tếhọc sinh, sinh viên chỉ phải hoàn lại một tỷ lệ vốn nhỏ so với số vốn vay banđầu
Với cơ chế cho vay phân cấp, Các cơ sở giáo dục nhận được kinh phí vốnvay thông qua phân bổ ngân sách từ trên xuống và cơ chế này không tính đếntình trạng nghèo khó của sinh viên tuyển sinh Một điều kiện tiên quyết (nhưngcòn thiếu trong trường hợp của Thái Lan) nhằm đảm bảo cho hệ thống phânphối vốn vay hoạt động tốt ở cấp trường là một công thức được thiết kế tốt đểphân bổ tổng kinh phí vốn vay giữa các cơ sở giáo dục: một công thức như vậy
sẽ có thể giúp phân bổ ngân sách theo nhu cầu (mức độ nghèo) của sinh viên ởmỗi trường Hệ thống tiếp tục thiếu sự bình đẳng do các cơ sở giáo dục khácnhau có chính sách phân phối vốn vay rất khác nhau
Trang 15I.3.2 Bài học kinh nghiệm
Kinh nghiệm của Trung Quốc về vốn vay cho sinh viên là hết sức đáng chú
ý vì họ sử dụng hệ thống ngân hàng để cấp vốn vay và vì vậy làm giảm gánhnặng tài chính lên chính phủ Tuy nhiên, phạm vi vốn vay vẫn rất hạn chế và tàitrợ bổ sung của ngân hàng có thể cũng vậy, gây cản trở cho sự phát triển phạm
vi vốn vay cho sinh viên
Chương trình nhằm vào đối tượng học sinh, sinh viên có nhu cầu có phạm
vi lớn nhất trong số các nghiên cứu điển hình và bao gồm cả học sinh THPT,THCN, dạy nghề và sinh viên cao đẳng, đại học Hoạt động thông qua một vănphòng cho vay vốn trung ương, trong thực tế chương trình này hoạt động theokiểu từ trên xuống dưới với ngân sách phân bổ cho các cơ sở giáo dục để rồi sau
đó cấp cho học sinh, sinh viên xin vay vốn Hệ thống này dẫn đến sự khôngcông bằng đáng kể giữa các cơ sơ giáo dục và không tập trung tốt vào ngườinghèo Trợ cấp rất nhiều và tỷ lệ thu nợ và hoàn vốn là rất thấp Sự mở rộng quánhiều so với kế hoạch ban đầu cũng như hạn chế về ngân sách đã dẫn đến việcthu hẹp phạm vi của chương trình, nhất là với các đối tượng vay vốn mới và làmgiảm quy mô khoản vay
Sự khác biệt giữa các cơ sở giáo dục, năng lực điều hành và chuẩn mực vănhoá xã hội đã làm giảm đi tác dụng của việc áp dụng mô hình thành công giữacác nước, nhất là trong trường hợp những khác biệt này là đáng kể Do đó, trướcmỗi hoàn cảnh cụ thể, chúng ta cần đưa ra những chính sách phù hợp để đảmbảo những học sinh, sinh viên khó khăn có cơ hội tiếp cân nguồn vốn
Trang 16II Thực trạng cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên ở Việt Nam II.1 Khái quát chính sách cho vay ưu đãi
Theo quan niệm phổ biến ,chính sách là phương thức hành động được chủthể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại
Chính sách là những hành động của nhà nước nhằm hướng tới những mụctiêu của đất nước với quan niệm này chính sách công là một bộ phận của chiếnlược bao gồm những giải pháp và công cụ để thực hiện mục tiêu chiến lược.Chính sách kinh tế xã hội là quyết sách của nhà nước nhằm giải quyết mộtvấn đề chín muồi đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước ,thông quahoạt dộng thực thi của các ngành ,các cấp có liên quan trong bộ máy nhà nước.Vậy chính sách cho vay ưu đãi là phương thức hành động, quyết sách nhằmgiải quyết vấn đề khó khăn về tài chính cho những học sinh, sinh viên có hoàncảnh khó khăn để họ tiếp tục quá trình học tập của mình giảm gánh nặng chongân sách giáo dục chính phủ thông qua những hoạt động thực thu của cácngành, các cấp có liên quan trong bộ máy nhà nước
Chủ trương cho sinh viên, học sinh vay vốn ưu đãi bắt đầu triển khai năm
1999 Nguồn vốn ban đầu của chương trình là 160 tỷ đồng, do Ngân hàng Côngthương Việt Nam quản lý, tổ chức thực hiện Năm 2003, việc quản lý, cho vaytín dụng ưu đãi đối với học sinh, sinh viên chuyển giao cho Ngân hàng Chínhsách xã hội thực hiện Đến cuối năm 2005, toàn bộ số vốn ban đầu 160 tỷ đồng
đã được giải ngân, trong khi nhu cầu vay vốn của học sinh, sinh viên vẫn ở mứccao Để đáp ứng, Ngân hàng Chính sách xã hội buộc phải cân đối các nguồn vốnkhác, đến nay tổng vốn dư nợ đã lên đến 290 tỷ đồng Lý giải về khoản dư nợ