1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SÂN KHẤU hội THẢO cải LƯƠNG 100 năm

122 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO ĐỀ DẪN TỌA ĐÀM VỀ SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG GIAI ĐOẠN 1955 - 1975 NHÌN LẠI QUÁ KHỨ ĐỂ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG THẾ KỶ XXI NSƯT, ĐD Trần Minh Ngọc Một nhà nghiên cứu

Trang 1

KHOA VĂN HÓA HỌC

TỌA ĐÀM KHOA HỌC

THEO DÒNG LỊCH SỬ SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG

(KỶ NIỆM 100 NĂM SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG)

THÁNG 12 NĂM 2018

Trang 3

1 Ngô Thị Phương Lan Phát biểu chào mừng tọa đàm khoa học Trang 1

2 Trần Minh Ngọc Báo cáo đề dẫn tọa đàm khoa học Trang 3

3 Mai Mỹ Duyên Cải lương ở Nam Bộ - nhìn lại và bước

4 Đỗ Quốc Dũng Những đóng góp của thầy tuồng trong cải

lương Nam Bộ giai đoạn 1955-1975 Trang 25

5 Nguyễn Chương Cải lương phát triển thập niên 50, thập

6 Đăng Minh Điểm qua sân khấu cải lương Sài Gòn

vùng tạm chiếm từ 1955-1975 Trang 46

7 Phạm Thái Bình Giải thưởng danh giá của sân khấu cải

lương thời hoàng kim Trang 52

8 Thanh Hạp Đôi nét về dàn nhạc của đoàn cải lương

Trang 70

11 Huỳnh Hữu Thạnh Dàn tân nhạc và nhạc nền trong sân khấu

12 Trần Nhật Vy Cải lương sống bằng gì? Trang 81

13 Nguyễn Hồng Dung Cải lương 100 năm không thể thoát khỏi

quy luật tất yếu của sự phát triển Trang 86

14 Lê Hồng Phước Hà Mỹ Xuân: Một cách làm cải lương trên

15 Huỳnh Quốc Thắng Phương pháp tiếp cận liên ngành trong

nghiên cứu lịch sử sân khấu cải lương Trang 111

Trang 5

PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG TỌA ĐÀM KHOA HỌC

CỦA PGS.TS NGÔ THỊ PHƯƠNG LAN

BÍ THƯ ĐẢNG ỦY, HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN,

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Kính thưa quý vị đại biểu, quý quan khách và các nghệ sĩ cải lương…

Cải lương là một loại hình nghệ thuật sân khấu hình thành và phát triển trên vùng đất Nam Bộ Thuật ngữ cải lương mang ý nghĩa là “cải cách và sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, cải cách, sửa đổi ở đây chính là hướng đến sự phát triển của nghệ thuật sân khấu ở Nam Bộ vừa mang đậm nét truyền thống, vừa theo kịp đà phát triển của văn minh Điều này thể hiện qua

hai câu đối: “Cải cách hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tích sánh văn minh” Có thể nói,

sự ra đời của nghệ thuật sân khấu cải lương là kết quả của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và Pháp, giữa loại hình nghệ thuật truyền thống vốn phổ quát ở miệt vườn Nam Bộ là Đờn ca tài tử và nghệ thuật sân khấu kịch thoại của Pháp Quá trình giao lưu văn hóa này đã hòa quyện một cách sâu đậm vào dòng văn hóa Nam Bộ đến nỗi khi khán giả xem một vở cải lương thì không còn phân biệt đâu là sự ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp Ở Nam Bộ, cải lương thật sự đã trở thành một loại hình nghệ thuật hấp dẫn với nội dung cốt chuyện và lối diễn xuất của nghệ sĩ phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và lối sống phóng khoáng của người dân Nam Bộ

Trong quyển Hồi ký 50 năm mê hát, học giả Vương Hồng Sển cho rằng cải lương chính thức đến với công chúng Nam Bộ vào ngày 16/11/1918 khi vở Gia Long tẩu quốc được trình

diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn Dấu mốc lịch sử này được xem như ngày ra đời của nghệ thuật cải lương Nam Bộ Từ đó đến nay cải lương đã trải qua 100 năm lịch sử và đã trở thành một loại hình nghệ thuật sân khấu gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân Nam

Bộ

Nhân kỷ niệm 100 năm sân khấu cải lương (1918 – 2018), trường ĐHKHXH&NV phối hợp cùng Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh tổ chức buổi công diễn các tiết mục cải lương và tọa

đàm khoa học mang tên: Theo dòng lịch sử sân khấu Cải Lương

Mục đích của tọa đàm khoa học này là nhằm tri ân các bậc nghệ sĩ lão thành đã có công sáng lập ra nghệ thuật sân khấu cải lương, các nghệ sĩ cải lương tài danh đã để lại dấu

Trang 6

ấn quan trọng trong lòng khán giả qua những vở diễn đi vào lịch sử Để xây dựng không khí khoa học cho buổi tọa đàm này, Ban tổ chức chúng tôi đã mời các nghệ sĩ cải lương, nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, giảng viên của các trường đại học nghệ thuật trong thành phố viết và trình bày tham luận về giá trị của nghệ thuật sân khấu cải lương bằng nhiều góc độ khoa học khác nhau, nhằm phân tích các thành tựu của nghệ thuật cải lương Nam Bộ trải qua

100 năm lịch sử Buổi tọa đàm cũng nhằm tôn vinh các nghệ sĩ đang tiếp nối dòng nghệ thuật cải lương hiện nay, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di sản cải lương

Trên cơ sở đó, tôi xin tuyên bố khai mạc tọa đàm Theo dòng lịch sử sân khấu Cải

Lương Chúc quý vị chủ tọa đoàn, ban thư ký điều hành buổi tọa đàm ngày hôm nay một cách

tốt nhất; kính chúc các nghệ sĩ cải lương sức khỏe và có thêm nhiều đóng góp hơn nữa cho nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ; chúc các vị diễn giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và những người bạn yêu thích nghệ thuật cải lương có mặt trong khán phòng ngày hôm nay có được một bầu không khí học thuật thật sinh động

Chúc tọa đàm thành công tốt đẹp

Trang 7

BÁO CÁO ĐỀ DẪN TỌA ĐÀM VỀ SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG

(GIAI ĐOẠN 1955 - 1975)

NHÌN LẠI QUÁ KHỨ ĐỂ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI

SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG THẾ KỶ XXI

NSƯT, ĐD Trần Minh Ngọc

Một nhà nghiên cứu sân khấu cải lương đã đặt ra một câu hỏi khá lý thú là: Tại sao ngày xưa trong hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt, nhất là điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật, các yếu tố khoa học… mà tiền nhân ta để lại những thành tựu về kịch bản, về sáng tạo nhiều vở diễn vô cùng rực rỡ, nhiều vở vẫn còn sức sống với thời gian trong lòng công chúng… trong khi thời đại bây giờ, xã hội tiến bộ, đất nước phát triển toàn diện, đời sống vật chất lẫn tinh thần ngày càng nâng cao, khoa học phát triển mạnh mà suốt từ những năm 90 thế kỷ trước đến nay chưa thấy có một vở diễn, kịch bản có sức sống lâu dài như trước, hàng trăm Giải thưởng, Huy chương đã được trao tặng… mà công chúng vẫn không nhớ đến… phải chăng những thành tựu còn chờ ở tương lai ?

(NCS Đỗ Quốc Dũng)

Trả lời cho câu hỏi đặt ra này, một người yêu sân khấu cải lương đã đưa ra một giải pháp là… “cùng nhau lý giải về sự thành công của cải lương trong hai thập niên 50 và 60 của thế kỷ trước như thế nào” bởi theo tác giả ý kiến này sân khấu cải lương ở miền Nam vào thập niên 50 và thập niên 60 đã thực hiện “Những bước đi bảy dặm”

(Nguyễn Chương)

Tọa đàm trong khuôn khổ “Ôn cố tri tân” hạn hẹp trong không gian và thời gian sân khấu cải lương miền Nam những năm 1955 - 1975 đang chờ đợi những lý giải về những gì được và chưa được của sân khấu cải lương trong dòng chảy của lịch sử, của những bước đường thăng trầm của sự tồn tại và phát triển sân khấu này trong hai thập niên 50, 60 của thế kỷ trước

I TỪ GÓC NHÌN QUÁ KHỨ

Giai đoạn 1955 - 1975 được giới sân khấu coi là thời kỳ hoàng kim của sân khấu cải lương Sở dĩ có sự đáng giá cao này là do cải lương đạt được tất cả mọi tiêu chí của nghệ thuật trình diễn như kịch bản có nội dung tốt được viết bởi những tác giả rất giỏi Diễn viên hát rất hay do được dàn nhạc tài hoa hỗ trợ và khán giả rất say mê, mộ điệu ủng hộ nghệ sĩ

Trang 8

hết mình Đội ngũ sáng tạo “đàn anh” như NSND Năm Châu, Mộng Vân, Lê Hoài Nở, Tư Chơi,

Tư Trang vẫn tiếp tục sáng chói trong giai đoạn này cùng với đông đảo các soạn giả trẻ, nhiệt tình, năng động, bút lực dồi dào như Viễn Châu, Kiên Giang, Hà Triều - Hoa Phượng, Thu An, Quy Sắc, Thiếu Linh, Ngọc Linh, Phi Hùng, Tần Nguyên, Huy Trường, Thanh Cao, Việt Thường, Trần Hà… đã tạo nên những kịch bản hay về nội dung, đậm chất nhân văn và triết lý sâu sắc Hàng trăm vở tiêu biểu đã làm nên tên tuổi các nghệ sĩ như Thanh Nga, Hữu Phước, Thành Được, Út Bạch Lan, Út Trà Ôn, Kim Cúc, Ngọc Giàu, Diệp Lang, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Phượng Liên, Minh Phụng, Mỹ Châu, Minh Vương, Lệ Thủy, Tấn Tài, Kim Ngọc, Thanh Sang, Hà Mỹ Xuân, Phương Quang, Mộng Tuyền, Kiều Mai

Lý, Bửu Truyện, Đức Lợi, Bạch Lê, Thanh Tòng, Thanh Kim Huệ, Bo Bo Hoàng v v

Hỗ trợ và tạo điều kiện cho diễn xuất của nghệ sĩ, một số soạn giả, nhạc sĩ, v.v cổ nhạc đã tạo ra nhiều ca khúc bài bản đáp ứng mọi tình huống kịch tính của vở, và tâm lý của nhân vật Tiến một bước xa hơn còn đưa cả nhạc sáng tác vào cải lương, chọn nhạc cụ làm chủ âm phù hợp với chất giọng của diễn viên, góp phần cho sự thành công chung của vở diễn

Sự trình diễn không chỉ đòi hỏi nội dung hay, hấp dẫn, có ý nghĩa mà hình thức của trình diễn cũng phải cuốn hút người xem Do có điều kiện ứng dụng sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật và các kỹ thuật mới của điện ảnh, sân khấu cải lương đã được làm đẹp lên nhờ không gian, bối cảnh, trang trí mỹ thuật Nhờ ánh sáng và kỹ xảo quang học, sân khấu đã làm được nhiều trò diễn lạ mắt, hấp dẫn thị giác Hơn nữa lúc này quan điểm “Thật và Đẹp” của NSND Năm Châu được người làm sân khấu tôn trọng đã có tác động đến các ban hát từ đại ban, trung ban đến tiểu ban đều luôn luôn thay đổi, làm mới cảnh trí, ánh sáng, phục trang, đạo cụ làm sao cho buổi diễn thật và đẹp

Là những diễn viên lăn lộn, học tập theo các bậc thầy, các đàn anh từ vị trí thấp đến cao nên các nghệ sĩ rất hiểu khán giả của mình đã cố gắng mỗi người tạo cho mình một phong cách ca diễn rất khác nhau, hầu như không ai giống ai nên các ban hát rất coi trọng các tài năng sáng tạo trẻ, báo chí theo dõi và nhiệt tình tôn vinh những tài năng độc đáo ấy như: Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, Sầu nữ Út Bạch Lan, Nữ hoàng Sân khấu Thanh Nga, Cải lương chi bảo Bạch Tuyết, Khôi nguyên vọng cổ Minh Vương, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn Tài, Đệ nhất danh cầm Văn Vỹ v.v…

Tuy thời đó chưa có đạo diễn chuyên nghiệp nhưng các ban đều có các tác giả, soạn giả, ông bà bầu vừa chỉ đạo nghề vừa quản lý dẫn dắt đoàn theo một phong cách, một

Trang 9

khuynh hướng nghệ thuật Họ cũng có đẳng cấp được trong giới mến phục tôn vinh như Nhất Chưởng (Kim Chưởng) Nhì Thơ, Tam Long, Tứ Út

Cũng giai đoạn hai thập niên 50 - 60 này của thế kỷ XX, sự cạnh tranh khán giả giữa các ban cải lương đã buộc có sự khác biệt giữa các phong cách nghệ thuật của từng đơn vị để khán giả có sự lựa chọn cách xem của mình Có thể suy nghĩ đến 4 phong cách của sân khấu cải lương như:

1- Tâm lý xã hội, phản ánh những vấn đề khá nổi cộm, mượn câu chuyện của tuồng tích để

giáo dục v.v… đó là phong cách của Dạ Lý Hương, Thanh Minh - Thanh Nga…

2- Các loại tuồng tích dã sử, dân gian, đường rừng, kiếm hiệp có chất hoành tráng của Trung

Hoa, Hồng Kông Tiêu biểu là đoàn Kim Chưởng, Hương Mùa Thu v.v…

3- Ca ngâm, nhạc với lối ca mới với nhiều diễn viên tài hoa như Minh Cảnh, Tấn Tài, Minh

Vương, Lệ Thủy, Thanh Tuấn, Hoài Thanh, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ v.v…

4- Ca diễn Hồ Quảng với các nghệ sĩ Thanh Tòng, Thanh Bạch, Bửu Truyện, Bạch Mai, Bạch

Lê, Hữu Lợi của các đoàn Minh Tơ - Huỳnh Long

II HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ

Thời kỳ 55 - 75 của thế kỷ trước do tình hình thời cuộc, do chiến tranh rất gay go nên phong trào báo chí nở rộ Với nghệ thuật cải lương báo chí dành cho nghệ thuật này một tình cảm đặc biệt Chính giới báo chí là Nhà báo Trần Tấn Quốc với bút danh Thanh Tâm chủ tờ Tiếng Dội đã có ý tưởng thành lập Giải thưởng dành cho cải lương, Ban tuyển chọn gồm các đạo diễn, soạn giả nổi tiếng như các nghệ sĩ Phùng Há, Bảy Nhiêu, Hà Triều cùng với các ký giả có uy tín trên diễn đàn báo giới như Trần Tấn Quốc, Ngọc Linh, Lê Hiền, Phong Vân v.v… Các thành viên tuyển chọn đến từng đoàn hát, theo dõi diễn xuất của các diễn viên để chọn

ra những người có tư cách nghệ sĩ, có sáng tạo trong ca diễn xứng đáng để trao giải (Thanh Tâm)

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga là người đầu tiên được trao Giải Thanh Tâm năm 1959 và từ

đó liên tục cho đến năm 1967, năm nào cũng có nhiều nghệ sĩ được trao giải quý giá này Trong số những tên tuổi đó có một số tên tuổi vẫn nổi tiếng đến ngày nay như các nghệ sĩ Hùng Minh, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Tấn Tài, Diệp Lang, Lệ Thủy, Thanh Sang, Thanh Nguyệt,

Bo Bo Hoàng, Phượng Liên, Phương Quang, Mỹ Châu, Bảo Quốc v.v…

Cùng với việc trao huy chương cho các diễn viên, Giải Thanh Tâm còn mở rộng trao bằng danh dự cho mục “Diễn viên xuất sắc trong năm” và “Vở tuồng hay nhất trong năm” như “Tần nương thất”, “Nước biển mưa nguồn”, “Tiếng Hạc trong trăng”, “Con gái chị Hằng”,

“Tấm lòng của biển”, “Tuyệt tình ca”, “Khách sạn hào hoa”

Trang 10

Giá trị của Giải Thanh Tâm và ý nghĩa tích cực của nó đối với phẩm chất nghệ thuật đỉnh cao của cải lương đã được tiếp nối bằng việc thành lập Giải thưởng Trần Hữu Trang ngày nay Điều ngẫu nhiên là cả hai Giải thưởng danh giá này không tồn tại được lâu Giải Thanh Tâm tồn tại từ 1959 đến 1967 còn Trần Hữu Trang thì được 11 lần trao giải cho các tài năng trẻ hôm nay

III CẢI LƯƠNG NAM TRÊN ĐẤT BẮC

Sẽ là một thiếu sót nếu không nói tới những đóng góp của cải lương phía Nam cho sân khấu cải lương phía Bắc thông qua các cuộc lưu diễn từ Trung ra Bắc, nổi tiếng hơn cả là đoàn cải lương Phước Cương Sau những đợt lưu diễn, một số nghệ sĩ đã trụ lại dài ngày ở

Hà Nội để truyền nghề Từ đó sân khấu cải lương Nam bộ được nhiều nghệ sĩ miền Bắc tiếp nhận xây dựng nên các đoàn cải lương Bắc như Chuông Vàng, Kim Phụng… Một số nghệ sĩ đã thành danh như Sỹ Tiến, Kim Chung, Ái Liên, Ngọc Dư, Tuấn Nghĩa, Tuấn Sửu, Lệ Thanh v.v…

Giai đoạn 55 - 75 sau Hiệp định Geneve đất nước bị chia cắt thì sân khấu cải lương cũng phải tồn tại và hoạt động trong hai hoàn cảnh khác nhau

- Ở miền Nam, dưới sự chỉ đạo khéo léo của cách mạng và lòng ái mộ của công chúng, sân khấu cải lương phải bằng sức sống tự thân, tìm mọi cách đứng vững trong lòng một xã hội ngập tràn những loại hình văn hóa lai căng ngoại nhập

- Ở miền Bắc sân khấu cải lương được Nhà nước quan tâm đặc biệt là sự kiện Nhà nước tập hợp các Văn nghệ sĩ cải lương miền Nam tập kết ra Bắc để thành lập Đoàn Cải lương Nam bộ

Lúc này Đoàn có được một đội ngũ nghệ sĩ giỏi nghề như Tám Danh, Ba Du là những người cùng thời với các nghệ sĩ danh tiếng phía Nam như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Bảy Nam, Năm Châu Kế cận có Ngọc Thạch, Triệu An, Hoàng Sa, Thanh Hương, Công Thành, Tấn Đạt và một số các nghệ sĩ cải lương Bắc bổ sung như Ái Liên, Kim Xuân, Tiêu Lang…

Song hành với đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn là các nhạc công tài danh như Ba Bằng - đờn

Cò, Năm Bá - đờn Bầu, Út Du - đờn Tranh, Tri Trọng - Guitar v.v…

Đoàn đã có những công trình vở diễn để lại dấu ấn khó phai trong khán giả như Kiều

Nguyệt Nga (Ngọc Cung), Máu thắm đồng Nọc Nạn, Võ Thị Sáu (Phạm Ngọc Truyền), Dệt gấm, Mẫu đơn tiên (Chi Lăng), Khuất Nguyên (Trung Quốc), Tình riêng nghĩa cả (Thanh Nha), Đường phố Sài gòn dậy lửa (Ngô Y Linh)

Qua 20 năm (1955 - 1975) Đoàn Cải lương Nam bộ đã có ảnh hưởng tích cực đến các đoàn cải lương ngoài Bắc, đã làm tròn sứ mệnh được Nhà nước giao

Trang 11

IV ĐI TÌM NHỮNG GIẢI PHÁP

Hiện trạng cải lương: Có thể có một sự thống nhất dễ dàng với tất cả chúng ta,

những người đương thời là hiện trạng cải lương đang suy giảm về trình diễn sân khấu còn về cái gốc căn cơ của cải lương là Đờn ca tài tử, là nhạc và các hình thức hò hát là vẫn giữ nguyên các giá trị vốn có từ khi hình thành Theo thiển ý chủ quan cá nhân chúng tôi cho rằng cần có những giải pháp chấn hưng, tái tạo phục hồi sân khấu biểu diễn ca kịch cải lương Nếu từ góc độ này nhìn lại thì có thể nói như nhà báo Trần Nhật Vy là sân khấu cải lương đã chết và chết tại chính nơi nó được sinh ra

Có lẽ nên xác định là cải lương mới đang trong cơn tai biến, có thể yếu cả về các khâu làm nên trình diễn như:

- Tác giả: Những người am hiểu cải lương còn lại rất hiếm hoặc đã cao tuổi gác bút

nghỉ Người trẻ có nhiệt huyết lại ít hiểu biết về cải lương Do vậy cải lương đang rất thiếu kịch bản Kịch bản hay lại càng thiếu và rất hiếm hoi

Phần lớn có khả năng viết thì chạy theo thị trường phim Điện ảnh và Truyền hình

- Về Đạo diễn: Do không được đào tạo chuyên ngành nên hầu như không có đạo diễn

cải lương đúng nghĩa, các đạo diễn gạo cội, am hiểu cũng hầu như tuyệt tích

- Diễn viên: Các tên tuổi lừng lẫy một thời đều ở vào độ tuổi lực bất tòng tâm

Làm liveshow là chính để diễn các trích đoạn được khán giả ưa thích

Hầu hết chuyển sang chạy mưu sinh (ca lẻ, đổi nghề) v.v

- Khán giả: Lớp khán giả ruột của cải lương hầu như không còn bao nhiêu Khán giả trẻ

do chưa hiểu biết về nghệ thuật này nên không thích xem cải lương

Không có khán giả, sân khấu cải lương không thể tồn tại và phát triển Muốn giải quyết tình trạng xuống dốc này cần có những giải pháp đồng bộ, căn cơ mà buổi tọa đàm này cần đưa ra để bàn bạc ngõ hầu tìm ra những giải pháp hữu hiệu phục hưng lại việc trình diễn sân khấu

Thử đi tìm một vài giải pháp:

1- Giải quyết tốt vấn đề bảo tồn và phát triển sân khấu cải lương

2- Thay đổi cách nghĩ, cách làm lỗi thời, không còn phù hợp với tình hình mới của xã hội hôm nay

Về quản lý nghệ thuật: Cần sự quản lý có sự hiểu biết và kinh nghiệm thị trường theo

kiểu các Bầu ban, Đoàn hát như cách quan lý của Bầu Kim Chưởng, Bầu Thơ v.v…

Đối với những người sáng tạo:

Trang 12

+ Cần có chính sách, thể chế nuôi dưỡng, nâng cao chất lượng sáng tác và biểu diễn Họ cần có một không gian riêng cho những hoạt động Văn hóa - Nghệ thuật như Rạp diễn

và các tiện nghi trong sinh hoạt sáng tạo

+ Cần một chính sách lâu dài, bền bỉ và hiệu quả trong việc giáo dục công chúng cải

lương

Trang 13

CẢI LƯƠNG Ở NAM BỘ – NHÌN LẠI VÀ BƯỚC TIẾP

Mai Mỹ Duyên*

Lịch sử của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng trải qua 3 thời kỳ: hình thành, phát triển và thoái trào Trong thời kỳ phát triển, có một giai đoạn nghệ thuật phát triển đến đỉnh cao, sáng tạo ra những giá trị tinh hoa đạt chuẩn mực và sự hài hòa cao độ, người ta gọi đó là

“giai đoạn hoàng kim” Vậy, giai đoạn hoàng kim của nghệ thuật sân khấu Cải lương (gọi tắt là Cải lương) là khi nào? Giai đoạn đó đã tạo ra những giá trị gì là tinh hoa, là chuẩn mực của Cải lương? Những hạn chế của Cải lương hiện nay là gì? Giải pháp nào để Cải lương khôi phục giai đoạn hoàng kim của nó? Cải lương hiện nay không chỉ là “đặc sản nghệ thuật” của Nam bộ

mà còn là tài sản văn hóa chung của cả nước Song, với kiến thức hạn hẹp, người viết chỉ mạn phép trình bày những vấn đề liên quan đến Cải lương ở Nam bộ Với bài viết này, người viết mong góp thêm một niềm hy vọng về tương lai của Cải lương, để nghệ thuật sân khấu đậm đà bản sắc dân tộc này được tồn tại và phát triển trên quê hương đã sản sinh ra nó

Từ khóa: giai đoạn hoàng kim, Cải lương, giải pháp

Abstract: The history of any form of art goes through three periods: formation,

development and recession In the period of development, there is a stage that art has developed the pinnacle that created quintessence values and high harmony And it is called Golden age by researchers So, when is Golden age of Cai Luong theatre (abbreviated as Cai Luong)? What quintessence values and standards did the stage create? What is the recovery solution of Cai Luong? Nowadays, Cai Luong is not only "art specialties" of the South but also the common cultural property of Vietnam However, with limited knowledge, the writer only allowed to present issues related to Cai luong in the South Through this article, the writer hopes to contribute something to the future of Cai Luong – stage art imbued with national identity - existed and developed in the country that produced it

Keywords: Golden age, Cai luong, solution

1 ĐÔI ĐIỀU VỀ KHÁI NIỆM

1.1 Giai đoạn hoàng kim

Từ điển Hán Nôm của Nguyễn Quốc Hùng định nghĩa hoàng kim là: vàng (một thứ kim loại quý), chỉ tiền bạc hay chỉ tình trạng tốt đẹp lí tưởng (Hoàng kim thời đại), hoặc dùng

để ví sự phồn thịnh nhất, đẹp nhất của một nền văn minh, một thời đại, một thời kì, một giai

* TS., Giảng viên Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh

Trang 14

đoạn của lịch sử, thường là đã qua rồi [06] Như vậy, giai đoạn hoàng kim là giai đoạn đạt đến

đỉnh cao của loại hình nghệ thuật Dùng khái niệm này để chỉ một giai đoạn cực thịnh của nghệ thuật biểu diễn như Cải lương thì theo thiển ý của tôi cần dựa trên những tiêu chí đánh giá nhất định Chẳng hạn:

Về đội ngũ sáng tạo: là giai đoạn có nhiều nghệ sĩ tài năng (soạn giả, nhạc sĩ, đạo diễn,

diễn viên, họa sĩ thiết kế) sáng tạo có phong cách riêng, tạo được dấu ấn nghệ thuật trong lòng công chúng ái mộ và được giới chuyên môn công nhận

Về nội dung, hình thức tác phẩm: là giai đoạn có nhiều tác phẩm (kịch bản, âm nhạc,

mỹ thuật sân khấu) có giá trị nhân văn và tính triết lý sâu sắc; có tính giáo dục và định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng Trong đó, có những tác phẩm “kinh điển”, “mẫu mực” mà các thế hệ sau phải học tập noi theo, làm nền tảng để sáng tạo giá trị mới

Về không gian biểu diễn: là giai đoạn mà cơ sở vật chất chuyên dụng cho biểu diễn

(rạp hát, sàn diễn, phương tiện kỹ thuật …) được đầu tư xây dựng có thiết kế phù hợp với đặc điểm của loại hình nghệ thuật; tạo sự lộng lẫy, sang trọng để người nghệ sĩ thăng hoa trong sáng tạo và công chúng mê đắm khi thưởng thức Nói một cách văn hoa hơn, nhà hát phải là “thánh đường” của nghệ thuật sân khấu

Về công chúng nghệ thuật: là giai đoạn mà số đông công chúng, có hiểu biết một cách

cơ bản về nghệ thuật và có điều kiện kinh tế nhất định để đến với sân khấu Đây là yếu tố có tính chất quyết định cho sự tồn tại và phát triển của các loại hình nghệ thuật biểu diễn

Từ những tiêu chí nêu trên có thể áp dụng để xác định giai đoạn nào là “hoàng kim”trong tiến trình của Cải lương

Người viết có dịp tìm hiểu quan niệm của “giới nghề”1 nói về giai đoạn hoàng kim

trong những lúc “trà dư tửu hậu” Một số các bậc cao niên cho rằng: giai đoạn 1930 – 1945

mới là giai đoạn hoàng kim của Cải lương Vì: giai đoạn đó đã tạo ra một đội ngũ nghệ sĩ là

những “cây cổ thụ của Cải lương” hay nói một cách khác, đã tạo ra những “huyền thoại” mà tài hoa sáng tạo của họ xếp vào “bậc thầy” của các thế hệ sau Những nghệ sĩ được chắp cánh tài năng bởi một đội ngũ các bầu gánh hát Đó là những trí thức có đầu óc cách tân, những nhà giàu ham mê văn nghệ … đã dốc tiền của, tâm sức, trí tuệ để thành lập gánh hát Lịch sử Cải lương vẫn còn ghi nhận công lao của các ông (bà) của giai đoạn ban đầu, như: Lê Văn Thận (André Thận) chủ gánh Circle du Annam et Carabo (Sa Đéc), Châu Văn Tú (Pièrre Tú) chủ gánh Thầy Năm Tú, Thầy Hai Cu chủ gánh Nam Đồng Ban, cô Tư Sạn chủ gánh Đồng Bào Nam, Bạch Công Tử (George Phước) chủ gánh Huỳnh Kỳ, Trần Ngọc Viện chủ gánh Đồng Nữ

1 Thuật ngữ dùng để chỉ những người hoạt động sân khấu Cải lương

Trang 15

Ban (tất cả đều ở Mỹ Tho) Từ năm 1930 trở đi đã xuất hiện những bầu gánh mới mà công lao của họ cũng xứng đáng được trân trọng và tôn vinh, như: bầu Lê Ngọc Cương (gánh Phước Cương), Nguyễn Thành Châu (Việt kịch Năm Châu), Phùng Há (Phụng Hảo), Mộng Vân (soạn giả Mộng Vân), Nam Phi (Năm Phỉ), … Chính đội ngũ bầu chủ này đã tranh đua đầu

tư lập gánh hát, đào tạo ra những “ông hoàng, bà chúa” trên sân khấu, thúc đẩy Cải lương ngày một phát triển, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của công chúng trong bối cảnh xã hội Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX

Đội ngũ sáng tạo kịch bản trong giai đoạn 1930 – 1945 là những người có trình độ am hiểu cổ - kim (Nho học và Tây học) như: Huỳnh Thủ Trung (Tư Chơi 1905 – 1967) với các

vở Khúc oan vô lượng, Lở tay trót đã nhúng chàm, Tôi xin chừa, Hai mặt còn trơ, Ai là bạn

chung tình…; Nguyễn Thành Châu (Năm Châu 1906-1977) với Giá trị và danh dự, Tuý Hoa vương nữ, Tơ vương đến thác, Hồn chinh phụ, Đêm không ngày…; Trần Hữu Trang (Tư Trang

1906-1966) với Tội của ai, Mộng hoa vương (viết cùng Năm Châu, Lê Hoài Nở), Tô Ánh

Nguyệt, Lan và Điệp, Đời cô Lựu; Lê Hoài Nở (1909-2000) với Vó ngựa truy phong, Khi người điên biết yêu, Chị chồng tôi (viết cùng Năm Châu, Trần Hữu Trang), Những kẻ vứt đi, Thử yêu chồng; Mộng Vân (Trần Tấn Trung 1910 – 1950) với Tráng sĩ Kinh Kha, Phạm Lãi Tây Thi, Cành vàng trong lửa đỏ, Ái tình và huyết nhục … Những kịch bản sáng tác trong giai đoạn này

về ca từ, lời thoại có tính triết lý giáo dục sâu sắc Bài bản âm nhạc sử dụng trong tác phẩm hài hòa với tính cách nhân vật và tình huống của vở diễn Đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn là những ngôi sao sáng mà sự nghiệp của họ trở thành “huyền thoại” trong giới Cải lương, như: Năm Phỉ, Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Tư Sạng, Bảy Nam, Kim Cúc, Kim Thoa, Năm Sa Đéc, Tám Danh, Ba Du, Năm Nghĩa, Tư Út, Bảy Thưa,…cùng với các họa sỹ tiền bối Hoàng Tuyển, Diệp Minh Châu đã kết hợp tư duy mỹ thuật dân tộc với phương pháp sáng tác Âu châu, tạo dựng không gian biểu diễn thích hợp với kịch bản, làm cho Cải lương trở nên kỳ ảo, hấp dẫn trong con mắt của khán giả, lôi cuốn họ đến với sân khấu Cải lương ngày càng nhiều

Công chúng bấy giờ thưởng thức Cải lương là ai? Trước hết là tầng lớp trí thức, quan lại, điền chủ, trung nông, doanh nhân, tiểu thương, thợ thủ công, nông dân,…một lực lượng đông đảo trong xã hội Hiện tượng xếp hàng mua vé, bán vé chợ đen bắt đầu xuất hiện trong thời này Về mặt bằng hiểu biết, mức thu nhập và lòng ham mê thì lực lượng này có đầy đủ điều kiện để tiếp cận Cải lương Trong bối cảnh xã hội bấy giờ việc thưởng thức nghệ thuật được xem như một thú vui sang trọng, tao nhã mà kể cả người giàu có, khá giả và bình dân đều có nhu cầu như nhau

Trang 16

Như vậy, với một nguồn lực nghệ sĩ trẻ, có tri thức cao, dồi dào sáng tạo (xin chỉ nêu một số tiêu biểu như trên) cùng với đội ngũ quản lý là các bầu gánh hát giàu tiền của và niềm say mê đầu tư cho nghệ thuật, nên đã tạo lập được một giai đoạn đỉnh cao của Cải lương và dấu ấn của giai đoạn đó ghi đậm trên trang sử văn hóa nước nhà cho đến ngày nay

Tuy nhiên, một số các bậc cao niên khác thì cho rằng: từ năm 1955 – 1975 mới là “giai

đoạn hoàng kim”của nghệ thuật Cải lương Dựa vào những tiêu chí đặt ra ở trên để xem xét

thì nhận thấy:

Về đội ngũ sáng tạo: trong giai đoạn này vừa giữ được đội ngũ sáng tạo “đàn anh”

đang vào độ tuổi “chín muồi” của sức sáng tạo (Năm Châu, Lê Hoài Nở, Mộng Vân, Tư Chơi,

Tư Trang…) vừa xuất hiện thêm một lực lượng đông đảo các soạn giả trẻ tuổi, nhiệt huyết, năng động và dồi dào bút lực, như: Viễn Châu, Kiên Giang, Hà Triều - Hoa Phượng, Thu An, Quy Sắc, Yên Lang, Yên Ba, Nguyễn Phương, Thiếu Linh, Ngọc Linh, Hoài Linh, Phong Anh, Loan Thảo, Yên Ba, Phi Hùng, Tần Nguyên, Huy Trường, Thanh Cao, Việt Thường, Trần Hà,… không chỉ kế thừa những giá trị sáng tạo của các bậc tiền bối mà còn tiếp thu văn hóa các nước đưa vào sân khấu Cải lương Nếu như thập niên 30, 40 các soạn giả tập trung khai thác chất liệu văn học Việt Nam, Trung Hoa và Pháp vào tác phẩm của mình thì đến giai đoạn này, nội dung đã mở rộng ra đến mức không ngờ, đẩy nghệ thuật văn chương của Cải lương lên đỉnh cao của sự sáng tạo Nội dung sáng tạo kịch bản phong phú tác động đến việc hình

thành nhiều thể tài2của sân khấu Cải lương Hàng trăm vở Cải lương ra đời trong giai đoạn

này (không thể thống kê hết được những sáng tác kịch bản ở các tỉnh), Trong số đó, có 260

vở tiêu biểu đã làm nên tên tuổi của các nghệ sĩ, như: Hữu Phước, Thanh Nga, Thành Được,

Út Bạch Lan, Út Trà Ôn, Kim Cúc, Thanh Hương, Ngọc Hương, Út Hiền, Ngọc Giàu, Diệp Lang, Bạch Tuyết, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm, Thanh Hùng, Ngọc Hoa, Minh Cảnh, Phượng Liên, Minh Phụng, Mỹ Châu, Minh Vương, Lệ Thủy, Tấn Tài, Kim Ngọc, Diệu Hiền, Út Hậu, Hà Mỹ Xuân, Thanh Sang, Phương Quang, Thanh Tú, Trang Bích Liễu, Mộng Tuyền, Kiều Mai Lý, Kim Giác, Ngọc Nuôi, Kiều Tiên, Thanh Thế, Bửu Truyện, Đức Lợi, Kim Mai, Bạch Lê, Thanh Tòng,

Bo Bo Hoàng, Xuân Yến, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn, Hoàng Giang, Hùng Minh, Thanh Hải, Thanh Thanh Hoa, Hà Bửu Tân, Tài Bửu Bửu, Ngọc Bích, Hồng Nga, Phương Bình, Phương Thanh, Phượng Mai, Giang Châu, Kiều Phượng Loan, Văn Chung, Thanh Việt, Văn Hường, Hề

Sa …[04]

2 Nghệ thuật Cải lương xét trên đề tài sáng tác kịch bản được phân làm nhiều thể loại: Hương xa, Kiếm hiệp, Dã sử, Tâm lý xã hội, Tuổng cổ (tuồng Tàu), Tâm linh (Tiên Phật), …

Trang 17

Không chỉ trong nghệ thuật diễn xuất, mà trong giai đoạn này một số soạn giả, nhạc sĩ, nghệ nhân của dòng cổ nhạc đã sáng tạo ra nhiều bài bản, ca khúc vừa có thể trình diễn như một tác phẩm độc lập vừa khai thác đưa vào kịch bản Cải lương, đáp ứng mọi trạng thái tâm

lý của nhân vật và mọi tình huống của vở diễn Trên những tài liệu của Nghệ nhân dân gian Tấn Nhì, nhạc sĩ Vũy Chỗ, soạn giả Viễn Châu, nhạc sĩ Văn Giỏi … thì ngoài 20 bản Tổ của Nhạc Tài tử được kế thừa thì đến giai đoạn này đã có trên 100 bản nhỏ với đầy đủ hơi - điệu (Nam, Bắc, Lễ, Oán, Xuân, Ai, Đảo, Ngự, Quảng) đưa vào sân khấu Cải lương Đặc biệt, bản Vọng cổ nhịp 32 hơi Bắc – Oán ra đời đã nhanh chóng trở thành “bản nhạc vua”, là động lực thúc đẩy ý tưởng sáng tạo ra những phong cách ca diễn đặc thù của mỗi nghệ sĩ Chính lối ca diễn độc đáo của nghệ sĩ mới tạo được dấu ấn trong lòng công chúng, làm nên tên tuổi cho rất nhiều cặp đào kép chính của sân khấu Cải Lương

Cũng trong giai đoạn này, trước đà lớn mạnh của Cải lương và nhu cầu cấp thiết nâng cao ý thức, trách nhiệm, rèn luyện nhân cách nghệ sĩ trong xã hội đương thời, ông Trần Tấn Quốc - chủ tờ báo Tiếng Dội đã đề xướng Giải Thanh Tâm với sự tham gia của Hội đồng xét giải gồm các ký giả kịch trường và những soạn giả nổi tiếng bấy giờ Việc xét giải là để công nhận và tôn vinh những nghệ sĩ tài sắc vẹn toàn, có phẩm chất, đạo đức và tài năng xứng đáng với sự trân trọng và ngưỡng mộ của công chúng Nghệ sĩ biểu diễn đoạt giải Thanh Tâm đầu tiên là Thanh Nga (1958) và những nghệ sĩ được xét chọn trong đợt cuối của giải thưởng này là: Mỹ Châu, Ngọc Bích, Bảo Quốc, Phương Bình (1967)3 Đến năm 1965, Giải

Thanh Tâm còn trao Bằng danh dự cho các cặp nghệ sĩ xuất sắc và vở Cải lương hay nhất

trong năm Tuy giải thưởng không kéo dài, chỉ tồn tại trong 10 năm nhưng được lập ra bởi những trí thức, các thầy tuồng, các nhà báo phê bình nghệ thuật có nhiều uy tín, có chuyên môn cao, nhiều tâm huyết với nghệ thuật sân khấu dân tộc đã tác động rất mạnh mẽ đến phong trào rèn luyện và tu chỉnh trên mọi phương diện của đội ngũ sáng tạo của Cải lương

Và có lẽ, quan trọng không kém phải kể đến sự xuất hiện nở rộ của những bầu gánh hát So với các chủ gánh của giai đoạn 1930 – 1945 thì các bầu gánh trong giai đoạn này đi theo xu hướng hình thành công nghiệp giải trí Họ lập định chiến lược phát triển thông qua việc ký kết hợp đồng (contract) với những vai trò chủ yếu của sân khấu (đào kép, họa sĩ, thầy tuồng, nhạc sĩ), vừa đào tạo ra đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn tài năng vừa đáp ứng được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật hàng ngày của khán giả Tiêu biểu các bầu chủ phải kể đến bầu

3 Ngoài ra còn có: Hùng Minh, Lan Chi (1959); Ngọc Giàu, Bích Sơn (1960); Thanh Thanh Hoa (1961); Ngọc Hương, Ánh Hồng (1962); Bạch Tuyết, Kim Loan (tức Mộng Tuyền), Trương Ánh Loan, Tấn Tài, Diệp Lang, Thanh Tú (1963); Lệ Thủy, Thanh Sang (1964); Thanh Nguyệt, Bo Bo Hoàng (1965); Phượng Liên, Phương Quang, (1966)

Trang 18

Kim Chưởng (đoàn Kim Chưởng), bầu Thơ (đoàn Thanh Minh Thanh Nga), bầu Xuân (đoàn

Dạ Lý Hương), bầu Trần Viết Long (giám đốc Công ty Kim Chung gồm 6 đoàn)… Theo nhà

báo Thanh Hiệp: “Nghệ sĩ Kim Chưởng rời ánh đèn sàn diễn nhiều năm, chọn nghiệp làm bầu

để dát vàng cho những tên tuổi nghệ sĩ tài danh 2/3 nghệ sĩ đạt giải HCV Thanh Tâm, một giải thưởng danh giá của sân khấu cải lương miền Nam, từng được đứng trên sân khấu của bà”[03] Hay Công ty Kim Chung do ông Trần Viết Long làm Giám đốc là biểu hiện tập trung

nhất của xu hướng hình thành công nghiệp giải trí trong lĩnh vực sân khấu ở Sài Gòn Công ty này có 5 đoàn (Kim Chung 1 đến 5) đã thực thi một chiến lược vừa học vừa diễn đối với các đào kép trẻ Những giọng ca hay được thu dĩa và mời ký giả viết bài lăng – xê, tạo hiệu ứng

từ khán giả để tác động sân khấu Cải lương đi lên Hay bà bầu Thơ (Nguyễn Thị Thơ) không chỉ đào tạo con gái là nghệ sĩ Thanh Nga mà bà còn giúp cho nghệ sĩ Hữu Phước, Ngọc Giàu, Thành Được … có chỗ đứng vững vàng trên sân khấu Đặc biệt, bà kiên tâm theo đuổi mục đích phát triển đoàn theo một phong cách riêng trong việc chọn đề tài tâm lý xã hội để tạo thương hiệu cho đoàn Bên cạnh đó, bà (cũng như bầu Kim Chưởng) đã ký hợp đồng để có soạn giả thường trực cho đoàn Ngoài ra còn có các bầu gánh khác như bầu Thu An kiêm soạn giả (đoàn Hương Mùa Thu) đã tạo tên tuổi cho Ngọc Hương, Út Hiền, Thanh Hải; bầu Xuân (đoàn Dạ Lý Hương) đào tạo cặp tài danh Hùng Cường – Bạch Tuyết

Để có décor sân khấu “bắt mắt”, các bầu đã đua nhau mời các họa sĩ và nghệ nhân chuyên làm tranh cảnh, trang phục cho mỗi vở diễn của đoàn Cải lương là mảnh đất sáng tạo gắn với hiện thực của đội ngũ họa sĩ bấy giờ Họ là những người được đào tạo từ Trường Mỹ thuật Gia Định hoặc trưởng thành về chuyên môn qua quá trình cộng tác với các đoàn hát Tên tuổi của họ ẩn sau những tấm font trang trí sân khấu song thành công mà Cải lương có được, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ những họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu, làm đạo cụ và kể cả việc chế tác trang phục Tất cả đã tạo nên một “thánh đường” đẹp

đẽ, uy nghi cho sân khấu Cải lương, góp phần cùng với các yếu tố khác của Cải lương tác động trực tiếp đến mỹ cảm của khán giả, phù hợp với phong cách biểu hiện đặc trưng của Cải lương là “Thực và Đẹp”4

Tóm lại, những đoàn hát đua nhau cạnh tranh về chất lượng hoạt động trong giai đoạn này đã tác động rất lớn đến sự hoàn thiện một phương thức quản lý mới, năng động và sáng tạo đối với Cải lương trong bối cảnh xã hội đương thời Có thể nói, giai đoạn 1955 –

1975 đã thực sự mở cánh cửa cho ngành công nghiệp giải trí non trẻ và mới mẻ được hình thành trên nền tảng của sân khấu Cải lương ở Nam bộ

4 Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Thành Châu – người đề xướng phong cách này

Trang 19

Và đến đây, có lẽ không cần bàn thêm về tiêu chí lực lượng công chúng thưởng thức Cải lương; hay một đội ngũ làm nghề từ thầy tuồng (soạn giả kiêm đạo diễn) tài hoa cho đến một lực lượng diễn viên hùng hậu về số lượng và điêu luyện trong nghiệp diễn; hoặc những

vở tuồng giàu tính nhân văn, sâu sắc về mặt văn chương và triết lý; hay nói đến các thể tài sân khấu phát triển phong phú đến mức không ngờ và hàng trăm rạp hát làm nên không gian thánh đường của nghệ thuật sân khấu ở Nam bộ Vậy liệu đây có phải đây là “giai đoạn hoàng kim”của sân khấu Cải lương phía Nam?

Người viết thiết nghĩ chúng ta ai cũng có thể trả lời được câu hỏi này vì những bước tiến bộ vượt bực mà chỉ trong 2 thập niên thôi Cải lương đã làm những điều mà các loại hình sân khấu khác chưa từng có Đáng suy ngẫm hơn khi những thành tựu to lớn mà Cải lương tạo dựng trong lịch sử nghệ thuật nước nhà lại diễn ra trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, bất ổn định trên các phương diện chính trị, kinh tế và xã hội

Tuy nhiên, tìm hiểu một giai đoạn đã qua không phải để tiếc nuối mà là để tự hào và bước tiếp Muốn vậy, theo tôi cần hiểu được bản chất và căn cơ của loại hình sân khấu này

1.2 Cải lương và cải lương

Dưới dạng từ chung thì cải lương (reforme, réformer) có nghĩa là “sửa đổi thành tốt

hơn”[01; tr 81] Ngoài ra, còn một thuật ngữ trong nghiên cứu triết học và chính trị học có

liên quan là chủ nghĩa cải lương (reformism) “là trào lưu chính trị, chủ trương thực hiện

những biến đổi xã hội bằng cải cách, không động chạm đến nền tảng của chế độ cũ vốn bất hợp lí” [05] Chủ nghĩa cải lương ra đời cuối thế kỷ XIX trên cơ sở những cuộc đấu tranh đòi cải

cách xã hội diễn ra ngày càng quyết liệt trong lòng các nước tư bản, thuộc địa, phụ thuộc; đã nhanh chóng lan sang Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, được nho sỹ và giới trí thức đón nhận, tiêu biểu trong số đó là nhà hoạt động chính trị Phan Châu Trinh

Vào thời điểm đó, văn hóa phương Tây tác động ngày càng mạnh mẽ trong đời sống

xã hội Những người xuất thân từ gia đình giàu có, quan lại có truyền thống Nho giáo nhưng sớm tiếp cận với văn minh phương Tây đã liên kết lại thực hiện ý tưởng cải cách văn hóa Dũ thúc Lương Khắc Ninh5 – một trí thức dung hợp cả hai dòng văn hóa Đông – Tây, chủ bút tờ

Nông cổ mín đàm đã đãng đàn diễn thuyết tại Hội Khuyến học vào 8 giờ tối ngày 28 tháng 3

năm 1917 về cải lương cuộc hát (cải lương hí nghệ) Qua bài diễn thuyết của Lương tiên

5 (1862-1943) bút hiệu Dị Sử Thị, nhà báo, nhà văn, một người cổ động mạnh mẽ cho thương nghiệp, nhà viết tuồng kiêm bầu gánh hát bội, nghị viên của Hội đồng Tư vấn Chính phủ Nam Kỳ, hoạt động tích cực trong các lĩnh vực văn hóa ở Sài Gòn suốt từ năm 1900 -1930

Trang 20

sinh, từ cải lương đã được dùng như một động từ với ý nghĩa là sửa đổi lối hát cũ (tức Hát bội) để hình thành lối hát mới, phù hợp với nhu cầu khán giả và thực tiễn đời sống xã hội6

Từ đó, Cải lương (viết hoa) được sử dụng như danh từ riêng, dùng để gọi tên một thể

loại nghệ thuật sân khấu ra đời ở miền Nam vào đầu thế kỷ XX Nó chính thức thành tên gọi

riêng cho một kiểu lối sân khấu mới phải kể đến công lao của khán giả Nam bộ khi đi xem

gánh hát Tân Thinh do ông Trương Văn Thông làm chủ Vào năm 1920, hai bên bảng hiệu ở

cổng rạp của gánh hát ông Thông đã cho treo hai câu liễn: Cải cách hát ca theo tiến bộ Lương

truyền tuồng tích sánh văn minh Theo Trần Văn Khê7: “Vì vậy mọi người quen gọi đây là gánh

Cải lương Tân Thinh xuất xứ từ chữ đầu hai câu thơ ghép lại và cách gọi này dần dà trở nên thông dụng”[02, tr ] Nhận định này của Trần Văn Khê về kiểu nói của người Nam bộ theo tôi

là hợp lý: ngắn gọn, đơn giản, sao cho dễ hiểu, dễ nhớ Như vậy, tên gọi Cải lương hay Sân

khấu Cải lương là do người dân Nam bộ đặt tên cho thể loại nghệ thuật mới lạ, hấp dẫn, khác

với Hát bội – nghệ thuật sân khấu truyền thống trước đó

1.3 Cải lương – dung hợp Đông – Tây và không ngừng sáng tạo

Cải lương hay còn gọi sân khấu Cải lương, nghệ thuật Cải lương được hình thành trên

cơ sở lối ca ra bộ của nhạc Tài tử, của Hát bội, dân ca và văn học Việt Nam Nền tảng của Cải

lương là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa âm nhạc (hát), sân khấu (kịch) và các loại hình khác (kiến trúc, hội họa, thời trang,…); trong đó, căn cơ của Cải lương chính là nhạc Tài tử Nam bộ Tuy nhiên, Cải lương đã không dừng lại ở các bài bản Tổ, mà trên nền tảng hơi – điệu đó các nhạc sĩ, nghệ nhân tiền bối không ngừng cải tiến, sáng tạo nên một nhạc mục phong phú hàng trăm bản lớn nhỏ, đáp ứng cho mọi trạng thái tâm lý của nhân vật, mọi tình huống trên sân khấu Không chỉ vậy, Cải lương còn tiếp nhận những làn điệu dân ca, ca khúc nước ngoài trong các vở thể tài hương xa; Hồ Quảng; đặc biệt hơn Cải lương đã tiếp nhận âm nhạc Tây phương kết hợp với cổ nhạc một cách hài hòa và hợp lý Như vậy, âm nhạc Cải lương tuy lấy nhạc Tài tử làm nền tảng nhưng vẫn mở rộng vòng tay tiếp nhận nhiều dòng nhạc của các dân tộc trong và ngoài nước

Diễn trình lịch sử cho thấy Cải lương không tiếp nhận thụ động, nguyên xi, mà luôn cải tiến, sáng tạo thêm để phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của dân tộc Cải lương cũng đã có sự tương tác với âm nhạc phương Tây, kích thích các nhạc sỹ của dòng tân nhạc Việt Nam sáng tạo ra một điệu nhạc rất phù hợp với giọng nói Nam bộ và thang âm ngũ cung của nhạc Tài

tử: Boléro (nhịp 4/4, 2/4) Những ca khúc theo điệu nhạc này kết hợp với bản Vọng cổ nhịp

Trang 21

32 cho ra thể loại Tân Cổ giao duyên, được xem là sự phối hợp hài hòa và tinh tế, cho đến

hôm nay vẫn còn được đông đảo khán giả ưa chuộng

Căn cơ thứ hai của Cải lương là nền văn học trong và ngoài nước Từ những tác phẩm văn học thành văn nổi tiếng cho đến những câu chuyện kể dân gian của Việt Nam; từ những tác phẩm văn chương nổi tiếng của các đại văn hào Pháp, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản… cho đến sử thi, thần thoại, cổ tích của các nước này qua bộ óc sáng tạo tài tình của các soạn giả, đạo diễn (Thầy tuồng) đã trở thành những vở diễn có giá trị tư tưởng và thẩm mỹ sâu sắc

Như: Kim Vân Kiều (Trương Duy Toản), Phụng Nghi đình (Nguyễn Trọng Quyền), Giá trị và

danh dự (Nguyễn Thành Châu), Khúc oan vô lượng (Huỳnh Thủ Trung), Tô Ánh Nguyệt (Trần

Hữu Trang), Khi người điên biết yêu (Trang - Châu - Nở), Hoa Mộc Lan tùng chinh (Viễn Châu), Khi hoa anh đào nở (Hà Triều – Hoa Phượng), Trà Hoa Nữ (Kim Cương – Thế Châu),

Mùa thu trên Bạch mã sơn (Yên Lang) v v Đó là chưa kể đến một khối lượng kịch bản của

các soạn giả viết về đề tài lịch sử Việt Nam và các nước Có thể nói tính dung hợp của văn hóa Nam bộ thể hiện đầy đủ trong nội dung và hình thức của Cải lương

Căn cơ thứ ba của Cải lương là sự kế thừa những thành tựu của Hát bội Từ việc đào tạo theo lối truyền nghề, đến việc lựa chọn diễn viên (thời kỳ đầu) cũng lấy theo quy chuẩn

của Hát bội: nhứt thinh (chất giọng), nhị sắc (sắc diện, hình thể), tam bộ (điệu bộ, màu mè),

tứ bài (bài bản âm nhạc) Cải lương còn tiếp nhận những thành tựu của Hát bội trong nội

dung cốt chuyện để xây dựng kịch bản, hình thành dòng Cải lương tuồng Tàu, mục đích đề cao phẩm chất con người: trung, nghĩa, trí, tín, dũng, nhân Trên cơ sở đó, dòng Cải lương lịch sử Việt Nam được xây dựng bởi những soạn giả tiên phong như: Lê Minh – Hoàng Thái

Sơn với Hỏa Hồng Nhật Tảo, Lê Hoài Nở với Anh chị ăn mày, Nguyễn Phương và Thiếu Linh với Cô Giang Nguyễn Thái Học …và nhiều tác giả ở các tỉnh Nam bộ viết vào thập niên 40 -50

Nói theo ông Vương Hồng Sển thì Cải lương “là đứa con tập tàng” không chỉ kế thừa, chọn lọc cái hay, cái độc đáo của nghệ thuật nước nhà mà còn tiếp nhận tinh hoa của âm nhạc và sân khấu Tây phương (opera, drama) từ thiết kế không gian biểu diễn (xây dựng nhà hát, trang trí sân khấu) theo hướng “mỹ lệ hóa” để sân khấu trở thành một “thánh đường nghệ thuật” đối với khán giả Hay tiếp thu cách cấu trúc phân màn, phân lớp (xây dựng kịch bản) hòa quyện hai yếu tố không gian và thời gian của vở diễn Hoặc tiếp thu lý luận sân khấu Châu Âu về phương thức biểu đạt hình tượng nghệ thuật thông qua kỹ thuật diễn xuất mà khắc họa tính cách nhân vật Chính điều này đã tạo cho diễn viên trở thành

“ông hoàng, bà chúa” của sân khấu Cải lương Ngoài ra còn có hóa trang, phục trang và sau

đó là kỹ thuật âm thanh và ánh sáng … tất cả luôn luôn phải được bổ sung, cải tiến, làm mới

Trang 22

bởi một đội ngũ tiên phong dồi dào trí tuệ và tâm huyết Tất cả nỗ lực trong quá trình giao lưu và tiếp biến đó đã làm cho thể loại sân khấu này phát triển nhanh chóng, thỏa mãn được nhu cầu thưởng thức của các thành phần xã hội (từ quan lại, điền chủ, trí thức, tiểu thương,

tá điền, công nhân, thợ thủ công, …) mà không phải thể loại sân khấu nào trong lịch sử văn hóa Việt Nam cũng đạt được nhanh chóng như vậy

Sân khấu Cải lương ra đời như một tất yếu của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa Đông – Tây ở Nam bộ mà nền tảng vững chắc chính là nhu cầu hưởng thụ đa dạng và luôn tìm tòi sáng tạo ra giá trị văn hóa tinh thần của các tầng lớp trong xã hội Có lẽ không ngoa khi nói rằng: bản sắc văn hóa Nam bộ biểu hiện rõ nhất trong Cải lương Vì nó thể hiện sức mạnh tư duy, ý chí, tình cảm của con người Nam bộ, luôn tiếp thu, cải tiến, sáng tạo không ngừng để tồn tại và phát triển Vậy mà, một loại hình nghệ thuật vốn tượng trưng cho sự mới

mẻ một thời như Cải lương đang thoi thóp, ngoắc ngoải trong một xã hội mà nền văn minh vật chất đã tiến rất nhiều so với trước kia! Thực trạng xuống cấp về mọi mặt của Cải lương làm cho những ai yêu chuộng và tự hào với thể loại sân khấu này đều suy tư, trăn trở Làm thế nào để Cải lương tồn tại và phát triển?

Câu hỏi đó đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng! Cũng như chưa có giải pháp nào khả thi ngăn chặn cơn thoái trào và làm “sống lại giai đoạn hoàng kim”của sân khấu Cải lương Theo thiển ý của người viết, để giải đáp các câu hỏi trên cần đặt nghệ thuật Cải lương trong mối quan hệ tương tác giữa 3 thành tố: chủ thể (nghệ sỹ với năng lực sáng tạo và mục đích làm nghề; công chúng có nhu cầu thưởng thức; nhà quản lý nắm chính sách, pháp luật

và tri thức nghệ thuật) Ngoài ra còn phải để Cải lương phát triển trong không gian đặc thù của nó (không gian trình diễn, không gian đào tạo, không gian sáng tạo của người làm nghề)

và thời gian thích hợp giữa nghệ sĩ và công chúng (thời điểm hoạt động, thời lượng vở diễn, thời gian rỗi của người thưởng thức) … mới tìm được lời giải đáp cho sự tồn tại và phát triển của Cải lương trong bối cảnh hiện nay

2 NHỮNG TỒN TẠI CỦA CẢI LƯƠNG HIỆN NAY

Cải lương là di sản văn hóa của quốc gia Tuy nhiên, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc chưa gắn kết đồng bộ với chính sách phát triển kinh tế - xã hội

và chính sách giáo dục, dẫn đến các văn bản pháp lý ban hành kém hiệu lực; hệ thống thiết chế thực thi chính sách không hài hòa, đồng bộ, thành tựu của ngành này lại là hạn chế của ngành kia Trên phương diện bảo vệ di sản văn hóa dân tộc là Cải lương thì vấn đề này càng

bộc lộ rõ nét Bởi vì, muốn Cải lương tồn tại cần giải quyết 4 đối tượng liên quan: đội ngũ làm

nghề (soạn giả, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, nhạc công, biên đạo…), lực lượng khán giả (các

Trang 23

thành phần xã hội, đặc biệt là khán giả trẻ) cán bộ quản lý (lãnh đạo ngành văn hóa phụ trách nghệ thuật, trưởng phó đơn vị hoạt động Cải lương) và các nhà phê bình nghệ thuật (phóng

viên, nhà nghiên cứu)

2.1 Đội ngũ làm nghề không có đất dụng võ

Đội ngũ làm nghề còn gọi là những nghệ sĩ mà ở mỗi góc độ chuyên môn đã cống hiến cho sân khấu Cải lương Họ được xem là chủ thể sáng tạo, có vai trò to lớn và quyết định đến sự hưng thịnh, tồn vong của một loại hình nghệ thuật Tuy cũng được gọi chung là nghệ sĩ song việc đào tạo cũng như hành nghề thì lại tùy thuộc vào đặc thù của các ngành nghệ thuật Nhất là từ khi đất nước ta bắt đầu mở những mã ngành đào tạo chuyên sâu về nghệ thuật như: đạo diễn kịch hát truyền thống, biên kịch sân khấu, biểu diễn thanh nhạc, biểu diễn nhạc cụ, thiết kế sân khấu,… cho thấy một xã hội học tập đang dần phát triển theo hướng chuyên môn hóa Điều này có ưu điểm là đào tạo được một đội ngũ làm nghề có “căn cơ”, “bài bản” đàng hoàng, khả dĩ đáp ứng được nhu cầu xã hội và xu hướng tiến bộ trong nghệ thuật

Tuy nhiên, thực trạng đào tạo mấy thập niên qua cho thấy: diễn viên không qua được

“cái bóng” của các bậc tiền bối (mà vốn liếng ban đầu đến với Cải lương của họ chỉ là năng khiếu và niềm đam mê); nhiều kịch bản hay, có tính triết lý, tính giáo dục và có giá trị nghệ thuật cao phần lớn được sáng tác từ những soạn giả không được đào tạo từ ngành Ngữ văn hay sáng tác kịch bản Hiện nay, các nhạc sĩ trẻ được đào tạo từ khoa Lý luận sáng tác của Nhạc Viện, từ chương trình học nhạc cụ dân tộc của Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh thì

có mấy người dành tâm huyết để viết nhạc cho Cải lương? Chưa kể, mặc dù phải học 4 năm

để làm diễn viên song khi tốt nghiệp ra trường có bằng cấp, được đào tạo căn bản nhưng trong đội ngũ này được bao nhiêu người có “đất dụng võ” trong thời kỳ Cải lương xuống dốc?

Có thể nói, đội ngũ làm nghề Cải lương tại Việt Nam hiện nay vừa thiếu, vừa thừa Do tác động của xã hội diễn viên dễ dãi chạy đua theo lối sống hình thức, thiếu đầu tư chuyên môn, chưa có tâm huyết của người làm nghề chỉ coi nghề hát là công cụ mưu sinh; thiếu rèn luyện nhân cách nghệ sĩ chân chính ở lớp trẻ, thiếu nhiệt huyết, buông xuôi của lớp già có nhiều kinh nghiệm, vốn sống; đạo diễn kịch nói dàn dựng Cải lương chưa nắm vững được đặc điểm của thể loại kịch hát dân tộc; dàn nhạc cổ - linh hồn vở diễn Cải lương ngày càng thu hẹp biên chế, yếu kém chuyên môn; nghệ sỹ hát nhép, thoại nhép… đánh lừa khán giả; tệ nạn đố kỵ, cạnh tranh không lành mạnh xuất phát từ sự thiếu hụt nhân cách và tinh thần công dân của nghệ sĩ; chạy theo hình thức và lợi nhuận trước mắt, tìm mọi cách để được xét tặng danh hiệu,… Nhìn chung thiếu những điều kiện để làm nghề lâu dài

Trang 24

Mặt khác, mỗi lần Hội diễn, Liên hoan sân khấu chuyên nghiệp là nơi hội tụ của các soạn giả có tiếng tăm: Lê Duy Hạnh, Ngô Hồng Khanh, Huỳnh Anh, Hiền Phương, Hoàng Song Việt …; các đạo diễn lão luyện trong nghề: Trần Ngọc Giàu, Hoa Hạ, Nguyên Đạt, ; những họa

sĩ nổi tiếng trong giới mỹ thuật sân khấu như: Lê Văn Định, Phan Phan,…; những nhạc sĩ chuyên nghiệp như Thanh Hải, Hồ Văn Thành,… Dẫn đến tình trạng trùng lắp, rập khuôn sáng tạo trong các vở diễn song điều băn khoăn hơn chính là đội ngũ mới, trẻ được đào tạo

từ trường chuyên nghiệp không có cơ hội làm nghề Các đoàn thì không mạnh dạn sử dụng lớp nghệ sĩ trẻ có tâm huyết trong sáng tạo kịch bản, dàn dựng tác phẩm hoặc đổi mới hình thức biểu diễn Cải lương Và sự xuất hiện những nhân tố mới trong đợt Liên hoan sân khấu chuyên nghiệp năm 2018 này vẫn chưa đủ tầm và lực để thay thế và càng khó khăn hơn với thực trạng sân khấu Cải lương chỉ còn tồn tại đúng nghĩa trong mỗi mùa liên hoan, hội diễn sân khấu chuyên nghiệp

Không có không gian hành nghề hay nói cách khác là không có môi trường hoạt động thì dù đào tạo chuyên môn hóa đến đâu; dù có quy tụ kiến thức, kỹ năng Đông – Tây trong việc đào tạo đến đâu, thì vẫn không thể có một đội ngũ làm nghề có chất lượng như mong muốn khôi phục giai đoạn hàng kim cho sân khấu Cải lương

2.2 Thiếu lực lượng khán giả say mê và hiểu biết Cải lương

Một trong những nguyên nhân chính khiến sân khấu Cải lương trở nên xuống dốc chính là thiếu lực lượng khán giả Người dân Việt Nam vốn rất nhanh nhạy với trào lưu, xu hướng mới Đó cũng chính là lý do vì sao Cải lương phát triển nhanh chóng chỉ không đầy một thập niên kể từ lúc ra đời Bấy giờ, khán giả trẻ bị thu hút bởi một loại hình mới mẻ, hấp dẫn nên đón nhận rất nồng nhiệt Tuy nhiên, theo thời gian, những khán giả ngày một già đi

và thế hệ nối tiếp lại hướng sự yêu thích sang các thể loại nghệ thuật tân kỳ hơn bởi vì đề tài của Cải lương hiện nay không nói lên tiếng lòng của lớp khán giả trẻ hoặc chính họ cũng không đủ trình độ và thiếu vốn sống để thưởng thức loại hình này

Ngoài ra, sự bất cập trong công tác giáo dục ý thức công dân (mỹ dục và đức dục) và tri thức văn hóa nghệ thuật dân tộc ngay từ các bậc học phổ thông, cho nên nền tảng hiểu biết bị hụt hẫng khiến cho thế hệ trẻ hiện nay đa số khó cảm nhận được sự tinh túy của nghệ thuật sân khấu dân tộc, trong đó có Cải lương

Bên cạnh đó, các nghệ sĩ Cải lương do ít tham gia vào các hoạt động chung trong showbiz Việt Nam nên hầu như chưa có ý thức giữ gìn hình tượng Những thông tin trên các kênh truyền thông (ở các trang mạng, báo chí phổ thông) về cảnh đời khốn khó, nghèo nàn của nghệ sĩ Cải lương lúc về chiều gợi sự thương cảm ủng hộ của xã hội rất cần thiết Song,

Trang 25

quan trọng hơn là làm sao để có những hình ảnh đẹp, xuất sắc trong nghiệp diễn, những chuyến từ thiện giúp đỡ người dân, những hoạt động xã hội để đem nghệ thuật đến đời sống văn hóa cộng đồng… để tạo thành mạng lưới xã hội ủng hộ, quan tâm đến người nghệ sĩ Trong giới làm nghề, tệ cờ bạc là một trong những điểm yếu của lối sống nghệ sĩ Truyền thông hiện nay rất nhạy với các tệ nạn xã hội Do đó, tệ nạn cờ bạc trong giới nghệ sĩ Cải lương là tạo nên hình ảnh không tốt cho các khán giả trẻ Trong bối cảnh giới văn nghệ, truyền thông và mạng xã hội phải kết nối với nhau chặt chẽ, thì những người “làm nghề” phải sử dụng sao cho có hiệu quả, không để lại hình ảnh xấu, làm ảnh hưởng đến giá trị văn hóa của nghệ thuật Cải lương

2.3 Công tác quản lý văn hóa còn nhiều bất cập

Hiện nay, các thiết chế văn hóa đánh mất dần vai trò trong đời sống văn hóa tinh thần của công chúng, không còn là nơi đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của quần chúng Chỉ còn là nơi phục vụ chính trị đơn thuần, còn bao cấp, thiếu chủ động trong các hoạt động văn hóa văn nghệ Vì vậy, tình trạng thả lỏng quản lý, chậm thay đổi phương thức quản lý, chậm thay đổi chế độ chính sách để khen thưởng, động viễn, đãi ngộ nghề đặc biệt; việc xét tặng danh hiệu gây ra tệ nạn ngấm ngầm, hình thức, cảm tính và chủ quan, thiếu căn cứ khoa học; lập định hội đồng thẩm định chưa công bằng trên các lĩnh vực, thiếu nghệ sĩ, thừa nhà nghiên cứu, không có người trải nghiệm làm nghề, hồ sơ khai báo phi hiện thực; chương trình biểu diễn của các đoàn Cải lương hiện nay theo hướng tạp kỹ, thiếu đầu

tư để dàn dựng và diễn Cải lương; không quản lý được nghệ sĩ có danh hiệu; …Tất cả đều là những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý văn hóa hiện nay ở đất nước ta

Bên cạnh đó, khi tách mảng thông tin ra khỏi văn hóa để tạo thành hai bộ khác nhau

là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Thông tin và Truyền thông Trong khi truyền thông – thông tin không làm tốt vai trò; chạy đua kinh tế tự chủ, các hoạt động nghệ thuật dân tộc

(Cải lương, dân ca, Hát bội…) bị đẩy vào giờ chết của chương trình truyền hình, ngày càng co

hẹp công chúng Hậu quả dẫn đến là các cơ quan ban ngành của văn hóa khó lòng kiểm soát, thiếu biện pháp để ngăn ngừa sự xâm hại của văn hóa nước ngoài, nhập khẩu sản phẩm văn hóa thiếu sự kiểm duyệt về nội dung, nhất là trong thời đại internet phổ biến như hiện nay

Từ đó, việc quản lý nội dung, hình thức, phương thức hoạt động và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động thông tin – truyền thông kể cả chính thống (cơ quan ngôn luận của Đảng – Nhà nước) và phi chính thống (Công ty, Trung tâm tổ chưc sự kiện, truyền thông văn hóa, mạng

xã hội…) trở nên kém hiệu quả

Trang 26

Công tác khai thác di sản văn hóa còn tùy tiện, mạnh ai nấy làm, chưa có sự liên kết đồng bộ và phân nhiệm cụ thể giữa các ngành, các cấp Các đơn vị đầu tư thiếu khoa học, hợp

lý, không có sự tư vấn chuyên môn, khi nhỏ giọt, khi tràn lan, thất thoát (trong đầu tư cơ sở vật chất Nhà hát; công tác đào tạo, xây dựng kịch bản dự Liên hoan, hội diễn; thiết kế mỹ thuật sân khấu…)

Ngoài ra, pháp luật chưa áp dụng nghiêm minh khi xử lý những vi phạm về văn hóa nghệ thuật Chính vì thế, xã hội hóa không thành công vì thiếu công cụ pháp luật hỗ trợ

2.4 Công tác lý luận phê bình chưa phát triển đúng hướng

Các nghiên cứu khoa học về nhu cầu người dân đối với nghệ thuật dân tộc; các công trình đã được đầu tư thiếu sự ứng dụng, hình thức và tệ nạn trong nghiên cứu khoa học… dẫn đến nghiên cứu khoa học không đáp ứng được gì cho đời sống thực tiễn, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật Các hoạt động thực tiễn thiếu sự nghiên cứu, không xem trọng vai trò chuyên gia trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa – nghệ thuật dân tộc

Công tác lý luận phê bình (ban kiểm duyệt, Ban giám khảo, người viết báo…) chưa thúc đẩy nghệ thuật phát triển đúng hướng; thẩm định nghệ thuật không có cơ sở khoa học,

bẻ cong sự đánh giá qua phiếu chấm và ngòi bút … không tạo được công luận chính thống và được sự hưởng ứng của công chúng nghệ thuật (không “tâm phục khẩu phục”)

3 TRAO ĐỔI VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Cải lương là loại hình nghệ thuật tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác, như: văn chương, diễn xuất, kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc, … chưa kể đến các yếu tố quan trọng khác như: kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng) và những đầu tư về cơ sở vật chất khác cũng rất quan trọng và cần thiết với sân khấu Cải lương hiện đại Cho nên, muốn Cải lương tiếp tục tồn tại và phát triển cần tiến hành đồng loạt nhiều giải pháp cụ thể cho từng loại chuyên môn của sân khấu

Măt khác, khi nói đến chủ thể sân khấu Cải lương là nói đến một hệ thống bao gồm: nghệ sĩ, công chúng và nhà quản lý Đó là chưa tính đến một đội ngũ làm nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, phê bình nghệ thuật là một trong nhân tố thúc đẩy sân khấu Cải lương tiến bộ, phát triển Ngoài ra, những điều kiện địa phương, vùng miền (kinh tế, xã hội, mặt bằng dân trí, tính cách cộng đồng …) cũng là phần nền cần nghiên cứu khi đề xuất giải pháp Như điều kiện của phía Bắc để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Cải lương sẽ khác với điều kiện của các tỉnh phía Nam, do đó giải pháp cần phù hợp sát với điều kiện thực tiễn thì mới có tính khả thi

Trang 27

Như vậy, giải pháp để khôi phục, nâng chất Cải lương là tổng hợp của nhiều nhóm giải pháp, không thể có một giải pháp nào tối ưu cho loại hình này cả! Tuy nhiên, căn cứ trên điều kiện thực tiễn của Việt Nam, theo tôi tuy không có giải pháp tối ưu nhưng có những giải pháp trên các phương diện: đào tạo chuyên môn, xây dựng đội ngũ làm nghề, trang bị cơ sở vật chất chuyên dụng, truyền thông đại chúng, giao lưu và hợp tác quốc tế… để Cải lương sống lại giai đoạn hoàng kim, tiếp tục phát huy vai trò, sứ mạng của nó trên tiến trình lịch sử của dân tộc Trước mắt có thể đề xuất một vài giải pháp như sau:

Giáo dục – đào tạo: giáo dục công dân, giáo dục âm nhạc và sân khấu dân tộc, học

nhạc cụ, bài bản (bài bản nhỏ của Nhạc Tài tử - Cải lương) ở các bậc phổ thông theo hướng

từ thấp lên cao Chấn chỉnh chương trình đào tạo các chuyên ngành: biểu diễn nhạc cụ, biểu diễn sân khấu, sáng tác kịch bản, dàn dựng và biên đạo sân khấu, kỹ năng tiếp xúc công chúng, tư cách và nhân cách nghệ sĩ… ở các trường đào tạo âm nhạc và sân khấu dân tộc Liên kết giữa giáo dục – đào tạo trong và ngoài nhà trường về văn hóa – nghệ thuật giữa thiết chế văn hóa do Ngành văn hóa – thông tin quản lý với các trường phổ thông trên địa bàn

Thông tin và truyền thông: xây dựng chuyên mục cố định hàng tuần (mỗi tuần một lần

từ 8 – 10h tối: buổi tối là thời điểm tốt nhất để xem nghệ thuật) trên đài truyền hình và phát

thanh: Chuyện đời-chuyện nghề (công chúng tiếp cận nghệ nhân, nghệ sĩ) và phát sóng 1 vở

Cải lương (thời lượng khoảng 1h – 1h30)

Giao lưu, tranh tài: tổ chức liên hoan, hội thi, giao lưu nghệ thuật để kích thích tài

năng phát triển Hình thức, nội dung, phương thức tổ chức, đội ngũ thẩm định chuyên môn… Thời gian qua có nhiều bất cập (chứng minh) cần chấn chỉnh, đổi mới, nghiêm minh và công

bằng (kỷ luật đối với vi phạm)

Xác lập lại công tác quản lý chuyên môn: thẩm định chất lượng tổng thể của các đoàn

chuyên nghiệp và cấp phép hoạt động; Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quyền lợi của nghệ sĩ, các đội ngũ khác cùng làm nghề trên cơ sở tự chủ của các đoàn Sắp xếp lại các đoàn yếu kém, giải thể và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, chế độ hưu trí của các nghệ sĩ

KẾT LUẬN

Quy luật vận động của lịch sử một loại hình nghệ thuật là liên tục không ngừng Diễn trình Cải lương suốt 100 năm qua đã chứng minh sự tất yếu của quy luật vận động đó Tuy nhiên, yếu tố con người rất quan trọng, có vai trò quyết định sự thăng – trầm của lịch sử Trên cơ sở tìm hiểu “giai đoạn hoàng kim”, bản chất và những tồn tại của Cải lương, người

Trang 28

viết mong muốn góp một tiếng nói để những ai yêu mến, tự hào về văn hóa dân tộc sẽ có những động thái tích cực hơn, hiệu quả hơn để bảo tồn và phát huy một di sản văn hóa đang dần mất đi giá trị của nó trong đời sống xã hội đương đại Sở dĩ tham luận này không đưa ra nhiều giải pháp là bởi vì, xét đến cùng, lĩnh vực văn hóa văn nghệ ở Việt Nam được dẫn dắt dưới sự lãnh đạo của Đảng Nếu không có những chủ trương, quan điểm đúng đắn và một chính sách khôi phục Cải lương khả dụng thì những giải pháp khác cũng không thể nào thực hiện được Vì vậy, xét đến cùng giải pháp bao trùm và có tính quyết định vẫn là khẳng định vai trò quản lý (ban hành chính sách đồng bộ, xây dựng thể chế phù hợp, triển khai thực hiện

và kiểm tra giám sát công bằng, nghiêm minh) của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật Để làm sao, một thể loại sân khấu đậm đà bản sắc văn hóa vùng mang cốt cách, tâm

hồn của con người miền châu thổ có được sức sống trong lòng đất nước và … mãi là Báu vật

đất Phương Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đào Duy Anh (1932) Giản yếu Hán - Việt từ điển – quyển Thượng, Nxb Tiếng Dân, tr 81

2 Trần Văn Khê (2004) Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp.HCM

3 Thanh Hiệp (2014 ) Vĩnh biệt bà bầu sân khấu lừng danh,

http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/vinh-biet-ba-bau-san-khau-lung-danh-20140801224622571.htm, 01/08/2014

4 260 tuồng Cải lương xưa trước năm 1975 hay nhất từ trước đến nay,

nay, 17/07/2017

https://www.cailuong.net/260-tuong-cai-luong-xua-truoc-1975-hay-nhat-tu-truoc-den-5 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Chủ_nghĩa_cải_lương

https://hvdic.thivien.net/hv/hoàng_kim

Trang 29

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA THẦY TUỒNG TRONG CẢI LƯƠNG

NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1955-1975

Đỗ Quốc Dũng *

Trong vở diễn Cải lương, có hai yếu tố rất quan trọng nhất hợp thành mà mỗi yếu tố do một người thầy đảm trách, đó là thầy tuồng (tác giả kịch bản kiêm đạo diễn) và thầy đờn (phần âm nhạc cổ) Nhưng yếu tố kịch bản văn học được xem là nền tảng như là cái xương sống của vở diễn; trong đó, tác giả cũng đã thiết kế các bài bản âm nhạc…, đó là tâm huyết và trí tuệ của tác giả Bài viết này sẽ giới thiệu những đóng góp của các thầy tuồng trong Cải lương Nam Bộ giai đoạn 1955-1975

Từ khóa: tác giả, kịch bản, Cải lương, đóng góp, vở diễn, nhân vật

Summary: In Cải lương, there are two most important elements that each teacher is

responsible for, namely the teacher (scriptwriter hold director) and the teacher (the classical music) But with the elements’ literature script is considered the foundation as the backbone of the work; in that, the author also designed the music , is the heart and wisdom of the author This article will introduce the contributions of the teachers in Southern Cai Luong of 1955-

1975 period

Keywords: author, script, Cai luong, contributions, plays, characters

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vở diễn Cải lương (tác phẩm), có hai yếu tố chính hợp thành là kịch bản văn học

và âm nhạc; và vai trò của hai người thầy (gọi theo xưa) rất quan trọng để quyết định chất lượng vở diễn; tất nhiên là còn có các yếu tố khác cùng góp phần trong chỉnh thể Mỗi yếu tố

do một người thầy đảm trách, thầy tuồng (tác giả kịch bản kiêm đạo diễn) và thầy đờn (phần

âm nhạc cổ) Biết rằng, trong ca kịch Cải lương hai phạm trù “ca – kịch” thì được nhấn mạnh

ở phạm trù ca trước và kịch sau; nhưng với vở diễn, kịch bản được xem là phần chính như là cái xương sống của tác phẩm; trong đó, tác giả cũng đã thiết kế các bài bản âm nhạc…, đó là tâm huyết và trí tuệ của tác giả Tác giả ngày trước được gọi là “thầy tuồng” thường kiêm luôn nhiệm vụ đạo diễn, nên khi sáng tạo kịch bản văn học, có thiết kế bài bản âm nhạc là cùng lúc tư duy ý đồ dàn dựng vở diễn

Người thứ hai là “thầy đờn” có vai trò không kém phần quan trọng trong vở diễn và phải trải qua nhiều công đoạn: tập dợt diễn viên ca từng cá nhân, chạy đường dây khi dàn

* NCS.Khoa Văn hóa học; Giảng viên thỉnh giảng Khoa Văn học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM; phóng viên Báo Sân khấu, hội viên Hội Sân khấu TP.HCM

Trang 30

dựng trên sàn tập, phúc khảo, công diễn…; thầy đờn là người trực tiếp chỉ huy về âm nhạc toàn vở qua các công đoạn, và mỗi khi tái diễn cũng vậy, thầy đờn cũng là một nhạc công trong dàn nhạc khi biểu diễn Tuy nhiên, công việc chuyên của mỗi thầy có đặc thù riêng, không thể so sánh ai hơn ai kém, mà để nhận dạng sự khác biệt và đặc thù của mỗi bộ môn nghệ thuật; nhưng yếu tố kịch bản vẫn là cơ sở tiền đề của vở diễn “có bột mới gột nên hồ”,

và nội dung tư tưởng của tác phẩm sân khấu cũng từ bản thân của kịch bản Đặc điểm nghề nghiệp của thầy tuồng, ngoài khả năng đạo diễn, thầy tuồng có khi xuất thân từ nhạc sĩ như

soạn giả Mộng Vân, Huỳnh Thủ Trung (Tư Chơi), Viễn Châu, Hoài Linh…; diễn viên như Năm

Châu, Bảy Cao, Kim Cương, Thanh Kim Huệ, Đãng Minh, Đức Hiền, Hùng Dũng…, có khi là một

nhà văn như Trương Duy Toản, Hà Triều, Hoa Phượng, Minh Khoa, Ngọc Linh, Lê Duy Hạnh,

Nhị Kiều, Nguyễn Ngọc Bạch, Thế Châu, Phi Hùng…; nhà thơ như Kiên Giang, bầu gánh như Trần Đắc, Thu An… Thành tựu nổi bật nhất của các thầy tuồng là tạo dựng một thông điệp

nội dung và sáng tạo những hình tượng nhân vật để gởi đến công chúng chiêm nghiệm với những góc cạnh của đời sống xã hội, hướng công chúng đến giá trị của cuộc sống về chân – thiên – mỹ… Do vậy, bài viết nhằm tôn vinh những thành tựu cống hiến của các thầy tuồng trong Cải lương Nam Bộ giới hạn trong phạm vi giai đoạn 1955-1975

Tuy nhiên, giai đoạn năm 1955-1975 là giai đoạn chín muồi của Cải lương, nó được kế thừa thành tựu của những giai đoạn trước, và từ thành tựu này (1955-1975) là cơ sở vững chắc để phát triển giai đoạn kế tiếp, tức thời hoàng kim của Cải lương giai đoạn 1975-1990

2 KHÁI QUÁT THẦY TUỒNG, KỊCH BẢN VĂN HỌC VÀ VỞ DIỄN

Cải lương là loại hình ca kịch truyền thống của Việt Nam Nói chung và Nam Bộ nói riêng, nó sinh sau so với hát Bội và Chèo, kế thừa tinh hoa một phần của hát Bội về hóa trang

và vũ đạo, tính chất dân gian và hài của Chèo, tiếp xúc và tiếp biến một phần văn hóa nghệ thuật âm nhạc và cấu trúc kịch bản của kịch nghệ phương Tây, cùng một số dòng nhạc dân tộc khác… Nhưng nguyên nhân và điều kiện hình thành của Cải lương là từ hình thức ca ra

bộ và hát chập, có nguồn gốc từ ca nhạc Tài tử Cho nên, về tổng thể nghệ thuật sân khấu, Sân khấu Cải lương là một loại hình nghệ thuật tổng hợp từ nhiều bộ môn nghệ thuật khác; về

âm nhạc Cải lương là một phức hợp, mà nhạc Tài tử là nền tảng và Vọng cổ nhịp 32 được xem là linh hồn của vở diễn (Phi Vọng cổ bất thành Cải lương) Về văn học nghệ thuật, Cải lương là một thành tố trong lĩnh vực này chứa đựng nội hàm và ngoại diên cả tính chất văn học và nghệ thuật Nếu bàn về tính văn học là đề cập đến kịch bản văn học Cải lương, bàn về nghệ thuật là hướng đến giá trị hình thức của vở diễn Do vậy, trong giới hạn của bài viết,

Trang 31

chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề thứ nhất, về kịch bản văn học mà chủ thể là thầy tuồng cùng với những yếu tố và mạng lưới quan hệ

- Thầy tuồng (author) là danh xưng tiếng Việt ngày xưa để chỉ những người có tài viết

kịch bản Cải lương hay còn gọi là soạn giả (theo nghĩa Hán-Việt) Phương Tây, những người làm công việc biên kịch hay viết kịch bản văn học gọi chung là tác giả (author) hoặc nhà văn (Writer) Thầy tuồng xuất thân rất đa dạng như đã nêu trên, nhưng hầu hết là những nhân tài có tri thức rộng trên nhiều lĩnh vực xã hội, thấu đáo về văn học nghệ thuật, có chiều sâu

về tư duy đời sống tâm lý, tình cảm của nhiều mẫu người trong xã hội; đặc biệt, họ rất nhạy cảm về thời cuộc trước môi trường tự nhiên và xã hội Có những tố chất đó, họ mới có khả năng phản ánh đời sống xã hội qua góc nhìn và suy diễn của mình một cách hiện thực bằng các thủ pháp nghệ thuật, vì sân khấu cũng là một góc của cuộc đời mà các thầy tuồng tái hiện

- Kịch bản văn học và vở diễn, cụm danh ngữ này chỉ hai thực thể, tuy hai nhưng là

một và ngược lại; bởi chúng có mối quan hệ gắn bó và ràng buộc lẫn nhau, cùng hòa nhập nhau phát triển; cũng tương tự mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức Nếu nói đến tính văn học của Cải lương là đề cập đến chức năng và đặc trưng của văn học nghệ thuật nói chung Chức năng nhận thức – dự báo, giáo dục – giao tiếp, thẩm mỹ - giải trí; đặc trưng thông điệp nội dung và hình tượng nghệ thuật Đây là thành tựu đóng góp của các tác giả sáng tạo vở diễn cho xã hội nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng; trong đó, có vai trò quan trọng của thầy tuồng trong Cải lương

Theo lý luận văn học cũng như lý luận biên kịch thì, kịch bản văn học là một thể loại văn học kịch; nó gồm các yếu tố văn học cấu thành chỉnh thể Mỗi tác phẩm là một hệ thống phức tạp bao gồm hàng loạt các yếu tố thuộc những bình diện khác nhau như đề tài, chủ

đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, hình tượng, cốt truyện… Sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố này khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, mang tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật Nội dung thẩm mỹ thuộc kịch bản văn học, đó là văn bản dưới dạng chữ viết (như một truyện ngắn, tiểu thuyết), khi qua bàn tay đạo diễn tạo đường dây và hành động sân khấu thì lúc đó thành vở diễn (nghệ thuật sân khấu) Như vậy, xét về một tác phẩm nghệ thuật Cải lương là nhìn ở hai góc độ, văn học kịch và nghệ thuật sân khấu; nghĩa là vở diễn đồng nghĩa với tác phẩm được hợp nhất giữa hai bộ phận nội dung (kịch bản văn học) và hình thức (nghệ thuật biểu diễn)

Khi một tác phẩm nghệ thuật (vở diễn) hoạt động xã hội với mục đích phục vụ công chúng, với chức năng và đặc trưng của nó là: Về đặc trưng, thông điệp nội dung là vấn đề đặt

Trang 32

ra trong quan hệ xã hội mà tác giả muốn gởi đến công chúng, thông thường một thông điệp nội dung mang nhiều tư tưởng và ý nghĩa cuộc sống Hình tượng nghệ thuật là những điển hình trong đời sống xã hội được các phương thức nghệ thuật khác nhau xây dựng bằng hình ảnh sinh động từ thực tế khách quan; mỗi hình tượng mang một tư tưởng nhất định: nhân vật điển hình, sự kiện điển hình, hoàn cảnh điển hình… Qua thông điệp nội dung và hình tượng nghệ thuật, từ đây, công chúng hiểu biết những thông tin và các vấn đề của cuộc sống

xã hội mà họ đang sống; nhận thức được giá trị của cuộc sống, của thế giới khách quan và tính nhân sinh con người Tác giả còn có thể dự báo những vấn đề của tương lai, như sự phát triển của hiện tượng nào đó trong xã hội đương thời, về sự tiến bộ của khoa học, sự thay đổi của mội trường tự nhiên hoặc xã hội…, đó là chức năng về nhận thức và dự báo Nội dung và hình tượng qua nhận thức đem lại cho công chúng về tính lịch sử, truyền thống, đạo

lý dân tộc, giá trị lao động chân chính, điều hay lẽ phải…, để họ tự suy ngẫm, điều chỉnh lối sống bản thân và nhân cách Tính giao tiếp thuộc hoạt động giao lưu văn hóa, biểu diễn nghệ thuật giữa các khu vực, quốc gia dân tộc, cộng đồng người… cũng góp phần hướng tới mở rộng quan hệ và văn minh của con người Tính thẩm mỹ và giải trí ở sự cảm nhận nghệ thuật hướng công chúng đến tính chân-thiện- mỹ của cuộc sống Điều này trong Cải lương, sự đóng góp của các thầy tuồng cho nghệ thuật và xã hội rất đang ghi nhận và trân trọng

3 NHỮNG THẦY TUỒNG VÀ VỞ DIỄN TIÊU BIỂU CỦA CẢI LƯƠNG

3.1 Những giai đoạn tiền đề

Theo nhiều tài liệu, Cải lương ra đời tại Mỹ Tho – Tiền Giang năm 1918, với vở diễn

đầu tiên là Kim Vân Kiều của thầy tuồng Trương Duy Toản (1885-1957, Vĩnh Long); đây là

vở diễn và thầy tuồng đầu tiên trong lịch sử Cải lương Nam Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng Từ đó đến nay tròn một 100 năm (2018), qua các thế hệ, các thầy tuồng vẫn kế thừa truyền thống tiền nhân mà tiếp tục sự nghiệp, cho dù những chặng đường qua biết bao

là thăng trầm biến đổi Những chặng đường ấy đi cùng với lịch sử dân tộc nói chung và những dòng văn học Việt Nam nói riêng, vì kịch bản văn học Cải lương là một sản phẩm của văn học dân tộc, và tất nhiên phải song hành với từng giai đoạn văn học mà nó ra đời Tuy vậy, các thầy tuồng tiền bối đã ý thức tinh thần văn hóa dân tộc ngay từ buổi đầu khi Cải lương mới ra đời, cụ thể là cụ Trương Duy Toản là thầy tuồng tiên phong đã sáng tác các

kịch bản Lục Dân Tiên, Kim Vân Kiều, Trang Châu mộng hồ điệp, Lưu Yến Ngọc cứu cha đại

hiếu…đều có nội dung tư tưởng nhân văn và hình tượng thẩm mỹ phục vụ công chúng Nghĩa

là, các tác phẩm của cụ theo khuynh hướng tư tưởng nhân văn, không xa rời tâm lý con người và đời sống xã hội lúc bấy giờ

Trang 33

Sau cái mốc ra đời của Cải lương (1918), từ 1920-1925 là thời gian mà một số gánh ở khắp Nam Bộ nói đuôi nhau xuất hiện, hầu hết các gánh hát tuồng của cụ Trương, một vài vở lấy kịch bản từ hát Bội chuyển thể đều mang nội dung tích truyện Trung Quốc, sau đó mới có

các thầy tuồng khác xuất hiện Đầu giai đoạn này có thể ghi nhận vở Lê Lợi khởi nghĩa của

thầy Nguyễn Công Mạnh (Năm Mạnh, 1925) thuộc đề tài lịch sử Việt Nam, nội dung nói về tinh thần yêu nước của cuộc khởi nghĩa Mê Linh, hình tượng là người anh hùng áo vải Lê

Lợi; vở Giọt máu chung tình của Nguyễn Tri Khương (1927) trên sân khấu Đồng Nữ Ban của

cô Ba Viện (khác với kịch bản cùng tên của Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền, Cần Thơ), cũng thuộc đề tài lịch sử, tác giả chuyển thể từ tiểu thuyết lịch sử cùng tên của tác giả Tân Dân Tử, nội dung nói về tình sử thủy chung, son sắt và quan hình tượng nhân vật Võ Đông Sơ và Bạch

Thu Hà; vở Ngọn cờ nghĩa hiệp của Năm Châu (1927) dựng trên sân khấu Trần Đắc – Cần

Thơ về đề tài lịch sử, nội dung nói lên lòng yêu nước và tinh thần nghĩa khí của dân tộc, mà

hình tượng là một nữ tướng Việt Nam; lúc đó sở cảnh sát bắt buộc tác giả đổi tựa là Tấm lòng

quê, nhưng rồi đến ngày công diễn thì bị cấm… Qua ba vở của ba thầy tuồng vừa nêu đủ cho

thấy, các tác giả tiền bối đã ý thức về văn hóa dân tộc, tinh thần yêu nước được thể hiện qua những nhân vật trong kịch bản của mình Nếu nhìn về tính chất văn học kịch, thì văn học kịch Cải lương lúc này là một loại hình mới mà đậm chất văn học dân tộc của hai dòng văn học sử và hiện thực phê phán; mặc dù dòng văn học hiện thực phê phán giai đoạn này chưa hiện rõ, nhưng các tác giả đã đi trước khuynh hướng thời đại bằng tư duy dự báo

Khi tình hình Sân khấu Cải lương định hình, đội ngũ tác giả kịch bản ngày càng gia tăng; những tác giả tiền bối vẫn tiếp tục phát huy tài năng và làm trụ cột cho thế hệ sau như

thầy Nguyễn Công Mạnh (thầy Nho) động viên và khơi nguồn cho tác giả Năm Châu và Trần Hữu Trang sáng tác những kịch bản hay Tác giả tiền phong là những Trương Duy Toản,

Nguyễn Trọng Quyền, Trần Phong Sắc, Lâm Hoài Nghĩa Nguyễn Quốc Biểu, Nguyễn Công Mạnh, Đặng Công Danh…; lớp kế là Huỳnh Thủ Trung, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Thanh Cao, Nguyễn An Khương, Ba Phát, Bảy Nhiêu, Thanh Sơn, Ba Sanh, Lương Võ Đố, Ba Mảng,

Ba Miêng, Ba Nghĩa, Sáu Mẹo, Năm Nở, Duy Lân, Văn Cảnh, Ba Ngọc, Sáu Đỏ, Sáu Hải, Hai Chấn, Mộng Vân, Mười Bửu, Song Hỷ, Nguyễn Trọng Quyền, Năm Lâm, Sáu Hồng, Ngọc ấn,

Tử Long, Phạm Công Bình, Nguyễn Đãng Phong, Sáu Cương, Phú Đức, Trúc Viện, Ba Đô, Ngô Vĩnh Khang, Viễn Châu, Quang Sô, Phạm Thị Phương… Nhiều tác giả có vở diễn được

xếp vào loại kinh điển, tiêu biểu cho các khuynh hướng Cải lương, là sự lớn mạnh về đội ngũ tác giả và chất lượng kịch bản Nhiều tác giả có tính chuyên nghiệp hoá, tạo sự phong phú cho văn học kịch Tác giả Mộng Vân khởi xướng thể tài kiếm hiệp kỳ tình có các vở:

Trang 34

Long hình quái khách (vở khai sinh trường phái mới, có đánh võ, phi dao găm nhào qua

vòng lửa), Chiếc lá vàng, Bích Liên… Những tác giả sáng tác theo khuynh hướng hiện thực phê phán như Trần Phong Sắc vở: Tham phú phụ bần, Cô ba lưu lạc…; Đặng Công Danh có

Tứ đổ tường, Duyên chị tình em…; Huỳnh Thủ Trung có Đời cô Lý, Ai bạn chung tình, Bạc trắng lòng đen, Chàng và nàng, Lỡ tay đã chót nhúng chàm, Khúc oan vô lượng, Ba chị em,

Cô gái mới, Tôi xin chừa…; Năm Nở (Lê Hoài Nở) có Những kẻ vứt đi, Nỗi lòng chị Bếp, Hội yêu chồng, Thử làm bé, Ông huyện hâm hâm, Anh chị ăn mày… Ba Ngọc: Ăn mày đã muộn, Mảnh gương đời, Một tấm lòng son… Phạm Công Bình: Tối độc phu nhân tâm… Đặc biệt,

tác giả Trần Hữu Trang sáng tác tiêu biểu cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán

và lãng mạn thích cực với đề tài tâm lý xã hội Kịch bản đầu tay của ông là Lửa đỏ lòng son (1928), kế đó là Tô Ánh Nguyệt (1934), Lan và Điệp (1936), Đời cô Lựu (1937), Chị chồng

tôi, Đầu xanh vô tội… Đó là những thầy tuồng có tầm tri nhận cao về lĩnh vực đời sống xã

hội, tình cảm tâm lý con người trong cuộc sống với những cảnh đời và số phận nhân vật muôn màu…, tất cả những tố chất đó được các thầy tuồng khai thác đưa vào văn học kịch bằng phương tiện, thủ pháp của kịch nghệ Là các vở diễn hầu hết là đề tài về tâm lý xã hội hiện thực trong đời sống xã hội Việt Nam lúc bấy giờ; các tác giả lấy bối cảnh và con người Việt Nam để phục vụ cho con người Việt Nam thì không thể nói là lãng mạn hay phi hiện thực Cho nên, một vài vở diễn về thể tài tuồng thần thoại, tiên, phật… không đủ sức

để lấn ranh hai đề tài chủ lực: lịch sử và tâm lý xã hội Tuy nhiên, giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực từ phương Tây trong sáng tác văn học đã không ngừng đối lập và tranh cãi quyết liệt trong quan điểm sáng tác với thời gian khá dài; Việt Nam cũng theo xu hướng đó từ 1930 cho đến 1945, điển hình là phong trào thơ mới (1936-1939)

và nhóm Tự lực Văn đoàn Nhưng thật ra, sự đối lập của lãng mạn và hiện thực trong mối quan hệ biện chứng là chúng thâm nhập lẫn nhau, thúc đẩy nhau phát triển phong phú hơn cái đã có Điều này, một số tác giả đã nhận định và vận dụng một cách tinh tế vào kịch bản văn học của mình, lãng mạn tích cực và hiện thực sinh động như những vở của Trần

Hữu Trang: Lá ngọc cành vàng, Lan và Điệp…; Nguyễn Thành Châu: Giá trị và danh dự; Ba Đô: Biển tình chìm nổi, Trường tình bí mật… Ngô Vĩnh Khang: Tơ vương đến thác… Phạm Thị Phượng: Quả báo kỳ duyên… Cải lương tuồng Phật là một hướng mới, tiếp sau Cải

lương lãng mạn, bởi nó ít nhiều tạo chỗ dựa cho niềm tin bế tắc không lối thoát của con người sau những chấn động xã hội, chiến tranh, nô lệ, nạn lụt, nạn đói liên miên đè lên nỗi sống khổ của nhân dân Sân khấu Cải lương tuồng Phật tìm hướng giải thoát có phần tiêu cực, nhưng bước đầu đã đáp ứng phần nào về khủng hoảng niềm tin và nhu cầu giải

Trang 35

trí của một bộ phận công chúng hay những khán giả phật giáo Sau này xã hội vận động sân khấu tìm đi hướng mới, thể tài tuồng Phật, nhưng nội dung tư tưởng mang tính nhân văn về lối sống đạo đức làm người, làm việc thiện Tác giả đầu tiên viết thể tài này như

Trần Phong Sắc các vở: Tam tạng thỉnh kinh, Mục Liên Thanh đề, Phật nhập niết bàn, Tam

Tạng xuất thế…; Nguyễn Công Mạnh: Quan âm Thị Kính; Ba Mảng: Tạo thiên lập địa, Phật nhập niết bàn, Lương Võ Đố: Bà Chúa thượng ngàn, Thích ca đắc đạo…

Hướng công chúng đến với sự tiến bộ xã hội, tin vào truyền thống yêu nước cách mạng, đó là những vở với đề tài lịch sử và tâm lý xã hội Các tác giả Năm Châu có vở:

Ngọn cờ hiệp nữ, Đêm không ngày; Ba Phát: Nặng gánh giang sơn, Giữ lời non nước…; Đào

Châu với Triệu Trinh Nương, Trưng Trắc Trưng Nhị…; Phạm Thị Phương: Triệu ẩu; Đặng Công Danh với Tiểu anh hùng võ Kiệt, Nguyễn Trọng Quyền: Trần Hưng Đạo bình nguyên,

Võ Tánh thủ tiết… Những đề tài dã sử, lịch sử, tâm lý xã hội là tư tưởng cơ bản của giai

đoạn này mà các tác giả hướng đến; đó là sự hợp thành đề tài Cải lương yêu nước nêu cao tinh thần dân tộc, tinh thần khởi nghĩa, hướng tới cuộc Cách mạng Tháng tám Đây là thành tựu của các thầy tuồng trong giai đoạn này rất đáng ghi nhận; họ đã khởi xướng lòng yêu nước, tự hào dân tộc cùng các thầy đờn, bầu chủ, diễn viên dũng cảm đưa Sân khấu Cải lương đến với Cách mạng

3.2 Những thầy tuồng và vở diễn tiêu biểu giai đoạn 1955-1975

Đây là giai đoạn mà Cải lương rất phong phú, đa dạng cả về hình thức lẫn nội dung do tác động của nhiều nguyên nhân; mà hai nguyên nhân lớn là đời sống xã hội thay đổi và tình hình đất nước tiếp tục có chiến tranh Đất nước chia thành hai miền Nam – Bắc, Nam Bộ là vùng tạm chiếm, vừa chịu sự tàn khốc của chiến tranh, vừa bị ảnh hưởng không nhỏ về văn hóa nghệ thuật nô dịch của ngoại xâm Dù vậy, nhưng các thầy tuồng thế hệ trước vẫn giữ vững bản lĩnh của mình trước thời cuộc và nghề nghiệp; thế hệ kế thừa ngày càng trưởng thành mạnh mẽ hơn để cùng những thầy đờn, diễn viên với tinh thần dân tộc yêu nước, yêu nghệ thuật, mà lòng nhiệt huyết của họ được thể hiện bằng hành động nghệ thuật qua các vở diễn

Giai đoạn này rất đặc trưng về tác phẩm và tác giả Ngoài những tác giả tại chỗ ở Sài Gòn, một lực lượng tác giả từ trong kháng chiến trở về Sài Gòn khá đông như Điêu Huyền, Thu An, Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Mai Quân, Phạm Trần, Mộc Linh, Phong Anh, Hà Triều, Hoa Phượng, Quy Sắc, Yên Trang, Trần Hà, Lê Khanh, Nguyễn Đạt, Vân Anh…; với các vở

diễn đề tài lịch sử, dã sử, tâm lý xã hội: Ngược sóng Phú Lương, Hồi trống Văn Lâu, Núi Liễu

sông Bằng, Nẻo tắt Hoành Sơn… (Thiếu Linh); Đường về quê mẹ, Trăng nước Lam Giang, Giải

Trang 36

thoát (Thu An); Bạch Đằng Giang nổi sóng, Đồ Bản di hận (Lê Khanh); Lửa hờn, Ngược dòng sông lỗi (Nguyễn Phương); Tình tráng sĩ, Tiếng sáo căm hơn (Mộc Linh); Cứu lấy non sông

(Hoài Ngọc); Nửa mảnh tim (Trần Hà); Lỡ một đường tơ (Phong Anh); Ngưu Lang - Chức Nữ (Kiên Giang – Hoài Linh)… Các tác giả ở Sài Gòn (gọi là vùng tạm chiếm) như: Tiếng sấm Phú

Kinh (Duy Lân); Sương gió Chiêm Thành (Viễn Châu); Bữa tiệc đầu người (Hoàng Khâm); Thiên thần trên thiết mã (Ngọc Huyền Lan); Sóng gió Đồ Bàn (Thiên Hương)… Giai đoạn này

còn có gánh Kim Chung từ Bắc di cư vào Nam (1954) có những vở yêu nước như Hỏa hồng

Nhựt Tảo, Tiếng sâm Phú Kinh, hai vở mới của Ngọc Văn: Quán rượu thành Nam, Bội Lan Hương… Mở màn cho giai đoạn này (1955), gánh Việt Kịch Năm Châu dựng vở Người mặt cháy của Nguyễn Phương và Người nghèo trong khói lửa của Phi Vân, diễn được không bao

lâu thì bị cấm và Nguyễn Phương bị giặc bắt giam, Phi Vân chạy trốn… Sau đó, Việt Kịch Năm Châu cũng đổi bảng hiệu mới là “Phước Chung” và Phước Chung tiếp tục truyền thống của mình bằng những kịch mục mới có nội dung yêu nước, đấu tranh đòi dân chủ và độc lập dân

tộc Năm 1957, Phước Chung có vở Nhụy hoa lan của Mai Quân (Năm Triều), Cây tương tư

của Việt Thường… và sau đó soạn giả Năm Châu và Tám Cao bị giặc bắt bỏ tù Đáng chú ý là

hai vở, Ngưu Lang – Chức Nữ của Kiên Giang và Hoài Linh (trên sân khấu Bích Thuận, khai trương tại rạp Nguyễn Văn Hảo 1956) và Lấp sông Gianh của Kinh Luân (Duy Lân đạo diễn cho gánh Kim Thoa cũng khai trương ở rạp Nguyễn Văn Hảo ngày 19/12/1956) Vở Ngưu

Lang – Chức Nữ, nội dung nói lên nguyện vọng dân tộc muốn thống nhất đất nước không còn

chia cắt hai miền Nam Bắc, hình tượng nhân vật Ngưu Lang và Chức Nữ và “Bắc cầu Ô

Thước” đã nói lên điều đó Vở Lấp sông Gianh là đề tài dã sử mượn cột truyện Trịnh –

Nguyễn phân tranh để nói sự chia cắt đất nước; hình tượng hai nhân vật chính Từ Vũ và Thơ Đào cả hai gieo mình xuống sông Gianh tuẫn tiết, vì bị quân Trịnh bắn tên độc khi mọi người lấp sông Gianh… Đêm đó bọn mật vụ ném lựu đạn giữa sân khấu lúc vở diễn đang bắt đầu màn ba, làm thiệt mạng 3 người, (diễn viên Ba Cương, Hề Phiên, phóng viên ảnh Nguyễn Mai), 3 bị thương (Duy Lân, diễn viên Sáu Thoàng và Thiên Kim) Sau đó một số tác giả có kịch bản nội dung yêu nước tiếp tục bị giặc truy bắt như Lê Khanh, Mộc Linh, Kiên Giang, Phan Hương, Nguyên Liêu, Yên Trang…; riêng Trần Hữu Trang lúc này đã chuyển vào khu Giải phóng

Kế đến, năm 1961-1963, có một số tác giả và đạo diễn từ miền Bắc về như Bùi Kim Lăng, Phạm Ngọc Truyền, Thanh Hương, Ngô Y Linh, Ngọc Cung, Bảy Vân, Bích Lâm…; các tác giả của chiến khu Sài Gòn – Gia Định về như Phong Anh, Phạm Trần, Mai Quân, Phi Hùng,

Hoài Linh…; với các vở như Rừng cao su nhuộm máu của Mai Quân, Tiếng hát bên rào ấp

Trang 37

chiến lược và Chiếc tàu Carde của Phong Anh và Mai Quân… Ở Sài Gòn, năm 1963 gánh Thúy

Nga tái lập, với vở ăn khách Mười năm chuyện cũ Thanh Minh Thanh Nga và Dạ Lý Hương

lúc này chuyển qua diễn tuồng xã hội, còn các gánh khác diễn tuồng hương xa Một số gánh

hát vở hương xa, màu sắc, dã sử như Kim Chưởng với vở Nửa bản tình ca (Phong Anh và Hoài Linh), Thuyền ra cửa biển (Phong Anh và Y Trang), Chiếc áo ân tình, Hai chiều ly biệt (Phong Anh); Hương Mùa Thu vở Cung đàn trên sông lạnh, Sầu quan ải (Phong Anh)… Nổi bật diễn vở xã hội lúc này là Thanh Minh Thanh Nga với vở: Nửa đời hương phấn, Con gái chị

Hằng, Đêm Vĩnh biệt, Tấm lòng của biển (Hà Triều – Hoa Phương), Lỡ bước sang ngang ( Thu

An và Hoàng Khâm), Tiếng sét nửa đêm (Mộc Linh)…

Từ năm 1960 đến 1975 là giai đoạn đáng ghi nhận nổi lên đội ngũ tác giả tài hoa khá đông như Hà Triều – Hoa Phượng, Kiên Giang, Trần Hà, Thể Hà Vân, Thế Châu, Nhị Kiều, Nguyên Thảo, Thu An, Viễn Châu, Yên Ba, Loan Thảo, Yên Lang, Huy Trường…; với những tác

phẩm nổi tiếng như Tuyệt tình ca, Thuyền ra cửa biển, Nửa đời hương phấn của Hà Triều -

Hoa Phượng, Tấm Cám của Huy Trường, Cho trọn cuộc tình của Yên Ba, Con cò trắng của Thu

An, Cô gái bán gươm của Thể Hà Vân, Chuyện tình Hàn Mạc Tử của Viễn Châu… đã làm nên

những tác phẩm Cải lương màu sắc, đa dạng về thể tài – thể loại, phong phú về nội dung và ngôn ngữ văn học dân tộc

Cũng là lúc mà khán giả Cải lương ngày càng đông hơn, ở Sài Gòn nhiều rạp Cải lương

ra đời comlete như Hưng Đạo, Quốc Thanh, Hào Huê, Minh Phụng, Cây Gõ, Thủ Đô, Bà Chiểu… Ở các tỉnh lúc này, tỉnh nào cũng có rạp Cải lương, nhiều gánh ở Sài Gòn hoặc tỉnh khác thay phiên nhau vào các rạp tỉnh trình diễn liên tục… Sở dĩ các rạp đông khán giả, công chúng vẫn nồng nhiệt đón nhận Cải lương cũng là nhờ sự góp phần không nhỏ của các thầy tuồng trong gia đoạn này

3.3 Những kế thừa và phát huy của giai đoạn 1955-1975

Khi đất nước hoàn toàn giải phóng thống nhất Tổ quốc (30/4/1975), các tác giả bước vào đề tài mới, tập trung khai thác đề tài chiến tranh và tâm lý xã hội đương đại Nội dung kịch bản văn học lúc này càng phong phú hơn, phản ánh đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực;

ca ngợi tinh thần hào hùng của dân tộc qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc, xây dựng những hình tượng nhân vật anh hùng ca và số phận các nhân vật nhân văn điển hình từ trong quá khứ cho đến hiện tại… Mặc dù đất nước mới vừa thống nhất, còn rất nhiều khó khăn nhiều mặt từ hậu quả của chiến tranh để lại; nhưng cả nước vừa khắc phục khó khăn, hàn gắn những vết thương do chiến tranh, từng bước xây dựng cuộc sống mới, tất cả theo nhịp sống

Trang 38

mới hân hoan vươn tới; trong đó các đơn vị nghệ thuật biểu diễn nói chung với khí thế hừng hực các sân khấu luôn sáng đèn trên toàn quốc

Trước tình hình mới của đất nước, các tác giả của giai đoạn trước (1955-1975) vẫn giữ vững tư thế của mình để tiếp tục phát huy thành tựu đã đạt được cho chặng đường kế tiếp;

và tạo nền tảng cho đội ngũ tác giả kế thừa cùng xây dụng một cục diện Cải lương mới trong khung cảnh đất nước hòa bình thống nhất Từ TP HCM đến các tỉnh đều có mặt các tác giả các thế hệ, cùng tập thể của từng đơn vị nghệ thuật tạo nên gương mặt mới cho Cải lương lúc này; được xem như một loại hình độc tôn mà không loại hình nghệ thuật nào sánh kịp Công luận cho rằng “Cải lương là đế vương”, còn đào kép hát là những “ông hoàng bà chúa”, Cải lương về làng như “phụng hoàng về miễu” vậy Tên tuổi các tác giả gắn liền với vở diễn các đoàn hát, diễn viên gắn với tên nhân vật Các rạp hát ở thành phố, thị xã, thị trấn đều do Cải lương chiếm lĩnh, xuất diễn nào khán giả cũng đầy rạp Nhiều rạp hát ở TP HCM có lúc cao điểm diễn cả xuất ban ngày Ở miệt tỉnh, nhiều sân vận động, nhà lồng chợ, sân trường học là bãi hát của Cải lương, mỗi suất diễn vài ngàn người xem là chuyện bình thường lúc đó

Trước tiên xin nói qua về TP HCM TP Hồ Chí Minh là trung tâm Cải lương của Nam

Bộ, với một lực lượng tác giả hùng hậu nhất Bởi lẽ, nguồn nhân lực được hợp nhất từ ba khu vực tập trung về; đó là nghệ sĩ Sài Gòn cũ, nghệ sĩ từ miền Bắc về mà nhiều nghệ sĩ tên tuổi

từ Đoàn Cải lương Nam Bộ 20 năm trên đất Bắc, và nhiều nghệ sĩ trong chiến khu về (Đoàn Văn công R và T4 Sài Gòn – Gia Định) Đội ngũ tác giả lúc này có thể kể, tác giả kỳ cựu như:

Năm Châu, Điêu Huyền, Bảy Cao, Ngọc Văn, Kiên Giang, Nhị Kiều, Viễn Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Yên Ba, Trần Hà, Huy Trường, Ngọc Linh, Thiếu Linh, Yên Hà, Vân Hà, Vĩnh Điền, Thu

An, Nguyễn Phương, Mộc Linh, Yên Lang, Nguyên Thảo, Viễn Hùng… (trước 1975); các tác giả

Cách mạng như: Phạm Ngọc Truyền, Nguyễn Ngọc Bạch, Nguyễn Vũ, Minh Khoa, Hoài Linh

(Trương Bỉnh Tòng), Mai Quân, Xuân Phong, Phi Hùng, Lê Duy Hạnh…; các tác giả trưởng

thành sau 1975 như: Ngô Hồng Khanh, Trọng Nguyễn, Châu Thanh, Hồng Quân, Thanh Quan,

Trần Vương, Lê Huỳnh, Mộc Tùng, Đức Hiền, Đăng Minh…

Những năm đầu của giai đoạn này có các vở diễn tiêu biểu như Đời cô Lựu của Trần Hữu Trang, Sân khấu về khuya, Bình Tây đại nguyên soái của Nguyễn Thành Châu, Người ven

đô của Minh Khoa, chuyển thể Cải lương Ngô Hồng Khanh và Nguyễn Gia Nghiệm, Kiều Nguyệt Nga của Ngọc Cung, Thái hậu Dương Vân Nga của Hoa Phượng… Rạng ngọc Côn Sơn

của Xuân Phong, Nàng Xê Đa của Lưu Quang Vũ (Thể Hà Vân chuyển thể), Hòn đảo thần Vệ

Nữ của Mộc Linh phóng tác, Tiếng sóng Rạch Gầm, Nàng Hai Bến Nghé của Ngọc Linh, Tâm sự Ngọc Hân của Lê Duy Hạnh, Ánh lửa rừng khuya của Điêu Huyền, Lỡ bước sang ngang của

Trang 39

Thu An – Hoàng Khâm, Tiếng hò sông Hậu của Điêu Huyền, Tình lại cuộc đời của Điêu Huyền – Hoàng Khâm – Huy Lam, Khách sạn Hào Hoa, Mái tóc người vợ trẻ của Trần Hà, Một cuộc

giải phẫu của Nguyễn Phương, Quán Hương Tràm của Trường Xuân Trúc – Dương Linh, Tiếng trống Mê Linh, của Vĩnh Điền, Bên cầu dệt lụa của Thế Châu, Dương Vân Nga của Huy

Trường – Trúc Đường, Gánh cỏ sông Hàn, Con cò trắng của Thu An, Xuân về trên đỉnh Mã Phi,

Thanh gươm và nữ tướng của Thùy Linh – Hoàng Yến (Năm Châu và Minh Tơ chỉnh lý, đạo

diễn Tiến Vinh), Câu thơ yên ngựa của Hoàng Yến, chuyển thể Thanh Tòng và Ngọc Văn, Tô

Hiến Thành xử án của Bùi Trọng Nghĩa, Thất trảm sớ, Lá chắn biên thùy, Về đất Kinh Châu của

Phi Hùng, Bàn thờ Tổ của một cô đào của Đức Hiền (chuyển thể từ tiểu thuyết của Nguyễn Quang Sáng), Vụ án Mã Ngưu của Đãng Minh (phỏng theo truyện Huỳnh Bá Thành)…

Sân khấu ở các tỉnh có Rừng thần, Giọt máu oan cừu của Trọng Nguyễn về đề tài chiến tranh, trên sân khấu Hương Tràm (Cà Mau); Trả lại tên con, Tình ca đêm chơi vơi của Ngô Hồng Khanh về đề tài tâm lý xã hội đương đại, trên sân khấu Hậu Giang (Tây Đô), Cây dừa đỏ của Lê Huỳnh về đề tài chiến tranh, trên sân khấu Bến Tre, Tiên sa gành ráng của Yên Ba – Châu Thanh về đề tài dã sử, trên sân khấu Tiền Giang I, Lời thề trước miễu của Mộc Tùng về

đề tài tâm lý xã hội đương đại, trên sân khấuLong An…

Thành tựu của các vở diễn không chỉ công lao của tác giả kịch bản văn học, mà đó là tác phẩm Cải lương của tập thể tác giả sáng tạo Ngoài tác giả kịch bản văn học, đạo diễn là thầy tuồng thứ hai của giai đoạn sau 1975, bên cạnh còn có các nhạc sĩ, nhạc công, diễn viên và những bộ phận liên quan khác để làm nên vở diễn Tuy nhiên, do phạm vi và yêu cầu của đề tài nên bài viết tạm kết thúc ở giai đoạn này; giai đoạn từ sau năm 1990 đến nay (2018), tuy

có nhiều tác giả trưởng thành và có nhiều kịch bản văn học có giá trị nghệ thuật, đóng góp cho đời sống văn hóa nghệ thuật, phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí thẩm mỹ cho khán giả chừng mực nhất định; nhưng rất tiếc, chúng tôi chưa thể nghiên cứu những thành

tự đó

KẾT LUẬN

Qua các giai đoạn phát triển của Cải lương Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung, những đóng góp của các thầy tuồng (tác giả) qua các thế hệ gồm giai đoạn tiền đề, hai giai đoạn trọng tâm (1955-1960, 1960-1975) và giai đoạn kế thừa (1975-1990); mỗi giai đoạn

có những đặc điểm khác nhau về bối cảnh xã hội, đất nước bị chiến tranh, những mất mát đau thương, số phận con người… Từ những đặc điểm hoàn cảnh, các thế hệ tác giả cũng đã đi theo chiều những chặng đường lịch sử dân tộc, có những tác giả xuất hiện theo từng giai đoạn; họ khác nhau về tuổi đời tuổi ghề, nhưng giống nhau về chí hướng, khuynh sáng tác,

Trang 40

tinh thần dân tộc… Thành tựu của các vở diễn của các thầy tuồng đã đóng góp cho xã hội nhiều mặt như xây dựng phát triển một nền sân khấu ca kịch truyền thống Nam Bộ và cả nước nói chung từ đơn giản đến rực rỡ và hiện đại; góp phần vào giá trị văn học kịch trong các trào lưu văn học Việt Nam vô cùng phong phú về nội dung, tư tưởng, đa dạng về hình nghệ thuật, phản ảnh toàn diện đời sống xã hội, góp phần hun đúc tinh thần yêu nước bảo vệ

và xây dựng Tổ quốc qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc và hòa bình xây dựng đất nước của nhân dân; thúc đẩy văn hóa nghệ thuật phát triển trên lĩnh vực sân khấu…

Thiết nghĩ, tại sao ngày xưa, trong hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt, nhất là điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật, các yếu tố khoa học…; mà tiền nhân ta đã để lại những thành tựu kịch bản văn học và các vở diễn vô cùng rực rỡ, rất nhiều

vở vẫn còn sức sống với thời gian trong lòng công chúng; trong khi thời bây giờ xã hội tiến

bộ, đất nước phát triển toàn diện, đời sống vật chất lẫn tinh thần ngày càng nâng cao, khoa học phát triển mạnh…, mà suốt từ sau năm 1990 đến nay chưa thấy có một vở diễn, kịch bản

có sức sống lâu dài như trước; hàng trăm kịch bản đoạt giải thưởng, huy chương những mùa liên hoan, hội diễn khi qua rồi công chúng cũng không còn nhớ đến…, Phải chăng những thành tựu còn chờ ở tương lai (?) Vấn đề này chúng ta cần nhìn lại cách nghĩ và cách làm của người xưa qua các giai đoạn nêu trên để làm bài học kinh nghiệm; kết hợp với tư duy mới, nhịp sống thời đại mới vào những kinh nghiệm truyền thống mà người xưa để lại… Phương hướng và kế hoạch thực hiện cụ thể để đào tạo đội ngũ tác giả kịch bản tương lai, chúng tôi xin dành lại cho ngành chức năng và ngành có liên

Ngày đăng: 09/06/2021, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w