1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SÂN KHẤU NGHỆ THUẬT cải LƯƠNG TRONG bối CẢNH ĐÔNG á và ĐÔNG NAM á

7 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 87,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lạc… Đến thời điểm này, nghệ thuật biên kịch cải lương có bút pháp mới, dựa theonhững nguyên tắc của kịch hát truyền thống, thúc đẩy sân khấu cải lương phát triển mạnh cả về nội dung lẫn

Trang 1

NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG TRONG BỐI CẢNH ĐÔNG Á VÀ ĐÔNG NAM Á

 Nghệ thuật cải lương trong bối cảnh Đông Á và Đông

Nam Á / Võ Thị Yến// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, 2012,

Số 335 - Tr.72-77

1 Nghệ thuật cải lương Việt Nam

Ở vùng đất Nam Bộ, cho đến những năm đầu TK XX, bộ môn sân khấu gần như độc nhất vẫn là hát bội Bên cạnh hát bội còn có nhạc cung đình do nho sĩ, nhạc công từ Huế vào Một số bài bản được sử dụng trong việc tế thần, đám tang, gọi là nhạc lễ

Đờn ca tài tử Nam Bộ là một loại hình được hình thành vào cuối TK XIX, đầu TK XX Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc Người đờn, người ca không giữ nguyên xi như thày đã dạy mà luôn thêm thắt, thay đổi, tô điểm, đưa một chút riêng vào trong cái chung, khiến những bài bản đậm đà, thấm thía hơn Mặt khác,

do lòng nhớ thương cội nguồn, các điệu, các hơi của đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu ưa thích

Hàng đêm, người Nam Bộ thường tổ chức những buổi đàn ca với phong cách nghiêm túc mà vui vẻ Cũng thời gian này, hát bội mất dần khán giả vì số người biết chữ Hán giảm, vì hát bội quá khuôn mẫu và phải mất nhiều đêm để theo dõi một vở Từ năm 1900, người Pháp đã khai trương nhà hát, diễn kịch với phong cách gọn gàng, khoa học hơn hát bội, thời gian vở diễn chỉ vài tiếng đồng hồ, nội dung ca ngợi sự tự do cá nhân rất thích hợp với nhịp sống đô thị Sân khấu trang trí

lạ mắt, nhiều màu sắc, có nhà cửa, vườn tược, dụng cụ, bàn ghế… Nhiều công chức, điền chủ sau khi đến nhà hát xem kịch đã nghĩ đến việc cải cách hát bội cho hợp thời, khoa học hơn

Thời gian này, những ban nhạc tài tử đã tìm ra phong cách biểu diễn mới Người ca không chỉ đứng nghiêm nghị mà ca có điệu bộ theo kiểu độc diễn Ở các trường học, các học sinh, giáo viên khi trình diễn văn nghệ đã mô phỏng

kiểu recital (ca ra bộ).

Từ hát bội, từ phong trào đờn ca tài tử cải tiến ra tuồng cải lương là một quá trình sôi động, một yêu cầu bức bách

Các nhà nghiên cứu Trần Văn Khải, Vương Hồng Sển, Trần Văn Khê, Vũ Đào, cho rằng ngày 15, 16-11-1918 là thời điểm khai sinh ra nghệ thuật cải lương

với vở diễn đầu tiên là Kim Vân Kiều của soạn giả Trương Duy Toản Sân khấu

cải lương lúc mới hình thành từ kịch bản, âm nhạc đến hình thức sân khấu còn mang nặng yếu tố nghệ thuật dân gian

Năm 1920, ông Năm Thông lập gánh hát Tân Thinh chuyên diễn cải lương về

đề tài xã hội với các vở Bạch Tuyết Kiều Trinh, Tham phú phụ bần, Cô Ba lưu

Trang 2

lạc… Đến thời điểm này, nghệ thuật biên kịch cải lương có bút pháp mới, dựa theo

những nguyên tắc của kịch hát truyền thống, thúc đẩy sân khấu cải lương phát triển mạnh cả về nội dung lẫn nghệ thuật trình diễn

Các soạn giả đầu tiên của sân khấu cải lương, vốn là các soạn giả của sân khấu hát bội, còn bố cục theo lối kết cấu kể chuyện của chèo, tuồng truyền thống,

có lớp lang theo trình tự thời gian Tuy nhiên, các soạn giả thuộc lớp kế tục thì nghiêng hẳn theo kết cấu kịch phương Tây, trực tiếp là kịch Pháp

Các vở được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động Vai trò của soạn giả, đạo diễn ẩn phía sau nhân vật Ban đầu các vở viết về các tích xưa (tuồng Tàu), còn giữ ít nhiều kiểu bố cục phảng phất hát bội, nhưng với các vở xã hội về đề tài mới (tuồng xã hội), thì hoàn toàn theo kiểu bố cục của kịch Càng về sau, bố cục của một vở cải lương, kể cả những vở thuộc đề tài xưa, cũng theo bố cục của kịch

Về đề tài và cốt truyện, ngay từ ban đầu, các vở cải lương khai thác các

truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên hoặc những truyện trong khung

cảnh xã hội Việt Nam Sau đó, chiều theo thị hiếu khán giả, sân khấu cải lương cũng có những vở soạn theo các truyện tích của Trung Quốc đã được đưa lên sân

khấu hát bội và được khán giả rất ưa thích như Mạnh Lệ Quân, Xử án Bàng Quý

Phi, Thôi Tử thí Tề quân… Một số soạn giả phỏng theo những cốt truyện kịch,

tiểu thuyết, điện ảnh phương Tây, ví dụ Tô Ánh Nguyệt - phóng tác theo phim Back street, Tơ vương đến thác, phóng tác theo kịch La dame au

camelias… Tuy nhiên, những cảnh ngộ, tình tiết là của xã hội Việt Nam, cốt

truyện và nhân vật đều được Việt hóa Những vở cải lương gọi là tuồng xã hội thì đều đưa vào những câu chuyện của xã hội Việt Nam

Các soạn giả cải lương không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc cho phù hợp với các sắc thái tình cảm Sau này, ngoài những bài bản có sẵn, các nhạc sĩ cũng soạn thêm những bản mới theo thang âm ngũ cung Việt hóa một

số điệu ca vốn là nhạc Trung Quốc

Soạn nhạc trên những điệu nhạc có sẵn đòi hỏi sự sắp xếp khéo và sáng tạo Tuy là ca kịch nhưng vẫn có nói xen vào hát, diễn viên chỉ nói khi đối đáp ngắn gọn Những lớp hề thường được nói nhiều hơn Với những lời nói có nội dung trữ tình nhiều, hoặc sắp bắt vào bài ca thì diễn viên nói ngân nga, trầm bổng có nhạc đệm gọi là nói lối Trong các vở về đề tài xưa, hầu như chỉ có nói lối và ca Các vở

về đề tài xã hội, vì gần với kịch nói nên phần nói tương đối nhiều hơn

Về nhạc cụ, khi ban nhạc tài tử hòa tấu ở thính phòng thường sử dụng: 1 đàn nguyệt (kìm), 1 đàn nhị (cò), 1 tỳ bà, 1 đàn bầu, 1 đàn tranh (thập lục), 1 sáo, 1 tiêu, khi có người ca thì thêm đôi phách Khi biểu diễn một vở cải lương lại có thêm: 1 trống ban, 1 song lang, đôi não bạt, 1 đồng la, nhị hồ gáo, tiêu, kèn củn, kèn Sau này có bổ sung thêm đàn bầu, tam thập lục, đàn sến và hai cây đàn nước ngoài được cải biến: ghi ta phím lõm và violon

Diễn xuất (ra bộ) là một yếu tố quan trọng của sân khấu cải lương Trong các

vở về đề tài xưa, diễn xuất ít nhiều còn mang phong cách tượng trưng, cách điệu của hát bội, nhưng không đậm đặc, gò bó với các trình thức như hát bội mà nghiêng về phương pháp hiện thực

Trang 3

Về hóa trang, chú trọng theo tính cách nhân vật; những diễn biến tình cảm của nhân vật được diễn tả bằng nét mặt của diễn viên

Về phục trang, trong các vở xã hội, diễn viên ăn mặc chân thật như ngoài đời; các

vở về đề tài lịch sử dân tộc, các tích của Trung Quốc, hoặc phóng tác từ cốt truyện của nước ngoài thì trang phục của diễn viên chủ yếu để gợi ra xuất xứ cốt truyện, nhân vật, mang tính ước lệ nhiều hơn

Về trang trí, sân khấu cải lương chú trọng nhiều đến hiện thực, cố gắng gây cho khán giả cảm tưởng chứng kiến cảnh thật

2 Nghệ thuật sân khấu truyền thống Ấn Độ

Nguồn gốc nguyên thủy của sân khấu Ấn Độ có liên quan chặt chẽ với nghi lễ thời cổ và những lễ hội theo từng mùa của đất nước này Dạng hát truyền thống Natya Shastra cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa múa và diễn kịch Múa có vai trò quan trọng trong việc khai sinh ra sân khấu, cả từ xã hội nguyên thủy đến những xã hội có nền văn hóa cao Natya Shastra, được viết bởi Bhatana Muni TK

II trước CN, là dạng kịch bản cổ xưa nhất và tinh vi nhất của sân khấu Ấn Độ, củng cố và quy luật hóa truyền thống khác nhau về múa, kịch câm và kịch nói với đầy đủ những ghi chú thấu đáo về cách đạo diễn và diễn xuất, những chi tiết về việc hóa trang và phục trang…

Natya Shastra mô tả 10 loại kịch khác nhau, từ 1 hồi đến 10 hồi Tài liệu này được viết ra trong khoảng từ năm 200 trước CN đến năm 200 Nó nhắm vào tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên vì theo Bhatana Muni, ba thành phần này là không thể tách rời trong việc thực hiện một vở kịch Trong kịch truyền thống Hinđu, sự diễn đạt được thể hiện qua âm nhạc và múa cũng như động tác Do đó, một vở kịch

có thể là sự kết hợp giữa opera, vũ ba lê và kịch nói

3 Nghệ thuật sân khấu truyền thống Trung Quốc

Tuồng cổ là một môn nghệ thuật rất phổ biến ở Trung Quốc, có xuất xứ từ thời Nguyên và tồn tại với 368 thể loại khác nhau Trong số này, phổ biến nhất là tuồng Bắc Kinh, định hình từ giữa TK XIX, rất phổ biến trong triều đại nhà Thanh Trong tuồng Bắc Kinh, đàn và bộ gõ hỗ trợ rất nhiều cho động tác của nhân vật, còn động tác được thể hiện theo lối ám chỉ Chẳng hạn như người ta dùng tay chân

và cả thân mình để biểu diễn động tác phi ngựa, chèo thuyền… Lời thoại được chia thành hai phía: một phía dùng lối hát nói do nhân vật chính thể hiện, phía kia dùng lời thoại bình thường bằng tiếng Bắc Kinh do người phụ nữ làm hề thể hiện Tuồng Bắc Kinh có trên 1.000 vở Các vở kinh kịch kể lại những câu chuyện lấy từ sử thi, truyền thuyết dân gian, các tác phẩm văn học cổ điển và truyện cổ tích Các dòng thơ được ngâm bằng tiếng Trung Quốc cổ điển với dàn nhạc đệm ngồi hai bên cánh gà để khán giả có thể theo dõi câu chuyện và có thể hát theo Mỗi đêm vở diễn có thể kéo dài ba hay bốn tiếng đồng hồ

Dàn nhạc gồm các nhạc cụ như: nhị, sáo, phách gỗ, đàn thập lục, cồng, chiêng

và trống Thang âm gồm có năm nốt nhạc

Trang phục biểu diễn thêu thùa rất nhiều với màu sắc sặc sỡ mê hoặc người xem, nhằm tô điểm thêm cho sân khấu hầu như trống không Các vị tướng mặc giáp trụ, trên đầu có hai cọng lông chim trĩ dài rất lộng lẫy Những nhân vật mặc

Trang 4

trang phục với những ống tay áo dài thượt, dùng biểu diễn các hành động đùa bỡn,

ve vãn, khóc lóc hay sự sợ hãi, tức giận

Việc hóa trang cũng ấn tượng như trang phục Các nghệ sĩ vẽ mặt theo vai mà

họ đảm nhiệm Màu đỏ tượng trưng cho lòng trung thành và sự ngay thẳng chính trực Màu trắng thể hiện sự nham hiểm và phản trắc Màu vàng thể hiện sự thông minh hay láu cá, quỷ quyệt Màu xanh da trời và xanh lá cây thể hiện ma quỷ độc

ác, dữ tợn, tinh quái, còn màu ánh bạc là bộ mặt của các thần thánh hay các vị tiên Các nhân vật khác thường có bộ mặt bôi phấn trắng đơn giản hay xoa phấn hồng, mắt kẻ rất đậm Khán giả có thể xác định được các nhân vật qua hóa trang

Đạo cụ sân khấu có thể chỉ là một cái bàn với hai cái ghế đặt trước một bức phông vẽ thả từ trên xuống Khán giả phải luyện sức tưởng tượng của mình để có thể theo dõi câu chuyện Một lá cờ trong tay người lính thể hiện cho một ngàn tinh binh, hai lá cờ vẽ những vòng tròn ở trên đó có nghĩa là chiếc xe ngựa Lá cờ có viết chữ ở trên tùy theo là thủy hay phong mà có nghĩa là một cơn lũ hay một trận cuồng phong Các nghệ sĩ nhảy khỏi chiếc ghế rồi lăn lộn có nghĩa là họ đang bị nhấn chìm xuống dòng nước xiết hay bị rơi xuống giếng; trong khi trèo lên bàn hay ghế thì có nghĩa là đang băng qua các ngọn đồi hay các dãy núi

Học biểu diễn kinh kịch rất vất vả, khó khăn và các nghệ sĩ học nghề từ khi

họ mới lên mười

4 Nghệ thuật sân khấu truyền thống Nhật Bản

Sân khấu Nhật Bản luôn gắn chặt với múa và âm nhạc, khởi đầu từ TK VII với các điệu múa nghi lễ của Thần đạo Các điệu múa đó ngày nay vẫn còn được trình diễn theo cách thức hầu như không thay đổi Truyền thống dân gian Nhật Bản

đã được bảo tồn với các loại hình như noh, kabuki và bungaru Loại hình kịch cổ xưa nhất còn giữ lại ở Nhật Bản là kịch noh, có hình thức đương đại từ cung đình Ashikaga TK XIV, là một trong những nhánh chính của sân khấu Nhật Bản

Các vở kịch noh là sự hòa trộn của múa và kịch bắt nguồn từ các điệu múa của Thần đạo và giáo lý Phật giáo Chủ đề chính thường về tội sát nhân, kiếp sau,

sự phù du của cõi đời, quyền năng của đức Phật và những ham muốn xấu xa Mặc

dù chủ đề khá nghiêm trang nhưng trang phục kịch noh rất nhiều màu sắc, được thêu thùa công phu với chỉ bạc, chỉ vàng

Các động tác kịch trên sân khấu luôn trong hình thức hồi tưởng từ ký ức của các nhân vật Chúng mờ ảo, bình dị và trữ tình với kịch bản nặng về ám dụ và tượng trưng Lời thoại với lối nói cổ xưa ê a trầm bổng làm khán giả ngày nay rất khó hiểu, thậm chí cả những người Nhật có học cũng cần có kịch bản để theo dõi

vở kịch

Trong vở kịch noh, người ta múa và kể về những nhân vật chính, trong khi đó ban nhạc hát về câu chuyện, kèm với âm nhạc của trống và sáo Những hành động được cách điệu để diễn đạt tình cảm, được kèm theo bằng văn xuôi và múa Nội dung của kịch noh là những câu chuyện cổ tích hay những sự kiện lịch sử pha trộn những ý tưởng của Phật giáo Không khí chờ đợi, dự đoán những tình tiết của câu chuyện được tạo ra bởi một màn hài hước diễn trong lúc nghỉ giải lao

Hóa trang, phục trang, gồm những mặt nạ tiêu biểu cùng với y phục lộng lẫy Đối chọi với sân khấu trống trải, mộc mạc, có những cây thông làm hậu cảnh

Trang 5

Về nhạc cụ, một số nhạc cụ lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn được sử dụng tại Nhật Bản từ trước thời Jomon: các ống sáo và đàn tam thập lục bằng đá và đất sét Những chiếc chuông, cồng kim loại thời kỳ Yajoy cũng góp phần vào kho tàng

âm nhạc cổ xưa này Ngoài ra còn có nhiều loại trống nhỏ, cồng, chiêng, sáo và các nhạc cụ có dây Những nhạc cụ này hình thành những dàn nhạc cho cung đình TK VII

5 Nghệ thuật sân khấu truyền thống Thái Lan

Môn nghệ thuật biểu diễn lôi cuốn nhất phát triển vào đầu triều đại các vua Chakri là kịch múa, do hoàng gia tổ chức và chi phí rất tốn kém

Có hai dạng kịch múa truyền thống - khon và lakhon Thoạt đầu, những vũ

công trình diễn khon đều mang mặt nạ Sau này, với các vai thần thánh và con người, các vũ công thường dùng vương miện hay đội tóc giả, còn những diễn viên đóng vai ma quỷ hay các con vật thì vẫn đeo mặt nạ

Cùng với các cảnh kịch còn có âm nhạc, gồm cả ca hát và nhạc cụ Nhạc cụ

cho kịch múa là phipat, một thứ giống như sáo Trên sân khấu còn có một dàn

đồng ca Các vũ công sử dụng những động tác cử chỉ tao nhã, uyển chuyển dựa trên những động tác và cử chỉ trong cuộc sống thường ngày Cốt truyện của các vở

kịch múa là những trích đoạn từ bản trường ca Ramakinen.

Các vở kịch lakon nok rất sinh động và diễn biến rất nhanh với nhiều trò khôi hài, thông tục Lakon nai thì ngược lại, êm đềm, đầy chất thơ và chất tao nhã, nhạc

đệm chậm rãi và không hề có sự thô tục Những màn kịch lấy từ trường

ca Inao được dân chúng rất hoan nghênh Ngoài ra, người ta còn diễn những vở

kịch cổ điển và những truyền thuyết du nhập từ Ấn Độ Cảnh trí, phông màn, những trang bị sống còn đối với nghệ thuật biểu diễn ngày nay là những phát minh của TK XX

Khi người Thái đến bán đảo Đông Dương, họ được tiếp xúc những nét mới của văn hóa Ấn Độ, gồm có cả các loại nhạc cụ: trống, cồng chiêng, trống cơm, sáo, kèn Với bản chất yêu âm nhạc, người Thái dễ dàng tiếp nhận loại hình âm nhạc mới kết hợp với âm nhạc truyền thống của người Môn và người Khơme

6 Nghệ thuật sân khấu truyền thống Malaysia

Malaysia không có kịch bản xứ Dân chúng thích xem kịch nhưng vì cách đây còn chưa lâu, những người diễn kịch bị coi là phường đào kép, không được coi trọng nên nghệ thuật giải trí này là do người ngoài mang đến cho họ

Bangsawan, một thời là màn diễn lưu động, không khác một vở hài kịch ngắn

là mấy Nó gồm một cốt truyện được cắt ra thành từng đoạn nhỏ bởi các cảnh chẳng dính dáng gì đến nhau Tình tiết âm nhạc được các diễn viên ứng biến ngay trên sàn diễn

Tuồng (kinh kịch) của người Hoa được biểu diễn ở hầu hết các thành phố và thị trấn Malaysia

Một nghệ thuật biểu diễn rất cổ xưa của Malaysia là kể chuyện Người Malaysia có mọt lối ngâm nga đặc biệt khi kể các truyền thuyết lịch sử, gọi là Syair, nó thường được chọn làm tiết mục giải trí trong các cuộc họp nơi cung đình Dongyang Sayang là dạng hát truyền thống của Malaysia vẫn còn phổ biến cho tới nay Dàn nhạc thường có 6 người: 1 nhạc công vĩ cầm, 2 người đánh trống

Trang 6

rebana, 1 người đánh cồng và 2 người hát Tuy nhiên, số lượng ca sĩ có khi là 4 người, 2 nam và 2 nữ hoặc 3 nam, 1 nữ, nhưng phải có ít nhất 1 nữ Nhạc công vĩ cầm đôi khi phải cần đến hai người nếu buổi trình diễn kéo dài vì vĩ cầm giữ giai điệu chính cho điệu hát Trang phục cho biểu diễn là trang phục truyền thống

7 Nghệ thuật sân khấu truyền thống Inđônêsia

Kịch Inđônêsia mang hình thức kịch múa rối wayang, không chỉ là việc biểu diễn trên sân khấu, mà nó có lẽ là tiềm lực văn hóa mạnh mẽ nhất của đất nước

Mô tả những câu chuyện trong hai bộ sử thi bất hủ của Ấn

Độ, Ramayana và Mahabharata, wayang kể lại những trận chiến giữa cái thiện và

cái ác, sức mạnh và sự yếu đuối của con người và xã hội Wayang là hình thức nghệ thuật cổ xưa có từ TK VIII Sử thi được lồng vào trong wayang nhằm mục đích truyền bá tôn giáo Wayang gián tiếp dạy người ta về cuộc đời, truyền đạt những giá trị đạo đức và cung cấp những hình mẫu về các anh hùng thời đại cho thanh niên

Những nhân vật trong wayang thường được dùng để miêu tả tính cách con người: Anjuna đẹp trai, tin cậy và trung nghĩa; Rawana thể hiện sự dối trá, xấu xa, tham lam và Semar, một trong những nhân vật lão luyện được ngưỡng mộ nhất, là một cái tên danh dự ban cho ai đó

Loại kịch được ưa chuộng nhất là wayang topek (kịch mặt nạ), wayang kulit (rối bóng), wayang golek (rối gỗ) và wayang orang (kịch múa) Mỗi thể loại là một địa hạt riêng biệt và dành để kể về những câu chuyện và truyền thuyết khác nhau Cải lương Việt Nam là nghệ thuật mang tính tổng hợp, phản ánh cuộc sống bằng hành động sân khấu, qua hình thức hát, múa, nói lối và động tác vũ đạo Có thể nói trình thức, mô hình… là đặc trưng và phương tiện của nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống Việt Nam nói riêng và sân khấu truyền thống phương Đông nói chung

Giá trị cảnh sắc là những nét đẹp đặc trưng của sân khấu truyền thống phương Đông Giá trị ấy là biểu hiện tập trung và cụ thể nhất của một nền văn hóa không gian phương Đông Đó cũng là biểu hiện của nét đẹp sân khấu thuần nhất Về phương diện này, không chỉ ở sân khấu các nước có nền kịch hát truyền thống như

Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… mà ở Malaysia, Thái Lan, Lào, Inđônêsia… cũng đậm đặc nét đặc trưng này

Các điệu thức của nghệ thuật sân khấu Đông Á và Đông Nam Á thuộc hệ thống âm giai ngũ cung Điệu Bắc và Nam trong âm nhạc truyền thống Việt Nam vốn là hai điệu thức thuộc âm giai ngũ cung, tuy nhiên điệu oán trong nghệ thuật cải lương lại thuộc âm giai bảy cung (1) Từ khi có điệu thức oán, âm nhạc cải lương Nam Bộ lại có thêm 3 hơi: xuân, ai và dựng

Cấu trúc dàn nhạc cổ của các nước Đông Á và Đông Nam Á, chủ yếu sử dụng

bộ gảy (đàn dây), bộ kéo (đàn cò), bộ hơi (các loại kèn, sáo) và bộ gõ (các loại trống) Âm nhạc truyền thống của các quốc gia Đông Nam Á cũng thường sử dụng cồng chiêng Loại nhạc cụ này âm nhạc cải lương chỉ sử dụng trong những tình huống và hoàn cảnh của vở diễn yêu cầu Đặc biệt sự cải tiến của cây đàn ghi ta và đàn violon của phương Tây đã làm phong phú thêm cho dàn nhạc cải lương

Trang 7

Nhìn lại các nước Đông Á và Đông Nam Á, sân khấu truyền thống Ấn Độ ra đời, định hình rất sớm và có những trước tác lý luận sân khấu rất công phu, tỉ mỉ Tuồng cổ Trung Quốc là một môn nghệ thuật, có xuất xứ từ thời Nguyên và tiếp tục tồn tại với 368 thể loại khác nhau Đặc biệt, tuồng Bắc Kinh (Trung Quốc) định hình từ TK XIX và hiện nay vẫn rất được ưa chuộng tại đất nước rộng lớn này Loại hình kịch cổ xưa nhất còn giữ lại ở Nhật Bản là kịch noh, có hình thức đương đại từ TK XIV

Trong quá tình hình thành và phát triển, nghệ thuật cải lương đã khẳng định được bản chất của thể loại sân khấu này Từ đờn ca tài tử và ca ra bộ, với sự kế thừa và sáng tạo dòng sân khấu phương Đông, trực tiếp là nghệ thuật hát bội và kịch phương Tây, nghệ thuật cải lương đã được định hình và phát triển nhanh chóng trong cuộc sống đương đại

Có thể thấy rằng, cải lương hình thành và phát triển trên cơ sở chắt lọc tinh hoa của nền sân khấu kịch hát truyền thống dân tộc mang đậm nét văn hóa phương Đông và sự ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ của sân khấu phương Tây Các nước trong khu vực vốn có ảnh hưởng rất mạnh đến nước ta về văn hóa, tư tưởng như

Ấn Độ, Trung Quốc… cũng có những hiện tượng tương tự

_

1 Trương Bỉnh Tòng, Nghệ thuật cải lương những trang sử, Viện sân khấu xb, Hà Nội, tr.93.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 335, tháng 5-2012

Tác giả : Võ Thị Yến

Ngày đăng: 09/06/2021, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w