NCS chọn đề tài luận án: Xã hội hóa hoạt động sân khấu Kịch công lập ở Việt Nam vì đây là vấn đề trực tiếp liên quan đến công tác của NCS; kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có ý nghĩa t
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Hoàng Chương
XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG SÂN KHẤU KỊCH CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 62 31 06 42
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Th Hoài Phương
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Thị Hoài Phương
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Duy Khuê
Hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam Phản biện 2: TS Vũ Thị Phương Hậu
Viện Văn hóa và Phát triển
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Phản biện 3: TS Hoàng Minh Thái
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
32 Hào Nam, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
Vào lúc giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Nguyễn Hoàng Chương (2015), “Về xã hội hóa văn hóa trong sân khấu
kịch nói”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 367, tr.72 - 75
2 Nguyễn Hoàng Chương (2015), “Thực trạng xã hội hóa sân khấu Kịch
nói phía Bắc”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 371, tr.63-66
Trang 4Nghiên cứu để tìm ra những giải pháp thực hiện XHH hoạt động của các đơn vị SK Kịch công lập là việc làm cần thiết NCS chọn đề tài
luận án: Xã hội hóa hoạt động sân khấu Kịch công lập ở Việt Nam vì
đây là vấn đề trực tiếp liên quan đến công tác của NCS; kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có ý nghĩa thiết thực cho công tác của NCS cũng như
cho sự nghiệp phát triển nghệ thuật sân khấu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nhắm tới mục đích hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn một
số vấn đề lý luận về XHHHĐVH, trong đó có XHHHĐSK Kịch công lập, từ đó tìm ra các giải pháp để tiến hành XHHHĐSK Kịch công lập trong tiến trình đất nước đổi mới và hội nhập
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận về XHHHĐVH nói chung, XHHHĐSK nói riêng;
- Khái lược các phương thức quản lý hoạt động nghệ thuật sân khấu ở nước ta qua các thời kỳ;
Trang 52
- Đánh giá thực trạng XHH các đơn vị sân khấu Kịch công lập, trong mối tương quan so sánh với XHHHĐSK Kịch ở Tp HCM, từ đó xác định lộ trình XHHHĐSK Kịch công lập;
- Tìm hiểu một số kinh nghiệm về quản lý hoạt động VHNT nói chung, NTSK nói riêng của một số nước vận hành theo cơ chế thị trường trước Việt Nam, để rút ra những bài học hữu ích
- Khuyến nghị và đưa ra một số mô hình nhằm thực hiện hiệu quả quá trình XHHHĐSK Kịch công lập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là vấn đề XHHHĐSK Kịch công lập ở Việt Nam; khảo sát, đánh giá hoạt động của các đơn vị sân khấu Kịch ngoài công lập, một số đơn vị thuộc loại hình nghệ thuật khác đã đi đầu
thực hiện XHH để so sánh, rút bài học kinh nghiệm
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng khảo sát
Luận án khảo sát các đơn vị NTSK Kịch công lập trong cả nước
- Phạm vi thời gian
Luận án nghiên cứu vấn đề XHHHĐSK Kịch công lập từ khi có Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ đến giai đoạn hiện nay (đầu năm 2016)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên những nguyên lý của phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử vì việc thực hiện XHHHĐVH phải trải qua quá trình lâu dài, từng bước; cần xem xét, phân tích, đánh
giá quá trình này trong bối cảnh đất nước đang có nhiều biến động
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản; nghiên cứu thực địa để phỏng vấn, thu thập tài liệu; nghiên cứu lịch đại; Các thao tác: so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá
Trang 65.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án đưa ra khuyến nghị và các mô hình XHH giúp cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị NTSK Kịch công lập xây dựng đề án phát triển trong thời gian tới
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (19 trang), Kết luận (05 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang) và Phụ lục (64 trang), luận án có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xã hội hóa hoạt động văn hóa
và khái lược các phương thức quản lý hoạt động nghệ thuật sân khấu (33 trang)
Chương 2: Thực trạng quản lý và xã hội hóa hoạt động sân khấu Kịch ở Việt Nam (37 trang)
Chương 3: Những bài học về xã hội hóa hoạt động nghệ thuật sân khấu và khuyến nghị (31 trang)
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ KHÁI LƯỢC CÁC PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU
1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm xã hội hóa
Cần khẳng định rằng, khái niệm “XHH (cá nhân)” là một phạm trù nghiên cứu cơ bản trong xã hội học, nó không phải là khái niệm XHH
đã được thể hiện trong các văn bản do Đảng và Nhà nước ban hành
Trang 74
Thực chất, “XHH (cá nhân)” và “XHH (xã hội)” là hai mặt (hay là hai
quá trình) của một vấn đề Thuật ngữ “XHH” mà Đảng và Nhà nước sử dụng trong các văn bản là với hàm nghĩa này, nó thể hiện quan niệm mang tính đặc thù riêng của Việt Nam, phù hợp với điều kiện của Việt Nam thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế Đây cũng là quan điểm, là nội dung về XHH mà NCS sử dụng trong luận án của mình
1.1.2 Khái niệm “xã hội hóa hoạt động văn hóa”
Chính sách XHHHĐVH của Nhà nước ta hiện nay là nhà nước tạo
ra không gian xã hội, luật pháp và chính trị mà ở đó ai cũng có quyền đóng góp cho sự nghiệp văn hóa; XHH văn hóa không có nghĩa là nhà nước chuyển giao hay phó thác nhiệm vụ hiến định cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, mà là tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia vào lĩnh vực này, ai ai cũng có điều kiện sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa
1.1.3 Các khái niệm công lập, ngoài công lập, tư nhân, tư nhân hóa
- Đơn vị công lập: gồm hai bộ phận: các đơn vị sự nghiệp công lập
và các doanh nghiệp nhà nước
- Cơ sở ngoài công lập: là các cơ sở do tổ chức xã hội, nghề
nghiệp, cá nhân thành lập, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp luật
- Đơn vị tư nhân: là cơ sở do cá nhân thành lập và điều hành, hoạt
động theo quy định của pháp luật
1.2 Tính quy luật của xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở Việt Nam
1.2.1 XHHHĐVH là sự tiếp nối lịch sử phát triển các hoạt động văn hóa của Việt Nam
Từ xa xưa ở đất nước ta, các hoạt động văn hóa đều mang tính xã hội, tính cộng đồng rất cao, do cộng đồng làng, xã đứng ra tổ chức Trong lĩnh vực NTBD, tổ chức nghề nghiệp đầu tiên là các hội, phường, gánh, như các phường, gánh Chèo, Tuồng, Rối nước ở miền Bắc, các gánh Cải lương ở miền Nam Sau khi nước VNDCCH ra đời, ở miền
Trang 85
Bắc mọi thành phần, lĩnh vực của đời sống xã hội được Nhà nước quản
lý và vận hành theo cơ chế tập trung, bao cấp Ở miền Nam, dưới chế
độ Cộng hòa, toàn xã hội vận hành theo cơ chế thị trường theo kiểu TBCN Sau khi đất nước thống nhất, các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp do nhà nước thành lập và quản lý theo cơ chế bao cấp
XHHHĐVH có nghĩa là trả các hoạt động văn hóa về với môi trường của nó, để cho cộng đồng người dân thực hiện vai trò là chủ thể sáng tạo và đối tượng hưởng thụ các thành quả văn hóa đó
Trong quá khứ, việc XHHHĐVH, ông cha chúng ta đã từng làm Bên cạnh một số điểm tương đồng với cách thức XHH trước kia, về căn bản, XHH hiện nay có nhiều đặc điểm mới do điều kiện đất nước hôm nay quy định
1.2.2 XHHHĐVH là yêu cầu tất yếu để văn hóa Việt Nam phát triển bền vững trong xã hội đương đại
Từ khi Việt Nam thực hiện cơ chế kinh tế thị trường đã ra đời nhiều chính sách đổi mới về quản lý văn hóa NQ số 90/CP (1997) thu hút sự quan tâm của những người hoạt động trong lĩnh vực NTBD Ban đầu có một số ý kiến băn khoăn hoặc phản đối XHHHĐSK, nhưng chỉ
là thiểu số Tại các cuộc hội thảo do Cục NTBD tổ chức như “Thực
trạng sân khấu hôm nay” (1997), “Thực trạng và giải pháp phát triển NTBD”, “Hoạt động XHHSK trong giai đoạn hiện nay” (2006), hầu hết
giới sân khấu đều nói lên lòng mong mỏi cần phải thúc đẩy tiến trình XHHHĐSK để tạo ra bước đột phá cho sân khấu đang bị khủng hoảng trầm trọng
Bước sang thế kỷ XXI, chính sách XHHHĐVH ngày càng đi vào đời sống xã hội, ngày càng được nhận thức rõ ràng hơn, sâu sắc hơn Qua kiểm nghiệm bằng thực tiễn, phần lớn các nhà hoạt động trong lĩnh vực VHNT đều nhận thức được tính tất yếu và cần thiết của XHHHĐVH, trong đó có XHHHĐSK
Trang 96
1.3 Nội dung của XHHHĐVH theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Chính sách XHHHĐVH bao gồm ba nội dung chính: Một là, xã
hội hóa công tác quản lý các hoạt động văn hóa; Hai là, XHH hoạt động sáng tạo văn hóa; Ba là, xã hội hóa hoạt động cung cấp và phổ biến các sản phẩm văn hóa:
1.4 Khái lược các phương thức quản lý hoạt động nghệ thuật sân khấu qua các thời kỳ
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1945
Trước năm 1945, hoạt động sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ giá trị văn hóa mang đậm nét sinh hoạt văn hóa cổ truyền làng xã Hoạt động của sân khấu kịch hát là hình thức tổ chức theo phường, gánh Ở Nam
Bộ, giai đoạn mới hình thành, các gánh Cải lương chỉ hát ở xóm, thôn tại quê nhà Sau đó một số người đã bỏ vốn ra lập gánh hát với mục đích kinh doanh, được gọi là các “ông bầu”
Từ khi Kịch nói hình thành ở nước ta (1921), hình thức hoạt động được thông qua các hội, ban, nhóm, tập hợp các trí thức trẻ yêu NTSK, các nghệ sĩ vốn hoạt động ở bên sân khấu Tuồng, Chèo sang diễn Kịch Hoạt động của các ban, hội như hội Uẩn Hoa, hội Tinh Hoa, Ban kịch Thế Lữ và nhiều nhóm khác
Sau sự kiện công diễn vở Chén Thuốc độc thành công, thực dân Pháp cho thành lập Tiểu ban diễn Kịch nằm trong Hội đồng thành phố
Hà Nội do một viên chức người Pháp là Ti-bô (Thibault) phụ trách, thực chất của tổ chức này là một công cụ để kiểm soát các hoạt động sân khấu
Tóm lại, trước năm 1945, hình thức tổ chức và hoạt động của NTBD nói chung, nghệ thuật sân khấu nói riêng, là tổ chức phường, gánh với phương thức quản lý tư nhân với vai trò quyết định của các bầu gánh
1.4.2 Thời kỳ từ 1945 – 1985
Trang 107
Ở miền Bắc, nhà nước quản lý và điều hành mọi lĩnh vực bằng cơ chế tập trung bao cấp Cơ chế này kéo dài từ 1946 đến 1986 Trong thời
kỳ này các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của Nhà nước lần lượt ra đời
và được bao cấp hoàn toàn
Ở miền Nam, trước năm 1975, sân khấu Cải lương hoạt động theo phương thức quản lý tư nhân Các gánh hát không nhận được khoản tài trợ nào từ chính quyền Về hoạt động SK Kịch, ở vùng giải phóng có Đoàn Kịch Giải phóng Tại Sài Gòn có Đoàn Kịch Bông Hồng và Đoàn Kịch Kim Cương Sau năm 1975, Đoàn Kịch Nam Bộ từ miền Bắc trở
về mền Nam đổi tên là Đoàn Kịch nói Cửu Long Giang, sau đó Đoàn Kịch Bông Hồng sáp nhập vào Đoàn Kịch Cửu Long Giang thành Đoàn Kịch Thành phố, sau đổi tên là Nhà hát Kịch thành phố Đây là đơn vị sân khấu Kịch nói công lập duy nhất ở Tp Hồ Chí Minh, hoạt động theo cơ chế bao cấp
Tóm lại, từ năm 1975 đến năm 1985, cả nước chỉ có một phương thức quản lý hoạt động sân khấu thống nhất ở cả hai miền Nam - Bắc, là
cơ chế tập trung bao cấp
1.4.3 Thời kỳ từ 1986 đến nay
Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng và Nhà nước đa dạng hóa các phương thức quản lý hoạt động VHNT, từ 1986 đến nay, ở Việt Nam tồn tại hai kiểu tổ chức NTSK là các đơn vị công lập và các đơn vị ngoài công lập Tương ứng với hai tổ chức này là hai cơ chế quản lý hoàn toàn khác nhau: cơ chế bao cấp và cơ chế XHH Nhà nước đã có một số chính sách, tạo điều kiện cho các đơn vị công lập từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, chuẩn bị tiến tới cơ chế XHH Đây là nét đổi mới trong chính sách quản lý các đơn vị nghệ thuật của Nhà nước thời kỳ hội nhập
Tiểu kết
Chương 1 của luận án bao gồm hai nội dung chính:
Trang 118
1 Về mặt lý luận: Luận án đã bàn về một số khái niệm “XHH”,
“XHHHĐVH”, trong đó có XHHHĐSK để làm rõ khái niệm “XHH” theo tinh thần là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta; giải đáp
câu hỏi được nhiều người đặt ra: XHH có phải là tư nhân hóa? Luận
án phân tích tính quy luật của XHHHĐVH ở Việt Nam, góp phần trả lời
câu hỏi: Tại sao phải tiến hành XHHHĐVH? Luận án nêu các nội
dung của XHHHĐVH gồm XHH hoạt động sáng tạo văn hóa; XHH hoạt động cung cấp và phổ biến các sản phẩm văn hóa; XHH công tác
quản lý các hoạt động văn hóa Để trả lời câu hỏi: XHH cái gì?
2 Luận án đã khái lược lại các phương thức quản lý đối với hoạt
động sân khấu qua các thời kỳ cho thấy sự phát triển liên tục, những
biến đổi của các phương thức quản lý hoạt động sân khấu trong các giai đoạn lịch sử, làm cơ sở cho những chương sau đi sâu bàn luận về vấn đề
XHHSKK công lập ở Việt Nam
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG
SÂN KHẤU KỊCH Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng công tác quản lý các đơn vị sân khấu Kịch công lập hiện nay
2.1.1 Mạng lưới các đơn vị nghệ thuật sân khấu Kịch công lập
Hệ thống các đơn vị nghệ thuật sân khấu Kịch nói Trung ương
Nhà hát Kịch Việt Nam (tiền thân là Đoàn văn công Trung ương)
được thành lập năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc
Nhà hát Tuổi trẻ được thành lập ngày 10 tháng 4 năm 1978, là
nhà hát có các loại hình: Kịch nói, Ca - Múa - Nhạc, Kịch câm, Kịch thử nghiệm
Hệ thống các đơn vị nghệ thuật sân khấu Kịch công lập địa phương
Hiện nay ở các tỉnh, thành phố có tất cả 11 đơn vị NTSK Kịch công lập, được cấp kinh phí hoạt động từ nguồn nhân sách nhà nước
Trang 129
Hiện tượng các đoàn đều rất khó khăn trong việc duy trì hoạt động Lãnh đạo của nhiều đoàn chưa thoát khỏi tư duy bao cấp, chưa quen với cung cách hoạt động trong cơ chế thị trường
2.1.2 Đánh giá tổng quát công tác quản lý các đơn vị nghệ thuật sân khấu Kịch công lập hiện nay
Những tác động tích cực
- Một số đổi mới về chính sách của Đảng và Nhà nước đã có những tác động tích cực đến hoạt động của các đơn vị NTSK Kịch công lập: Xây dựng và ban hành các chế độ ưu đãi đối với nghệ sĩ; chế độ tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm VHNT; phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển NTBD đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”…
- Phát huy hiệu quả chính trị - xã hội: Các đơn vị nghệ thuật công lập thực hiện tốt các nhiệm vụ phục vụ chính trị, kịp thời tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, định hướng thẩm mỹ đối với công chúng Đối với các đơn vị NTSK Kịch thì càng
có lợi thế thực hiện tốt nhiệm vụ này nhờ đặc điểm loại hình nghệ thuật Kịch nói dễ đi vào các vấn đề thiết thực của đời sống xã hội
Những mặt hạn chế
Quản lý các đơn vị nghệ thuật theo cơ chế hành chính gây ra
những bất hợp lý trong chính sách đối với nghệ sĩ biểu diễn:
đến tuổi nghỉ hưu nên vẫn trong biên chế
ngũ và nâng cao chất lượng nghệ thuật của các đơn vị
- Nhiều nghệ sĩ hưởng thanh bậc lương vượt khung nhiều năm mà chưa được chuyển có cơ chế ngạch bậc vì chế độ lương bất cập Nhiều nghệ sĩ thành danh đã bỏ diễn để đi đóng phim nhằm đảm bảo đời sống
Bộ máy quản lý cồng kềnh, kìm hãm tinh thần sáng tạo, hiệu
quả lao động không cao
Trang 1310
Cơ chế bao cấp tạo nên gánh nặng ngân sách cho Nhà nước và
sự đầu tư kém hiệu quả, lãnh phí; nảy sinh thực trạng thờ ơ, chây ì, vô cảm, vô trách nhiệm của nhiều tập thể, cá nhân nghệ sĩ
giả thờ ơ với sân khấu kịch
Tóm lại, với những mặt tích cực và tiêu cực của phương thức quản
lý bao cấp đối với các đơn vị nghệ thuật đã khiến các nhà quản lý cũng như các nghệ sĩ sáng tạo đều nhận thức được rằng cần tiến hành XHHHĐSK để mở ra nhiều cơ hội cho các đơn vị sân khấu phát huy năng lực sáng tạo
2.2 Thực trạng xã hội hóa hoạt động nghệ thuật sân khấu Kịch hiện nay
2.2.1 Thực trạng xã hội hóa hoạt động sân khấu Kịch ngoài công lập ở Tp Hồ Chí Minh
Những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, các đơn vị SKXHH
ở Tp Hồ Chí Minh đã có những đóng góp không nhỏ để nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Thời gian gần đây, các đơn vị SKXHH ở
Tp Hồ Chí Minh cũng lâm vào tình trạng thiếu vắng khán giả Sân khấu XHH ở Tp Hồ Chí Minh đã bộc lộ nhiều điều bất cập, đặt ra một
số vấn đề để các nhà quản lý và các nghệ sĩ rút kinh nghiệm
Những thành tựu
Một số nguyên nhân chính dẫn tới những thành công của SKXHH
Tp Hồ Chí Minh:
- Môi trường tự nhiên thuận lợi: Khí hậu chỉ có hai mùa như ở
miền Nam là yếu tố quan trọng để các SKXHH có khán giả hàng đêm
- Thị trường khán giả lý tưởng: Thành phố có hơn 10 triệu dân, thu
nhập bình quân đầu người cao, lối sống phóng khoáng đã mang lại một thị trường khán giả lý tưởng cho sân khấu