1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

128 140 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về biểu tượng hoa, biểu tượng trăng, biểu tượng con cò, con bống… nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về các từ, ngữ chỉ mùi, vị t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

_

TỪ, NGỮ CHỈ MÙI, VỊ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hùng Việt

HẢI PHÒNG - 2016

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự

hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hùng Việt – Viện Từ điển học và Bách khoa

thư Việt Nam – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Các nội dung nghiên cứu,

số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nào khác Trong luận văn có sử dụng một số nhận xét,

đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong

phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn

toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Hùng Việt – Viện Từ điển

học và Bách khoa thư Việt Nam – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, cùng các

thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Hải Phòng đã trực tiếp hướng dẫn,

giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Em cũng trân trọng cảm ơn Phòng Sau đại học và Khoa Ngữ Văn

trường Đại học Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành luận văn

này

Trong quá trình hoàn thiện đề tài này, mặc dù đã rất cố gắng song luận

văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy, cô cùng các

bạn quan tâm góp ý

Hải Phòng, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 4

iii

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8

1.1 Khái niệm về từ, ngữ và từ, ngữ chỉ mùi, vị 8

1.1.1 Khái niệm về từ, ngữ 8

1.1.2 Khái niệm về mùi, vị và từ, ngữ chỉ mùi, vị 12

1.2 Một số vấn đề về ý nghĩa của từ 16

1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ 16

1.2.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ 17

1.3 Một số nét sơ lược về ca dao người Việt 19

1.3.1 Khái niệm ca dao 19

1.3.2 Nội dung của ca dao 20

1.4 Tiểu kết 21

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM KẾT HỢP CỦA TỪ, NGỮ CHỈ MÙI, VỊ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 23 2.1 Nhóm từ, ngữ chỉ mùi 23

2.1.1 Danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong tiếng Việt 23

2.1.2 Danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt 26

2.1.3 Đặc điểm kết hợp của các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt 29

2.2 Nhóm từ, ngữ chỉ vị 42

2.2.1 Danh sách các từ, ngữ chỉ vị trong tiếng Việt 42

2.2.2 Danh sách các từ, ngữ chỉ vị trong ca dao người Việt 45

2.2.3 Đặc điểm kết hợp của các từ, ngữ chỉ vị trong ca dao người Việt 48

2.3 Tiểu kết 53

Trang 5

iv

TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 55

3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt 55

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, ngữ chỉ vị trong ca dao người Việt 56

3.3 Sự chuyển nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt 58

3.3.1 Các hướng chuyển nghĩa chính 58

3.3.2 Sự thay đổi khả năng kết hợp 62

3.4 Sự chuyển nghĩa của các từ, ngữ chỉ vị trong ca dao người Việt 62

3.4.1 Các hướng chuyển nghĩa chính 62

3.4.2 Sự thay đổi khả năng kết hợp 68

3.5 Tiểu kết 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 6

v

Số hiệu

trong ca dao người Việt (Khi các từ, ngữ chỉ mùi, vị dùng

ở nghĩa gốc)

53

dao người Việt

62

dao người Việt

69

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi và thân thương Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền Tất cả cùng hòa vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành kho tàng ca dao Việt Nam rất đa dạng và phong phú

Ca dao xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Nghiên cứu về ca dao không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha

1.2 Ngay từ khi còn nhỏ, những lời hát ru của mẹ như dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi con người Những câu hát ru đó là lời của những câu ca dao, dân ca cổ của người Việt Đó là những tâm tư, tình cảm, những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời, về con người và lẽ sống của nhân dân ta

Do vậy, hơn hẳn những thể loại văn học dân gian khác, ca dao là một loại hình nghệ thuật ngôn từ được nhiều người biết đến, đặc biệt là được nhiều thế

hệ các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học, ngôn ngữ học… đi sâu vào nghiên cứu, tìm tòi những cái hay, cái đẹp cả về nội dung và hình thức nghệ thuật Cái hay, cái đẹp trong cách sử dụng ngôn từ của ca dao vẫn luôn là một đề tài hấp dẫn Đề tài này là sự tiếp nối tìm hiểu ca dao ở phương diện ngôn ngữ, văn hóa

1.3 Ngôn từ tiếng Việt vốn đã rất đa dạng và phong phú Dưới bàn tay tài hoa của những tác giả dân gian, hệ thống ngôn từ còn trở nên phong phú hơn gấp bội với rất nhiều ý nghĩa khác nhau Trong hệ thống từ ngữ mà ca dao sử dụng, bên cạnh những từ, ngữ chỉ cỏ cây, chim muông, hoa, trăng…

Trang 8

thì còn có hệ thống từ, ngữ chỉ mùi, vị cũng khá phổ biến Trong quá trình nghiên cứu để lựa chọn đề tài, chúng tôi nhận thấy, ngôn từ trong ca dao vẫn

là một vấn đề vô cùng hấp dẫn và có nhiều bí ẩn cần khám phá Trước đây đã

có một số công trình nghiên cứu về biểu tượng hoa, biểu tượng trăng, biểu tượng con cò, con bống… nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt Đề tài này đi vào tìm hiểu từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt nhằm góp phần làm rõ vai trò của lớp

từ, ngữ này về khả năng kết hợp, ngữ nghĩa và về khả năng biểu hiện hình ảnh trong ca dao

Vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Từ, ngữ chỉ

mùi, vị trong ca dao người Việt", với mong muốn góp thêm một tiếng nói xét

từ bình diện ngôn ngữ học để tìm hiểu thêm giá trị của ca dao trong phạm vi

từ, ngữ đang xem xét Kết quả nghiên cứu đề tài cũng có ý nghĩa rất thiết thực đối với chúng tôi khi giảng dạy các tác phẩm ca dao trong nhà trường

phẩm, chia thành hai tiểu trường: tiểu trường tên gọi mùi vị cụ thể và tiểu

trường tên gọi khái quát Các từ chỉ mùi, vị trong Truyện Kiều chủ yếu được dùng với nghĩa chuyển

- Hoàng Thị Ái Vân [52, tr.49] trong luận văn thạc sĩ "Trường nghĩa mùi

vị và các hình thức ngôn ngữ biểu hiện trong tiếng Việt" đã tiến hành xác lập

các trường nghĩa mùi và trường nghĩa vị trong tiếng Việt; xem xét mối quan

hệ giữa trường nghĩa mùi vị và văn hóa ẩm thực của người Việt để thấy được

mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

- Nguyễn Quỳnh Thu [48, tr.43] trong luận văn thạc sĩ "Nhóm tính từ chỉ

mùi, vị trong tiếng Việt: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị" đã thống kê được 81

Trang 9

tính từ chỉ mùi, 94 tính từ chỉ vị và nêu lên được các đặc điểm về kết trị cũng như ngữ nghĩa của nhóm tính từ này

- Nguyễn Thị Huyền [23, tr.26] có bài viết "Nghĩa của từ ngọt tiếng Việt

trong sự so sánh với đơn vị tương đương tiếng Anh" đăng trên tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư (số 4 - 2013)

Đi vào tìm hiểu các công trình nghiên cứu ca dao Việt Nam, đặc biệt là việc nghiên cứu biểu tượng nghệ thuật trong ca dao Việt Nam, chúng tôi thấy: Việc nghiên cứu biểu tượng đã và đang được nhiều người quan tâm tìm hiểu, phát hiện nhiều điều mới mẻ từ thế giới biểu tượng Đã có nhiều nhà nghiên cứu về ca dao, Việt Nam với quy mô lớn như Nguyễn Xuân Kính, Vũ Ngọc Phan, Vũ Dung, Vũ Thị Thu Hương, Trương Thị Nhàn, Nguyễn Thị Ngọc Điệp… Ở từng công trình nghiên cứu các tác giả đã tìm hiểu ca dao từ nhiều góc độ: văn hoá dân gian, thi pháp học, văn hoá học, ngôn ngữ học…

- Trước hết phải kể đến cuốn "Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam", nhà

xuất bản Khoa học xã hội của tác giả Vũ Ngọc Phan Với cuốn sách này, tác giả là người đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề biểu tượng trong ca dao Tác giả đã dành một phần tìm hiểu về biểu tượng con cò, con bống Trong công

trình nghiên cứu này, tác giả đã nhấn mạnh "Một đặc điểm trong tư duy hình

tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời; đời người với đời con cò và con bống" [43, tr.38] Người nông dân lao động thấy hình ảnh của mình như cái

cò nên đã mượn đời sống của con cò để biểu hiện đời sống của mình Con cá bống cũng được nói nhiều trong ca dao, dân ca nhưng không giống con cò vì con cò có thể là hình ảnh của cả trai lẫn gái, còn con cá bống chỉ có thể là hình ảnh người thiếu nữ hay người thiếu phụ

- Hà Công Tài [46, tr.40] với bài "Biểu tượng trăng trong thơ ca dân

gian" và Bùi Công Hùng với bài "Biểu tượng thơ ca" [24] đã khai thác rõ hơn

về khái niệm nghệ thuật và đi sâu phân tích một số biểu tượng trong ca dao, trong đó có biểu tượng trăng

Trang 10

- Trương Thị Nhàn [39, tr.34] với bài viết in trên tạp chí văn hoá dân

gian "Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một số tín hiệu thẩm mỹ"

(1992) Tác giả đã nêu ý nghĩa biểu tượng của các vật thể như khăn, áo, giường, chiếu,… và đi sâu tìm hiểu tín hiệu thẩm mĩ sông Ở bài viết này tác

giả kết luận: "Khả năng biểu trưng hoá nghệ thuật của các vật thể trong ca

dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản Sông là một yếu tố mang

ý nghĩa thẩm mĩ giàu sức khái quát nghệ thuật, tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao, sông có giá trị của một tín hiệu thẩm mĩ"

- Nguyễn Xuân Kính [28, tr.29] với công trình nghiên cứu "Thi pháp ca

dao" đã dành hẳn một chương để tìm hiểu các biểu tượng như cây trúc, cây

mai, hoa nhài, con bống, con cò và so sánh ý nghĩa của một số biểu tượng động vật trong ca dao và văn học viết Tác giả đặt ra một vấn đề cần được

quan tâm khi xác định ý nghĩa biểu tượng: "Tuy cùng viết về một biểu tượng

nhưng hai dòng thơ dân gian và bác học đã miêu tả khác nhau, cấp cho nhau những ý nghĩa khác nhau"

- Cũng là tác giả Trương Thị Nhàn [40], với luận án phó tiến sĩ "Sự biểu

đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ không gian trong ca dao" (1995) đã

tiếp tục đi sâu nghiên cứu một loạt biểu tượng không gian như rừng, núi, sông, ruộng, bến, đình, chùa, Tác giả đã góp một tiếng nói ở một phương diện mới trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao

- Phạm Thu Yến [55] trong cuốn "Những thế giới nghệ thuật của ca dao"

(1998) đã dành một số trang để khảo sát, nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian tương đối toàn diện Tác giả nghiên cứu biểu tượng theo ba vấn đề: Ranh giới giữa biểu tượng và ẩn dụ; Biểu tượng thơ ca dân gian; Sự

hình thành và phát triển của biểu tượng Theo như như tác giả viết "những

điều trình bày trên vẫn mang ý nghĩa mở, ý nghĩa đặt vấn đề chứ chưa phải là

sự giải quyết triệt để"

Trang 11

- Nguyễn Thị Ngọc Điệp [15, tr.26-35] với bài "Tìm hiểu nguồn gốc biểu

tượng trong ca dao Việt Nam" (1999) đã phân chia các biểu tượng chủ yếu

thành ba nguồn sau:

+ Những biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của con người Việt

Nam, từ quan niệm dân gian, tín ngưỡng dân gian: trầu cau, cây đa, vuông

tròn…

+ Những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc:

Thuý Kiều - Kim Trọng, Ngưu Lang - Chức Nữ, dây tơ hồng, ông tơ bà nguyệt…

+ Những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày của

nhân dân: hoa sen, hoa đào, hoa hồng, con cò, con cá, trăng…

- Gần đây hơn là những bài viết của một số tác giả trẻ như Nguyễn Phương Châm, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Hà Thị Quế Hương, Phan Thị Thuý Hằng… đã đem đến cho người đọc nhiều hiểu biết thú vị, đặc biệt cung cấp cho chúng tôi những thông tin mới để nghiên cứu đề tài

Qua phần trình bày nêu trên, có thể thấy các nhà nghiên cứu đã chú ý đến nhóm từ, ngữ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt và đã có một số công trình nghiên cứu về nhóm từ này Về ca dao, các nhà nghiên cứu tập trung xem xét, tìm hiểu về văn hoá và kho tàng ca dao Việt Nam khá kĩ Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống trên phương diện ngôn ngữ

về từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt Thực tế này là một gợi ý cho

chúng tôi lựa chọn và bắt tay vào thực hiện đề tài

3 Mục đích, Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm xác định những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt Từ đó, làm rõ được vai trò của lớp từ, ngữ này trong ca dao người Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nội dung sau:

Trang 12

- Trình bày những cơ sở lí thuyết liên quan đến khái niệm từ, ngữ, nghĩa của từ, sự chuyển nghĩa, từ, ngữ chỉ mùi, vị Luận văn cũng trình bày một số nét khái quát về ca dao người Việt

- Khảo sát, phân loại từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

- Khảo sát đặc điểm kết hợp của từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

- Xem xét đặc điểm ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

4 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lớp từ, ngữ chỉ mùi, vị trong

ca dao người Việt

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các đặc điểm về khả năng kết hợp, về đặc trưng ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

Phạm vi tư liệu khảo sát là bộ tổng tập Kho tàng ca dao người Việt của

Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, (2001) NXB Văn hoá – thông tin, Hà Nội Tư liệu này gồm 2 tập, số câu ca dao được tập hợp trong bộ sách này đạt tới 12.487 lời (chưa kể dị bản) Đây là công trình biên soạn quy

mô, công phu, khoa học của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học

5 Phương pháp nghiên cứu

Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại (thống kê có định hướng, phân loại định lượng kết hợp với phân tích định tính): được sử dụng trong quá trình thu thập và xử lí tư liệu

5.2 Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả những đặc trưng ngữ nghĩa của các từ, chỉ mùi, vị trong tiếng Việt

Trang 13

5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: được sử dụng để phân tích nghĩa của từ nhằm chỉ ra nghĩa gốc, nghĩa phái sinh và các con đường chuyển nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp hệ thống

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương 2: Đặc điểm kết hợp của từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Trong chương này, chúng tôi trình bày khái quát những nội dung lí thuyết sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề mà luận văn đặt ra: từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt Chúng tôi lựa chọn hai cơ sở lí luận là cơ sở sinh học và cơ sở ngôn ngữ học

1.1 Khái niệm về từ, ngữ và từ, ngữ chỉ mùi, vị

Theo Đỗ Hữu Châu: "Từ là một đơn vị hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức Mặt hình thức theo chúng tôi, là một hợp thể của một số thành phần: thành phần ngữ âm (còn gọi là ngoại biểu), thành phần cấu tạo (còn gọi

là cấu trúc của từ) và thành phần ngữ pháp" [9, tr.21]

Các tác giả "Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học" coi "từ là đơn vị cấu trúc

ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và các thuộc tính của chúng, các sự vật các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là tổng thể các quan hệ của ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ

và cấu trúc ngữ nghĩa của từ… Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị

Trang 15

tạo nên từ; cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ" [53, tr.329-330]

Để có cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài và khảo sát tư liệu, chúng tôi lựa chọn khái niệm từ của Đỗ Hữu Châu như sau: "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu" [8] Như vậy, từ có tính hoàn chỉnh cả về ngữ âm và ngữ nghĩa Chính tính hoàn chỉnh về âm và nghĩa như vậy đã khiến cho từ có khả năng vận dụng độc lập để tạo câu Trong định nghĩa vừa nói, có hai đặc điểm về từ được nêu ra đáng chú ý:

- Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là một chiết đoạn âm thanh hoàn chỉnh nhỏ nhất, đồng thời có ý nghĩa (dùng để gọi tên các

sự vật, hiện tượng, các thuộc tính, các quan hệ trong thực tiễn đời sống)

- Từ được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói dùng để đặt câu: Từ có thể tách biệt ra khỏi các đơn vị khác (khác với các từ khác, cụm từ ) và được dùng theo quy tắc nhất định để để tạo nên câu (là đơn vị được cấu tạo bằng các từ, cụm từ, dùng để thông báo)

Những đặc điểm trên giúp phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với yếu tố cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không được dùng trực tiếp để "đặt nên câu"); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không "nhỏ nhất" )

Qua những ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có cách biểu thị nội dung (ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ tri giác là có (hiện thực về mặt tâm lý) ấy

1.1.1.2 Khái niệm về ngữ

Bên cạnh từ tiếng Việt thì đi liền kề với nó mà chúng ta không thể không nhắc đến đó chính là ngữ Ngữ được biết đến như là: "Đơn vị ngữ pháp giữa từ và câu" [8] Trong nói viết hằng ngày, bên cạnh đơn vị cơ bản là từ, người ta còn dùng ngữ (hay cụm từ) Ngữ là một loại đơn vị từ vựng được

Trang 16

hình thành do sự ghép lại của vài từ, có đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa ổn

định, tồn tại với tư cách một đơn vị mang tính sẵn có như từ Ví dụ: anh

hùng rơm, nuôi ong tay áo, vắt chanh bỏ vỏ trong tiếng Việt; to have on, to join battle, to get wind of trong tiếng Anh v.v Những đơn vị ấy tuy do vài

từ ghép lại nhưng lại có những đặc điểm giống như từ Chúng là những đơn vị

có sẵn trong ngôn ngữ, hình thành trong quá trình giao tiếp từ rất lâu đời, có tính xã hội, mang tính cố định, bắt buộc và được coi là đơn vị tương đương với từ Khi cần sử dụng trong giao tiếp, người ta chỉ việc lựa chọn và tái sử

dụng chứ không phải lâm thời ghép các âm lại theo cách riêng của cá nhân

Ngữ được hình thành trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ Ngữ

thường là một tổ hợp từ Vì vậy, nghĩa của một ngữ là nghĩa chung cho toàn

bộ tổ hợp chứ không phải là nghĩa của các từ cộng lại Ngữ có kết cấu hoàn chỉnh và chặt chẽ Để hiểu được và sử dụng được ngữ, ta thường phải ghi nhớ chúng như là những chỉnh thể, khi sử dụng, ta không thể tùy tiện thay đổi tổ chức của chúng Nghĩa của ngữ có thể tương đương với nghĩa của một từ, vì

vậy ta có thể dùng chúng như những từ ngữ bình thường

Theo Nguyễn Như Ý, ngữ được quan niệm như sau: Kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó

về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên hợp Trong một ngữ có từ

đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các

từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ Thành tố chính của ngữ

có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo

nên tính ngữ) Ngữ còn được gọi là cụm từ, từ tố

Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng

Trang 17

Ngữ thường chia ra hai kiểu: ngữ tự do và ngữ không tự do (ngữ cố định) Ngữ tự do bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ; mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ

linh hoạt và có sức sản sinh (như: đọc sách) Còn trong ngữ không tự do thì

tính độc lập về mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất

và ý nghĩa từ vựng của ngữ trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt

(như: vui tính, bền gan, sân bay, đường sắt) [53, tr.176]

Trong quá trình sử dụng, người ta đã so sánh sự khác nhau giữa ngữ cố định và ngữ từ do về các đặc điểm sau:

+ Về bản chất: ngữ cố định là đơn vị ngôn ngữ, mang tính sẵn có, cố định, bắt buộc Còn ngữ tự do là một tổ hợp hay kết cấu được lâm thời tạo ra trong quá trình giao tiếp

+ Về nguồn gốc: ngữ cố định là sản phẩm của tập thể, có tính xã hội còn ngữ tự do là sản phẩm của cá nhân

+ Về ý nghĩa: nghĩa của ngữ cố định, đặc biệt là các thành ngữ thường

là một chỉnh thể, thường vượt xa hay khác biệt so với nghĩa của thành tố cấu tạo Ví dụ: Tiếng Anh: to play first fiddle: đóng vai trò chủ chốt (nghĩa từng từ: chơi cây vĩ cầm số một) The fish story: chuyện cường điệu, phóng đại (nghĩa từng từ: chuyện cá) To show the white feather: hèn nhát (nghĩa từng từ: phơi bày cái lông trắng) Tiếng Pháp: Donner sa langue au chat: không dám đoán (nghĩa từng từ: cho mèo ngôn ngữ của nó) Entre chien et loup: chạng vạng (nghĩa từng từ: giữa con chó và con sói) Tiếng Việt : Ếch ngồi đáy giếng: sự thiển cận Buồn ngủ gặp chiếu manh: sự may mắn (nghĩa đen: buồn ngủ và có được chiếc chiếu để ngủ)

Còn nghĩa của ngữ tự do là hợp nghĩa của các thành tố Người ta dễ dàng giải thích nghĩa của ngữ tự do bằng cách giải thích tuần tự nghĩa của các thành tố

Trang 18

1.1.2 Khái niệm về mùi, vị và từ, ngữ chỉ mùi, vị

Giống như màu sắc và âm thanh, mùi, vị luôn len lỏi và có mặt khắp nơi trong thế giới bao quanh con người Có thể nói, mùi, vị là một phần tất yếu của cuộc sống con người và các loài vật Con người có năm giác quan, thì đã

có tới hai giác quan (khứu giác và vị giác) dành cho sự cảm nhận về mùi và

vị Chính vì thế, trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc có cả một trường từ vựng dành cho mùi và vị

1.1.2.1 Khái niệm về mùi

Trong tiếng Việt, trường từ vựng này khá phong phú, bao gồm một số tiểu trường Đó là những tiểu trường như tên gọi khái quát (mùi, vị, hơi, hương, ), tên gọi các mùi và vị cụ thể (thơm, hôi, thối, hắc, khai, khắm, khẳm, khét, tanh, cay, đắng, ngọt, mặn, nồng, nhạt, chua, chát…), tên gọi các trạng thái hay quá trình của mùi, vị (bay, bốc, dậy, thoang thoảng, sực nức, thấm, ngào ngạt, nhạt, phai, mất, hết…), tên gọi các hoạt động của con người đối với mùi, vị (ngửi, hít, đánh hơi, nếm, cảm thấy, cảm nhận, tẩy, xua, khử,

tạo…)

Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê, chủ

biên, NXB Đà Nẵng, 2006), mùi là danh từ chỉ hơi tỏa ra từ vật, có thể nhận biết được bằng mũi Ví dụ: Mùi thơm Mùi hương ngào ngạt Tanh mùi cá Mùi còn chỉ vị của thức ăn, nói về mặt sự cảm nhận của con người Ví dụ: Ăn

cho biết mùi Mùi chỉ cái nếm trải, hưởng, chịu trong cuộc đời, nói về mặt sự

cảm nhận của con người Mùi vinh hoa phú quý Nếm mùi cay đắng Biết đủ

mùi đời [44, tr.649]

Theo thuyết "thang mùi", trăm nghìn mùi chỉ là sự pha trộn bảy mùi: mùi long não, mùi xạ hương, mùi hoa hồng, mùi bạc hà, mùi ête, mùi hăng và mùi thối "Bộ chữ cái" mùi đã giúp các nhà công nghiệp hóa học viết trên giấy cái công thức mùi cần điều chế Tuy mũi của con người dễ dàng phân biệt

mùi tanh của cá và mùi thơm hoa nhài nhưng diễn đạt nó thành công thức hóa

Trang 19

học lại vô cùng phức tạp Mùi chuối do 364 hợp chất thơm tạo thành, mùi dứa gồm hơn 100 chất, mùi bánh mì có 75 chất…

Mùi hương đối với cuộc sống của con người có tầm quan trọng rất lớn Hương hoa làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn, sinh động hơn Mùi thơm của các gia vị trong chế biến các món ăn làm cho chúng trở nên hấp dẫn hơn Người ta ăn không chỉ bằng miệng mà còn dùng mũi nữa Việc ngửi và nếm thường được phối hợp, tạo cảm giác ngon miệng Cho nên, hương vị, mùi vị thường đi liền với nhau

1.1.2.2 Khái niệm về vị

Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê, chủ

biên, NXB Đà Nẵng, 2006), vị là: "Thuộc tính của sự vật nhận biết được bằng lưỡi" [44, tr.1092]

Vị giác là một hình thức cảm nhận hóa học trực tiếp Vị giác là một trong năm giác quan của con người Các tế bào tiếp nhận vị của con người có trên bề mặt của lưỡi, dọc theo vòm miệng và trong biểu mô của họng và nắp thanh quản Khái niệm vị giác đề cập đến khả năng phát hiện mùi vị của các

chất như thực phẩm, một số khoáng chất và các chất độc (độc tố)

Theo các nhà nghiên cứu, ở phương Tây, người ta xác định được bốn cảm giác vị truyền thống: mặn, ngọt, chua và đắng Trong khi đó người phương Đông quan niệm có năm vị cơ bản là mặn, ngọt, chua, cay và đắng, hoặc thậm chí là sáu vị (thêm vị umami) Các vị cơ bản là chỉ một thành phần góp phần vào cảm giác của thực phẩm trong miệng, các yếu tố khác bao gồm mùi (cảm nhận bằng khứu giác), cấu trúc (phát hiện bằng các thụ thể cơ học)

và cảm giác nhiệt (phát hiện bởi các thụ thể nhiệt)

Trong một thời gian dài, người ta cho rằng có một số hữu hạn các "vị

cơ bản" Đến những năm 2000, theo các nhà chuyên môn, số lượng các "vị cơ bản" được coi là bốn Gần đây, một vị thứ năm, umami, đã được đề xuất bởi nhiều cơ quan liên quan đến lĩnh vực này Năm 2015, vị béo cũng được công nhận là "vị cơ bản" thứ sáu

Trang 20

- Vị đắng là vị nhạy cảm nhất trong các vị, và là cảm nhận của nhiều cảm giác khá khó chịu và rõ rệt

- Vị mặn được tạo nên chủ yếu bởi sự hiện diện của các ion natri Các ion khác của nhóm kim loại kiềm cũng có vị mặn, nhưng ít cảm giác được bằng natri

- Vị chua là vị cảm nhận được từ tính axit Độ chua của các chất được đánh giá tương đối theo axit hydrochloric loãng (độ chua bằng 1) Axit tartaric có độ chua 0,7, axit citric là 0,46 và axit cacbonic là 0,06

- Vị ngọt, thường được coi như là một cảm giác tích cực, cảm nhận được từ các loại đường, một số protein và một số hợp chất khác Vị ngọt thường liên quan tới andehit và xeton, có chứa một nhóm cacbonyl Vị ngọt được phát hiện bởi một loạt các protein G kết thụ cùng với gustducin protein

G được tìm thấy trên các chồi vị giác

- Umami là tên cho cảm giác vị tạo nên từ các axit amin như glutamat Các hợp chất tạo ra vị umami thường có trong thực phẩm lên men và thực phẩm ủ tàng trữ Nó cũng được mô tả như là "vị thịt", hay một vị "phong phú" Umami được xem là một mùi vị cơ bản trong ẩm thực của người Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc

- Vị béo: Một thụ thể hóa học gọi là CD36 trên các nụ vị giác ở lưỡi cho phép con người nhận ra các phân tử chất béo và độ nhạy của lưỡi về chất béo thay đổi theo từng cá nhân

Bên cạnh các vị cơ bản như trên, chúng ta còn nhận biết được các vị khác như: vị chát, vị cay, vị the mát, vị tê

Như vậy ở phần trên, chúng ta đã đi tìm hiểu một cách khái quát về mùi

và vị So với nghệ thuật văn chương, thì nhiều ngành nghệ thuật khác (hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh…) cũng có thể thể hiện thành công âm thanh, màu sắc, đường nét, hình khối, và cả hoạt động trong hiện thực khách quan…, nhưng không thể thể hiện được mùi, vị như nghệ thuật ngôn từ Làm sao mà hội hoạ bằng đường nét và màu sắc có thể thể hiện được

Trang 21

mùi hay vị? Điêu khắc và kiến trúc với các hình khối, đường nét làm sao có thể làm dậy lên được mùi, vị? Âm nhạc bằng âm thanh làm sao có thể diễn tả trực tiếp được mùi, vị? Gọi tên được mùi, vị (cụ thể và khái quát) bằng từ, ngữ, đó chính là một ưu thế rất lớn của ngôn ngữ với tư cách một công cụ nhận thức và một phương tiện giao tiếp nói chung, một chất liệu của nghệ thuật văn chương nói riêng

1.1.2.3 Khái niệm về từ, ngữ chỉ mùi, vị

Ở trên, chúng ta đã cùng đi tìm hiểu về khái niệm mùi và khái niệm vị Phần tiếp theo, chúng tôi sẽ đi nghiên cứu và tìm hiểu khái niệm về từ, ngữ chỉ mùi, vị Sự nhận thức về mùi, vị hoàn toàn có tính chất chủ quan đối với từng cộng đồng người nhất định Trong các ngôn ngữ khác nhau, người ta ghi nhận về mùi, vị theo những sắc thái và mức độ khác nhau Chính vì vậy, từ, ngữ chỉ mùi, vị cũng rất phong phú

a- Từ, ngữ chỉ mùi, vị cơ bản

Con người có năm giác quan, thì đã có tới hai giác quan (khứu giác và

vị giác) dành cho sự cảm nhận về mùi và vị Chính vì thế, trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc có cả một trường từ vựng dành cho mùi và vị Trong tiếng Việt, trường từ vựng này khá phong phú, bao gồm một số tiểu trường Đó là những tiểu trường như tên gọi khái quát (mùi, vị, hơi, hương, ), tên gọi các mùi và

vị cụ thể (thơm, hôi, thối, hắc, khai, khắm, khẳm, khét, tanh, cay, đắng, ngọt, mặn, nồng, nhạt, chua, chát,…), tên gọi các trạng thái hay quá trình của mùi

vị (bay, bốc, dậy, thoang thoảng, sực nức, thấm, ngào ngạt, nhạt, phai, mất, hết…), tên gọi các hoạt động của con người đối với mùi vị (ngửi, hít, đánh hơi, nếm, cảm thấy, cảm nhận, tẩy, xua, khử, tạo…)

Mùi, vị có thể được xác định như là các dạng vật chất, vì chúng có thể cảm nhận được bằng giác quan Mùi có thể tồn tại độc lập với vật thể mà nó

là thuộc tính, có thể được con người cảm nhận mà không tiếp xúc trực tiếp với vật thể Còn vị là thuộc tính của vật thể, luôn luôn gắn bó chặt chẽ với vật thể, nên con người chỉ có thể cảm nhận khi tiếp xúc trực tiếp với vật thể qua

Trang 22

các giác quan ở khoang miệng Tuy nhiên, cả hai đều được ngôn ngữ biểu hiện bằng những từ độc lập đối với chính các từ biểu hiện vật thể, như là các đối tượng riêng biệt Đó chính là một thuận lợi to lớn cho sự giao tiếp ngôn ngữ nói chung và nghệ thuật văn chương nói riêng

b- Từ, ngữ chỉ mùi, vị phái sinh

Từ, ngữ chỉ mùi, vị phái sinh là những từ, ngữ được mở rộng từ các từ, ngữ chỉ mùi, vị cơ bản Mỗi từ, ngữ cơ bản được mở rộng theo các hướng khác nhau để phản ánh các dạng cũng như các cung bậc khác nhau của cảm xúc Một từ, ngữ chỉ mùi, vị cơ bản có thể có rất nhiều những từ, ngữ chỉ mùi,

vị phái sinh khác nhau

Ví dụ: Các từ, ngữ chỉ mùi, vị xuất hiện ở dạng từ đơn như: chua, cay, mặn, ngọt, thơm, hôi Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, chúng lại xuất hiện phần nhiều ở dạng từ ghép (hôi tanh, đắng cay, cay đắng, ngọt bùi, chua xót, mặn nồng ) hoặc từ láy (mặn mà, ngọt ngào ) Việc cấu tạo thành từ ghép hay từ láy, tuy không nhất thiết, nhưng cũng là cơ sở thuận lợi để từ chuyển nghĩa và thay đổi về đặc điểm kết hợp Từ nghĩa gốc ban đầu, chúng

đã có sự biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh sử dụng

Ví dụ: Từ mặn được hiểu là: "có vị của muối biển", nhưng trong quá trình sử dụng, nó đã được dùng để nói về phẩm chất của một con người "ăn nói mặn mà" hay nói về mức độ tình cảm "tình yêu mặn mà"

Cách biến chuyển từ nghĩa gốc, nghĩa cơ bản thành nghĩa phái sinh chính là

sự chuyển nghĩa của từ Từ cũng vì thế trở nên đa dạng hơn về mặt ý nghĩa

1.2 Một số vấn đề về ý nghĩa của từ

1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ

Nghĩa của từ là quan hệ của từ với cái nằm ngoài bản thân nó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì [7, tr.217] Nghĩa của từ chưa biết, được phát hiện thông qua lời giải thích trong từ điển là tìm những đơn vị ngôn ngữ tương đương về nghĩa với từ cần giải thích

Trang 23

Có thể hiểu mối liên hệ giữa từ với cái gì đó nằm ngoài từ qua nhiều ví

dụ như việc "trẻ con nắm ngôn ngữ đầu tiên thì phải liên hệ âm thanh của từ với sự vật" Ví dụ, mùi thơm sẽ liên tưởng đến mùi của hoa, của quả, của kẹo và dần dần trẻ sẽ tự nhận biết được mùi thơm với các mùi khác nhau Đồng thời, chúng có thể phân biệt được cả những mức độ khác nhau của mùi thơm như: thơm dịu, thơm thanh, thơm ngào ngạt, thơm ngát

Theo Nguyễn Thiện Giáp, nghĩa của từ gồm những thành tố cơ bản như:

- Nghĩa sở chỉ (referentive meaning): Mối quan hệ của từ với đối tượng

mà từ biểu thị Đối tượng đó không chỉ là sự vật mà còn là các quá trình, tính chất, hiện tượng thực tế nào đó - là những cái sở chỉ của từ, vì vậy mối quan

hệ giữa từ và cái sở chỉ được gọi là nghĩa sở chỉ

- Nghĩa sở biểu (significative) : Mối quan hệ của từ với ý (sense), tức là với khái niệm hoặc biểu tượng mà từ biểu hiện Khái niệm hoặc biểu tượng có quan hệ với từ được gọi là cái sở biểu và quan hệ giữa từ với cái sở biểu ấy được gọi là nghĩa sở biểu, Thuật ngữ ý nghĩa được dùng để chỉ nghĩa sở biểu Khi nói đến ý nghĩa hay nghĩa từ vựng của các từ người ta muốn nói đến chính là cái nghĩa này

- Nghĩa sở dụng (pragmatical meaning): Mối quan hệ của từ với người

sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc) Họ có thể biểu lộ thái

độ cảm xúc của mình với từ ngữ qua đó tới cái sở chỉ và sở biểu của từ ngữ Quan hệ này gọi là nghĩa sở dụng

- Nghĩa kết cấu (structure meaning): Mỗi từ đều nằm trong một hệ thống từ vựng, có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác Quan hệ giữa từ với những từ khác trong hệ thống được gọi là nghĩa kết cấu [17, tr.219-220]

1.2.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Như đã biết, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là một hệ thống mở (đặc biệt là ở hệ thống từ vựng) Cho nên, cùng với sự phát triển

Trang 24

của lịch sử xã hội loài người, ngôn ngữ cũng phải luôn luôn biến đổi theo, cả

mặt ngữ âm lẫn ngữ nghĩa "Chính sự phát triển của xã hội, mục đích nhận

thức, nhu cầu giao tiếp xã hội là động lực thúc đẩy ngôn ngữ phải biến đổi" [17, tr.178]

Khi ra mới ra đời, từ vốn chỉ có một nghĩa (nghĩa cơ bản), trải qua thời gian nhất định, trong quá trình sử dụng của con người, từ có thêm nghĩa mới

Về sắc thái biểu cảm, với nghĩa gốc, các từ thuộc tiểu trường tên gọi mùi, vị

cụ thể trong tiếng Việt nói chung vốn đã khác biệt chủ yếu theo hai nhóm biểu cảm dương tính, tức mùi, vị được coi là tốt, dễ chịu, hài lòng và biểu cảm âm tính tức mùi, vị khó chịu, không tốt, thậm chí độc hại Lúc đó các từ đối lập

về biểu cảm cũng sẽ khác biệt trong nghĩa chuyển

Ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chuyển nghĩa cơ bản nhất, quan trọng nhất (chúng cũng là hai trong số các biện pháp tu từ rất thường gặp trong tu từ học) Tuy vậy, khái niệm về ẩn dụ và hoán dụ được hiểu không hoàn toàn giống nhau giữa các nhà nghiên cứu Có thể nhận xét như sau về ẩn

dụ và hoán dụ:

- Ẩn dụ và hoán dụ được xem như hai trong số những phương thức chuyển nghĩa cơ bản của các đơn vị từ vựng Theo đó, ẩn dụ và hoán dụ là đối tượng nghiên cứu của từ vựng học

- Ẩn dụ và hoán dụ là những biện pháp tu từ nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người Theo góc độ này, ẩn dụ và hoán dụ là đối tượng nghiên cứu của tu từ học, phong cách học Với tư cách là các biện pháp tu từ, ẩn dụ và hoán dụ được xem xét trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn với văn bản

- Cơ sở của chuyển nghĩa ẩn dụ là sự liên tưởng tương đồng; còn cơ sở của sự chuyển nghĩa hoán dụ là sự liên tưởng tương cận [50, tr.218] Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với nó phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng ngoài văn bản

Trang 25

So sánh hai từ "thơm" và "thối" được dùng trong nghĩa chuyển để biểu hiện tính cách, đạo đức, quan hệ đối xử tốt hay xấu, dương tính hay âm tính của con người Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê, chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2006), khái niệm thơm được dùng để chỉ "có mùi như hương của hoa, dễ chịu, làm cho thích ngửi" [44, tr.940] Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, ý nghĩa của thơm đã có sự biến đổi rõ rệt

“ Mẹ già như quả đò ho

Dẫu rằng héo hắt thơm tho đủ mùi.” [30, tr.1467]

“ Người đời hữu tử hữu sanh Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm” [31, tr.1701]

Trong hai ví dụ trên, từ "thơm" được dùng để nói về phẩm chất tốt đẹp của một con người Những người ăn ở hiền lành, lương thiện, có phẩm chất tốt đẹp thì được so sánh với "hoa thơm" trong cuộc đời Trái lại, những người có bụng dạ độc ác, hẹp hòi, vẻ ngoài xấu xí thì lại được so sánh với mùi thối

- Ngồi buồn kể ruốc nhau ra Ruốc ông cũng thối, ruốc bà chẳng thơm” [31, tr.1682]

1.3 Một số nét sơ lược về ca dao người Việt

1.3.1 Khái niệm ca dao

Thuật ngữ ca dao vốn không còn xa lạ với chúng ta Song trên thực tế, vốn chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về thuật ngữ này Ở đây, chúng tôi

xin phép trích dẫn các khái niệm mà chúng tôi cho là hợp lí

Ca dao là một từ Hán - Việt, theo từ nguyên, "ca" là bài hát có chương khúc, giai điệu dùng để hát hoặc để ngâm; dao là bài hát ngắn độ một vài câu

Ca dao là một bộ phận lớn của nền Văn học dân gian Việt Nam Trong cuốn

Từ điển Tiếng Việt, khái niệm ca dao được hiểu là: "Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định" [44,

tr.109]

Vũ Ngọc Phan khi phân biệt ca dao và dân ca cũng đã giải thích: "Ca dao là một loại thơ dân gian, có thể ngâm được như các loại thơ khác" [43,

Trang 26

tr.42] Mã Giang Lân quan niệm: "Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian" [35, tr.9]

Theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên: "Ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm" [41, tr.38]

Như vậy cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm ca dao Nguyên do của việc chưa thống nhất trên là do khi nghiên cứu thể loại ca dao, các nhà nghiên cứu đứng trên nhiều góc độ khác nhau

Từ những khái niệm trên, chúng tôi xin đúc kết lại thành một khái niệm

về ca dao để áp dụng trong luận văn này: "Ca dao là những bài văn vần được sáng tác tập thể, được truyền khẩu và phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ thế

hệ này sang thế hệ khác, gắn liền với phong tục tập quán, ngôn ngữ của người bình dân"

1.3.2 Nội dung của ca dao

Ca dao Việt Nam chứa đựng nhiều nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực đa dạng của đời sống nhân dân, những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảm phong phú của con người Cho nên, nội dung trong ca dao rất phong phú,

đa dạng

1.3.2.1 Nội dung thế sự

Nội dung thế sự trong ca dao chính là những bài ca dao về lịch sử

Theo Đinh Gia Khánh (chủ biên) trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam: "Ca dao lịch sử là những câu và những bài ca ngắn lấy đề tài ở những sự kiện lịch

sử Những biến cố lịch sử được ghi lại trong ca dao lịch sử là những biến cố

có ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống nhân dân đương thời" [27, tr.358]

Bên cạnh nội dung phản ánh lịch sử, ca dao cũng là một cuốn sách quý

ghi lại nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống của người Việt Nam

Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao

1.3.2.2 Nội dung trữ tình

Trang 27

Ca dao phản ánh lịch sử, ca dao là kho tài liệu về phong tục tập quán

Nhưng ca dao trước hết là tiếng hát trữ tình của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn

Theo Mã Giang Lân trong cuốn Tục ngữ - ca dao Việt Nam thì : "Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tác phẩm này nói lên mối quan hệ của con người trong lao động, trong sinh hoạt xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả khách quan những hiện tượng, những vấn đề Cho nên ở ca dao, cái

tôi trữ tình được nổi lên rõ nét" [35, tr.9]

Quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam là quá trình lao động sáng tạo và cũng là quá trình đấu tranh chống những giai cấp áp bức nhân dân lao động Ca dao phản ánh những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến

Bên cạnh những nội dung như đã nêu ở trên, ca dao còn là tiếng cười trào phúng Ca dao trào phúng và ca dao trữ tình có mối quan hệ khăng khít với nhau Ca dao trào phúng thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân Phạm

vi đề tài của ca dao trào phúng cũng rất rộng rãi Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó Phần lớn ca dao trào phúng có nội dung xã hội Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn

1.4 Tiểu kết

Ở Chương 1, chúng tôi trình bày các cơ sở lí thuyết cho việc nghiên cứu đề tài của luận văn: cơ sở sinh học và cơ sở ngôn ngữ học của mùi, vị và

từ, ngữ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt

- Về cơ sở sinh học, chúng tôi tìm hiểu các khái niệm mùi, vị và các cơ quan cảm nhận chúng là khứu giác (mũi), vị giác (lưỡi) Qua đó, chúng tôi có được căn cứ quan trọng để khảo sát, thống kê các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao

Trang 28

người Việt tương đối đầy đủ và có thể lí giải được những đặc điểm riêng biệt về cách thức sử dụng các từ, ngữ chỉ mùi, vị của người Việt trong đời sống

- Về cơ sở ngôn ngữ học, chúng tôi trình bày những nét cơ bản về lí thuyết khái niệm từ, ngữ; từ, ngữ chỉ mùi, vị; khái niệm ca dao; nội dung của

ca dao Việt Nam

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM KẾT HỢP CỦA TỪ, NGỮ CHỈ MÙI, VỊ

TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 2.1 Nhóm từ, ngữ chỉ mùi

Trước khi đi tìm hiểu về đặc điểm của từ, ngữ chỉ mùi, vị trong ca dao người Việt, chúng ta phải cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa từ, ngữ chỉ mùi và

từ, ngữ chỉ vị Để làm được điều này, chúng tôi đã thống kê nhóm từ, ngữ chỉ

mùi, vị qua cuốn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2006, Trung tâm

Từ điển học - NXB Đà Nẵng) và cuốn Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý

chủ biên, 2008, NXB ĐHQG Tp HCM); Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thu thập các từ, ngữ chỉ mùi, vị trong giao tiếp hàng ngày, qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, truyền hình

Trên cơ sở đó chúng tôi tập hợp được các từ, ngữ chỉ mùi, vị tiếng Việt như ở các bảng danh sách dưới đây

2.1.1 Danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong tiếng Việt

2.1.1.1 Các từ đơn chỉ mùi trong tiếng Việt

Bảng 2.1 Bảng khảo sát các từ đơn chỉ mùi trong tiếng Việt

STT Các từ đơn chỉ mùi trong tiếng Việt

Trang 30

2.1.1.2 Các từ phức chỉ mùi trong tiếng Việt

Bảng 2.2 Bảng khảo sát các từ phức chỉ mùi trong tiếng Việt

Trang 31

14 Nồng nã Nồng nồng

Trang 32

2.1.2 Danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt

Dựa trên nguồn tư liệu khảo sát là bộ tổng tập Kho tàng ca dao người

Việt của Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, (2001) gồm 2 tập,

với số câu ca dao là 12.487 lời, chúng tôi đã tập hợp được bảng khảo sát về

các từ chỉ mùi trong ca dao người Việt như sau

2.1.2.1 Các từ đơn chỉ mùi trong ca dao người Việt

Bảng 2.3 Bảng khảo sát các từ đơn chỉ mùi trong ca dao người Việt

Ví dụ

Hành hăng hơn ớt, chanh chua hơn phèn

Em chê cam sành lấy phải quýt hôi

Bốn con quần áo đi ngang khét mù

Muốn sống mang về kẻo chết với ông

Trước còn đằm thắm sau ra nhạt nhùng

Trang 33

6 Nồng 38 lần Chẳng thương chẳng nhớ thì thôi

Lại còn đem đổ nước vôi cho nồng

Tiếc con người lịch mà soi gương mờ

Cơm ăn chê hẩm, cá kho bầu nó chê tanh

Mua phải cá thối mua nàng ngẩn ngơ

Chẳng lịch cũng thể là người Thượng Kinh

Hết duyên, bí thối, bầu thiu ai thèm

2.1.2.2 Các từ phức chỉ mùi trong ca dao người Việt

Bảng 2.4 Bảng khảo sát các từ phức chỉ mùi trong ca dao người Việt

Trang 34

Theo bảng thống kê danh sách các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt ở trên, ta thấy những từ, ngữ chỉ mùi này thuộc tiểu trường tên gọi mùi

cụ thể (bao gồm 11 từ đơn, 12 từ ghép ) Hầu hết những mùi này có thể tồn tại độc lập với vật thể mà nó là thuộc tính, có thể được con người cảm nhận mà không cần tiếp xúc trực tiếp với vật thể qua cơ quan khứu giác Khi đi tìm hiểu các từ, ngữ chỉ mùi, ta rõ ràng nhận thấy chúng được phân chia thành hai

nhóm sắc thái khác nhau

- Nhóm mùi mang cảm giác dễ chịu khi được cảm nhận bằng khứu giác

Ta cũng dễ dàng nhận ra đây là những mùi mà con người thích được tận

hưởng Ví dụ: thơm, thơm thanh, thơm ngát, thơm lừng

Như vậy, từ thơm chỉ chiếm số lượng tương ứng 1/11 số từ ngữ biểu hiện

tên gọi mùi cụ thể trong ca dao người Việt (Bảng 2.3) nhưng nó lại xếp thành

hẳn một nhóm Do đó, từ thơm là từ điển hình của trường từ vựng mùi trong

ca dao người Việt mang sắc thái tích cực Số lượng từ tuy ít nhưng tần số xuất hiện của các từ mang sắc thái dễ chịu này lại xuất hiện vô cùng lớn không chỉ

ở nghĩa gốc mà cả ở nghĩa chuyển Nhìn vào số lần xuất hiện trong các bài ca

dao, ta thấy người Việt rất ưa chuộng sử dụng từ này Xem các ví dụ sau:

- Ai mà phụ nghĩa quên công

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm [30, tr.71]

- Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần [30, tr.71]

Từ thơm không chỉ được sử dụng để nói về một mùi hương dễ chịu mà

đôi khi nó còn được nhắc đến với cách hiểu là tiếng tăm tốt, được người đời

nhắc đến và ca ngợi:

- Gió đưa buồm hạnh rành rang

Tiếng nhơ thiếp chịu, để chàng danh thơm [30, tr.1144]

- Nhóm mùi thứ hai là nhóm mùi mang lại cảm giác khó chịu khi ngửi, con người thường tránh hoặc không hài lòng khi ngửi thấy chúng Đó là

Trang 35

những từ còn lại trong Bảng 2.3 Tuy là nhóm mùi mang cảm giác tiêu cực nhưng tỉ lệ những từ ngữ biểu hiện nhóm mùi này rất lớn (10/11 từ thống kê được ở Bảng 2.3) Khi đi khảo sát từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt, chúng tôi phát hiện chúng đã hòa trộn vào nhau nên đôi khi chúng ta không

thể gọi tên một cách cụ thể xem đó là mùi gì Chẳng hạn:

- Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn [31, tr.2417]

- Cam sành chê đắng chê hôi Hồng rim chê lạt, cháo bồi khen ngon [30, tr.383]

2.1.3 Đặc điểm kết hợp của các từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt

2.1.3.1 Đặc điểm kết hợp của các từ, ngữ chỉ mùi với các từ, ngữ chỉ vật

mang mùi

Trong quá trình đi khảo sát việc sử dụng từ, ngữ chỉ mùi trong ca dao người Việt, chúng tôi nhận thấy đa phần các từ này có cách kết hợp khá phổ

biến là luôn đi cùng với các vật mang mùi đó Ví dụ: hoa thơm, cơm khê, thức

ăn ôi, chè thiu, mắm thối, tương thối, cá tanh, lươn tanh Vị trí của chúng có

thể đứng trước hoặc đứng sau các danh từ chỉ vật mang mùi Tuy nhiên, hình thức đứng sau phổ biến hơn Khi kết hợp với các vật mang mùi chúng sẽ bổ

sung cả về nội dung và hình thức cho vật đó

- Về nội dung: Chúng bổ sung cho chủ thể những tính chất và đặc trưng riêng Những đặc trưng này được con người tri giác bằng các giác quan, trong

đó chủ yếu là giác quan khứu giác

- Về hình thức: những vật thể mang mùi này giữ chức năng là danh từ và thường đứng trước những từ, ngữ chỉ mùi Chúng trả lời cho câu hỏi "ai", "cái

gì"

Không những thế, chúng ta còn nhận thấy các vật mang mùi rất đa dạng

và phong phú Các ví dụ sau đã chứng minh cho điều này:

Trang 36

Quế nhang đưa ngào ngạt nỗi thơm cay [30, tr.1301]

- Làm người giữ trọn đạo ba Sau dầu có thác cũng là danh thơm [30, tr.1345]

- Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Chẳng lịch cũng thể là người Thượng Kinh [30, tr.472]

- Chuột chù chê khỉ rằng hôi Khỉ lại trả lời: cả họ mày thơm [30, tr.585]

Sự lầm hay hỏng là lề thế gian [30, tr.726]

Như vậy, dựa vào các ví dụ ở trên, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều vật thể mang mùi khác nhau trong ca dao người Việt Để tìm hiểu kĩ càng hơn,

chúng tôi đã chia chúng ra làm bốn nhóm khác nhau

- Những vật mang mùi là thực vật: hoa, quả, cây, trái, củ…

- Những vật mang mùi là động vật: cá, lươn, ốc, chuột, lợn…

- Những vật mang mùi là vật thể nhân tạo: dưa (khú), …

- Những vật mang mùi là con người (một số bộ phận trên cơ thể người):

tay, chân, làn da, đầu, tóc

Ca dao người Việt vốn rất phong phú và đa dạng Sự phong phú, đa dạng

ấy không chỉ được thể hiện qua số lượng đồ sộ của các bài ca dao trong kho tàng ca dao người Việt Nó còn được thể hiện qua cách sử dụng từ, ngữ chỉ

mùi với các vật mang mùi đó Chẳng hạn, trong các cấu trúc "hoa thơm", "cú

hôi", hoa và cú chỉ những vật thể khác nhau và chúng không thể thay thế cho

nhau được (hoa thì thơm chứ không thể hôi, còn cú thì hôi chứ không thể

thơm) Tuy nhiên, về cú pháp, chúng đồng nhất với nhau và nguyên tắc, có thể

thay thế cho nhau được Tất nhiên, khi thay thế như vậy, ta sẽ có những cấu

trúc "phi lôgic" nhưng vẫn chấp nhận được về mặt ngữ pháp Chẳng hạn như:

Trang 37

Hương hoa thì hôi, nhất thơm thì cú [30, tr.337]

Trong bài ca dao trên, chúng ta thấy rõ ràng vật thể cú pháp không trùng

với chủ thể lôgic, ở đây đã có sự tráo đổi: hôi có vật thể cú pháp là hương hoa nhưng chủ thể lôgic là cú, còn thơm có vật thể cú pháp là cú nhưng chủ thể lôgic là hương hoa Những cấu trúc "phi lôgic" vẫn được chấp nhận trong

thực tế giao tiếp và lại là cách nói rất hay của dân gian, thể hiện được nhiều

hàm ý sâu xa

Muối chua chanh mặn ớt ngọt đường cay

Cơ chi anh biết rõ em rày

Đường thiên sơn vạn thủy mấy trăm ngày em cũng theo [30,

tr.156]

Việc kết hợp giữa từ, ngữ chỉ mùi với các từ, ngữ chỉ vật mang mùi trong ca dao người Việt sẽ góp phần giúp chúng ta xác định sự vật cụ thể, tách

sự vật ra khỏi lớp và loại chung mà nó được bao hàm (Ví dụ: Cái thắt lưng

em bảy tám vuông sồi - Sao em chẳng nhuộm cái mùi bông dâu [30, tr.379] )

Đặc trưng miêu tả vốn là khách quan, chỉ ra nét đa dạng chính xác của sự vật:

hoa/ thơm; cứt/rắm thối; cá/trứng/lươn tanh… Tuy nhiên, trong tư duy người

Việt, các đặc trưng nói trên (khê, thối, thơm…) cũng là nhận xét chủ quan của

người nói Bởi vậy, với họ, đặc trưng ấy có thể biến thiên từ nhẹ đến mạnh, từ

ít đến nhiều, từ rõ đến mờ… Do đó, cấu trúc từ đã có dịp thêm vào những hình thức mới: dạng mở rộng cấu trúc theo các lối khác nhau (ghép, lặp) tạo

thêm những nét nghĩa mới qua các nhận xét (thơm tho, thơm lừng,…), nhờ đó

miêu tả sự vật trở nên sinh động Đó chính là nét riêng của các từ, ngữ chỉ

mùi trong ca dao người Việt Ví dụ: Hoa thơm, thơm nức cả rừng – Ong chưa

dám đậu, bướm đừng xôn xao [30, tr.1204] là thể hiện ý khen, thích thú của

người nói hẳn là cao hơn nhiều lần so với cách nói "Hoa này thơm"

Trang 38

Bảng 2.5 Bảng thống kê về các vật đi theo các mùi STT Từ chỉ

mùi

Các vật đi theo mùi

Tần số xuất hiện

Ví dụ

Hành hăng hơn ớt, chanh

chua hơn phèn

thì cú

Hồng rim chê lạt, cháo bồi

khen ngon

Lườn heo ướp muối, bạn ngồi

gần chê hôi

Đồng ta cỏ xấu nhưng bùi

Trang 39

Bó lên đái xuống cho trôi

kiến vàng

Bây giờ có bí chê bầu rằng

Bốn con quần áo đi ngang

khét mù

Đủ cả từ bề như thể cháo hoa

Trang 40

Nơi khó 2 lần Ai ơi xin thấu cho cùng

Nơi giàu sang em không chuộng, nơi khó mặn nồng

Mải chơi trống giấy, tơ hồng

vội se

Nắng nồng không nhạt, mưa

dầu không phai

Trầu mặn, trầu nhạt, trầu

Mà anh lại để trầu mồi chẳng

ăn

Tiếc con người lịch mà soi

gương mờ s

Ngày đăng: 04/01/2020, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w