1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ địa danh trong thơ tố hữu

104 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 161,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác giả như: Hoàng Thị Châu với bài Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông 1964, Nguyễn Văn Âu với công trình Một số vấn đề về địa danh học ở Việt Nam 20

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÂN THỊ HUYỀN

ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÂN THỊ HUYỀN

ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Trọng Thưởng

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ "Địa danh trong thơ Tố Hữu" là

kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Thân Thị Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thànhnhất tới thầy giáo - PGS.TS Phan Trọng Thưởng đã tận tình hướng dẫn, chỉbảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Giám hiệu KhoaSau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đãtạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa học và thực hiện tốt luận văn tốtnghiệp

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè và cácbạn học viên lớp Văn học Việt Nam K22 đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệtôi trong suốt thời gian vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Thân Thị Huyền

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Một số công trình nghiên cứu về địa danh

2.2 Một số công trình nghiên cứu về Tố Hữu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

4 Mục đích nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê và hệ thống hóa

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

5.3 Phương pháp liên ngành

5.4 Phương pháp so sánh

6 Kết cấu của luận văn

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊA DANH VÀ TÁC GIA TỐ HỮU

1.1 Địa danh

1.1.1 Khái niệm

1.1.2 Phân loại

1.2 Địa danh trong thơ ca Việt Nam

1.2.1 Địa danh trong thơ ca dân gian

1.2.2 Địa danh trong thơ ca trung đại

1.2.3 Địa danh trong thơ ca hiện đại

1.3 Tác gia Tố Hữu

1.3.1 Vài nét về tiểu sử

1.3.3 Quan điểm nghệ thuật

Trang 6

CHƯƠNG 2 : PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU 37

2.1 Địa danh gắn với những di tích lịch sử 38

2.1.1 Địa danh lịch sử trong nước 38

2.1.2 Địa danh lịch sử nước ngoài 50

2.2 Địa danh gắn với những địa chỉ văn hóa 53

2.2.1 Địa danh văn hóa trong nước 54

2.2.2 Địa danh văn hóa nước ngoài 59

Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU 66 3.1 Chức năng về nội dung 66

3.1.1 Chức năng phản ánh thông tin 66

3.1.1.1 Thông tin về nhà thơ 66

3.1.1.2 Thông tin về sự kiện 67

3.1.2 Chức năng phản ánh tâm tư, tình cảm của chủ thể 70

3.2 Chức năng về nghệ thuật 75

3.2.1 Góp phần tạo giọng điệu 75

3.2.2 Góp phần xây dựng ngôn ngữ 77

3.2.3 Góp phần xây dựng biểu tượng 79

3.3 Chức năng tạo ấn tượng thẩm mỹ 82

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử trong thơ TốHữu 38

Bảng 2.2 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử trong nước

trong thơ Tố Hữu 39

Bảng 2.3 Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Pháp qua một

số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 40

Bảng 2.4 Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Mỹ qua một

số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 44

Bảng 2.5 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử nước ngoài

trong thơ Tố Hữu 50

Bảng 2.6 Bảng khảo sát địa danh lịch sử nước ngoài thể hiện tinh thần cáchmạng qua một số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 51

Bảng 2.7 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa trong thơ TốHữu 53

Bảng 2.8 Bảng khảo sát số lượng các địa danh văn hóa trong nước trong thơ

Bảng 2.11 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa nước ngoàitrong thơ Tố Hữu 59

Bảng 2.12 Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với vẻ đẹp từng đất nước quamột số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 60

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế giới phong phú, phức tạp với bao sự vật, hiện tượng của đời sống

Để khu biệt giữa các đối tượng, người ta đặt cho chúng một tên gọi riêng như:tên người, tên sông, tên núi, tên vùng miền…Tên gọi trở thành đối tượngnghiên cứu của nhà khoa học Trong lĩnh vực địa lý, tên của các vùng đất, địaphương được gọi là địa danh Tìm hiểu địa danh, giúp chúng ta có thêm vốnkiến thức về văn hóa, lịch sử, lối sống, phong tục, tập quán… của con người.Địa danh không chỉ là cái tên dùng để gọi mà còn ẩn chứa tâm tư, tình cảmcũng như ước mơ mà cha ông đã gửi gắm qua bao thế hệ

Trong dòng chảy văn học Việt Nam, suốt từ văn học dân gian đến vănhọc trung đại, văn học hiện đại, yếu tố địa danh đều được các tác giả sử dụngnhư một hình thức nghệ thuật đặc sắc Tấm lòng yêu nước, gắn bó, nâng niutừng vẻ đẹp của quê hương cũng như bao tâm sự về nhân thế đều được các tácgiả kín đáo gửi gắm qua từng địa danh Chính vì vậy, địa danh trong văn họcnhư một chiếc chìa khóa giúp chúng ta bóc tách tầng lớp ngôn ngữ nghệ thuậtcũng như chiều sâu tư tưởng, phong cách của từng tác giả Trên thi đàn ViệtNam đã có nhiều tác giả thành công trong việc sử dụng địa danh làm chất liệuthơ ca, trong đó không thể không nhắc tới Tố Hữu, một trong những tác giả tiêubiểu của thơ ca cách mạng

Tố Hữu là một nhà chính trị tài ba đồng thời cũng là một thi nhân Ôngđược coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam Không chỉ nhiệt huyếtdâng hiến cả cuộc đời cho cách mạng, Tố Hữu còn cẩn trọng, nghiêm túc vàđam mê trong hoạt động nghệ thuật Chính tấm lòng với dân với nước hòaquyện cùng tài năng thi ca đã làm nên nét hấp dẫn và tên tuổi của Tố Hữu Để

khẳng định điều này, nhà phê bình Lê Thanh Nghị đã nhận xét “không một nhà thơ Việt Nam nào được nhớ, được đọc và thuộc nhiều như Tố Hữu”.

Trang 9

Tấm lòng nồng ấm, sôi nổi của Tố Hữu được gửi gắm trong 7 tập thơ.Tuy không đồ sộ về số lượng so với các nhà thơ cùng thời nhưng những tácphẩm của Tố Hữu tạo được tiếng vang lớn, trở thành một phần không thể thiếutrong đời sống tâm hồn người Việt Thơ Tố Hữu là những bài ca đi cùng nămtháng, chan chứa lẽ sống, ân tình sâu nặng với cách mạng đồng thời thể hiệnniềm tin vào tương lai tươi sáng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập củadân tộc Việt Nam Thơ Tố Hữu không chỉ gắn với sự nghiệp cách mạng, gắnvới số phận của đất nước và nhân dân mà còn là tự từng trải, chiêm nghiệm, sựkinh lịch của ông trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng.

Tố Hữu đã vào sinh ra tử trên khắp chiến trường Việt Nam, in dấu chânlên nhiều vùng đất của Tổ quốc Mỗi trận chiến, mỗi miền quê đều để lại cảmxúc dâng trào trong lòng thi nhân Có lẽ vì thế trong thơ Tố Hữu, địa danh xuấthiện với mật độ dày đặc, tạo thành một hệ thống xuyên suốt các tập thơ Đóchính là tình yêu của người con đối với đất nước, đồng thời đó cũng là yếu tốtạo nên phong cách riêng, độc đáo của Tố Hữu

Hơn nửa thế kỷ qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình, giớithiệu thơ Tố Hữu Hầu hết, các tác giả đã đánh giá, phân tích về mọi mặt, từ nộidung tư tưởng tới hình thức nghệ thuật đặc sắc trong thơ Tố Hữu Các nhà nghiêncứu dù đã miệt mài cố gắng nhưng chưa thể chỉ rõ tới tận cùng vẻ đẹp trong thơ

Tố Hữu Những vấn đề còn bỏ ngỏ sẽ được thế hệ trẻ kế thừa và phát triển Trong

đó, yếu tố “địa danh” xuất hiện dày đặc trong thơ Tố Hữu, là một hiện tượng

nghệ thuật thi ca thú vị Tuy nhiên, tới nay chưa có một tác giả nào khai thác vềcác loại địa danh và ý nghĩa của địa danh trong thơ Tố Hữu Chính vì thế, chúng

tôi đi vào nghiên cứu công trình Địa danh trong thơ Tố Hữu với mong muốn góp

phần lí giải các đặc trưng nghệ thuật và phong cách thơ Tố Hữu

2. Lịch sử vấn đề

2.1 Một số công trình nghiên cứu về địa danh

Địa danh học một bộ môn của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu các vấn

đề liên quan đến địa danh như: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt

Trang 10

tên và sự biến đổi của các địa danh Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiêncứu khác nhau về địa danh khắp thế giới và trong nước Luận văn xin điểm mộtvài công trình tiêu biểu.

Ở châu Âu, ngành địa danh học ra đời và phát triển nhanh chóng vào

cuối thế kỉ XIX với nhiều công trình lớn như: Địa danh học của J.J Eghi (1872); Địa danh học của J.W Nagh (1903) Đặc biệt, tác giả A.V.Superanskaja với tác phẩm Địa danh là gì ? đã nghiên cứu một cách toàn

diện về địa danh Không chỉ đưa ra khái niệm địa danh, tác giả còn đề cập đếntính lịch sử, tính cá biệt và các loại địa danh cũng như tên gọi các đối tượng địa

lí theo loại hình Kết quả nghiên cứu của Superanskaja là nền tảng quan trọngtrong khoa học về địa danh

* Ở Việt Nam

Các nhà khoa học Việt Nam đã quan tâm tới vấn đề địa danh khá muộn

và chủ yếu nghiên cứu địa danh trên phương diện địa lý Một số tác giả như:

Hoàng Thị Châu với bài Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964), Nguyễn Văn Âu với công trình Một số vấn đề về địa danh học ở Việt Nam (2000), Lê Trung Hoa với công trình Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1990), Nguyễn Kiên Trường với công trình Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác) (1996) đã có công lớn trong việc nghiên cứu địa

danh dưới góc độ ngôn ngữ

Trang 11

Trong đó, tác giả Lê Trung Hoa khi nghiên cứu địa danh ở thành phố HồChí Minh đã đưa ra khái niệm, cách phân chia địa danh theo nguồn gốc và theotiêu chí ngữ nguyên Đó là cơ sở lí thuyết quan trọng cho quá trình nghiên cứuđặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi của địa danh Tác giảNguyễn Kiên Trường đã bổ sung thêm hai cách phân chia địa danh, đó là theođồng đại - lịch đại, phân chia theo chức năng của địa danh Trong công trình

Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ

so sánh với một số vùng khác), Nguyễn Kiên Trường không chỉ khái quát

được những đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi của địadanh Hải Phòng mà còn so sánh với địa danh các vùng khác ở Việt Nam

Bên cạnh các công trình lớn kể trên còn có nhiều luận văn đề cập đến địa

danh của các địa phương như: Khảo sát địa danh ở thành phố Thái Nguyên (2008) của Hoàng Thị Đường, Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai (2009) của Nguyễn Thái Liên Chi, Nghiên cứu địa danh ở tỉnh Bến Tre (2009) của

Nguyễn Kim Phượng…

Ngoài hướng tiếp cận về ngôn ngữ, một số tác giả tiếp cận địa danh theo

hướng địa lí - lịch sử - văn hoá như: Thử tìm hiểu sự bảo lưu tên

Nôm làng xã dưới góc độ ngôn ngữ và văn hóa (1994) của Nguyễn Kiên Trường, công trình Văn hóa qua địa danh Việt ở tỉnh Đồng Nai (2006) của Võ

Nữ Hạnh Trang…

Như vậy, có thể thấy, địa danh học là vấn đề còn khá mới mẻ ở ViệtNam Các nhà khoa học đang tìm tòi, khám phá địa danh theo nhiều hướngkhác nhau Trong đó, nghiên cứu địa danh trong văn học là một hướng đi chưađược khai thác và hứa hẹn gặt hái được nhiều thành tựu

2.2 Một số công trình nghiên cứu về Tố Hữu

Tố Hữu đến với thơ ca từ khá sớm, từ năm 18 tuổi Chàng thanh niêntràn đầy nhựa sống ấy đã lựa chọn thơ ca là hình thức để truyền tải lí tưởngcách mạng rực sáng trong tim Mỗi vần thơ của Tố Hữu như thúc giục, như tiếp

Trang 12

sức cho ý chí, nghị lực của con người Chính vì thế có những giai đoạn thơ ông

đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho dân tộc Giá trị đó được khẳng định qua cácgiải thưởng cao quý như: Giải nhất giải thưởng Văn học Hội văn nghệ Việt

Nam 1954 - 1955 cho tập thơ Việt Bắc; giải thưởng văn học ASEAN năm 1996 cho tập thơ Một Tiếng Đờn Tố Hữu là tác gia lớn của nền văn học Việt Nam

vì vậy sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu là nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn củacác nhà khoa học Đến hiện nay, có hàng trăm công trình nghiên cứu về TốHữu, tiêu biểu là công trình của các tác giả như: Chế Lan Viên, Hoài Thanh,Xuân Diệu, Đặng Thai Mai, Hoàng Trung Thông…Đặc biệt là các chuyên luận

và bài nghiên cứu của tác giả như: Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình

Sử, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Long…Các tác giả đã nghiên cứu thơ Tố Hữu trên nhiều phương diện khác nhau từ nộidung đến nghệ thuật của từng tập thơ riêng lẻ, của toàn bộ sự nghiệp sáng táccủa Tố Hữu

Nói đến những công trình nghiên cứu thơ Tố Hữu, không thể không nhắc

đến ba công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông đó là: Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979); Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985) và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử

(1987)

Công trình nghiên cứu của Lê Đình Kỵ là một chuyên luận trình bày rất

cơ bản về sự nghiệp sáng tác, phong cách thơ Tố Hữu Với những đóng gópđáng ghi nhận trong hơn một trăm trang viết đã khảo sát, phân tích, đánh giámột cách toàn diện về mặt nội dung cũng như nghệ thuật trong thơ Tố Hữu

Hầu hết các tập thơ quan trọng trong suốt chặng đường sáng tác của Tố

Hữu đã được khảo cứu như: Từ ấy (1937 - 1946), Việt Bắc (1946 - 1954), Gió lộng (1955 - 1961), Ra trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) Các chủ

để lớn của tập thơ như: chủ đề về nhân dân, đất nước, Đảng, lãnh tụ đều đượctác giả khai thác một cách triệt để Phong cách nghệ thuật đậm chất lãng mạncách mạng, mang âm hưởng dân tộc của Tố Hữu cũng được nhà nghiên cứu LêĐình Kỵ làm sáng rõ Có thể nói đây là một chuyên luận được giới phê bình,

Trang 13

nghiên cứu Văn học đánh giá cao Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việctiếp cận thơ Tố Hữu về phương diện xã hội học, vấn đề địa danh chưa thấyđược nghiên cứu tìm hiểu.

Công trình Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh cũng góp phần không nhỏ trong việc làm rõ đặc sắc

nội dung tư tưởng và phong vị đậm đà trong thơ Tố Hữu thông qua ngôn từ,hình ảnh, nhịp điệu, thể loại…Về mặt phương pháp, công trình nghiên cứu vẫntuân thủ chặt chẽ, tiếp cận, tìm ra sự tương đồng giữa tác phẩm văn học và đờisống trong việc phản ánh, tái tạo hình tượng nghệ thuật, phô diễn cảm xúc củachủ thể trữ tình Tuy nhiên, trong chuyên luận dài hơn hai trăm trang này vấn

đề địa danh trong thơ Tố Hữu cũng chưa được tác giả khai thác nghiên cứu

Khác với hai chuyên luận trên, chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu của

Trần Đình Sử lại có cách tiếp cận thơ Tố Hữu ở một góc độ mới mẻ là thi pháp

Theo ông thì đây là: “Thử nghiệm đầu tiên trong việc xác định nội hàm thơ trữ tình chính trị, khái niệm kiểu nhà thơ” Nhà nghiên cứu đã vận dụng các phạm

trù thi pháp học hiện đại vào khám phá thi ca Tố Hữu như: quan niệm nghệthuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các hình thứcbiểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của nhà thơ… Chuyên luận được xem

là chiếc chìa khóa mở cánh cửa cho việc tìm hiểu các sáng tác của nhà thơ TốHữu Tuy nhiên, trong chuyên luận này, vấn đề địa danh cũng chưa được ôngnhắc đến

Trải qua gần tám mươi năm, những bài nghiên cứu phê bình đã làm sáng

tỏ giá trị nội dung, tư tưởng, nghệ thuật thơ Tố Hữu Dù nghiên cứu ở nhữnggóc độ khác nhau, nhưng các tác giả đều đi tới khẳng định: Tố Hữu là lá cờ đầucủa văn học cách mạng Việt Nam

Như vậy, có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về thơ Tố Hữu Tuynhiên, yếu tố địa danh chưa được các tác giả chú ý Chính vì vậy, chúng tôi đi

vào nghiên cứu đề tài Địa danh trong thơ Tố Hữu với mong muốn góp phần

vào việc khẳng định giá trị thơ Tố Hữu

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh xuất hiện mộtcách dầy đặc trong thơ Tố Hữu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ sáng tác của Tố Hữu bao

gồm 7 tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn và Ta với ta.

4 Mục đích nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diệnyếu tố địa danh trong thơ Tố Hữu Thông qua việc thống kê, khảo sát, phântích, giải mã các loại địa danh, chúng tôi chỉ ra những giá trị nội dung sâu sắctrên nhiều phương diện như: lịch sử hào hùng, văn hóa độc đáo của vùng miền,

vẻ đẹp quê hương… mà Tố Hữu đã gửi gắm qua từng cách gọi tên Tính dântộc và nhiệt huyết cách mạng đã gắn kết yếu tố địa danh, tạo thành một nét hấpdẫn, lôi cuốn người đọc

Luận văn không chỉ chú ý đến biểu hiện của yếu tố địa danh trong thơ TốHữu trên phương diện nội dung, mà còn chú ý đến những giá trị trên phươngdiện hình thức nghệ thuật tác phẩm Thông qua việc tìm hiểu về địa danh, luậnvăn hướng tới làm sáng tỏ đặc điểm tư duy nghệ thuật thơ trữ tình chính trị của

Tố Hữu Qua đó, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc khẳng địnhphong cách thơ độc đáo, riêng biệt cũng như tài năng, vị trí và những đóng góp

to lớn của nhà thơ cách mạng Tố Hữu cho nền văn học Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê và hệ thống hóa

Phương pháp thống kê và hệ thống hóa là phương pháp giúp chúng ta hệthống và đánh giá một cách khách quan, chính xác tần số xuất hiện của các địadanh và so sánh được tần xuất xuất hiện giữa các kiểu địa danh khác nhau

Trang 15

5.3 Phương pháp liên ngành

Vận dụng linh hoạt các kiến thức văn hóa học, lịch sử học, xã hội học,tín ngưỡng, tôn giáo… để tìm hiểu những giá trị yếu tố địa danh trong thơ TốHữu

5.4 Phương pháp so sánh

Luận văn so sánh các địa danh trong thơ Tố Hữu với địa danh trong sángtác của các nhà thơ cùng thời Từ đó làm nổi bật phong cách, cá tính sáng tạođộc đáo của nhà thơ trữ tình chính trị Tố Hữu

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊA DANH

VÀ TÁC GIA TỐ HỮU 1.1 Địa danh

1.1.1 Khái niệm

Mỗi điểm địa lý khác nhau được con người gọi bằng một tên riêng Đó là

tên địa lý hay còn gọi là địa danh Theo nghĩa chiết tự “địa” nghĩa là đất,

“danh” có nghĩa là tên, “địa danh” có nghĩa là tên đất Là một thành tố ngôn

ngữ, khái niệm địa danh có sự mở rộng về nội hàm ý nghĩa Chính vì vậy, cácnhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về địa danh

Trước tiên, địa danh là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp

Toponima hay Toponoma được dịch là "tên gọi vị trí" Ngành khoa học nghiên

cứu về địa danh được gọi là: địa danh học Ngành địa danh học phát triển sớm

ở các nước phương Tây từ cuối thế kỉ XIX với nhiều công trình khoa học Trong đó ta phải kể đến nhà nghiên cứu A.V.Supêranskaia

Trong cuốn Địa danh là gì, A.V.Supêranskaia đã khái niệm: “Những địa

điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí

có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [1, tr.13]…

"Địa danh học - đó là một chuyên ngành của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về

lịch sử hình thành, thay đổi và chức năng của các tên gọi địa lí Thành tố lịch

sử trong địa danh học là bắt buộc" [1, tr.3] Khái niệm của A.V.Supêranskaia

hướng tới khẳng định địa danh là tên gọi của các yếu tố khác nhau bao gồm cảyếu tố tự nhiên và nhân tạo Trong đó, nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh làtên của các yếu tố địa lí tự nhiên Đồng thời, Supêranskaia cũng đã chỉ ra để gọi

Trang 17

tên của địa danh bao gồm cả tên chung (ví dụ như: sông là địa danh để phânbiệt với biển, hồ, ao…) và tên riêng (như: sông Hồng để phân biệt với sôngCửu Long, sông Hoàng Hà…).

G.M Kert đã định nghĩa: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lí ra đời trong một khu vực có con người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng là phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị, xã hội ở nơi đó” [3,

tr.16] Như vậy, tác giả chú ý đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa địa danh

Phê chủ biên, định nghĩa: "Địa danh là tên đất, tên địa phương" [62, tr.314].

Dựa trên hướng nghiên cứu về địa lý, tác giả Nguyễn Văn Âu định

nghĩa: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc…hay là tên các địa phương, các dân tộc” [6, tr.5].

Tác giả Nguyễn Kiên Trường và Phạm Xuân Đạm định nghĩa địa danh

dựa trên cơ sở ngôn ngữ học Nguyễn Kiên Trường khẳng định: "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên

bề mặt trái đất" [78, tr.16] Còn Phạm Xuân Đạm đưa ra định nghĩa về địa danh

và địa danh học như sau: "Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống địa danh về các mặt: nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa, sự chuyển hoá, biến đổi, các phương thức định danh [15, tr.12] Như vậy, cả hai tác giả đều thống nhất khẳng định địa

danh không chỉ là tên riêng của các yếu tố tự nhiên mà còn là tên của các yếu tốđịa lý nhân tạo

Trang 18

Định nghĩa địa danh của Lê Trung Hoa có nét gần với các định nghĩa của

tác giả Supêranskaia: “Địa danh là những từ ngữ được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh ta có thể thấy một danh từ chỉ tiểu loại của địa danh đó: sông Hương, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), vùng Ba Vì, thành phố Cần Thơ, đường Nguyễn Du…” [32, tr.18] Như

vậy, tác giả Lê Trung Hoa đã chú ý tới cấu tạo ngữ pháp của địa danh

Trong các cách định nghĩa về địa danh, chúng tôi đặc biệt chú ý tới định

nghĩa của Từ điển Bách khoa: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm

quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, các đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương

có tọa độ địa lý nhất định được ghi trên bản đồ Địa danh có thể phản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [61, tr.780] Tác giả đã liệt kê khá chi

tiết các hình thức của địa danh Đồng thời chỉ ra địa danh là một hiện tượngngôn ngữ, phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa, lịch sử của con người

Như vậy, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh,mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một cách định nghĩa riêng dựa hướng tiếp cận của

mình Chúng ta có thể hiểu: Địa danh là một thuật ngữ nhằm chỉ tên của các đối tượng tự nhiên và nhân tạo Địa danh không chỉ là yếu tố địa lý mà còn là yếu tố ngôn ngữ, được hình thành dựa trên quy tắc ngôn ngữ về các mặt: ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, được sử dụng trong ngôn ngữ nói, viết của cộng đồng Địa danh gắn liền với đời sống xã hội, với tâm lí cộng đồng, với lịch sử, văn hóa, văn học của vùng miền, đất nước, dân tộc.

1.1.2 Phân loại

Do chưa có sự thống nhất về phạm vi nội dung khái niệm địa danh nênmỗi tác giả có cách phân loại địa danh khác nhau

Trang 19

Tác giả M.V Gorbanerskij đã phân địa danh thành 4 loại: phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi, đồi, gò…), thủy danh (tên các dòng sông, ao, vũng…) và phố danh (tên các đối tượng trong thành phố) Ngoài 4 loại trên, A.V.Supêranskaia liệt kê thêm 3 loại nữa là: viên danh, lộ danh (tên các đường phố), đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên

nước, trên không…) Như vậy, nhà nghiên cứu Nga đã phân loại dựa trên cácđối tượng chủ yếu của địa danh

Ở Việt Nam, hầu hết các tác giả nghiên cứu địa danh theo phương diệnđịa lý, văn hóa, ngôn ngữ… nên cũng phân loại địa danh dưa theo các tiêu chí

đó Tiêu biểu là cách phân chia của Lê Trung Hoa Trong cuốn Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh [31, tr.24 - 27] và Địa danh học Việt Nam

[32, tr.15 - 16], tác giả đã phân chia địa danh dựa trên hai tiêu chí Theo nguồn

gốc đối tượng, địa danh được chia thành hai loại: địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (hay còn gọi là địa danh chỉ địa hình) và địa danh chỉ đối tượng nhân tạo

(địa danh về các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, địa danhhành chính và địa danh vùng không có ranh giới rõ ràng) Theo tiêu chí ngữ

nguyên, địa danh được chia thành bốn loại: địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Ba Na, Ê

Đê, Gia Rai, Tày, Thái, Mường…) và địa danh ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh

nguồn gốc Pháp, ngoài ra còn có Inđônêxia, Malayxia)

Khá gần gũi với cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa là cách phânloại của tác giả Nguyễn Kiên Trường Đồng thời, Nguyễn Kiên Trường chú ýtới cả mặt chức năng, tính đồng đại - lịch đại của yếu tố địa danh Theo loại

hình, tác giả phân thành hai loại: nhóm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên và nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn (bao gồm hai loại nhỏ: nhóm địa

danh cư trú - hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con người, docon người tạo nên; nhóm địa danh đường phố và chỉ các công trình xây dựng)

Theo tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên, địa danh chia thành: nguồn gốc Hán Việt;

Trang 20

nguồn gốc thuần Việt; nguồn gốc từ tiếng Pháp; nguồn gốc là phương ngữ Quảng Đông; nguồn gốc khác như Tày, Thái, Việt, Mường…; nguồn gốc hỗn hợp; không rõ nguồn gốc Theo tiêu chí chức năng giao tiếp, địa danh chia thành: biệt xưng, tự xưng, giản xưng, tục xưng Theo hệ quy chiếu đồng đại - lịch đại, địa danh chia thành: địa danh cổ, cũ, địa danh hiện nay [78, tr.41-50].

Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều chú ý đến yếu tố địa lý, ngôn

ngữ của địa danh Trong công trình Địa danh trong thơ Tố Hữu, chúng tôi

nghiên cứu địa danh dưới góc độ văn học, văn hóa, lịch sử; đối tượng địa danhđược lựa chọn nghiên cứu là những địa danh xuất hiện trong sáng tác thi ca củatác gia Tố Hữu Chính vì vậy, chúng tôi không phân loại địa danh theo tên địa lí(tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi

cư trú, tên hành chính…) và ngôn ngữ mà phân loại địa danh trên cơ sở nộidung phản ánh đời sống sản xuất, chính trị, văn hóa, tinh thần, phong tục, tậpquán, lịch sử

Dựa vào những cơ sở trên, chúng tôi phân chia địa danh thành bốn loại:

Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình; Địa danh phản ánh hoạt động sản xuất vật chất; Địa danh phản ánh văn hóa tinh thần; Địa danh phản ánh sự kiện, nhân vật lịch sử.

1.1.2.1 Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình

Dựa vào đặc điểm đặc trưng của địa hình, con người cấp cho chúng têngọi riêng Chính vì vậy, chỉ cần nghe tên, chúng ta hình dung ra một phần cảnhquan địa lí của: sông, núi, biển, đảo…Ví dụ như một số địa danh bắt đầu bằng

chữ “tam”: Tam Đảo, Tam Thanh… đều gắn với con số ba Địa danh Tam Đảo

là dãy núi ở ranh giới ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên Dãynúi có ba ngọn (Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên Thị) nhô cao trên biển mây

giống như “ba hòn đảo” Địa danh Tam Thanh (Lạng Sơn) là động bên trong

có một ngôi chùa ba gian Khi ta gõ vào vách mỗi gian khác nhau thì tiếng

động phát ra cũng khác nhau nên gọi là Tam Thanh Địa danh sông Kỳ Cùng là con sông ở tận cùng lãnh thổ phía Bắc ở tỉnh Lạng Sơn Địa danh Đèo Ngang là

Trang 21

con đèo chắn ngang đường xuống phía Nam đất nước, ranh giới hai tỉnh Hà

Tĩnh và Quảng Bình Địa danh sông Hồng là con sông nước đục vì nhiều phù

Thái Liên Chi trong công trình Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai đã thống

kê được 481 địa danh phản ánh đặc điểm địa hình, thủy văn nơi đây [11]

Như vậy, địa danh phản ánh một cách bao quát từ phương vị, đặc điểmđịa hình (hình dáng, kích thước, số lượng, màu sắc, âm thanh…), hoạt động,chức năng của địa hình Địa danh cũng phản ánh những đặc điểm của sự vật,của thiên nhiên và các hiện tượng thiên nhiên có liên quan đến địa hình Chính

vì vậy, địa danh gắn bó chặt chẽ với đặc điểm của các yếu tố địa lý tại nơi đó

1.1.2.2 Địa danh phản ánh hoạt động sản xuất vật chất

Hoạt động sản xuất là điều kiện quan trọng nhất để duy trì, phát triển địaphương, vùng miền, đất nước Do đó, con người lựa chọn địa danh theo hìnhthức sản xuất, sản phẩm sản xuất của con người Ta thấy hiện tượng này rất phổbiến ở các làng nghề Điển hình nhất là tên của các phố cổ Hà Nội Hà Nội bămsáu phố phường, mỗi tên con phố lại đưa chúng ta đến với một đặc khu sản

phẩm khác nhau như: phố Hàng Mã, phố Hàng Nón, phố Hàng Quạt, phố Hàng Khay, phố Thuốc Bắc, phố Hàng Mành, phố Hàng Thiếc…Các làng nghề

hiện nay vừa là nơi sản xuất mua bán hàng hóa truyền thống đồng thời là cácđịa chỉ văn hóa - du lịch

Tác giả Hoàng Thị Đường trong luận văn Nghiên cứu địa danh ở thành phố Thái Nguyên đã chỉ ra đặc trưng kinh tế của Thái Nguyên là sản xuất lúa

nước, khắp nơi là những cánh đồng trồng lúa Chính vì vậy, ở Thái Nguyên

xuất hiện 40 địa danh gắn với thành tố chung là đồng như: đồng Giếng, đồng Đình, đồng Ri… [27].

Trang 22

Cách đặt địa danh gắn với hoạt động sản xuất vật chất của con người như

là một phương thức quảng cáo, khẳng định vị thế thương hiệu của sản phẩm.Đồng thời thể hiện chính con người đã làm nên ý nghĩa, giá trị tồn tại của địadanh Một khi địa danh còn là con người còn kiên trì, còn bền bỉ với nghề

1.1.2.3 Địa danh phản ánh văn hóa tinh thần

* Địa danh phản ánh tâm tư, tình cảm của con người

Không chỉ phản ánh văn hóa vật chất, địa danh còn phản ánh văn hóatinh thần của con người Những tâm tư, tình cảm, ước vọng được con ngườichắt chiu, gói gọn trong những địa danh

Xuất phát từ tình yêu cái đẹp, người Việt hay chọn từ “Mỹ” với ý nghĩa đẹp đẽ để đặt cho địa danh như: Mỹ Hào (một huyện ở tỉnh Hưng Yên), bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), tỉnh Mỹ Tho ở Miền Nam, cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền Giang, rồi các thôn ấp Mỹ Hòa, Mỹ Chánh (thành phố Hồ Chí Minh)

Gửi gắm ước mơ giàu có, thành đạt, con người đã lựa chọn các từ ngữ

thể hiện sự phát triển về tiền bạc như: Lộc, Lợi, Phát, Phú, Hưng…Chẳng hạn như: tỉnh Hưng Yên, thành Phú Xuân, Phú Bài (Huế), tỉnh Phú Yên, quận Phú Nhuận, chợ Phú Lâm (thành phố Hồ Chí Minh), đảo Phú Quốc…

Nếu như rất nhiều địa danh ở miền Nam thể hiện mong ước về mặt vậtchất thì ở miền Bắc có rất nhiều địa danh thể hiện mơ ước yên bình, an lành

trong cuộc sống: tỉnh Thái Bình, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Yên Bái…

Thông qua cách đặt tên phản ánh tâm tư tình cảm, mỗi cái tên như hóatâm hồn người, chất chứa trái tim yêu thương, nghĩa tình của con người, nặngtrĩu khát vọng của cha ông về một cuộc sống tươi đẹp hơn Qua cách đem lòngmình gửi gắm trong tên gọi của người Việt ta càng thấy rõ lối sống trọng tìnhcủa cư dân trên mảnh đất hình chữ S này

* Địa danh phản ánh thế giới tâm linh và hoạt động tôn giáo

Thông qua địa danh, người ta có thể thấy được phần nào tín ngưỡng, sinhhoạt văn hóa tâm linh của cư dân một vùng miền, một dân tộc Từ Bắc chí Nam

Trang 23

trên đất nước ta có nhiều những địa danh như thế: núi Chí Linh (Thanh Hóa), chùa Thiên Mụ (Huế), chùa Trấn Quốc, đền Mẫu (Hà Nội) Ngay tên gọi Ba Đình vốn tên gọi một chiến khu chống Pháp ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Sau này Hồ Chủ Tịch đặt tên cho quảng trường trung tâm ở Hà Nội là Ba Đình

bởi nơi đây có ba ngôi đình…

Mỗi vùng, mỗi tộc người với niềm tin tôn giáo riêng tạo thành một hệthống địa danh mang màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng Chẳng hạn ở tỉnh BìnhThuận, nơi cư dân chủ yếu là người Chăm, ta thấy có rất nhiều địa danh thể

hiện đời sống tâm linh và hoạt động tôn giáo của người Chăm như: chùa Cổ Thạch Tự, chùa Linh Sơn Tự, Lăng ông Nam Hải…Nổi tiếng là Hòn Bà - thị xã

La Gi Địa danh Hòn Bà gắn với một truyền thuyết nổi tiếng gắn với sự linh thiêng của nữ thần Y Any (Chúa Ngọc) Đặt tên Hòn Bà, người Chăm thể hiện

lòng tôn vinh nữ thần, đồng thời cầu mong nữ thần phù hộ cho việc làm ăn trênbiển

1.1.2.4 Địa danh phản ánh sự kiện, nhân vật lịch sử.

Địa danh là một tấm bia lịch sử cô đọng, giàu ý nghĩa Địa danh ghi lạiquá trình hình thành, phát triển của một dân tộc, vùng miền, phản ánh nhữngbiến cố lịch sử, những sự kiện chính trị quan trọng

Việt Nam là một quốc gia luôn phải đối mặt với sự xâm lược của kẻ thù

từ hàng nghìn năm phong kiến phương Bắc, đến hàng trăm năm đô hộ của thựcdân Pháp, đế quốc Mỹ Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộcViệt đã có biết bao người anh hùng vĩ đại, biết bao chiến công hiển hách Đểlưu giữ khí thế chiến thắng đó, con người đã chọn tên những anh hùng, tênchiến thắng để đặt tên cho các con đường, các quảng trường, các đơn vị hành

chính, địa phương, thậm chí cả thành phố Tiêu biểu như: bến Bạch Đằng

(thành phố Hồ Chí Minh) gắn với chiến thắng quân Nam Hán trên sông BạchĐằng của Ngô Quyền Đồng thời, tên Ngô Quyền cũng được đặt cho các địa

danh như: quận Ngô Quyền, đường Ngô Quyền, trường trung học cơ sở,

Trang 24

trung học phổ thông Ngô Quyền (Hải Phòng)…Các tuyến đường, dãy phố Hà Nội thường được đặt bằng tên của các nhân vật lịch sử như: Nguyễn Công Trứ, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Võ Nguyên Giáp…Trải bước trên những con phố

ấy, nhà thơ Bằng Việt đã phải thốt lên: “Tôi đi dọc những lối vào lịch sử”…

Cách đặt địa danh gắn với các sự kiện, nhân vật lịch sử như là một cách

để khắc ghi thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc, khắc ghi công ơn của cộinguồn Đồng thời cách đặt địa danh đó cũng là bài học văn hóa sâu sắc mà chaông muốn gửi gắm đến thế hệ sau

Qua sự phân tích ở trên, có thể thấy xét về mặt nội dung, địa danh có khảnăng bao quát cuộc sống con người từ địa hình nơi sinh sống đến hoạt động sảnxuất kinh tế, sinh hoạt văn hóa tinh thần, lịch sử phát triển của địa phương, dântộc… Địa danh tồn tại cùng quá trình hình thành và phát triển của con người,như một chứng nhân cho những thành quả mà các thế hệ đã dày công vun đắp

1.2 Địa danh trong thơ ca Việt Nam

Địa danh là một thành tố ngôn ngữ có khả năng chứa đựng thông tin, tìnhcảm của con người, có khả năng tạo ra giá trị nghệ thuật Chính vì vậy, địa danhđược các nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo trong các sáng tác thi ca Mỗi địadanh được lựa chọn đều là một dụng ý nghệ thuật nhằm thể hiện thái độ, quanđiểm, tâm trạng của nhà văn, nhà thơ như: tình yêu quê hương đất nước, sự trântrọng, tự hào về lịch sử, tấm lòng cô đơn, lẻ loi… Dõi theo dòng chảy thi caViệt Nam, có thể nhận thấy yếu tố địa danh được sử dụng rộng rãi trong cả vănhọc dân gian, văn học trung đại đến văn học hiện đại

1.2.1 Địa danh trong thơ ca dân gian

Trong văn học dân gian, vấn đề địa danh được nhắc đến trong nhiều thể

loại Trước tiên phải kể đến thể loại “Truyện kể địa danh” nhằm giải thích

nguồn gốc, ý nghĩa của các địa danh tự nhiên như: tên núi, tên sông, tên đất tiêu

17

Trang 25

biểu là: truyện Thần núi Tản Viên,

Gươm… Ngoài ra, còn một số truyện

như: tên làng, tên vùng

truyện Hòn Vọng Phu, Sự tích Hồ kể

nhằm giải thích địa danh nhân văn

Đặc biệt việc sử dụng tên địadanh rất phổ biến trong ca dao, dân

ca, tục ngữ Theo Nguyễn Xuân

Kính trong công trình Thi pháp ca dao có hai chủ đề chính thường sử

dụng tên riêng chỉ địa điểm:

Chủ đề thứ nhất là ca ngợicảnh vật và truyền thống địaphương.Vẻ thanh tao của Hà Nộiđược ghi lại trong những câu cadao:

“Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà Buồm giong

ba ngọn vui đà thêm vui.”

“Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ

Xương.”

Những địa danh thơ mộng, trữ tình, đậm màu sắc văn hóa, lịch sử của xứ

Huế cũng được tác giả dân gian ngợi ca:

“Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch

N o

Trang 26

k ê u

D i ệ u

đ ế ,

t r ố n g

r i n g T a

Trang 27

Tò a.

Thậm chí, trong kho tàng caodao còn có những câu thơ, bài thơ dầyđặc địa danh Tác giả dân gian đã khéoléo dựa vào âm, vần của địa danh đểtạo thành câu cao dao vần vè, dễ đọc,

dễ nhớ:

“Trên thì Đún, Mải, Hò, Khoai

Dưới thì Lác, Tuộc, Dô, Giai, Sâm,

Sàng

Đô Kì, Đồng Phó

đổ sang Chiềng, Tè, Hới, Gạo, Vích, Vang, Ướng, Rồng…”

Không chỉ thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, ca dao dân ca còn gửi gắm tình yêu và tình cảm vợ chồng qua địa danh:

“Ai về Đồng Tỉnh, Xuân Cầu

Để thương để nhớ, để sầu cho ai.”

18

Trang 28

“Anh về Đạp Đá, Gò Găng

Để em đạp vải sáng trăng một mình.”

Đồng Tỉnh, Xuân Cầu hay Đạp Đá, Gò Găng tượng trưng cho sự xa cách

về mặt không gian địa lý Đồng thời, thể hiện sự lo lắng, thương nhớ, cô đơn,buồn tủi của những người ở lại

Những câu ca dao về địa danh không chỉ gọi tên địa điểm ở từng vùng,chúng còn phản ánh đặc sắc văn hóa của con người (lối sống, phong tục, tậpquán, nghề nghiệp…) và các sản vật (cây trái, động vật…) Với điều kiện tựnhiên phong phú và sự tồn tại, phát triển của nhiều anh em dân tộc khác nhaunên đặt chân tới mỗi vùng miền của tổ quốc ta đều được thưởng thức hoa thơmquả ngọt, được đắm mình trong không gian sinh hoạt văn hóa đặc sắc:

“Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi tới đó thời không muốn về.”

“Yến sào Vĩnh Sơn Nam sâm Bố Trạch…”

Thơ ca dân gian là sản phẩm của nhân dân lao động, bắt nguồn từ cuộcsống sinh hoạt đời thường Chính vì vậy, những địa danh xuất hiện trong ca daođều là những địa danh gắn với quê hương, tình yêu thiên nhiên, làng xóm Đồngthời, địa danh trong ca dao làm nhiệm vụ quan trọng nhất trong việc chuyên chởbao ước mơ, khát vọng, phản ánh lối sống trọng tình của con người

1.2.2 Địa danh trong thơ ca trung đại

Trong thơ ca trung đại, yếu tố địa danh xuất hiện khá nhiều đặc biệt trongcác bài kí và loại thơ nói về những chuyến đi: đi sứ, đi công cán, đi ngao du hồhải…Địa danh trong các sáng tác trung đại phản ánh rõ nét lịch sử, văn hóa, tưtưởng xã hội…

Thời kì xã hội phong kiến nước ta luôn phải hứng chịu sự xâm lược củachế độ phong kiến phương Bắc Đồng thời, do ảnh hưởng của học thuyết Nhogia đặc biệt là tư tưởng trung quân ái quốc nên trong văn học xuất hiện cảmhứng chủ đạo là tình yêu nước, ca ngợi những chiến thắng oai hùng, ca ngợi vẻđẹp thiên nhiên…

Trang 29

Những chiến thắng vang dội trong công cuộc chống quân Nguyên Mônglần thứ 2 (năm 1285) của quân dân nhà Trần được tướng quân Trần Quang

Khải tái hiện trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư:

“Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san.”

Chương Dương và Hàm Tử trong bài thơ không chỉ còn là hai địa điểm

mà đã trở thành nhân chứng cho lịch sử, cho chiến thắng oai hùng của nhân

dân, đồng thời là bài học răn đe kẻ thù Nhắc tới Chương Dương và Hàm Tử,

tác giả còn thể hiện lòng tự hào về khí thế Đông A của quân dân nhà Trần

Trái với vẻ khỏe khoắn, sục sôi nhiệt huyết cách mạng của Trần QuangKhải là những vần thơ nặng trĩu tâm sự của bà Huyện Thanh Quan Mỗi bài thơ

của nữ thi sĩ đều gắn với một địa danh thuộc kinh thành xưa cũ: Thăng Long thành hoài cổ, Đền Trấn Bắc, Chùa Trấn Võ… Mỗi địa danh như gợi nhắc tại

một quá khứ vàng son nay đã lụi tàn khi mà kinh đô của đất nước bị chuyển

vào Huế Cảm hứng hoài cổ cũng là cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Qua Đèo Ngang Địa danh Đèo Ngang thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất

nước của thi sĩ Đồng thời, địa danh Đèo Ngang ngăn đôi miền Tổ quốc thể

hiện cho sự xa cách, nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà tới nao lòng của người lữ khách…

Thơ trung đại Việt Nam ảnh hưởng sâu đậm từ thi ca Trung Quốc Trướckhi có chữ viết, chúng ta phải mượn tiếng Hán làm văn tự sử dụng trong hànhchính cũng như văn học Chính vì vậy, văn học trung đại bao gồm hai bộ phận:thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm Không chỉ vay mượn văn tự, các thi nhân trungđại còn chịu ảnh hưởng về mặt thể loại, tư tưởng, phong cách sáng tác… Chính

vì vậy, trong những bài thơ chữ Hán, ngoài những địa danh Việt Nam còn có

nhiều địa danh ở Trung Quốc Ta dễ dàng bắt gặp địa danh: sông Dương Tử, bến Côn Lôn, Lầu Hoàng Hạc, thành Lạc Dương, tỉnh Hà Bắc, hồ Động

Trang 30

Đình… của đất nước Trung Hoa trong thi ca Việt Nam Nguyễn Du khi phóng

tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân cũng giữ lại những địa

danh cũ như: Tiền Đường, Vô Tích, Lâm Tri…

Nói đến vấn đề địa danh trong văn thơ cổ, người ta không thể khôngnhắc đến loại thơ của các sứ thần với những hành trình từ Kinh Đô Việt sangTràng An hay Lạc Dương, những thủ đô thời trung đại của Trung Quốc, các nhàthơ phải đi qua nhiều địa điểm, thắng cảnh của hai nước Đến mỗi nơi họ lại ghicảm xúc của mình Tập thơ như là cuốn nhật kí hành trình, qua đó người đời

sau, các nhà viết sử có thể vẽ lại hành trình của nhà thơ Tập thơ Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du là một trường hợp như vậy.

Đầu năm 1813, Nguyễn Du khi ấy 48 tuổi và là Cần Chánh Đại học sĩ,được triều đình nhà Nguyễn cử đi sứ Trung Quốc Ông dẫn đầu đoàn sứ bộ Việt

Nam “Bắc hành” từ đầu tháng Hai đến giữa tháng Chạp năm Quý Dậu, tức là

chuyến công cán kéo dài gần suốt năm Trong chuyến đi rất dài này, Nguyễn

Du không chỉ hoàn thành chức trách của một sứ thần, mà còn hoàn thành chức

trách của một nhà thơ lớn Tập Bắc hành tạp lục là kết quả của chuyến đi này

với 132 bài thơ chữ Hán ghi lại những điều trông thấy, những cảm nghĩ dọcđường, của một nhà nho tinh thông sách sử, của một tâm hồn thơ lớn Dĩ nhiên,cái hay của thơ ca, cái lớn của tập thơ này nằm ở cảm xúc tinh tế, chiều sâu tâmtrạng và những suy tư về nhân thế của Nguyễn Du, song các tri thức lịch sử, địa

lí, văn hóa, cũng làm cho tập thơ có sức nặng văn hóa Các địa danh gợi chonhà thơ bộc lộ cảm thức về lịch sử và thời thế

Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh căn cứ vào địa danh các bài thơ trong Bắc hành tạp lục đã cố gắng vẽ lại con đường đi sứ của Nguyễn Du từ khi khởi

hành đến lúc trở về đến Ải Nam quan Ông mô tả như sau: Nguyễn Du bắt đầu chuyến đi từ kinh đô Huế, qua Thăng Long, qua Nam Quan mà sang Trung Quốc Theo các con sông Minh Giang và Tả Minh Giang mà đến Ngô Châu, ngược sông Minh Giang mà đến Quế Lâm, nhờ kênh Hưng An mà sang sông

21

Trang 31

Tương, xuôi sông Tương đi suốt tỉnh Hồ Nam, qua Tương Đàm và Tương Âm, vào hồ Động Đình rồi tới Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc Từ đây theo đường bộ để vào Hà Nam, qua Tín Dương, Yến Thành, Hứa Xương mà đến Khai Phong, rồi qua sông Hoàng Hà, qua Hàm Đan kinh đô nước Triệu xưa, qua sông Dịch mà vào nước Yên xưa rồi từ đó đến Bắc Kinh… Con đường về của Nguyễn Du cũng được nhiều người “vẽ” căn cứ vào tên các địa danh mà Nguyễn Du nhắc

tới trong tập thơ Không chỉ có Nguyễn Du, các sứ thần xưa đa phần đều có làmthơ, cũng đều có những cuốn nhật kí hành trình bằng thơ tương tự

Địa danh trong thơ Nguyễn Du không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên

mà còn thể hiện trái tim nhân đạo sâu sắc Tiêu biểu là bài thơ Quỷ môn quan:

“Liên phong cao sáp nhập thanh vân Nam Bắc quan đầu tựu thử phân Như thử hữu danh sinh tử địa Khả liên vô số khứ lai nhân Tắc đồ tùng mãng tàng xà hổ

Bố dã yên lam tụ quỷ thần Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt

Kỳ công hà thủ Hán Tướng quân.”

Địa danh Qủy môn quan hay chính là cửa ải Chi Lăng Nơi đây đã diễn

ra bao trận chiến giữa quân dân Đại Việt và Trung Hoa Tác giả Nguyễn Dukhông chỉ thể hiện tấm lòng yêu nước, ngợi ca chiến công dân tộc mà còn bộc

lộ trái tim cảm thương sâu sắc tới những người lính Trung Quốc phải ngãxuống vì tham vọng của quân vương Với trái tim nhân ái cao cả, vượt qua ranhgiới thù hận, Nguyễn Du xứng đáng là đại thi hào của dân tộc, là danh nhân vănhóa của thế giới

Nếu như địa danh trong thơ ca dân gian mang màu sắc dung dị, chanchứa tình cảm, sự gắn bó với từng miền quê hương của Việt Nam thì những địadanh trong thơ trung đại mang tính tư duy, thể hiện chiều sâu trí tuệ cùng tâm

Trang 32

sự kín đáo, sâu sắc Nhiều địa danh trong thơ trung đại mang tính ước lệ, gắnvới điển tích, điển cố hoặc địa danh của Trung Hoa Chính vì vậy, địa danh làmột thi liệu giàu giá trị về nội dung và nghệ thuật nên được nhiều thi nhân lựachọn để đưa vào trong sáng tác của mình

1.2.3 Địa danh trong thơ ca hiện đại

Bước sang thời kì hiện đại, văn học Việt Nam có sự chuyển mình mạnh

mẽ, sâu sắc Tư tưởng cởi mở của phương Tây cùng phương pháp sáng tác mới,thể loại mới được du nhập vào Việt Nam Văn học Việt Nam có sự cách tântoàn diện đem lại dáng vẻ mới Về mặt thi ca xuất hiện hai xu hướng chủ yếu:thơ ca lãng mạn của các nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 và thơ ca cáchmạng bám sát hiện thực của công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ củadân tộc

* Thơ lãng mạng

Thơ lãng mạn của tiếng nói cá nhân, sự giải phóng tối đa khả năng sángtạo cũng như cá tính của tác giả Thơ mới tạo dấn ấn quan trọng, bước ngoặtcủa thi ca, chuyển từ phương thức sáng tác trung đại, chịu ảnh hưởng của thipháp Trung Hoa sang phương thức sáng tác hiện đại của phương Tây Nhận xét

về sự phát triển của thơ Mới, Hoài Thanh đã viết: “Không lấy một người so sánh với một người, hãy lấy thời đại so sánh với thời đại Tôi quyết rằng chưa

có thời đại nào phong phú như thời đại này trong lịch sử thi ca Việt Nam Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế

Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Để thể

hiện phong cách, cá tính của mình, các thi nhân lãng mạn sử dụng yếu tố địadanh như một dụng ý nghệ thuật Ta thấy được chất mộc mạc, dân giã củanhững thôn xóm trong thơ Nguyễn Bính:

Trang 33

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mưa là bệnh của trời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”

(Tương tư)

Hoặc như tấm lòng với xứ Huế thân thương cũng như tấm lòng thiết tha với

đời, yêu say cuộc sống của Hàn Mặc Tử được gửi gắm trong địa danh thôn Vĩ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Tuy thơ mới là kết quả của quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hóaphương Tây nhưng trong thơ mới xuất hiện rất ít các địa danh nước ngoài Cáctác giả khai thác ngay vẻ đẹp của thiên nhiên, của miền quê, đất nước conngười Việt Qua đó, ta thấy được tấm lòng với non sông, thao thức, trăn trở củacác thi nhân về vận mệnh dân tộc

* Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp

Mỗi nhà thơ cách mạng đều có sự gắn bó sâu sắc với một địa danh địa lí

- văn hóa, tạo ra phong cách độc đáo, không thể trộn lỗn Đằm thắm trong tráitim của Tố Hữu là quê hương xứ Huế, Hoàng Cầm nao lòng với quê nhà KinhBắc, Quang Dũng vấn vương với xứ Đoài Thơ của họ là tâm hồn, phong cảnhmột vùng văn hóa

Xứ Đoài với rất nhiều địa danh như: Sơn Tây, Bương Cấn, Sài Sơn, Bất Bạt, sông Đáy, Phủ Quốc, Ba Vì… đã bước vào thơ Quang Dũng một cách

dung dị mà ám ảnh:

Trang 34

“Em ở thành Sơn chạy giặc về tôi Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bong Ba Vì…

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về lại Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.”

Không chỉ xuyến xao với Xứ Đoài, Quang Dũng còn bén duyên sâu nặngvới vùng đất cheo leo - Tây Bắc:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

(Tây Tiến)

Sông Mã là con sông chảy qua Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá và cũng là địa danh nơi đoàn quân Tây Tiến đóng binh Hai chữ “sông Mã” tiếng trước

thanh bằng tiếng sau thanh trắc góp cho giọng thơ trầm hùng Dấu “~” trong

chữ “Mã” kết hợp với chữ “ơi” cuối câu “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!” làm cho âm giọng ngân vang… Chữ “Lát” trong địa danh Mường Lát đi liền với chữ “hoa” trong câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, gợi cho người

đọc có cảm giác như cảnh nơi ấy lát hoa, rải hoa thật là sang trọng mơ mộng và

lãng mạn Cái âm “Pha” trong “Pha Luông” đi với cái âm “xa” trong “Nhà

Trang 35

ai Pha Luông mưa xa khơi” nghe như cứ pha vào mưa, luồn vào gió, con mưa

chạy dài rộng khắp mịt mù trong mưa rừng sương núi Còn trong hai chữ địa

danh Mai Châu, ta nghe như trong đó có cái gì tươi trẻ trong sáng Từ đó gợi

cho người đọc như thấy đoàn quân Tây Tiến, sau khi xuyên sơn, vượt lũng,băng rừng, lội suối đến một cái thôn Mai Châu Ở đó những cô gái trẻ trungchạy ra chào đón các anh bộ đội tặng những cơm nắm, xôi đùm ấm áp nghĩatình quân dân…

Như vậy, ta có thể nói rằng trong thơ Quang Dũng đầy ắp những địadanh Cái tài của Quang Dũng là ông đã vận dụng nó vào trong câu thơ hết sứcnhuần nhuyễn và đem lại cho người đọc những cảm xúc chân thực

Cũng tương tự như chất Tây Bắc trong thơ Quang Dũng, ta bắt gặp cảnhvật và con người, miền quê Kinh Bắc trong thơ của Hoàng Cầm Vùng KinhBắc không chỉ trù phú, tốt tươi, giàu truyền thống văn hóa mà còn mang một vẻđẹp cổ kính với những phong tục tập quán, những đền chùa, những lễ hội vàodịp đầu xuân:

“Ai về Bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai?

Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?”

(Bên kia sông Đuống)

Qua hồi ức các địa danh Thiên Thai, Bút Tháp, Lang Tài được gợi nhắc

thể hiện niềm kiêu hãnh và tự hào của nhà thơ về vẻ đẹp quê hương mình Cáccâu thơ chỉ địa danh kết hợp với những từ có ý nghĩa định vị về mặt không gian

Trang 36

"trên, trong, giữa" khiến không gian càng rộng lớn mênh mông, không gian của

sự thanh bình Những địa danh ấy chỉ có duy nhất ở Kinh Bắc, từ lâu đã đi vàotrong ca dao, dân ca, vào lòng người dân Kinh Bắc Mỗi địa danh lại gắn liềnvới một lễ hội Chỉ bằng những vần thơ ngắn gọn nhà thơ đã làm sống dậy mộtquá khứ, một bức tranh đẹp đẽ, tươi vui sắc màu văn hóa của riêng đất KinhBắc

* Thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ

Nếu như thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp mang âm hưởng giản dị,mộc mạc thì thơ ca kháng chiến chống Mỹ mang một hơi thở mới Đó là chấtoai hùng của thế hệ thanh niên sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Họ sẵn sàng hisinh xương máu cho nền độc lập Chính vì vậy, mỗi địa danh đều gắn với chiếncông của binh đoàn, với sự anh dũng, quả cảm của người lính:

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.”

(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)

Bên cạnh giọng thơ hào sảng, tràn đầy nhiệt huyết, thơ ca thời kì khángchiến chống Mỹ còn mang âm hưởng sâu lắng, triết lí, thể hiện sự cảm nhận sâu

sắc của tác giả về quê hương, đất nước Trường ca Mặt đường khát vọng của

tác giả Nguyễn Khoa Điềm là một điển hình:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng

Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Trang 37

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông

cha Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta ”

Không chỉ trong thi ca, yếu tố địa danh cũng được các tác giả sử dụngtrong văn xuôi và âm nhạc Trong văn xuôi, ta cũng thấy hiện tượng nhiều tác

phẩm nổi tiếng có tên địa danh: Mường Giơn giải phóng của Tô Hoài, Sông

Đà của Nguyễn Tuân, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, Cù Lao Chàm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu…Hàng loạt

những bài hát có tính “địa danh ca”, “địa phương ca” xuất hiện, một hiện

tượng chưa từng có trước đó như: Quảng Bình quê ta ơi, Hà Tây quê lụa, Chào sông Mã anh hùng, Dáng đứng Bến Tre, Quỳnh Lưu đất mẹ yêu thương, Thái Nguyên quê tôi (Huy Cao), Nhớ về Hà Giang (Minh Thùy)…

Địa danh được đưa vào văn học cách mạng nhiều như vậy là bởi suốt 30năm kháng chiến và chiến tranh giải phóng đất nước từ Ải Nam quan đến Mũi

Cà Mau, các văn nghệ sĩ cũng là những người cán bộ cách mạng, người chiến

sĩ, họ phải đến nhiều nơi trên đất nước, trải nghiệm sống và chiến đấu Mỗivùng đất đều gắn với những kỉ niệm sâu sắc về tình quân dân, tình yêu, tuổi trẻ

và được thể hiện ra bằng văn, thơ, nhạc, họa Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên

đã từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” Mặt

khác, về phương pháp sáng tác, văn học cách mạng lấy các vấn đề dân tộc đấtnước làm chủ đề cảm hứng chính Thêm nữa với phương pháp hiện thực xã hộichủ nghĩa, văn học thiên về phản ánh sự thật, ghi chép sự thật, vì thế càng có cơ

sở để địa danh thành một biểu đạt phổ biến trong thơ Trong thế hệ các nhà thơtrưởng thành trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc không thể không kể đến

Tố Hữu Nhà thơ có khả năng rung cảm đặc biệt với những địa danh cách mạng

và đưa chúng vào trong thơ một cách hay nhất, nghệ thuật nhất

Trang 38

1.3 Tác gia Tố Hữu

1.3.1 Vài nét về tiểu sử

Tố Hữu (1920 - 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở xã PhùLai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Quê hương xứHuế là một mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, đồng thời đậm đà bản sắcvăn hóa bởi sự hòa quyện của hai dòng văn hóa cung đình và dân gian Đượctắm mình trong những khúc hát êm dịu, ngọt ngào của xứ Huế đã là một tiền đềquan trọng bồi đắp lên tâm hồn thơ dạt dào của Tố Hữu

Tố Hữu được sinh ra trong một gia đình trí thức Cha ông là một trí thức,rất yêu thơ và thích sưu tầm ca da tục ngữ Mẹ ông thuộc rất nhiều ca dao dân

ca và có trái tim thiết tha yêu thương Truyền thống gia đình là nền móng quantrọng cho mối duyên với thi ca của Tố Hữu

Tố Hữu trưởng thành vào thời kì cách mạng Việt Nam đang diễn ra mạnh

mẽ tiêu biểu phong trào dân tộc, dân chủ (1936 - 1939) Người thanh niên trẻ

ấy nhanh chóng giác ngộ lí tưởng cách mạng và chính thức bước vào hàng ngũcủa Đảng Cộng sản năm 1938 Tuy nhiên, ngay những ngày đầu hiến dâng cuộcđời cho sự nghiệp cách mạng Tố Hữu đã bị bắt, bị giam tại nhà lao Thừa Thiênrồi lần lượt bị giam ở các nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Khôngchấp nhận cuộc sống tù đày, tháng 3 - 1942, Tố Hữu đã vượt ngục Đắc Lay(Kon Tum), vượt qua hàng trăm cây số đường rừng để quay trở về tiếp tục hoạtđộng cách mạng Năm 1945, khi cách mạng Tháng Tám diễn ra, ông được bầulàm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế, lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giànhthắng lợi vang dội Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu lên Việt Bắccông tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách về văn hóa Trong hai cuộckháng chiến của dân tộc đến năm 1986, Tố Hữu luôn giữ vị trí quan trọng trong

bộ máy lãnh đạo Nhà nước

Cuộc đời của Tố Hữu gắn bó với vận mệnh dân tộc suốt hai cuộc khángchiến, những ngày đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Chính vì vậy, ở

Trang 39

ông có sự hòa quyện giữa con đường chính trị và con đường thơ Mỗi chặngđường vào sinh ra tử trên chiến trường của Tố Hữu đều được tái hiện một cáchsinh động trong các bài thơ Chặng đường thơ của Tố Hữu gắn liền với nhữngthay đổi trong quá trình hoạt động cách mạng Tố Hữu đã tái hiện một cách sâusắc và sinh động lịch sử của dân tộc, góp vai trò to lớn vào việc khích lệ tinhthần, ý chí chiến đấu của thế hệ trẻ Đồng thời, ông để dấu ấn quan trọng trongnền thi ca Việt Nam.

1.3.2 Hành trình sáng tác thi ca

Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nên thơ của ông gắn bó chặt chẽ với cuộcđấu tranh cánh mạng dân tộc, các chặng đường thơ cũng song hành với các giaiđoạn đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuậtcủa nhà thơ

Tập Từ ấy (1937 - 1946): Gồm ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng, tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng

của nhà thơ

Máu lửa là tiếng reo náo nức của một tâm hồn được giác ngộ lý tưởng

cách mạng Có lẽ vì thế, nhà thơ đã nhận ra được ách áp bức giai cấp, bất côngcủa xã hội và thân phận của con người lao khổ Trong thơ ông luôn hướng sựcảm thông của mình với những em bé mồ côi, lão đầy tớ, cô gái giang hồ, em

bé đi ở và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đấu và niềm tin ở tương lai

Xiềng xích là sự quyết tâm của người chiến sĩ cách mạng tự nhắc nhở mình quyết không khuất phục trước uy lực và sự tàn bạo của kẻ thù (Trăng trối, Con cá chột nưa…) đồng thời thể hiện niềm lạc quan, yêu đời, khát khao

tự do và hành động

Giải phóng - Khi cách mạng tháng Tám thành công, Tố Hữu say sưa

nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi, ngợi ca nền độc lập, ngây ngất trong “niềm vui bất tận” với cảm hứng dâng trào trước cuộc đổi đời vĩ đại của nhân dân, dân

tộc

Trang 40

Tập Việt Bắc (1947 - 1945): Việt Bắc là “thủ đô kháng chiến”, nơi có

Đảng, Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đánh giặc Việt Bắc là bản anh hùng ca, cangợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà anh hùng củacuộc kháng chiến (như các em thiếu nhi, các anh bộ đội, các chị phụ nữ, các bàmẹ… và trên tất cả, hình ảnh tập trung, tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc là hìnhảnh Bác Hồ) Tập thơ còn ca ngợi những tình cảm điển hình của con ngườikháng chiến như tình yêu nước, tình yêu đồng bào, tình quân dân, tình cảmmiền ngược với miền xuôi, lòng yêu thiên nhiên, kính yêu Đảng, Bác Hồ… vàniềm tin tưởng ở ngày mai tươi sáng Việt Bắc là thành tựu xuất sắc nhất củavăn học kháng chiến chống Pháp

Tập Gió lộng (1955 - 1961) là tập thơ vừa thể hiện niềm vui, niềm tự hào

và tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, vừa bày tỏ tìnhcảm thiết tha với niềm Nam và ý chí thống nhất nước nhà, tình cảm quốc tếrộng lớn

Trong niềm vui lớn với cuộc sống hiện tại, Tố Hữu không quên nghĩ về quákhứ để bày tỏ tình cảm biết ơn ông cha và những người đi trước mở đường Và từ

đó thấm thía ân tình cách mạng (Ba mươi năm đời ta có Đảng, Mẹ Tơm…).

Trong giai đoạn cách mạng này, Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược:xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam tiến tới thốngnhất thống nhất nước nhà Rộn ràng thay cảnh quê hương, nửa công trường tấpnập, nửa chiến trường hừng hực khí thế chiến đấu Đồng thời, thơ ca thời kìnày tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với một cáitôi trữ tình đa dạng hơn và một nghệ thuật biểu hiện già dặn và nhuần nhị hơn

Hai tập Ra trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) là những

chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm chống Mỹ quyết liệt và hào hùngcủa dân tộc cho tới ngày toàn thắng Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là

mệnh lệnh tiến công, là lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng cả dân tộc “khắp thành thị

Ngày đăng: 09/06/2021, 08:03

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w