Tuy nhiên, khi nhắc đến thời kỳTiền -sơ sử ở khu vực này, các nhà nghiên cứu thường hay nhấn mạnh tới văn hóaHạ Long, một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng thuộc giai đoạn Hậu kỳ Đá
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢO
ĐỊA ĐIỂM KHẢO CỔ HỌC ĐẦU RẰM
TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC DI TÍCH THỜI ĐẠI KIM KHÍ VÙNG DUYÊN HẢI ĐÔNG BẮC
Chuyên ngành: Khảo cổ học
Mã số: 60 22 03 17
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHẢO CỔ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS BÙI VĂN LIÊM
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố Các thông tin, tài liệu trình bày trong Luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Hảo
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Khảo cổ học, Lãnh đạo PhòngNghiên cứu Khảo cổ học Tiền sử nơi tôi công tác vì đã khuyến khích, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể học tập và hoàn thành khóa học.
Tôi xin cảm ơn Học viện Khoa học xã hội, Khoa Khảo cổ học, nơi tôi đã họctập suốt hai năm qua Các thầy cô đã luôn ủng hộ, động viên và truyền cho tôikhông chỉ kiến thức mà còn cả kinh nghiệm thực tiễn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnhQuảng Ninh, UBND và bà con thôn 3, xã Hoàng Tân, huyện Yên Hưng (nay là xãHoàng Tân, Thị xã Quảng Yên), tỉnh Quảng Ninh vì đã tạo điều kiện để tôi tham giakhai quật, nghiên cứu tại địa điểm Đầu Rằm
Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS.TS Bùi Văn Liêm, người thầyđã hướng dẫn, động viên, khuyến khích để tôi có động lực hoàn thành những nghiêncứu của mình, trong đó có Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn,/
Tác giả
Nguyễn Thị Hảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH ĐẦU RẰM 7
1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.2 Lịch sử nghiên cứu 10
Chương 2 ĐẶC TRƯNG DI TÍCH VÀ DI VẬT CỦA DI TÍCH ĐẦU RẰM 17
2.1 Đặc trưng di tích 17
2.2 Đặc trưng di vật 23
Chương 3 VỊ TRÍ ĐẦU RẰM TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ 59
3.1 Đặc điểm di tích Đầu Rằm 59
3.2 Di tích Đầu Rằm trong các mối quan hệ 70
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC PHỤ LỤC BẢN VẼ 1
PHỤ LỤC ẢNH 46
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đường kínhHố
Khảo cổ họcKhoa học xã hộiLớp
Những phát hiện mới về Khảo cổ họcNhà xuất bản
TrangViện Khảo cổ học
Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tàí
Đông Bắc Việt Nam là khu vực có vị thế trọng yếu về chính trị, kinh tế, văn hóaxã hội và an ninh quốc phòng Về phương diện lịch sử - văn hóa, khu vực này cũng giữmột vai trò quan trọng, đóng góp vào diễn trình phát triển chung của lịch sử dân tộcvới không gian rộng, thời gian dài và những đặc trưng cơ bản, rất điển hình về lịch
sử - văn hóa Vì những lý do đó nên nghiên cứu về khu vực Đông Bắc Việt Namluôn là đối tượng - một phần không thể thiếu trong các nghiên cứu của khoa học cơbản
Di tích khảo cổ học Đầu Rằm phân bố trên đảo/bán đảo Hoàng Tân, thuộc xãHoàng Tân, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Từ những phát hiện, nghiên cứu bướcđầu giúp chúng ta nhận diện Đầu Rằm là di tích rất quan trọng thời đại Kim khí trongbuổi đầu dựng nước ở vùng duyên hải Đông Bắc Tuy nhiên, khi nhắc đến thời kỳTiền -sơ sử ở khu vực này, các nhà nghiên cứu thường hay nhấn mạnh tới văn hóaHạ Long, một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng thuộc giai đoạn Hậu kỳ Đá mới, mà
ít có những nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn sơ kỳ Kim khí Nghiên cứu di tíchĐầu Rằm sẽ cho chúng ta thấy, đó là minh chứng rõ ràng cho sự tồn tại và phát triểncủa các nhóm cư dân cổ vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam, có các mối quan hệđồng đại cũng như lịch đại với hàng loạt các di tích khác ở vùng Quảng Ninh, HảiPhòng và các vùng phụ cận, tạo nên một nét văn hóa đặc trưng xung quanh khu vựcvịnh Hạ Long giai đoạn từ Hậu kỳ Đá mới sang Sơ kỳ Kim khí đến Kim khí
Từ khi di tích Đầu Rằm đã được phát hiện và khai quật nhiều lần, có nhiều ý kiến
về các vấn đề xung quanh di tích nhưng chưa có một chuyên khảo nào tổng hợp, tổng kết
những kết quả đó Hơn nữa, hiện còn nhiều ý kiến khác nhau thậm chí trái chiều nhau về
di tích Đầu Rằm, rằng di tích (lớp sớm) thuộc văn hóa Phùng Nguyên, chính là phần lan
tỏa của văn hóa Phùng Nguyên ra biển, song có người lại cho rằng Đầu Rằm cùng với
Trang 7Tràng Kênh và Hang Bồ Chuyến là một hệ thống khác, ngoài Phùng Nguyên Vìthế, nghiên cứu chuyên sâu về di tích này không chỉ cho chúng ta hình dung ra bứctranh tổng thể về đời sống kinh tế vật chất, văn hóa tinh thần và các mối quan hệ của
nó trong, ngoài
1
Trang 8khu vực của cư dân cổ nơi đây, giúp chúng ta đánh giá khách quan, khoa học hơn về thời
tiền - sơ sử ở khu vực Đông Bắc Việt Nam
Hiện tại, di tích Đầu Rằm đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại nghiêm trọngtrọng, do các hoạt động khai thác đá núi làm vật liệu xây dựng và các hình thức mưu sinh
khác của dân cư địa phương như trồng trọt, xây dựng, giao thông nhỏ trên ditích Chúng ta rất cần những công trình nghiên cứu khoa học đánh giá đúng giá trịcủa di tích Đầu Rằm góp phần tuyên truyền bảo vệ di tích để có thể phát huy giá trịcủa di tích Đầu Rằm, góp phần phát triển đồng bộ kinh tế, văn hóa, du lịch và quốcphòng an ninh trong khu vực
Đó là những lý do tôi chọn đề tài " Địa điểm khảo cổ học Đầu Rằm trong các mối quan hệ với các di tích thời đại Kim khí vùng duyên hải Đông Bắc" cho Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Công trình nghiên cứu ngoài nước về địa điểm Đầu Rằm
Từ trước tới nay, chưa có công trình nghiên cứu nào của các học giả nước ngoài về địa điểm này
Thành tựu trong phát hiện, nghiên cứu di tích Đầu Rằm thuộc về các nhà khảo
cổ học, sử học và văn hóa học Việt Nam
2.2 Công trình nghiên cứu trong nước về địa điểm Đầu Rằm:
Cho đến nay, di tích Đầu Rằm đã có khá nhiều người quan tâm và nghiên cứu, với nhiều công trình có giá trị
Di tích Đầu Rằm được phát hiện lần đầu vào năm 1970, do người dân địa phương tìm được một số rìu bôn bằng đá và hiện vật đồ đồng, đồ gốm Năm 1988, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hảo đã khảo sát và cho nhận định “Di chỉ Hoàng Tân (Đầu Rằm) thuộc văn hóa Hạ Long” [17, tr.30 - 31] Năm 1997, Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh và Viện Khảo cổ học đã điều tra, khảo sát khu vực này và cho rằng, có dấu tích cư trú của cư dân thời đại Kim khí giai đoạn sớm ở đây [11, tr 250 - 252] Cũng trong năm đó, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh khảo sát tiếp di
Trang 9tích này và phát hiện vết cư trú trên vùng trũng yên ngựa trên núi Đầu Rằm nhỏ và cho rằng, có thể có hai lớp cư trú sớm
2
Trang 10muộn ở đây Đến đầu năm 1998, di tích lại được khảo sát một lần nữa và xác nhận có sự
tồn tại của “loại hình biển của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng” [29,tr 182 - 184]
Di tích Đầu Rằm được khai quật ba lần (5/1998; 9/2005 và 9/2009) do Viện Khảo
cổ học phối hợp với Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnhQuảng Ninh thực hiện
Các kết quả khảo sát, thăm dò, khai quật ở di tích này đều được công bố trên Tạpchí “Khảo cổ học” và “Những phát hiện mới về khảo cổ học” các năm và các báo cáokhai quật Báo cáo khai quật năm 2009 về di tích Đầu Rằm được coi là khá toàn diện, tuy
nhiên, chưa có một công trình nào tổng hợp các nghiên cứu đó và có những đánh giátoàn diện về di tích
Hơn nữa, các công trình mới chỉ dừng lại ở các yếu tố truyền thống, còn thiếu hụtnhững cập nhật mới, như những biến đổi của môi trường ảnh hưởng lên cuộc sốngcủa cư dân cổ, giải thích các hiện tượng về di tích, di vật hay nghiên cứu
cụ thể về vị trí của di tích Đầu Rằm trong bối cảnh thời đại Kim khí ở khu vực duyên
“khoảng trống” nêu trên là nhiệm vụ đặt ra đối với Luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: có cái nhìn tổng thể về di tích Đầu Rằm qua các
cuộc khảo sát và khai quật khảo cổ học, tìm ra nét đặc trưng của di tích và vị trí của
nó với các di tích trong và ngoài khu vực
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tập hợp tài liệu, hệ thống lại các di tích, di vật của di tích Đầu Rằm đã
được phát hiện qua các giai đoạn
- Phân tích, đánh giá các di tích, di vật để chỉ ra đặc trưng của di tích
- So sánh di tích Đầu Rằm với các di tích thời đại Kim khí ở vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam để tìm hiểu các mối quan hệ văn hóa của chúng
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu 4.1 Đối tượng nghiên
cứu
3
Trang 12Đối tượng chính của đề tài Luận văn này là di tích Đầu Rằm qua các cuộc khảosát và khai quật.
Khách thể nghiên cứu của Luận văn là các di tích và di vật ở dịa điểm Đầu Rằm,trong đó một số đối tượng được quan tâm đặc biệt như địa tầng, mộ táng, đồ đá, đồ đồng,
có so sánh với một số giai đoạn khác để tìm hiểu vấn đề lịch đại liên quan đến di tích
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài Luận văn tập trung vào các di tích, di vậtcủa di tích Đầu Rằm và các mối quan hệ của di tích với các di tích thời đại Kim khí khác
ở vùng duyên hải Đông Bắc
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửtrong nghiên cứu khảo cổ học, để luận giải các vấn đề về biến đổi kinh tế, xã hội, cácmối giao lưu và hội nhập văn hóa của con người trong tiến trình phát triển của lịch
sử trong phạm vi liên quan đến đề tài
Dựa vào lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khi nghiên cứu về di tích ĐầuRằm, tác giả coi đây là một thành tố khả biến, tức phải đặt trong bối cảnh lịch sử, có sựhình thành, phát triển và biến đổi, từ đó làm cơ sở để giải thích về những biến đổi,
Trang 13hiện tượng tìm thấy ở các di tích, di vật dưới tác động của các yếu tố khác nhau.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
4
Trang 14- Phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khảo cổ học: điền dã, khai quật,
thống kê, mô tả, phân loại, so sánh… Đây là phương pháp chính để tác giả tiếp cậnnghiên cứu di tích
- Phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành: bên cạnh việc điền dã thu thập
thông tin, hiện vật từ các địa điểm khảo cổ học, tác giả sẽ sử dụng những nghiên cứucủa các ngành khác như Địa chất, Địa lý - Nhân văn, Dân tộc học, Văn hóa học, Xãhội học tại địa phương, thu thập những tài liệu, thông tin khác bổ trợ cho việcnghiên cứu Khảo cổ học
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả sẽ tập hợp những công trình
nghiên cứu về di tích Đầu Rằm từ các nguồn khác nhau như sách, chuyên khảo,
Kỷ yếu Hội nghị Những nội dung liên quan đến di tích này sẽ là nguồn tài liệu chính Ngoài ra, các tài liệu thứ cấp như những nghiên cứu về địa chất, môi trường hay các địa điểm có mối quan hệ với di tích Đầu Rằm cũng được phân tích làm cơ sởđể nghiên cứu, so sánh các di tích trong bối cảnh đồng đại hoặc lịch đại của chúng
- Một số khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài Luận văn:
+ Tư liệu vật thật (di vật) hiện lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh không đầy
đủ Bảo tàng hiện chỉ lưu giữ những hiện vật đặc biệt, như đồ đá, đồ đồng, đồ sắt…
và chỉ một số ít mảnh gốm Vì thế, khi tác giả quay trở lại Bảo tàng để nghiên cứu thìkhông có cơ hội được tiếp cận những di vật đã bị bỏ đi, đặc biệt là đồ gốm
+ Một số cuộc khai quật chưa có báo cáo đầy đủ (tiêu biểu là cuộc khai quật năm 2005) Thông tin về cuộc khai quật này mới chỉ có ở một số bài thông báo ngắn gọn, tản mát Chưa có những thống kê rõ ràng hay rất ít hình ảnh được công bố Vì vậy, những hình ảnh, bản vẽ, bản dập tác giả sử dụng trong Luận văn chủ yếu từ hai cuộc khai quật năm 1998 và 2009
+ Hiện trạng di tích đang dần bị phá hủy, xâm hại do dân địa phương khai thác đá làm vật liệu xây dựng, ảnh hưởng đến cảnh quan di tích hiện tại cũng như có một số khó khăn nhất định khi tác giả muốn quay lại nghiên cứu thêm
+ Dù đã được khảo sát, khai quật nhiều lần nhưng cho đến nay, chưa có một mẫu than, mẫu đất, mẫu đá, đồng,… nào được phân tích để xác định niên đại tuyệt
Trang 155
Trang 16cho những bằng chứng về môi trường, kỹ thuật, tư liệu bào tử phấn hoa ở di tích ĐầuRằm Tất cả những đánh giá về di tích này phần lớn dựa vào những so sánh, phân tích,phân loại loại hình học là chủ yếu
Tác giả đã cố gắng thu thập tư liệu từ các nguồn khác nhau, tuy nhiên, do nhữngkhó khăn nêu trên Luận văn vẫn còn thiếu nhiều thông tin để phân tích, so sánh,đối chiếu, đánh giá một cách toàn diện về di tích Đầu Rằm Tác giả sẽ cố gắnghoàn thiện trong những nghiên cứu tiếp theo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đóng góp những tư liệu quan trọng về mặt khoa học
về hệ thống di tích, di vật ở Đầu Rằm, từng bước phục dựng lại đời sống của cư dân cổxưa, góp phần bổ sung tư liệu mới cho ngành Khảo cổ học/Văn hóa/Lịch sử
- Ý nghĩa thực tiễn: hệ thống lại các di tích, di vật đã thu được trong các đợt điều tra, thám sát, khai quật, đưa ra những đặc trưng của các di tích, di vật đó, xác định niên đại và thử tìm hiểu các mối quan hệ văn hóa của di tích Đầu Rằm với các
di tích thời đại Kim khí ở vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam
Bên cạnh đó, Luận văn cũng là cơ sở khoa học cho việc định hướng bảo tồn
di tích, phát huy giá trị di sản văn hóa/lịch sử của di tích, làm phong phú thêm cho lịch sử địa phương, góp phần thúc đẩy việc thu hút du lịch ở vùng Vịnh Hạ Long
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3chương:
Chương 1 Tổng quan về di tích Đầu Rằm
Chương 2 Đặc trưng di tích và di vật của di tích Đầu Rằm
Chương 3 Vị trí Đầu Rằm trong các mối quan hệ
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH ĐẦU RẰM 1.1 Điều kiện tự nhiên
Di tích Đầu Rằm là tên gọi của một địa điểm khảo cổ học, dựa theo tên gọi của dãy núi Đầu Rằm, thuộc thôn 3, xã đảo Hoàng Tân, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (nay thuộc xã Hoàng Tân, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) Núi Đầu Rằm vốn là hai ngọn núi thấp, nằm hơi chếch nhau, tạo thành hình cánh cung nằm ven biển ở phía tây nam của đảo Hoàng Tân Phía Nam của dãy núi là vùng đầm nuôi tôm, phía bắc là vùng đầm và ruộng lúa, phía đông là thôn 2 và phía tây là vùng đầm nuôi tôm nhìn về các xã Tân An, Tiền An và Hà An của thị xã Quảng Yên Bao quanh khu di tích là sông Hàm Rồng ở phía bắc và sông Bến Giang ở phía tây nam
Di tích Đầu Rằm trên đảo Hoàng Tân nằm trong khu vực các đảo ven bờ thuộc vùng biển Đông Bắc Việt Nam, một khu vực được cấu trúc chủ yếu là các rặng núi đá vôi thấp trung bình 100m - 150m Đảo Hoàng Tân là một trong hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ tạo nên một phong cảnh rất đẹp ở Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Hạ Long Địa thế vùng bờ biển kéo dài từ Móng Cái đến quá Hải Phòng, cùng với sự phân bố dày đặc của các hòn đảo lớn nhỏ ấy đã tạo thành một vòng cung đặc sắc nằm ở địa đầu vịnh Bắc Bộ Với vị thế quan trọng ấy, vùng Đông Bắc nói chung và vùng duyên hải Đông Bắc nói riêng được coi là một trong những vùng lãnh thổ
“mở” nhất ở Việt Nam, do là con đường đi lại thường xuyên của các thương nhân trên con đường thương mại từ cổ đại tới nay, hay cũng chính là con đường đi chủ yếu của các cánh quân xâm lược phương Bắc trong lịch sử và cùng với đó là những
“chiến khu” của ta [49,tr 374] Do vậy, đảo Hoàng Tân cũng như khu vực cửa ngõ địa đầu tổ quốc này rất dễ dàng đón nhận những dòng chảy của sự giao lưu văn hóa
Là một trong hơn 2000 hòn đảo lớn nhỏ của tỉnh Quảng Ninh, đảo Hoàng Tân nằm vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền Bắc nhưng lại
có nét riêng của vùng núi ven biển, có một mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, một mùa
Trang 18đông lạnh, khô và ít mưa Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của khu vựcnày nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâmnghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác [4] Với những điều kiện về tự nhiên nhưtrên, cư dân trên đảo Hoàng Tân hiện tại chủ yếu làm nông nghiệp, ngư nghiệp vànuôi trồng thủy hải sản Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của tỉnh Quảng Ninh, đời sống của cư dân trên đảo Hoàng Tân vẫn còn khá thấp.
Khi nghiên cứu về môi trường sống của con người thời tiền- sơ sử ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung, các nhà khảo cổ học và các nhà địa chất đặc biệt quan tâm đến các pha dao động mực nước biển trong quá khứ Sự dao động của mực nước biển không chỉ là sự biến đổi về địa chất mà còn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cũng như các phương thức khai thác kinh tế của cư dân nơi đây Sự thay đổi địa hình, địa mạo do hoạt động địa chất này là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi nơi cư trú của con người và các sinh vật sinh sống trong khu vực
Các nghiên cứu về địa chất đã có những kết quả về sự dao động của mực nước biển trong thời Holocene ở khu vực Hạ Long như sau:
Sau đợt biển tiến Pleistocene muộn, nước biển rút ra xa về phía trung tâm Vịnh Bắc Bộ và dừng ở đường đẳng sâu 60m dưới mực nước biển hiện nay Khi đó, Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long trở thành vùng lục địa, chịu ảnh hưởng của quá trình xâm thực, rửa trôi của các dòng chảy mặt Kết quả của quá trình này là địa hình đá vôi rộng lớn của khu vực bị chia cắt thành nhiều khối riêng biệt [49, tr.3]
Sang giai đoạn, đầu Holocen sớm (10.000-8000 năm BP), quá trình biển tiếnFlandrian khiến nước dâng cao, thậm chí nước biển bao phủ cả vùng đồng bằngsông Hồng [67] Ở thời điểm mực biển cao cực đại ở vào khoảng 7.000 năm BP, tốcđộ dâng của mực nước biển vào khoảng 2-4 mm/năm và đến cuối Holocen sớm, tốcđộ dâng của mực nước biển chỉ còn khoảng 1-2 mm/năm và dần tiệm cận tới 0 [27]
Tại thời điểm khoảng 6000 năm BP, độ cao của mực nước biển đạt tới 3-4 m trên mực biển trung bình hiện tại Sau thời điểm này, mực nước biển bắt đầu rút xuống Vì thế, thời điểm 6.000 năm BP được nhiều học giả coi là ranh giới giữa
Trang 19Holocene sớm và muộn Riêng các vùng đá vôi Hạ Long, Ninh Bình, dựa trênnhững ngấn nước biển còn lại trên đá vôi, các nhà địa chất đã xác định, thời điểm5.000-6.000 năm BP, mực nước biển cao hơn hiện tại khoảng 5m-5,5m [27, 67].
Sau giai đoạn này là quá trình hạ thấp mực nước biển hay còn gọi là quátrình biển lùi (thời kỳ Holocen giữa-muộn) Tuy nhiên, quá trình này lại là một quátrình dao động tắt dần theo hình sin [27] Đến khoàng thời gian 4500 – 3000 năm
BP, đường bờ biển đã lùi xa về phía biển và dừng lại ở độ sâu 4-6m thấp hơn so vớimực nước biển hiện nay và cùng với nó là quá trình xâm thực phá hủy địa hình.Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long lại bị lục địa hóa dẫn đến địa hình đảo đá vôi tiếptục bị xâm thực, rửa trôi [49, tr 4-5] Thời điểm này cũng được cho là mốc đồngbằng sông Hồng được mở rộng
Tiếp theo, nước biển lại dâng cao trong giai đoạn 3000 – 2000 năm BP vàkhoảng 2000 năm BP, mực nước biển cao hơn 1.5m so với mực nước biển hiện tại[27, 49] Từ 2000 – 1000 năm BP, nước biển lại hạ thấp và từ 1000 năm BP, nướcbiển dâng lên dần dần, và đến nay vẫn tiếp tục dâng lên [49, tr 6]
Khi nghiên cứu những ngấn sóng ở Vịnh Hạ Long và khu vực Ninh Bình, trầm tích về thực vật ngập mặn ở Từ Sơn (Bắc Ninh), và từ những di chỉ khảo cổ học có tầng văn hoá chứa nhiều vỏ sò/hến ở Đa Bút (Thanh Hóa), nhóm nghiên cứu của Susumu Tanabe và cộng sự đã có những khái quát ban đầu về sự dao động của mực nước biển ở Bắc Việt Nam Theo đó, vào khoảng 8,000–7,000 năm BP, mực nước biển chạm tới mức hiện nay, sau đó dâng lên 2-3m cao hơn hiện nay vào khoảng 6,000 - 4,000 năm BP, và mực nước giảm dần và đạt mực nước biển hiện nay Quá trình này được chia thành 3 pha: pha I (9-6 cal kyr BP), pha II (6-4 cal Kyr BP), và pha III (4-0 cal kyr BP) Trong pha I, mực nước biển dâng cao từ thấp hơn 15m đến cao +3m so với mực nước biển hiện tại với tốc độ 6 mm/năm Trong pha II, mực nước biển giữ cân bằng, ổn định Pha III, mực nước biển bắt đầu hạ thấp từ cao hơn +3m xuống tới bằng với mực nước biển hiện tại với tốc độ trung bình là 0.6±0.1 mm/năm [67]
Trang 20Bên cạnh sự dao động của mực nước biển, những biến động của thiên nhiên,ngoài những điều kiện thuận lợi còn có không ít thách thức đối với cư dân vùngduyên hải như thiên tai (mưa rừng, bão bể) Những tác nhân này không chỉ tác độngtrực tiếp đến sự phân bố của các di tích khảo cổ học qua các thời kỳ, mà còn ảnhhưởng đến sự định cư, chuyển cư và phương thức sống của cư dân địa phương Di tích Đầu Rằm cũng không tránh khỏi quy luật đó.
Rất tiếc, cho đến nay, những nghiên cứu về bào tử phấn hoa trong các di tích thời đại Kim khí ở khu vực Vịnh Hạ Long nói chung và khu vực Đầu Rằm nói riêng hầu như chưa có nên chúng ta chưa có nhiều bằng chứng về thảm thực vật ở khu vực này
1.2 Lịch sử nghiên cứu
Những dấu tích đầu tiên của di tích Đầu Rằm được phát hiện lần đầu vào năm 1970, do người dân địa phương tìm được một số rìu bôn bằng đá và hiện vật đồ đồng, đồ gốm Sau đó, hàng loạt cuộc điều tra, khảo sát đã được tiến hành ở di tích này và các nhà nghiên cứu đã có những đánh giá ban đầu khác nhau về di tích Năm
1988, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hảo đã khảo sát và cho nhận định “Di chỉ Hoàng Tân (Đầu Rằm) thuộc văn hóa Hạ Long” [17, tr 30 - 31] Năm 1997, Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh và Viện Khảo cổ học đã điều tra, khảo sát khu vực này và cho rằng, có dấu tích cư trú của cư dân thời đại Kim khí giai đoạn sớm ở đây [11, tr 250 –252] Cũng trong năm đó, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh khảo sát tiếp di tích này và phát hiện vết cư trú trên vùng trũng yên ngựa trên núi Đầu Rằm nhỏ và cho rằng, có thể có hai lớp cư trú sớm muộn ở đây Đến đầu năm 1998, di tích lại được khảo sát một lần nữa và xác nhận có sự tồn tại của “loại hình biển của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng” [29, tr 182 - 184]
Di tích Đầu Rằm được khai quật ba lần (5/1998; 9/2005 và 9/2009) do Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh và Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh Quảng Ninh thực hiện
Trang 21Cuộc khai quật lần thứ nhất năm 1998
Tổng diện tích của đợt khai quật này là 120m2 với 4 hố chủ yếu nằm ở khu vực núi Đầu Rằm nhỏ: hố H1 50m2 (5m x 10m) được mở trên núi tại khu vực trũng yên ngựa Hố H2 có diện tích 40m2 (5m x 8m) nằm ở khu vực bãi cát chân núi phía nam Hố H3 diện tích 18m2 (3m x 6m) ở phía dưới chân cồn cát và hố H4 có diện tích 12m2 (3m x 4m) nằm ở sườn núi phía bắc Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn mở một số hố thám sát nhỏ ở khu vực bãi cát và trong hang ở khu vực núi Đầu Rằm lớn.Kết quả của cuộc khai quật này như sau:
Về địa tầng, chỉ có hố H1 và H2 có tầng văn hóa rõ ràng Hố H1 ở trên núi,
có tầng văn hóa dày nhất (từ 130cm - 180cm), gồm hai lớp văn hóa sớm muộn khác nhau, ngăn cách bởi lớp vô sinh là dải đất màu vàng dày từ 5cm - 10cm Lớp phía trên có màu nâu đen, xen lẫn nhiều vỏ điệp, hà và hiện vật đá, xương, đồ đồng, và
đồ gốm văn hóa Đông Sơn (phong cách Đường Cồ) Lớp phía dưới có màu nâu vàng, chứa nhiều hiện vật gồm đố đá, đồ gốm mang đặc trưng văn hóa Phùng Nguyên, Tràng Kênh Sinh thổ là nền đá ở nửa phía bắc hố, và lớp cát vàng ở nửa phía nam
Hố H2 có tầng văn hóa được cấu tạo bởi cát phù sa màu nâu sẫm, không có vỏ nhuyễn thể Tầng văn hóa dày trung bình 100cm, chứa hiện vật đá, xương và gốm, không có hiện vật đồng sinh thổ là cát màu vàng
Hố H3 không có dấu tích của tầng văn hóa, chỉ là lớp cát thuần màu nâu vàng, có 1 mộ cải táng hiện đại ở phía trên và 1 mộ táng giai đoạn Đông Sơn muộn ở gần sát sinh thổ Sinh thổ là cát màu vàng
Hố H4, không có dấu tích tầng văn hóa, chỉ có lớp đất màu đen xám lẫn sò điệp và một số than tro tập trung theo từng cụm Có khả năng đây là một bếp tạm thời của cư dân cổ Đầu Rằm [34, tr 5-7]
Về di tích, có hai loại được tìm thấy trong đợt khai quật này là: đống rác
bếp (nằm ở H1 và H4) và một mộ táng giai đoạn Đông Sơn, một mộ cải táng hiện đại ở hố H3
Trang 22Về di vật, cuộc khai quật năm 1998 thu được gần 1.000 hiện vật đá, xương,
đồng, đất nung và hơn 100.000 mảnh gốm vỡ (chưa kể hàng chục nghìn mành gốmvỡ vụn không phân loại được và hàng trăm phế cụ) Tổng số đồ đá tìm được là 466tiêu bản, gồm các loại công cụ lao động (công cụ ghè đẽo, rìu, bôn, búa, đục, dao,cưa, mũi khoan, bàn mài (bàn mài phẳng và bàn mài rãnh), bàn mài trong, chàynghiền, hòn ghè, hòn kê, bàn nghiền, mũi nhọn, đá ghè tròn), nhóm vũ khí (mũi tên,mũi lao), và nhóm đồ trang sức (hạt chuỗi, mảnh vòng, mảnh khuyên tai, lõi vòng)
Đồ xương có 145 tiêu bản, là những hiện vật xương do con người chế tạo và sửdụng từ các hiện vật xương, sừng thú, xương cá để tạo thành những mũi nhọn (90tiêu bản từ xương cá, 7 tiêu bản từ sừng thú, xương ống của thú), và đồ trang sức(hạt chuỗi từ đốt sống cá, đồ trang sức bằng sừng, răng thú) và vũ khí (mũi tên bằngxương thú) Đồ đồng có 150 hiện vật bao gồm các loại công cụ sản xuất (rìu xòecân, rìu xéo, đục vũm, mũi nhọn và lưỡi câu), vũ khí (mũi tên, mũi giáo và mũi lao),
đồ trang sức (vòng tay, khuyên tai, trâm), nhạc cụ (chuông nhỏ và lục lạc), dụng cụ(xanh đồng) và các mảnh đồng Đồ sắt rất ít, chỉ có 2 hiện vật, gồm 1 cuốc hình chữ
U và 1 mũi nhọn Đồ chì (?) gồm 3 chiếc khuyên tai Đồ gốm có 129.157 mảnh,gồm gốm kiểu Phùng Nguyên (193 mảnh), gốm kiểu Tràng Kênh (7.312 mảnh),121.619 mảnh gốm kiểu Đường Cồ (văn hóa Đông Sơn), 34 mảnh gốm Hán và 380mảnh sành sứ niên đại từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII Ngoài ra, đồ đất nung có cácloại như dọi se sợi, chì lưới, quai gốm, bi gốm, cục thổ hoàng, vòng gốm (?), vàmảnh gốm ghè tròn
Các hiện vật chủ yếu được tìm thấy trong hố H1 trên núi Đầu Rằm nhỏ và hố H2 ở khu vực bãi cát Một số ít hiện vật đá, đồng được tìm thấy trong mộ táng ở hố H3
và hố rác bếp ở hố H1
Đánh giá về đợt khai quật này, các nhà nghiên cứu cho rằng, di tích Đầu Rằm
là một khu di chỉ cư trú thuộc thời đại Kim khí Cư dân cổ nơi đây có quá trình tụ
cư khá lâu dài, ở hai giai đoạn sớm muộn khác nhau: giai đoạn sớm tương đương với nhóm cư dân Tràng Kênh, hay nói cách khác, có khả năng tương đương với giai
Trang 23đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm (3.300 - 2.700 BP), giai đoạn muộnthuộc văn hóa Đông Sơn (2.500 - 2.000 BP) [34].
Cuộc khai quật lần thứ hai năm 2005
Đợt khai quật này, các nhà nghiên cứu đã mở 2 hố khai quật và 3 hố thám sát Hố H1có diện tích 10m2 (5m x 2m) nằm trong khu vườn bạch đàn của người dân, cách chân núi Đầu Rằm lớn khoảng 35m Hố H2 nằm ở khu cồn cát, dưới chân núi
đá vôi, có diện tích 6m2 (3m x 2m) nằm cách hố H1 khoảng 8m về phía tây, thựcchất là hố thám sát 1 (HTS1) mở rộng Hố thám sát 2 (HTS2) có diện tích 1m2 nằm ápsát chân phía đông nam của núi Đầu Rằm nhỏ, phía tây nam cách hố H3 (năm 1998) khoảng 30m Hố thám sát 3 (HTS3) có diện tích 2m2 ở trên núi đá vôi, ngay sát góc đông nam của hố H1 (năm 1998)
Về địa tầng, các nhà nghiên cứu cho rằng, khu vực bãi cát phía dưới chân núi
Đầu Rằm, tầng văn hóa khá thuần nhất (dày 20cm - 40cm (H2) và 30cm - 50cm (H1)) Khu vực trũng yên ngựa ở núi Đầu Rằm nhỏ tầng văn hóa dày từ 150 cm -160cm với hai giai đoạn văn hóa sớm muộn Giai đoạn sớm là lớp đất sẫm nâu dày 20cm - 50cm với các di vật thu được là những mảnh gốm xốp, gốm chắc và rất nhiều hiện vật đá Giai đoạn văn hóa muộn dày từ 90cm - 125cm, là lớp đất bở rời màu xám đen, đen ken dày đặc đá vụn, mảnh gốm vỡ và vỏ nhuyễn thể Di vật thu được là một số hiện vật đồng, đá và các mảnh gốm mang phong cách Đường Cồ
Về di tích: xuất lộ 1 mộ vò Hán có kích thước lớn ở độ sâu 20 - 25cm đến
160cm, bị vỡ, không có di cốt Đồ tùy táng là 1 chiếc bát sứ Hán, men ngả vàng
Về di vật: Di vật tìm được khá phong phú, bao gồm đồ đá, đồ đồng và đồ
gốm, trong đó mỗi khu vực lại có sự phân bố hiện vật khác nhau Khu vực gần chân núi Đầu Rằm lớn thì sưu tập hiện vật đá là chủ yếu, bao gồm khá nhiều mảnh cưa
đá, bàn mài, đồ trang sức (vòng hình chữ T, hình chữ nhật, hạt chuỗi), đá nguyên liệu nephrit có dấu cưa, lõi vòng Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy 9 mảnh đồng và 4550 mảnh gốm xốp, với khá nhiều mảnh miệng mái Cũng trong khu vực này, khá nhiều mảnh gốm Hán văn in ô vuông hoặc những mảnh bán sứ đã được tìm thấy
Trang 24Trong khi đó, khu vực phía chân núi Đầu Rằm nhỏ có các hiện vật đá vàgốm Đồ đá bao gồm mũi tên đá, bàn mài, lưỡi cưa, lõi vòng… Đồ gốm có 243mảnh gốm xốp Đầu Rằm và một số mảnh gốm Hán và sành vỡ.
Khu vực trên đỉnh núi đá vôi của núi Đầu Rằm nhỏ (khu vực yên ngựa) thu được nhiều hiện vật nhất, bao gồm: hiện vật đồng (lưỡi câu, sợi đồng, mũi nhọn, mũi tên, vòng, mảnh đồng dẹt có lỗ và các mảnh đồng nhỏ), hiện vật đá (bàn mài, rìu, đục, cưa, mũi khoan, phác vật mũi khoan, đá nguyên liệu nephrit có dấu cưa, dấu mài, bàn mài, mảnh tước…) Đồ gốm gồm một số ít gốm Phùng Nguyên, gốm xốp và đại đa số là gốm Đường Cồ Đồ xương có 6kg, và 27,5kg nhuyễn thể Đáng lưu ý là trong đất sàng lọc ở hố đào này, có tới 11.318 hiện vật, bao gồm các mảnh cưa đá, bàn mài, đá nguyên liệu, mảnh vảy tước, mảnh đá có dấu cưa, bàn mài các loại, mảnh khuyên tai, phác vật mũi khoan, đá có lỗ khoan, lõi vòng, mảnh đồng, dây đồng và công cụ xương
Nhận xét về đợt khai quật này, các nhà nghiên cứu cho rằng, di tích Đầu Rằm đã tồn tại hai giai đoạn văn hóa: giai đoạn sớm có rất nhiều mảnh gốm xốp, chắc và hiện vật đá Đây là đặc trưng của một di chỉ - xưởng, và không khác gì di chỉ Tràng Kênh (Hải Phòng) Giai đoạn muộn gồm các mảnh đồng, đá và các mảnh gốm phong cách Đường Cồ đại diện cho giai đoạn Đông Sơn, mang dáng dấp một xưởng quy mô nhỏ để chế tạo lưỡi câu đồng [8, tr 152-155]
Cuộc khai quật lần thứ ba năm 2009
Cuộc khai quật này được thực hiện vào tháng 9/2009 do Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh tiến hành Diện tích thăm dò, khai quật là 100m2 bao gồm 6 hố: hố H1 20m2 (2m x 10m); hố H2 20m2
(2m x 10m), hố H3 16m2 (2m x 8m), hố H4 40m2 (8m x 5m), hố H5 2m2 (2m x 1m)
và hố H6 2m2 (2m x 1m) Trong đó, hố H1 và H2 nằm ở khu vực bãi cát dưới chân núi Đầu Rằm nhỏ (nằm ở rìa ngoài bãi cát - nay là nghĩa trang hiện đại); hố H3 nằm ở rìa ngoài của bãi cát và sát đường liên thôn; hố H4 nằm trong khu vực bãi cát và ở góc tây bắc núi Đầu Rằm nhỏ (cuối dãy núi Đầu Rằm nhỏ); hố H5 và hố H6 nằm trong vườn bạch đàn gia đình nhà ông Thìn [19, 54]
Về địa tầng: Lớp mặt: là lớp đất pha cát mịn, cát chiếm tỷ lệ lớn có màu nâu
tối, nâu, nâu sẫm, màu vàng hơi đỏ Tầng văn hoá gồm hai giai đoạn sớm, muộn
Trang 25Giai đoạn sớm: Đất pha cát mịn, cát chiếm tỷ lệ lớn Đất màu nâu tối, nâu, nâu sẫm,nâu hơi đỏ, nâu hơi đỏ tối, đỏ hơi vàng, nâu vàng và màu nâu hơi vàng tối Ngoạitrừ địa tầng hố H1 dày trung bình từ 30cm - 80cm là ken dày mảnh vỏ nhuyễn thể.Trong tầng văn hoá ken dày di vật khảo cổ học (đồ đá, đồ gốm, đồ đồng, xương và
di tích mộ táng ) Giai đoạn muộn: Cát màu nâu hơi đỏ tối và màu đỏ hơi vàng; đấtpha cát mịn màu nâu tối, cát chiếm tỷ lệ lớn Trong tầng văn hóa ken dày di vật gồmcác loại như đồ đá, đồ gốm, đồ đồng và di tích mộ táng Sinh thổ là lớp cát mịn màuvàng hơi đỏ, đỏ hơi vàng, vàng và màu nâu xám
Về di tích: cuộc khai quật này đã tìm thấy tổng số 16 mộ táng, trong đó có 1
mộ thuộc giai đoạn sớm và 15 mộ thuộc giai đoạn muộn Điều đặc biệt là ngôi mộ duy nhất ở giai đoạn sớm còn di cốt, trong khi những ngôi mộ thuộc giai đoạn muộn được chôn vào tầng văn hóa của giai đoạn sớm và tất cả không còn dấu tích di cốt
Về di vật: Di vật tìm được trong đợt khai quật này khá nhiều, được chia
thành hai giai đoạn sớm – muộn Giai đoạn sớm gồm có công cụ đá đá (rìu, bôn, đục, bàn mài, lưỡi cưa, chày nghiền, hòn nghiền, hòn ghè, hòn kê, đá có lỗ vũm, hòn nghiền/đá có lỗ vũm, hòn kê/đá có lỗ vũm, đá ghè tròn, chì lưới…), đồ trang sức
đá (vòng, hạt chuỗi, phác vật vòng, lõi vòng/lõi khuyên tai/nhẫn), đá nguyên liệu (dùng để chế tác mũi khoan, mảnh lưỡi, đốc rìu bôn…), đồ gốm (một số ít mảnhgốm kiểu Phùng Nguyên, Mán Bạc còn đại đa số là gốm xốp), bi gốm và vỏ nhuyễn thể (tàn tích thức ăn) Giai đoạn muộn có các hiện vật gồm: đồ đồng (rìu, lưỡi câu, mảnh thạp, mảnh chân bình), vũ khí đồng (giáo, lao, hộ tâm phiến), trang sức đồng (vòng tay); đồ sắt (mai); đồ gốm gồm 10 mảnh gốm phong cách Đường Cồ Hầu hết di vật ở giai đoạn muộn đều là đồ tùy táng được tìm thấy trong những mộ táng giai đoạn muộn được chôn vào tầng văn hóa của giai đoạn sớm [19; 20]
Đánh giá về di tích Đầu Rằm, các nhà khai quật cho rằng, đã bắt đầu tìm thấy dấu hiệu nguồn gốc của Đầu Rằm qua văn hóa Hạ Long thông qua loại gốm miệng mái sơ khai, miệng đứng, miệng khum gãy, miệng loe ở văn hóa Hạ Long và có khả năng nhóm di tích Tràng Kênh - Đầu Rằm và một số di tích khác (hang Bồ Chuyến, Núi Châm Chót, Mả Chuông, Hang Song) có nguồn gốc từ văn hóa Hạ Long bản địa Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng “giai đoạn sớm di tích Tràng Kênh, Đầu Rằm, núi Châm Chót, Hang Song, Mả Chuông và hang Bồ Chuyến
Trang 26không phải là những địa điểm đánh dấu sự lan tỏa của văn hóa Phùng Nguyên raphía biển, mà yếu tố Phùng Nguyên (muộn), kiểu Từ Sơn, kiểu Mán Bạc có mặt ởnhóm di tích này chỉ mang tính chất giao lưu - trao đổi” Ở giai đoạn muộn, nhữngngười khai quật cũng đồng ý với ý kiến của các nhà khai quật năm 1998 rằng “Đâymới đích thực là sự ‘lan rộng ra phía biển’ của văn hóa Đông Sơn từ đồng bằngSông Hồng, thậm chí từ đồng bằng Sông Mã, Sông Cả" Họ cũng cho rằng “có thểđã đến lúc xác lập một nền văn hóa mới mang tên văn hóa Tràng Kênh với nhữngđặc trưng văn hóa, phạm vi phân bố ở vùng ven biển Đông Bắc” Niên đại văn hóanày gồm 2 giai đoạn sớm và muộn Giai đoạn sớm có niên đại khoảng 3400 BP,hoặc sớm hơn một chút; giai đoạn muộn khoảng 2000 BP - 2700 BP [20].
Tiểu kết chương 1
Di tích Đầu Rằm là một trong những di tích khảo cổ học nằm ở vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam, chịu ảnh hưởng lớn từ những sự thay đổi về địa chất, địa mạo, đặc biệt là sự dao động của mực nước biển qua mỗi thời kỳ Sự thay đổi này không chỉ tác động đáng kể lên diện mạo di tích, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự tụ
cư, đời sống, sinh hoạt của cư dân cổ Đầu Rằm nói riêng và cư dân vùng duyên hải nói chung
Qua ba cuộc khai quật và nhiều đợt khảo sát, các nhà nghiên cứu đã thu được ở
di tích Đầu Rằm một khối lượng di tích, di vật rất lớn Đa số các ý kiến, nhất là ý kiến của những người khai quật qua các mùa, thì di tích Đầu Rằm có hai giai đoạn
rõ ràng, giai đoạn sớm tương đương với văn hóa Phùng Nguyên và giai đoạn muộn tương đương với lớp văn hóa Đông Sơn, loại hình Đường Cồ Tuy nhiên, vẫn chưa
có sự thống nhất cao ở một số nhận định về di tích này do những nhận thức từ khối
tư liệu ở mỗi đợt khai quật hay khảo sát có sự khác biệt Điều này cũng dễ hiểu, vì mỗi đợt khai quật, các nhà nghiên cứu chỉ có thể đào được những hố nhỏ, ở những
vị trí khác nhau, do đó, tư liệu thu được cũng cho kết quả không giống nhau Vì vậy, rất cần có những công trình tổng hợp lại các dữ liệu này, phân tích, so sánh để
có cái nhìn tổng quan nhất về di tích
Trang 27Chương 2 ĐẶC TRƯNG DI TÍCH VÀ DI VẬT CỦA DI TÍCH ĐẦU RẰM
di vật thuộc giai đoạn Đông Sơn điển hình đến muộn [8; 34] Cần lưu ý là, ở hố khai quật H1 năm 1998, “ở độ sâu 100cm - 120cm của hai lớp đất này có một lớp đất màu vàng rất mỏng (chỗ dày nhất khoảng 10cm, chỗ mỏng nhất khoảng 5cm), chạy không liên tục từ bắc, nơi tiếp giáp những tảng đá xô - xuống nam của hố H1 Trong lớp đất này hầu như không có hiện vật, có thể coi là lớp vô sinh, ngăn cách lớp đất màu nâu sẫm và lớp đất màu nâu vàng” [34, tr 5]
- Khu vực chân núi phía nam núi Đầu Rằm nhỏ là một bãi cát khá rộng, cũng
có hai giai đoạn sớm muộn Lớp đất giai đoạn sớm dày từ 14cm - 186cm, phân bố rộng khắp bãi cát, chứa các di vật và 1 mộ táng còn di cốt, thuộc giai đoạn Phùng Nguyên – Tràng Kênh Lớp đất giai đoạn muộn dày từ 8cm - 90cm nhưng không có vết tích cư trú, chỉ có những mộ táng thuộc giai đoạn Đông Sơn Cư dân Đông Sơn chôn người quá cố vào lớp văn hóa giai đoạn sớm Đặc biệt, khu vực cuối bãi cát này (phía gần đầm nuôi tôm hiện tại) không có dấu tích cư trú của giai đoạn sớm mà chỉ cỏ 1 mộ Đông Sơn giai đoạn muộn [19; 20; 34]
- Khu vực sườn núi phía bắc núi Đầu Rằm nhỏ không có vết tích cư trú, chỉ
có dấu tích một khu bếp tạm thời hoặc nơi chế tác công cụ tạm thời của cư dân giai đoạn Đông Sơn [34]
Trang 28- Khu vực gần chân núi Đầu Rằm lớn tầng văn hóa dày 60cm - 80cm, phầnlớn là vết tích của giai đoạn sớm Giai đoạn muộn có tầng văn hóa mỏng, chứa một
số mảnh đồng và 1 mộ vò kiểu Hán [8]
Về không gian sinh sống, nếu như ở giai đoạn sớm, cư dân Đầu Rằm sinhsống chủ yếu ở khu vực bãi cát phía nam chân núi Đầu Rằm nhỏ, một giai đoạnkhông dài ở khu vực “trũng yên ngựa” trên núi Đầu Rằm nhỏ và khu vực chân núiĐầu Rằm lớn thì không gian sống của cư dân giai đoạn muộn (giai đoạn Đông Sơn)lại thu hẹp rất nhiều Họ sinh sống chủ yếu trên vùng “trũng yên ngựa” ở núi ĐầuRằm nhỏ trong thời gian khá dài, chôn người chết ở khu vực bãi cát phía nam chânnúi Đầu Rằm nhỏ, có một bếp hoặc khu chế tác công cụ tạm thời ở khu vực sườnnúi phía bắc núi Đầu Rằm nhỏ và một số ít hoạt động ở chân núi Đầu Rằm lớn Có thểthấy, so với giai đoạn trước, người Đầu Rằm giai đoạn Đông Sơn đã có tổ chứckhông gian sinh tồn khá chặt chẽ, thể hiện ở việc tách biệt hẳn khu cư trú, khu nghĩađịa và khu chế tác công cụ/bếp
2.1.2 Các di tích
Có ba loại di tích đặc trưng trong di tích Đầu Rằm: di tích đống rác bếp, mộ táng và di tích xương động vật, vỏ nhuyễn thể
2.1.2.1 Di tích đống rác bếp
Có một di tích đống rác bếp, nằm ở phần trũng núi Đầu Rằm nhỏ và lan xuống khu vực sườn núi, nằm trong hố H4, khai quật năm 1998 Trong hố không tích tụ tầng văn hóa mà chỉ thấy than tro và một vài mảnh gốm Xung quanh than tro có nhiều vỏ nhuyễn thể (500 mảnh vỏ nhuyễn thể và 50kg xương cá, xương thú…), không có vết tích cư trú Những người tham gia khai quật lần này cho rằng
Có thể đây là một khu bếp tạm thời của người Đầu Rằm cổ, nhưng cũng có thể là nơi chế tác công cụ của họ [34, tr 7]
2.1.2.2 Di tích mộ táng
Mộ táng trong di tích Đầu Rằm được phát hiện khá nhiều qua 3 mùa khai quật Chúng phân bố chủ yếu ở phần bãi cát dưới chân núi Đầu Rằm nhỏ Hiện tại, mớichỉ có 1 mộ thuộc giai đoạn sớm được tìm thấy ở hố H2 năm 2009, còn lại là
Trang 29các mộ thuộc giai đoạn muộn, chôn lẫn vào tầng văn hóa của giai đoạn sớm [8; 19;20; 34; 35; 37].
Mộ táng giai đoạn sớm: [Ba 20-21]
Chỉ có duy nhất một mộ xuất lộ trong lớp văn hóa này, xuất hiện trong
hố H2, đợt khai quật năm 2009 Mộ xuất lộ ở lớp 12, ở độ sâu -82cm so vớivách bắc Kích thước mộ: chiều dài 130cm, rộng: 110cm Di cốt chỉ còn lại mộtphần xương hàm dưới, 5 chiếc răng (2 răng bên trái M1, M2 và 3 răng bên phảiP2, M1, M2) trong đó 4 răng còn dính trên cung hàm còn 1 răng bị rời ra ngoài
và một số đoạn xương khác Căn cứ theo phần còn lại của xương hàm dưới thì
có mặt cá thể nhìn về phía bắc và di cốt có thể được chôn theo hướng tây bắc
1500 - đông nam 2400 [19; 20; 54]
Nghiên cứu phần di cốt này, các nhà nhân chủng học nhận thấy: trong số 5 chiếc răng tìm được thì có 2 răng bên trái M1, M2 và 3 răng bên phải P2, M1, M2, trong đó 4 răng còn dính trên cung hàm còn 1 răng bị rời ra ngoài Trên cung hàm còn thấy có huyệt răng của các răng I1, I2, C’, P1, P2 ở bên trái, I1, I2, C’, P1 ở bên phải nhưng không phát hiện răng ở trong mộ Đây có thể là di cốt của một nam giới, khoảng 20 - 30 tuổi [33]
Mộ táng giai đoạn muộn [Ba 22-29]:
Có tổng số 17 mộ ở giai đoạn muộn được tìm thấy, gồm: 01 mộ ở cuộc khai quật năm 1998; 1 mộ vò giai đoạn Hán (cuộc khai quật năm 2005) và 15 mộ ở cuộc khai quật năm 2009 Riêng trong cuộc khai quật năm 2009, những người khai quật đã sử dụng thuật ngữ “di tích” khi mô tả và chứng minh các mộ táng này Để thống nhất, tác giả xin được sử dụng thuật ngữ “mộ” để dễ theo dõi
Có 5 mộ táng trong hố H3 (năm 2009), điểm chung là có màu đất khác hẳn xung quanh
Mộ thứ nhất (09.H3.F1): xuất lộ ở lớp 5, ở độ sâu -58cm, có kích thước: chiều dài trong hố: 114cm, rộng: 120cm, sâu 26cm - 32cm Đồ tùy táng gồm có: 3 bàn mài trong, 1 hòn nghiền có lỗ vũm bằng đá, 1 mũi giáo và 1 mũi lao bằng đồng
Trang 30Mộ thứ hai (09.H3.F2): xuất lộ ở lớp 6, ở độ sâu -58cm, có kích thước: chiềudài trong hố: 70cm, rộng 164cm, sâu 18cm - 22cm Đồ tùy táng gồm 3 mảnh kimloại có thể là mảnh vỡ của loại hình thạp hoặc thố (?).
Mộ thứ ba (09.H3.F3): xuất lộ ở lớp 6, ở độ sâu -58cm Mộ có kích thước:chiều dài trong hố: 106cm, rộng: 84cm, sâu 8cm - 10cm Đồ tùy táng là một mảnh vòng đá
Mộ thứ tư (09.H3.F4): xuất lộ ở lớp 6, ở độ sâu -59cm Mộ có kích thước: chiều dài trong hố: 204cm, rộng 16cm - 56cm, sâu 20cm - 30cm Trong mộ không
có đồ tùy táng
Mộ thứ năm (09.H3.F5): xuất lộ ở lớp 6, ở độ sâu 59cm Mộ có kích thước: dài trong hố: 84cm, rộng: 80cm, sâu 15cm - 30cm Không có đồ tùy táng
Mộ táng trong hố H4 năm 2009 gồm 10 mộ, bao gồm:
Mộ thứ nhất (09.H4.F1): mộ xuất lộ ở lớp 8, ở độ sâu -70cm, có kích thước: dài:174cm, rộng: 82cm Đồ tùy táng gồm 1 bàn mài rãnh, 2 mảnh thạp đồng, 1 chiếccuốc (sắt)
Mộ thứ hai (09.H4.F2): xuất lộ ở lớp 8, độ sâu -71cm, có kích thước: dài trong hố: 206cm, rộng: 84cm Đồ tùy táng gồm 1 chiếc lõi vòng, 2 bàn mài trong, 1 công cụ đá ghè tròn và 2 mảnh thạp đồng
Mộ thứ ba (09.H4.F3): xuất lộ ở lớp 12, ở độ sâu -115cm, có kích thước: dài trong hố: 104cm, rộng: 64cm Đồ tùy táng là 1 mảnh vòng đá
Mộ thứ tư (09.H4.F4): xuất lộ ở lớp 12, ở độ sâu -115cm, có kích thước: dài170cm, rộng: 94cm Đồ tùy táng là 1 chiếc lõi vòng đá, 1 mảnh chân bình bằngđồng
Mộ thứ năm (09.H4.F5): xuất lộ ở lớp 15, ở độ sâu -160cm, có kích thước: dài trong hố: 90cm, rộng: 70cm Đồ tùy táng gồm: đồ đá (1 mảnh vòng, 1 lõi vòng/khuyên); đồ đồng (1 rìu lưỡi lệch, 1 rìu xoè cân và 7 mảnh chân bình)
Mộ thứ sáu (09.H4.F6): xuất lộ ở lớp 15, ở độ sâu -162cm, có kích thước: dài: 176cm, rộng: 84cm Đồ tùy táng gồm 1 rìu đồng lưỡi lệch và 1 mảnh thạp
Trang 31Mộ thứ bảy (09.H4.F7): xuất lộ ở lớp 16, ở độ sâu -173cm, có kích thước:dài: 194cm; rộng: 90cm Đồ tùy táng là 2 mảnh hộ tấm phiến.
Mộ thứ tám (09.H4.F8): xuất lộ ở lớp 12, ở độ sâu -130cm, có kích thước:dài: 140cm, rộng: 96cm Đồ tùy táng là 1 mảnh vòng đá
Mộ thứ chín (09.H4.F9): xuất lộ ở lớp 14, ở độ sâu -143cm, có kích thước: dài trong hố: 102cm, rộng: 142cm Đồ tùy táng gồm 1 chiếc quai thạp đồng
Mộ thứ mười (09.H4.F10): xuất lộ ở lớp 14, ở độ sâu -142cm, có kích thước: dài trong hố: 60cm, rộng: 84cm Đồ tùy táng gồm 1 mảnh hộ tâm phiến
Mộ thứ mười một (09.H4.F11): xuất lộ ở lớp 16, ở dộ sâu -167cm, có kíchthước: dài: 170cm, rộng: 82cm Đồ tùy táng gồm: 1 chiếc vòng đá và 3 mảnh thạpđồng [19;20; 54]
Mộ táng được phát hiện trong hố khai quật năm 1998: mộ xuất lộ trong hố H3, tại khu vực cuối bãi cát dưới chân núi Đầu Rằm nhỏ Khu vực này không có dấu tầng văn hóa Mộ chỉ còn hiện vật chôn, không còn di cốt Đồ tùy táng trong mộ gồm 1 chiếc xanh đồng có quai mang phong cách Hán được đặt úp, bên trong xanh đồng có 3 mũi giáo đặc trưng Đông Sơn bị bẻ phần thân và chuôi, bên cạnh đó là 2 rìu đồng lưỡi xòe cân Những người khai quật dựa vào nhóm hiện vật này cho rằng,đây là mộ táng của cư dân giai đoạn văn hóa Đông Sơn phát triển, có giao lưu với
cư dân Hoa Nam (Trung Quốc) và tương đồng với lớp cư dân giai đoạn muộn của di chỉ Đầu Rằm [34, tr 7]
Mộ táng giai đoạn Hán: mộ xuất lộ trong hố khai quật 2 (05 ĐR.H2), là một mộ vò xuất lộ từ độ sâu 20cm - 30cm, xuống đến 160cm Vò bị vỡ thành nhiều mảnh lớn nhưng có thể gắn chắp lại được Vò có đáy bằng, miệng loe cong, cổ ngắn, màu đỏ nhạt, đk miệng khoảng 60cm, thân cao, được trang trí văn in ô trám rất thô, chất liệu gốm cũng rất thô, pha nhiều đá cứng màu sáng trắng Trong lòng
vò gốm còn có 1 chiếc bát sứ Hán, men ngả vàng, đk 15cm, chân đế thấp Trong vò không còn di cốt
Xung quanh khu vực vò gốm này còn có rất nhiều mảnh gốm Hán văn in ô vuông hoặc bán sứ [8, tr 153]
Trang 32Như vậy ở khu vực núi và chân núi Đầu Rằm lớn - Đầu Rằm nhỏ, các nhànghiên cứu đã phát hiện rất nhiều mộ táng, tuy nhiên, chỉ duy nhất 1 ngôi mộ còn dicốt Giải thích tình trạng này, có người cho rằng, do cấu trúc đất ở di tích Đầu Rằm
từ khu vực "yên ngựa" trên núi đầu rằm (nhỏ) đến khu vực bãi cát dưới chân núi vàkhu vực bãi cát đầu núi Đầu Rằm (lớn) có thể do trong đất độ Ph thấp nên khó bảo tồn được di cốt [20]
Ngoài ra, vào tháng 4/1998, các nhà nghiên cứu nhân chủng đã nhận được một phần di cốt được chôn trong một hang gần địa điểm Đầu Rằm, cùng với lõi vòng đá và đồ gốm Di cốt còn lại là một mảnh xương hàm dưới không nguyên vẹn,
có thể là của một nam giới khoảng 25 - 30 tuổi Về đặc điểm nhân chủng, khi so sánh với những xương hàm của người Soi Nhụ, Cái Bèo (được cho là có đặc điểm của người Australo Melanesien) thì xương hàm dưới ở đây nhỏ hơn nhiều, mang dáng dấp của chủng Australoid và Mongoloid [52] Mặc dù không nằm trong khu vực của di tích Đầu Rằm nhưng đây là những tư liệu rất quan trọng để có thể so sánh, nghiên cứu di tích Đầu Rằm trong các mối quan hệ với các nhóm cư dân khu vực lân cận
2.1.2.3 Di tích xương động vật, sừng, vỏ nhuyễn thể
Đồ xương, sừng, vỏ nhuyễn thể xuất hiện chủ yếu ở khu vực “trũng yên ngựa” trên núi Đầu Rằm nhỏ, xuất hiện nhiều trong lớp văn hóa giai đoạn muộn, đặc biệt là khu vực đống rác bếp Ngoài ra, chúng còn xuất hiện trong hố khai quật ở khu vực bãi cát sát chân núi Đầu Rằm nhỏ (thuộc giai đoạn sớm)
Ở giai đoạn sớm, các di tích xương động vật, vỏ nhuyễn thể hầu như xuất hiện ở trong hố 09.H1- hố khai quật nằm trên bãi cát nhưng sát chân núi Đầu Rằm nhỏ Các thống kê cho thấy, có 1.464 mảnh vỏ nhuyễn thể nước ngọt, 2.000 mảnh vỏ nhuyễn thể nước mặn và nước lợ, bao gồm nhiều loại khác nhau như: ốc vòi, ốc nón, ốc điếu, ốc phao, ốc sen, ốc rỗ đá, ốc đẽ, ốc hương, ốc hoa văn, ngao, ngao tây,
sò huyết, sò gạo, chăm trăm, hà cồn, hà núi… Bên cạnh đó, nhiều mảnh xương, răng động vật và 1kg xương cá cũng được tìm thấy
Trang 33Giai đoạn muộn: các di tích xương động vật và vỏ nhuyễn thể xuất hiện ở tất
cả các lớp, và xuất hiện dày đặc ở khu vực “đống rác bếp” Những người khai quậtnăm 1998 đã thống kê rằng, chỉ trong lớp đất văn hóa dày 20cm đã tìm thấy hơn
500 vỏ nhuyễn thể các loại, 55kg các loại xương sừng động vật, xương cá, mairùa… Các nhà nghiên cứu xương răng động vật đã chỉ ra rằng: "Hầu hết nhữngxương này đã bị đập vỡ để lấy tủy Trên nhiều xương còn lưu lại vết lửa cháy hoặcvết dao chặt vào xương khi người xưa róc thịt Kết quả giám định được như sau:Lớp thú (Mammalia); Họ lợn (Suidea); Lợn nhà (Sus scrofa dom.); Lợn rừng (Susscrofa); Họ hươu (Cervidae); Hươu (Cervus sp.); Hoẵng (Muntiacus muntjak);
Họ bò (Bovidae); Dê (Carpricornis sumatraensis); Họ chó (Canidae); Chó nhà(Canis familiaris); Họ khỉ (Cercopithecidae); Khỉ (Macaca sp.); Lớp chim(Aves); Gà (Gallus?); Lớp bò sát (Reptilia); Rùa biển chưa định loại; Lớp cá (Pices)gồm nhiều loài cá chưa xác định, trong đó có cá mập, cá sạo Ngoài ra, trong di chỉ
có rất nhiều vỏ trai ốc nước mặn do người xưa thu thập về ăn và bỏ lại” [30, tr.29-30]
Có thể thấy, ở giai đoạn này, các loại động vật nuôi xuất hiện khá nhiều như lợn nhà, chó nhà, dê, gà… trong đó lợn và chó là hai loài được nuôi nhiều nhất Điểm thú vị là “Trên nhiều mảnh xương chó, có thể thấy rõ các vết chặt hoặc đập gãy răng, đập vỡ sọ điều đó chứng tỏ người Đầu Rằm xưa không chỉ nuôi chó để giữ nhà hoặc theo người đi biển mà còn ăn cả thịt chó nữa’ [30, tr.29-30]
Các thống kê cũng cho thấy, tỉ lệ xương các loại loại thú rừng như khỉ, hươu, hoẵng chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp so với tỉ lệ xương động vật nuôi
Ngoài ra, một số lượng khá lớn các loại xương, sừng động vật, xương cá cũng được cư dân cổ Đầu Rằm sử dụng làm công cụ và đồ trang sức Những hiện vật này tác giả sẽ trình bày ở phần sau
2.2 Đặc trưng di vật
2.2.1 Đồ đá
2.2.1.1 Nguồn nguyên liệu
Chất liệu chính ở hiện vật đá Đầu Rằm gồm đá ngọc nephrite, quartzite, spilite,
jasper, bazalt, diabazer, sa thạch và cuội sông… Trong đó, tùy từng loại đá
Trang 34mà người Đầu Rằm có những chế tác công cụ phù hợp Cụ thể, đá nephrite,quartzite, spilite được sử dụng làm các loại rìu, bôn, đục, búa… có kích thước to,vừa và nhỏ và đặc biệt nephrite là chất liệu chính để chế tác các loại trang sức đánhư vòng tay, khuyên tai, nhẫn; đá jasper có độ cứng rất cao được chọn để chế tácmũi khoan; sa thạch cát kết được sử dụng làm lưỡi cưa, bàn mài, …
Khi nghiên cứu nguồn gốc các nguồn nguyên liệu chế tác đá ở Đầu Rằm, nhiều người cho rằng, với tính chất là một xưởng chế tác đá thì khả năng cao người Đầu Rằm cổ đã khai thác nguyên liệu ở gần nơi sống, ở những núi đá vôi, hay các loại cuội ở sông suối (đối với đá bazalt, cuội, jaspe, sa thạch…)
Những nghiên cứu gần đây về nguồn gốc nguyên liệu đá Nephrite ở di chỉxưởng Tràng Kênh (Hải Phòng) cho thấy, loại đá ngọc Nephrite, đặc biệt là loạiNephrite màu trắng (Tremolite Nephrite) - chiếm số lượng chủ yếu ở Tràng Kênh,
có thể có nguồn gốc từ những ngọn núi chứa Carbonate ở khu vực này, còn loạiNephrite sẫm màu (Actinolite Nephrite) có số lượng ít thì chưa rõ nguồn gốc nhưngchắc chắn chúng không phải là Nephrite của Đài Loan (có màu xanh lá cây) [69].Xét về cảnh quan, đặc trưng văn hóa và phân bố di tích, Đầu Rằm và Tràng Kênh ít
có sự khác biệt Có lẽ, cũng như người Tràng Kênh, người Đầu Rằm đã khai thácnguyên liệu đá Nephrite ở ngay những ngọn núi đá vôi nằm cạnh và che chắn cho ditích như núi Đầu Rằm lớn, Đầu Rằm nhỏ và những ngọn núi ở khu vực xung quanh
2.2.1.2 Kỹ thuật chế tác đá
Có thể nói, cư dân cổ Đầu Rằm đã làm chủ rất nhiều kỹ thuật tinh xảo, thể hiện trình độ kỹ thuật rất cao trong chế tác đá Những kỹ thuật phổ biến được biết đến hiện nay là: mài, cưa, cắt, gọt, khoan Một số nhà nghiên cứu đã có những nghiên cứu dân tộc học so sánh và cho rằng, những kỹ thuật này có sự hỗ trợ của các thiết bị được làm từ tre, gỗ, nứa – những di vật hữu cơ đã bị phân hủy theo thời gian [7, tr.57; 9] Có ba kỹ thuật đặc trưng riêng cho loại di chỉ xưởng ở di tích Đầu Rằm hiện được biết gồm:
Kỹ thuật tu chỉnh ép trực tiếp để tạo ra những mũi khoan bằng đá cứng jasper -
loại đá có khả năng được khai thác từ cuội sông, suối Đây là loại đá có độ cứng
Trang 357/8 theo cương giai Moss, đủ sức bền cho các kỹ thuật tinh xảo, thực hiện trênnhững nguyên liệu mềm hơn nó như khoan lỗ hạt chuỗi đá, khoan tách lõi vòng đábằng phương pháp xoay tay.
Kỹ thuật cưa, cắt đá cũng rất phổ biến ở Đầu Rằm, bằng chứng là một sưu
tập rất lớn những mảnh đá nguyên liệu có dấu cưa và lưỡi cưa đã được tìm thấy ởđây Đây là kỹ thuật tối ưu trong chế tác đá nephrite vì việc cưa cắt trên chất liệunày dễ thực hiện hơn kỹ thuật ghè đẽo lại tiết kiệm nguyên liệu một cách tối đa
Kỹ thuật khoan tách lõi vòng đá được coi là kỹ thuật cốt lõi ở di chỉ xưởng
Đầu Rằm Đây là một kỹ thuật rất khó và là công đoạn mang tính quyết định nhất trong quy trình chế tác vòng đá, đòi hỏi người thợ phải có một trình độ kỹ thuật khoan rất chuẩn xác trong quá trình khoan tách lõi vòng Một khối lượng lớn những mũi khoan bị gãy, vỡ hay vết mòn sử dụng trên mũi khoan cộng với hàng ngàn mảnh phế thải (lõi vòng, mảnh vòng vỡ, phác vật vòng…) được tìm thấy trong một diện tích khai quật nhỏ đã chứng minh quy mô của công xưởng này [7, tr.57-58; 9] Quan sát những mảnh vòng và những lõi vòng thu được, tác giả cho rằng, kỹ thuật khoan tách lõi vòng chủ yếu ở Đầu Rằm là được thực hiện từ hai mặt đá nguyên liệu, nhưng điểm gặp nhau ở giữa lõi vòng thường bị lệch Những dấu tích này vẫn còn rất rõ trên những phế vật như lõi vòng, mảnh vòng bị vỡ trong quá trình chế tác Ngoài ra, kỹ thuật này cũng được áp dụng trong việc khoan tách lõi hạt chuỗi, khuyên tai bằng đá
2.2.1.3 Các loại hình di vật đá
Bộ di vật đá ở Đầu Rằm hết sức phong phú, có thể kể tên như: rìu, bôn, đục, búa, dao, cưa, mũi khoan, bàn mài, bàn mài trong, hòn nghiền, chày nghiền, mũi tên, mũi lao, vòng, nhẫn, khuyên tai, đá nguyên liệu, phác vật… Mỗi loại lại có nhiều kiểu nhỏ hơn với những đặc trưng riêng Ở đây, tác giả sẽ trình bày theo các nhóm di vật từ công cụ sản xuất, vũ khí đến đồ trang sức Các tiêu chí chính dựa trên tiêu chí phân loại của năm 2009 là chủ yếu, có tham khảo những tiêu chí của năm 1998 và 2005
a Công cụ sản xuất [Bv 15-29; Ba 46-65]
Trang 36- Công cụ ghè đẽo: có 5 chiếc tìm thấy trong cuộc khai quật năm 1998.Những hiện vật này chỉ xuất hiện ở lớp muộn, được làm từ những viên cuội to nhỏkhác nhau nhưng nhìn chung thuộc loại nhỏ Có công cụ được ghè hai đầu và tạolưỡi ngang, có loại được ghè tạo lưỡi ở một đầu viên cuội Những người khai quậtcho rằng đây là tàn dư kỹ thuật của những giai đoạn văn hóa sớm hơn [34,tr 8].
- Rìu: có tổng cộng 41 chiếc (năm 1998: 19 chiếc, năm 2005: 6 chiếc và năm 2009: 16 chiếc), phần lớn là loại rìu hình tứ giác, không có vai, được làm từ đá Nephrite, jade hoặc hoa cương Mặt cắt ngang thân rìu thường là hình chữ nhật, hình thang hoặc hình elip Một số rìu vẫn còn vết cưa trên thân Nhiều chiếc bị vỡ, chỉ còn một phần thân hoặc đốc, lưỡi Những người khai quật năm 2009 đã dựa trên kiểu dáng của rìu để chia thành 8 loại nhỏ như sau:
+ Loại 1: 1 chiếc Rìu có dáng hình thang, được làm từ đá ngọc màu xám xanh có vân xanh, toàn thân phủ patin màu xám đen Đốc rìu hơi cong, lưỡi vát nhiều về một bên, rìa lưỡi bị mòn nhiều Rìu được mài toàn thân, mặt dưới còn lại những dấu vết cưa Mặt cắt ngang thân hình thang Kích thước: dài 4,4cm, rộng 2,7cm - 3cm, dày 0,6cm
+ Loại 2: 5 chiếc Rìu loại khá lớn và dày được làm từ đá màu trắng xám, trắng ngà; toàn thân được mài nhẵn bóng Ngoài phủ lớp patin màu xám Kích thước: dài 3,9cm - 6,2cm, rộng 2,3cm - 4,5cm, dày 0,8 - 2,9cm
+ Loại 3: 2 chiếc, được làm từ đá màu xám trắng, ngoài phủ patin màu xám hồng, màu nâu Mặt rìu có vân màu xám đen, màu xanh, vàng; rìu có dáng hình thang Kích thước: dài 3,8cm - 5cm, rộng 2,4cm - 4,1cm, dày 0,6cm - 1,4cm
+ Loại 4: 1 chiếc, được làm từ đá màu xám đen, dáng hình thang, thân thuôn dài Một mặt rìu khá phẳng, một mặt hơi vồng lên Phần đốc rìu còn vết sần sùi chưa được mài hết Lưỡi rìu sứt Mặt cắt ngang thân hình tứ giác Kích thước: dài 5,7cm, rộng 1,5cm - 2,6cm, dày 0,6cm
+ Loại 5: 2 chiếc, hình thang được làm từ đá có xương màu trắng ngà, mặt ngoài phủ patin màu nâu vàng Rìu được mài toàn thân nhưng vẫn còn nhiều vết ghè
Trang 37chưa được mài hết Kích thước: dài 4,2cm 4,9cm, rộng 2,2cm 3,2cm, dày 0,4cm 0,9cm.
-+ Loại 6: 3 chiếc, được làm từ đá ngọc màu xám đen, màu xanh; rìu dánghình thang Kích thước: dài 4,8cm, rộng 1,9cm - 3,6cm, dày 0,6cm - 1cm
+ Loại 7: 1 chiếc, được làm từ đá màu xám, ngoài phủ patin màu xám đen khá dày Rìu có dáng hình thang, lưỡi rộng gần gấp đôi đốc Lưỡi rìu hơi vát, còn khá sắc Mặt cắt ngang thân hình thang Kích thước: dài 3,9cm, rộng 1,3cm - 2,2cm, dày 0,5cm - 0,7cm
+ Loại 8: 1 chiếc, được làm từ đá màu nâu xám, mài nhẵn bóng Rìu có dáng hình thang, trên mặt còn dấu lõm chưa mài hết, hai cạnh vẫn còn dấu cưa Lưỡi rìu khá cân, bị vỡ một góc, phần còn lại khá sắc Mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Kích thước: dài 3,8cm, rộng 1,7cm - 2cm, dày 0,7cm [19; 20]
- Bôn: có tổng cộng 41 chiếc (30 chiếc năm 1998, 2 chiếc năm 2005 và 9 chiếc năm 2009) Những chiếc bôn này đều thuộc loại tứ giác (đa phần là hình thang), không có vai, chất liệu tương tự như rìu Bôn ở Đầu Rằm thường có kích thước nhỏ, góc lưỡi vát lệch về một bên Đến nay, đã có 4 loại bôn được ghi nhận (theo số liệu của năm 2009)
+ Loại 1: có 3 chiếc, dáng gần hình thang, lưỡi bôn vát hẳn về một bên, bị sứt mẻ ở phần lưỡi Bôn được mài toàn thân nhưng phần đốc vẫn chưa hết vết ghè đẽo, mặt cắt ngang thân hình lục giác Bôn có màu xám trắng ở lưỡi, phủ patin màu xám xanh ở phần thân Kích thước: dài 3,9cm - 5,1cm, rộng 1,9cm - 2,9cm, dày 0,5cm - 1,1cm
+ Loại 2: có 2 chiếc, được làm từ đá màu nâu tím, xám đen; thân phủ patin màu nâu đen Bôn có dáng hình thang, được mài toàn thân, bị gãy một phần đốc Mặt cắt ngang thân hình tứ giác Kích thước: dài 3,1cm - 4,4cm, rộng 1,8cm -2,9cm, dày: 0,6cm - 0,9cm
+ Loại 3: có 1 chiếc, được làm bằng đá màu xám ghi Bôn có dáng hình thang, lưỡi vát nhiều ở một mặt, rìa lưỡi bị sứt nhiều, mặt đá có nhiều lỗ rỗ Mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Kích thước: dài 3cm, rộng 2,3cm - 2,6cm, dày 0,7cm
Trang 38+ Loại 4: có 2 chiếc, được làm từ đá màu xám, màu xanh, ngoài phủ patinmàu nâu đen Bôn có dáng hình thang, lưỡi vát và lệch về một bên, rìa lưỡi khá sắc.Mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Kích thước: dài 4,4cm - 4,5cm, rộng 3,1cm -4,3cm, dày 0,9cm - 2cm [19; 20].
- Đục: có tổng cộng 24 chiếc (13 chiếc năm 1998, 1 chiếc năm 2005 và 10 chiếc năm 2009) Những chiếc đục này thường có dáng hình thang, thuôn dài (chiềudài gần gấp đôi, gấp ba chiều rộng), được làm từ đá Nephrite hoặc Jade nên có màu trắng ngà, xám đen, xám xanh Đục được chế tạo từ kỹ thuật cưa, mài, ghè đẽo, nhiều hiện vật vẫn còn những vết cưa hay ghè đẽo trên thân Mặt cắt ngang thân đục thường có các loại hình tứ giác, hình chữ D, hình chữ nhật, hình thang, hình ngũ giác Tư liệu hiện tại cho thấy những loại đục cụ thể như sau:
+ Loại 1: 1 chiếc, đục được làm từ đá ngọc màu xám đen, thân còn nhiều vết sần sùi của đá chưa được mài hết Một rìa đục có vết được mài bóng, rìa còn lại có vết cưa, có lẽ chiếc đục này được cắt ra từ một công cụ khác Mặt cắt ngang thân hình tứ giác Kích thước: dài 4,2cm, rộng 4,7cm - 4,8cm, dày 0,8cm - 1,4cm
+ Loại 2: 3 chiếc, được làm từ đá màu xám xanh, màu xám đen; thân phủ patin màu xám đen, thân thuôn dài Mặt cắt ngang thân hình chữ D Kích thước: dài 3,5cm - 4,5cm, rộng 1,1cm - 1,8cm, dày 0,5cm - 0,9cm
+ Loại 3: 3 chiếc, được làm bằng đá màu xám đen, màu xám ghi; đục dáng hình thang, thân thuôn dài Mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Kích thước: dài 3,5cm - 4,6cm, rộng 1,1cm - 1,8cm, dày 0,3cm - 0,6cm
+ Loại 4: 1 chiếc, được làm từ đá màu xám, ngoài phủ patin màu nâu đen Một cạnh đục còn dấu cưa chưa mài hết, cạnh kia còn vết ghè đẽo chưa được mài Đục còn khá dày, lưỡi hơi vát về một bên Mặt cắt ngang thân hình thang Kích thước: dài 5,7cm, rộng 1,1cm, dày 1,1cm
+ Loại 5: 1 chiếc Đục làm bằng đá màu xám ghi, bị gãy phần đốc Đục có dáng thuôn dài, được mài toàn thân, lưỡi hơi vát về một bên Mặt cắt ngang thân gần hình chữ D Kích thước: dài 3,7cm, rộng 1,1cm, dày 0,9cm
Trang 39+ Loại 6: 1 chiếc, được làm từ đá màu xanh, được mài nhẵn toàn thân Thânđục thuôn dài, đốc rộng bằng 2/3 lưỡi Mặt cắt ngang thân hình chữ nhật Kíchthước: dài 4,2cm, rộng 1,2cm - 1,8cm, dày 0,5cm - 0,9cm.
+ Loại 7: 1 chiếc, được làm từ đá màu xám xanh, ngoài phủ một ít patin màuxám đen Thân đục hơi cong, các cạnh chưa được mài bóng Lưỡi nhỏ, mặt cắt ngang thân hình ngũ giác Kích thước: dài 3,7cm, rộng 0,7cm, dày 0,6cm [19; 20]
- Búa đá: có 6 chiếc tìm thấy năm 1998 Những chiếc búa này được làm từ
đá cát kết màu ghi xám, hầu hết bị vỡ, chỉ còn lại phần lưỡi, góc lưỡi vát cân, rìa lưỡi sắc Búa thuộc loại rất dày, trung bình 2,5cm, mặt cắt ngang thân hình bầu dục
có hai cạnh bên thẳng [34, tr 9]
- Bàn mài: 346 mảnh (năm 1998 có 96 mảnh, năm 2005 có 32 mảnh, năm
2009 có 218 mảnh) và 1.817 mảnh đá bàn mài nhỏ Bàn mài được làm từ đá sa thạch, hạt thô màu nâu xám, bề mặt bàn mài có dấu vết sử dụng Có 3 loại bàn mài chính ở đây gồm: bàn mài phẳng, bàn mài lõm, bàn mài rãnh và bàn mài trong
+ Bàn mài phẳng: có 33 mảnh tìm được trong năm 1998, 69 mảnh tìm đượcnăm 2009
+ Bàn mài lõm: 7 chiếc
+ Bàn mài rãnh: 37 chiếc (12 chiếc tìm được năm 1998, 25 chiếc tìm đượcnăm 2009), là loại bàn mài có từ 2, 4 hoặc 5 rãnh cắt nhau, có loại rãnh hình lòng máng giống bàn mài trong văn hóa Hạ Long
+ Bàn mài trong: 227 chiếc trong đó 103 chiếc tìm được năm 1998, 12 chiếctìm được năm 2005 và 112 chiếc tìm được trong năm 2009 Đây là những bàn mài
có dáng thon dài, mặt cắt ngang thường có hình tròn hoặc hình bầu dục, có khả năng được sử dụng để mài bên trong các vòng trang sức Loại bàn mài này xuất hiện với số lượng nhiều nhất trong số các bàn mài tìm được ở Đầu Rằm
+ Bàn mài kết hợp: là loại bàn mài kết hợp giữa hai loại bàn mài phẳng/lõm với bàn mài rãnh Loại này có 6 chiếc tìm được trong năm 2009
- Lưỡi cưa: có 399 chiếc (33 chiếc tìm được năm 1998, 299 chiếc tìm được năm 2005, 67 chiếc tìm được năm 2009) và 8.534 mảnh vỡ nhỏ tìm được trong năm
Trang 402005 Lưỡi cưa được làm từ đá cát kết hạt thô màu xám, mặc dù có hình dáng vàkích thước khác nhau nhưng điểm chung là rìa lưỡi thẳng, sắc, các vết xước sử dụngsong song đều ở hai mặt Đặc biệt, có nhiều mảnh có độ dày chỉ 1mm Loại công cụnày cũng là một trong những loại nổi bật ở Đầu Rằm.
- Dao đá: có 1 tiêu bản tìm được năm 1998, được làm từ loại đá cát kết màu ghi xám, cứng Dao có rìa lưỡi sắc, sống dao thẳng
- Mũi khoan: có 20 chiếc được tìm thấy năm 1998, 11 mũi khoan và phác vật mũi khoan tìm thấy năm 2005 Các mũi khoan này thường được làm bằng kỹ thuật cưa, mài bóng tạo nhọn đầu vát đều, đặc biệt là kỹ thuật tu chỉnh ép trực tiếp Các mũi khoan thường được làm từ đá jasper, một loại cuội sông, suối rất cứng, đạt tới mức 7/8 theo cương giai Moss
- Chì lưới: có 2 tiêu bản tìm được năm 2009, là những viên cuội nguyên, hai mặt có hai lỗ tròn khá sâu, có thể là lỗ vũm trên mặt cuội Hai bên cạnh lại có những vết ghè lõm khá đối xứng, có thể là chỗ để buộc dây để sử dụng như chì lưới
Có thể ban đầu những hiện vật này là đá có lỗ vũm, sau đó được tận dụng để làm chì lưới
- Hiện vật hình quả cân: 1 chiếc tìm được năm 2005
- Các loại công cụ khác: có 112 chiếc gồm các loại như bàn nghiền, chàynghiền, hòn nghiền, hòn ghè, hòn kê, đá có lỗ vũm, đá ghè tròn… cũng được tìmthấy ở di tích này Những công cụ này thường là những viên cuội nguyên, có nhiềukích thước khác nhau, có mặt cắt ngang hình bầu dục, có vết sử dụng ở một hoặchai đầu cuội đối với loại chày nghiền, hòn nghiền, có vết lõm đối với loại bànnghiền [8; 19; 20; 34]
b Vũ khí: có 6 tiêu bản (3 mũi nhọn, 2 mũi tên, 1 mũi lao) tìm thấy năm
1998 và 1 tiêu bản (mũi tên) tìm thấy năm 2005 Những loại này được làm từ đá cát kết hạt mịn, cứng
- Mũi tên: có 3 chiếc có dáng thon dài, nhọn phía đầu, có sống ở giữa Hai chiếc bị gãy ở phần chuôi nhưng vẫn quan sát được