Vì những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Từ láy trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng” để tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn về sự phát triểncủa ngôn ngữ văn học, về sự phong phú,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ THU HÀ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn củagiáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Hà và sự giúp đỡ của các thầy, côgiáo khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Các kết quảnghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng đượccông bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đó
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Khambang THIPPASONE
Xác nhận của khoa chuyên môn
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn những ý kiến nhận xét, đánh giá, góp ý quýbáu của Hội đồng khoa học giúp em hoàn thiện hơn luận văn.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020
Tác giả luận văn
Khambang THIPPASONE
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1. Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt Đó là phương thứclặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị gốc theo những quy tắc nhất định Từ láy là sựhòa phối ngữ âm giữa các yếu tố tương ứng của các âm tiết; đó là sự hòa phối ngữ
âm có tác dụng biểu trưng hóa Vì thế, nội dung ngữ nghĩa được chứa đựng trongmỗi từ láy, bên cạnh những đặc điểm vốn có như bao từ khác thì nó còn có nhữngđặc điểm rất riêng
2. Vũ Trọng Phụng được biết đến là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng củaViệt Nam vào đầu thế kỷ XX Vũ Trọng Phụng là tác giả có văn nghiệp khá đồ
sộ Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi (27 năm), nhưng trong quãng thời gian cầm bút,ông đã để lại nhiều tác phẩm xuất sắc ở nhiều thể loại khác nhau, mà nổi bậthơn cả là tiểu thuyết và phóng sự Lưu Trọng Lư nhận xét về con người VũTrọng Phụng: “Trên trang viết Vũ Trọng Phụng sắc sảo bao nhiêu thì trongcuộc đời Vũ Trọng Phụng càng chân thành bấy nhiêu Con người ấy không giếtquá một con muỗi Nhưng thật kì diệu, văn chương của con người ấy làm cho
kẻ trọc phú phải giật mình, kẻ trưởng giả phải cáu kỉnh”
3. “Số đỏ” là tiểu thuyết tập trung đề cập và phê phán tầng lớp tiểu tư sản
Hà Thành đầu thế kỉ XX Từ những bước tiến đáng kinh ngạc của Xuân Tóc Đỏ một thằng lưu manh đầu đường, câu chuyện đã chuyển hướng nói về “tấn trò đời”của những diễn viên đại tài, những tri thức của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc,như bà Phó Đoan, cụ cố Hồng, cô Tuyết, nhà mỹ thuật TYPN, ông đốc tờ TrựcNgôn,… Họ diễn trong cuộc sống, diễn với những người thân, và diễn cả vớichính bản thân mình Họ nói chuyện với nhau thật văn hoa “một cách liến thoắng,trôi chảy như nước suối, sốt sắng như những người không thành thực chút nàocả”, mà người nghe thì “tuy chẳng hiểu cái quái gì, nhưng cũng thấy êm tai, vànhất là sung sướng.” Bấy nhiêu con người góp mặt trong một bức tranh hết sức
-6
Trang 7chân thật về cuộc sống của lớp thị dân Việt Nam, quay cuồng trong cái công cuộc
"cách tân", "âu hóa"
Vì những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Từ láy trong Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng” để tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn về sự phát triểncủa ngôn ngữ văn học, về sự phong phú, đa dạng và khả năng biểu đạt tinh tế,chính xác, linh hoạt của các lớp từ láy tiếng Việt
2. Lịch sử vấn đề
Trong ngôn ngữ học, nghiên cứu về từ láy phải kể đến một số nhà ngônngữ học như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành,Đái Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang Ban,Nguyễn Thiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đào Thản, Nguyễn Thị Hai, Hữu Đạt,Nguyễn Đức Tồn… Những công trình của các tác giả đã chú ý đến đặc điểmcấu tạo, ngữ nghĩa, giá trị biểu trưng, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trịbiểu cảm của từ láy
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: các sách nghiên cứu vềtiếng Việt trong đó có từ láy, những chuyên luận về từ láy các tác phẩm là các
bài nghiên cứu trên các tạp chí Có thể kể đến như: Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành Nxb Khoa học Xã hội, 1985 Về một hiện tượng láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành, đăng trong tạp chí ngôn ngữ số 2, 1979 Vấn
đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại của Hồ Lê, Nxb Khoa học Xã hội, 1976.
Về từ lấp láy của văn học thế kỷ XVII đăng trong cuốn “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ”, tập 2 Nxb Khoa học Xã hội 1981, Vấn đề từ láy trong tiếng Việt của Hà Quang Năng in trong Từ láy những vấn đề còn bỏ ngỏ,
Nxb Khoa học Xã hội, 1998… Cũng có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề từ
láy trong các tác phẩm văn học Việt Nam như: “Hệ thống từ láy tiếng Việt trong một số khúc ngâm thế kỷ XIX” luận văn thạc sĩ ngữ văn của Nguyễn Thị Hường Đại học Sư phạm Hà Nội (2004), “Từ láy trong thơ văn Nguyễn Đình
7
Trang 8Chiểu” - luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Hoàng Thị Lan (Trường Đại học Sư
dục, 2003); Mấy suy nghĩ từ cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Đăng Mạnh (Tạp chí Sông Hương, số 250, tháng 12 năm 2009), “Số đỏ” và “Kỹ nghệ lấy Tây” của Vũ Trọng Phụng: Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm sân khấu, luận văn thạc sĩ của Phạm Thụy Ngọc Quỳnh, Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012; Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Thanh (NXB Văn học, 2013); Tiếp cận thế giới nhân vật
Vũ Trọng Phụng từ góc nhìn phân tâm học của Nguyễn Thị Thương, luận văn
thạc sĩ ngành Văn học Việt Nam hiện đại, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
2014; Vũ Trọng Phụng và những tác phẩm vượt thời gian (NXB Văn học,
2019)…
Qua các công trình tiêu biểu nói trên cũng như một số chuyên luận khảocứu sau đó cho chúng ta thấy việc nghiên cứu Vũ Trọng Phụng đã ngày càngđược mở rộng và đào sâu trên cơ sở tư liệu về nhiều mặt Tuy nhiên, đến nay
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về từ láy trong tác phẩm Số đỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ đặc điểm của từ láy trong tác phẩm Số đỏ trên các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ pháp; đồng thời phân
8
Trang 9tích được giá trị, vai trò của từ láy trong tác phẩm Số đỏ trong việc miêu tả ngoại hình và tính cách nhân vật.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Khảo sát, thống kê, phân loại từ láy Vũ Trọng Phụng sử dụng trong tác
phẩm Số đỏ.
- Nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của từ láy trong Số đỏ trên các phương
diện cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp
- Phân tích vai trò, giá trị, tầm quan trọng của từ láy mà tác giả Vũ TrọngPhụng đã sử dụng để xây dựng, khắc họa hình tượng của các nhân vật trong tác
phẩm Số đỏ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống từ láy và việc sử dụng từ
láy trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu từ láy trên các phương diện cấu trúc, ngữ
nghĩa, ngữ pháp và giá trị sử dụng của chúng trong tác phẩm Số đỏ.
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn nghiên cứu từ láy trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
nhằm làm sáng tỏ những đặc trưng cấu tạo, ngữ nghĩa của từ láy Những kết quảnghiên cứu có thể góp phần cung cấp những gợi ý cho việc tiếp cận tác phẩm từgóc độ ngôn ngữ học Những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của VũTrọng Phụng có thể được làm sáng tỏ thông qua cách sử dụng, khai thác chất liệu
từ láy trong tác phẩm
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Trang 106.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để miêu tả những đặc điểmcấu tạo, ngữ nghĩa của các nhóm từ láy xuất hiện trong tác phẩm của Vũ TrọngPhụng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Đặc điểm của từ láy trong Số đỏ
Chương 3 Vai trò của từ láy trong Số đỏ
10
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Những vấn đề chung về từ tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm
“Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm của ngôn ngữ” [13] Từ là loại vậtliệu cơ bản nhưng đặc biệt, thiếu nó thì ngôn ngữ không thể tồn tại Nó được sửdụng để cấu tạo nên câu, câu được sử dụng trong giao tiếp và tư duy Nói cáchkhác thì không có từ sẽ không có các đơn vị ngôn ngữ
Cho tới nay, có khoảng trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Có thể kểđến một số định nghĩa về từ như sau:
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có
ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viếtliền” [16, 69]
Trong cuốn “Vấn đề của cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại”, Hồ Lê chorằng “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực,hoặc mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chức vềcấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [27]
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Cơ sởngôn ngữ học và tiếng Việt” đã nêu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa củangôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nêncâu” [13]
Nguyễn Kim Thản trong cuốn “Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt” chorằng “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác củalời nói để sử dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ýnghĩa và chức năng ngữ pháp” [31]
Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa về từ tiếng Việt của ĐỗHữu Châu làm cơ sở nghiên cứu Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về từ
trong tiếng Việt như sau: “Từ của tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố đình,
11
Trang 12bất biết về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học(như quan hệ về số,về giống…)và cú pháp trong câu,nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, úng với những nghĩa nhất định,sẵn
có đối với mọi thành viên trong xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11; 29].
1.1.2 Các phương thức cấu tạo từ
“Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị
để cho ta các từ” [11; 28] Theo Đỗ Hữu Châu, tiếng Việt sử dụng ba phươngthức tạo từ: từ hóa hình vị, phương thức ghép, phương thức láy
Từ hóa hình vị: Phương thức từ hóa hình vị là phương thức tác động vào
bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa ngữpháp của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của
nó Từ đơn trong tiếng Việt được tạo thành nhờ phương thức này Ví dụ các từ
đơn: bàn, ghế, áo, quần, nhà, cửa… được tạo từ hình vị: bàn, ghế, áo, quần, nhà, cửa…
Sau này Hoàng Văn Hành đã tiếp thu ý kiến của Đỗ Hữu Châu và địnhnghĩa: “Từ hoá hình vị là quá trình cấu tạo từ mà trong đó hình vị được cấpnhững đặc trưng nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp theo những quy tắcnhất định để thành từ đơn”
Phương thức ghép: Phương thức ghép là phương thức tác động vào hai
hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từmới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ) Từ được tạo ra từphương thức này được gọi là từ ghép Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa mà người tachia thành từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập
Ví dụ: Phương thức ghép tác động vào các hình vị “xe” và hình vị “máy”cho từ “xe máy”, tác động vào các hình vị “lái” và hình vị “xe” cho từ “lái xe”,
…
Biểu đồ của phương thức ghép là:
12
Trang 13Phương thức láy: Phương thức là phương thức tác động vào một hình vị
cơ sở (hình vị gốc), làm xuất hiện một hình vị thứ sinh (hình vị láy) Hình vịláy và hình vị cơ sở có quan hệ về mặt ngữ âm, hình vị láy giống hình vị cơ sởtoàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một
từ gọi gọi là từ láy Ví dụ: phương thức láy tác động vào hình vị “xinh” cho tahình vị láy: xinh, hình vị láy và hình vị cơ sở tạo thành từ “xinh xinh”; tác độngvào hình vị “đo” cho ta hình vị láy “đỏ” do đó có từ “đo đỏ”,
Biểu đồ của phương thức láy là:
Nếu như phương thức ghép tác động vào hình vị cơ sở, riêng rẽ, đối lậpvới nhau thì phương thức láy chỉ tác động vào một hình vị cơ sở làm nảy sinhđơn vị mới có quan hệ thứ sinh với hình vị gốc cũng tuân theo quy tắc nhấtđịnh Quy tắc ấy được gọi là quy tắc điệp - đối [19, 30]
1.1.3 Phân loại từ xét về kiểu cấu tạo
1.1.3 Phân loại các từ tiếng Việt xét theo kiểu cấu tạo
Dựa theo các phương thức tạo từ đã nêu ở trên thì từ tiếng Việt xét theokiểu cấu tạo có thể chia thành hai loại lớn là từ đơn và từ phức Trong đó từphức được chia thành từ ghép và từ láy Tùy theo đặc điểm mà mỗi loại từ lạiđược phân chia thành các kiểu khác nhau Theo như cách phân loại trên, ta cóbảng phân loại từ tiếng Việt theo kiểu cấu tạo như sau:
Bảng 1.1 Bảng phân loại cơ bản từ tiếng Việt xét theo kiểu cấu tạo
Trang 141.1.3.1 Từ đơn
a Khái niệm:
Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ đơn là những từ một hình vị” [11, 40] Từ đơnchủ yếu được tạo nên bởi phương thức “từ hóa hình vị”
Ví dụ: ăn, mặc, nằm, nhà, cửa, xe…
Từ đơn chỉ được tạo nên bởi một hình vị, gồm một bộ phận không thểchia ra được nữa vì nó là ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, do đó nó khác với từphức
Xét về mặt ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có mộtkiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta tiếp thu và ghi nhớ nghĩa của từng từ một cáchriêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghãicủa từ
Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời, chúng
có thể là những từ có nguồn gốc thuần Việt hay một số từ được vay
mượn từ ngôn ngữ nước ngoài
Xét về mặt số lượng, từ đơn chiếm số lượng khá lớn hơn so với từghép và từ láy, trong đó chúng còn là những từ cơ bản nhất, nắm giữ vai tròquan trong trong việc biểu thị các khái niệm liên quan đến đời sống và cấu tạo
từ mới cho tiếng Việt…
b Phân loại:
14
Trang 15Từ đơn được chia thành hai loại: từ đơn âm thuần Việt, từ đơn là những
từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu
Từ đơn âm thuần Việt
Từ đơn âm thuần Việt chiếm một số lượng khá lớn Chúng là những từ đơn một âm tiết, chỉ có một hình vị và đồng thời chỉ có một âm tiết
Ví dụ: vợ, chồng, đất, trời,
Từ đơn là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu
Từ đơn là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu chiếm số lượng ít.Chính là những từ đơn đa âm tiết, đó là những từ có một hình vị có thể manghai âm tiết
Ví dụ: radio, axit, cafe,
Một số từ đơn một âm tiết được tạo thành nhờ các từ đơn đa âm có cấutạo theo quy tắc rút gọn; các từ đơn đa âm này sẽ được lược bỏ đi một số âmtiết và sau đó hình vị hóa âm tiết còn lại
1.1.3.2 Từ ghép
a Khái niệm:
Theo Đỗ Hữu Châu thì “Từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai haymột số hình vị (hay đơn vị cấu tạo), tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau”[11, 55] Từ ghép chủ yếu được tạo nên bởi phương thức ghép, đó là những từ
có hai hoặc hơn hai hình vị được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa
Trong tiếng Việt, điển hình là những từ ghép 2 hình vị Ví dụ: nhà cửa,
xe máy, máy bay, quần áo…
15
Trang 16Ví dụ: nhưng mà, vì sao, cho rằng, mặc dù, tuy vậy, do đó
“Từ ghép thực là những từ ghép do hai hoặc hơn hai hình vị thực kết hợp với nhau” [11,12]
Ví dụ: bàn ghế, bát đũa, cửa sổ, máy bay
* Xét đến mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị trong từ ghép được chiathành hai loại: quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập Từ đó, ta rút ra được hailoại từ ghép tương ứng: từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ) và từ ghép hợpnghĩa (từ ghép đẳng lập) Ngoài hai loại từ ghép trên, còn có từ ghép biệt lập
Cụ thể như sau:
Từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ)
Từ ghép phân nghĩa (hay từ ghép chính phụ) là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn nhưng độc lập với nhau và độc lập với loại lớn”[11,12].
phải có nghĩa ngang bằng nhau (cùng thuộc một phạm trù ngữ nghĩa, đồngnghĩa, trái nghĩa, ) Nghĩa của từ ghép hợp nghĩa luôn bao trùm nghĩa của cảhai hình vị cấu tạo từ, và luôn lớn hơn nghĩa của từ ghép phân nghĩa tương ứng[11,12]
Ví dụ:
“Quần áo”: hai từ đều bình đẳng về nghĩa
“May mặc”
16
Trang 17và vần hay chỉ giống nhau về âm hoặc về vần, trong đó có một hình vị có nghĩa
và một hình vị mờ nghĩa hoặc tất cả các hình vị đều mờ nghĩa
Từ láy được phân loại và cấu tạo theo những quy tắc nhất định, đây
chính là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu từ láy trong Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng
1.2 Từ láy
1.2.1 Các quan niệm về từ láy tiếng Việt
Hiện tượng láy không phải chỉ riêng có ở tiếng Việt mà còn có ở nhiềungôn ngữ khác Nó là hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng, đã thu hútđược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nôn ngữ trong và ngoài nước Sở
dĩ như vậy là vì từ láy mang trong mình những đặc trưng có tính chất loại hìnhcủa tiếng Việt cũng như của các ngôn ngữu đơn lập khác ở phương Đông.Trong tiếng Việt, từ láy là kết quả của một phương thức tạo từ đặc biệt Nhờ cóphương thức láy mà tiếng Việt đã được bổ sung một bộ phận từ quan trọng với
số lượng lớn nhưng, cũng chính vì có số lượng lớn, lại được cấu tạp theophương thức đặc biệt nên việc nghiên cứu, tìm hiểu từ láy vẫn còn là một việclàm hấp dẫn cho những ai quan tâm đến nó Mặc dù các nhà nghiên cứu đều có
17
Trang 18chung mục đích: làm rõ bản chất của hiện tượng láy về mặt lý thuyết trongngôn ngữ nói chung, cũng như trong Việt ngữ học nói riêng để từ đó góp phầntích cực vào việc giải quyết một số vấn đề thiết thực đang được đặt ra trongthực tiễn như: vấn đề sử dụng từ láy trong văn thơ, trong ngôn ngữ hằng ngày,vấn đề giảng dạy từ láy trong nhà trường…
Các tác giả Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Đỗ Hữu Châu, NguyễnThiện Giáp, Hồ Lê, Nguyễn Tài Cẩn… là những người quan tâm đến vấn đề từláy Các nhà nghiên cứu trên đã có nhứng cách gọi khác nhau về bộ phận từ
này: từ lấp láy (Hồ Lê, 1976; Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn, 1975; Nguyễn Văn Tu, 1976); từ láy (Hoàng Tuệ, 1978; Đào Thản,
1970; Hoàng Văn Hành, 1979,1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu,
1981, 1986; Diệp Quang Ban, 1989)… Sự tồn tại nhiều tên gọi khác nhau vềcùng một khái niệm cho thấy quan niệm của các nhà nghiên cứu về từ láykhông hoàn toàn giống nhau Tuy chưa có sự thống nhất về cách gọi nhưngchúng ta có thể thấy: về cơ bản đã có sự tương đối thống nhất trong quan niệmcủa các nhà nghiên cứu về từ láy tiếng Việt ở cách cấu tạo và các cách phânloại
Hồ Lê trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại cho rằng:
“Từ lắp láy là những từ được cấu tạo theo phương thức lấp láy” Từ đó tác giả
đã phân biệt từ lấp láy thành từ đơn lấp láy và từ ghép lấp láy Hồ Lê đưa rađịnh nghĩa: “Phương thức lấp láy là một phương thức ngữ pháp (chủ yếu làphương thức cấu tạo từ) lấy sự điệp (một hay nhiều bộ phận của từ) làmphương tiện biểu thị” [28, 162]
Trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định
nghĩa về từ láy như sau: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thứcláy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanhđiệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệubiến đổi theo hai nhóm, gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và
18
Trang 19nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị cónghĩa” [11]
Nghiên cứu về từ láy, Đỗ Hữu Châu đã chú ý nhiều đến quy tắc trong cấutạo của từ láy Trong khái niệm mà ông đưa ra, ông đã đề cập đến mặt nghĩacủa từ láy như: từ láy có tác dụng hình tượng hóa, khái quát hóa, miêu tả cảmgiác, giá trị biểu cảm, giảm nhẹ, tăng cường, tính cảm giác, tính hình tượng…Tuy nhiên, cái ưu thế về mặt ngữ nghĩa của từ láy trong văn chương nghệ thuậtnhư là sự biểu cảm, giá trị gợi cảm âm thanh đường nét, giá trị góp phần biểuhiện nội dung và tạo phong cách tác giả… lại không được nhấn mạnh, đi sâuvào nghiên cứu
Quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn có thể coi là quan niệm rộng nhất về từláy Theo đó, từ láy được hiểu là “loại từ ghép, trong đó, theo con mắt nhìn củangười Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu làtheo quan niệm ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tốtrực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạntính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần
và âm cuối vần)” [4, 109-110] Tác giả cũng nêu rõ: “Sở dĩ trong định nghĩaphải nói “theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay là vì có nhiều tổ hợp vốntrước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng trên diện đồng đại
mà xét thì đã chuyển sang thành kiểu láy âm” [4, 111]
Trong công trình nghiên cứu Từ vựng học tiếng Việt, nxb Giáo dục, 2002,
Nguyễn Thiện Giáp đã chú ý tới giá trị ngữ nghĩa của từ láy Ông cho rằng, từláy vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả Những quanniệm của Nguyễn Thiện Giáp đã được Hoàng Văn Hành đồng tình Trong côngtrình nghiên cứu của mình, Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa: “Ngữ láy âm lànhững đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo
sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm,vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả” [86] Cách định nghĩa này cũng giống với
19
Trang 20cách định nghĩa của Hoàng Văn Hành (về cơ bản) trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt Ông định nghĩa: “Láy là sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng
hóa” [16]
Như vậy, theo các quan niệm trên đây về từ láy, chúng ta có thể thấy có
2 quan điểm chính: coi láy như một phương thức cấu tạo từ riêng biệt và coi láy
là ghép
Hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng: láy có sự hòa phối ngữ âm,
cơ chế cấu tạo của từ láy đó là láy được tạo thành từ một hình vị gốc, sau đólàm nhân lên tạo thành hình vị láy Gộp chúng lại với nhau ta có từ láy, thành tốláy có thể lặp lại một phần hay toàn bộ thành tố chính
Tuy nhiên, có những tác giả cho rằng từ láy chỉ thiên về mặt ngữ âm màchưa chú trọng tới mặt ngữ nghĩa; các tác giả khác lại chú trọng cả phương diệnngữ âm và ngữ nghĩa Do vậy, khi chúng ta nghiên cứu về từ láy, chúng ta phảichú trọng cả hai bình diện ngữ âm và ngữ nghĩa: về ngữ âm, từ láy gồm haihình vị trở lên, hình vị láy phải láy lại hoàn toàn hay bộ phận của hình vị gốc;
về nghĩa, chỉ có một hình vị gốc rõ nghĩa, hình vị còn lại mất nghĩa hoặc không
có nghĩa, có những từ láy cả hai hình vị đều không có nghĩa, khi đó nó phảimang nghĩa biểu trưng hoặc sắc thái hóa
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy quan niệm của
Đỗ Hữu Châu là dễ hiểu hơn cả Chính vì thế, chúng tôi xin theo quan điểm của
Đỗ Hữu Châu như sau: “Từ láy âm là những từ láy được cấu tạo theo phươngthức láy, đó là những phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết( với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao - thanh hỏi,thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp - thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng củahình vị có nghĩa…” [11, 40]
1.2.2 Phân loại từ láy
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm: láy là phươngthức cấu tạo từ Từ láy là kết quả của phương thức láy với đặc trưng hòa phối
20
Trang 21ngữ âm, với các quy tắc nhất định là điệp và đối “Điệp và đối là được hiểutheo nghĩa rồng điệp là sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa; còn đối là sựsai khác, sự dị biệt cũng về âm, về nghĩa Đồng nhất và dị biệt có quy tắc chứkhông phải tùy tiện, là ngẫu nhiên” [22, 88] Như vậy, từ quan điểm này, từ láyđược phân loại theo các tiêu chí:
- Số lượng âm tiết trong từ láy
- Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của từ láy
a Dựa vào số lượng âm tiết trong từ láy
Trong tiếng Việt, dựa vào tiêu chí này, từ láy đươc chia thành: từ láyđôi, từ láy ba, từ láy tư
Từ láy đôi: là từ láy bao gồm hai âm tiết (hai tiếng), có quan hệ với nhau
về mặt ngữ âm Ở kiểu này, phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị
gốc, ví dụ: đo đỏ, tim tím, đủng đỉnh, long lanh, rung rinh…Từ láy đôi chiếm
đại số lượng rất lớn trong tống số từ láy của người Việt “từ láy đôi chiếm vị trúhàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số các từ láy màchính là vì ở từ láy đôi, tất cả các đặc trưng cơ bản thể hiện các bản chất củahiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng âm thanh lẫn ở bình diện ngữ nghĩađều được bộc lộ đầy đủ [31, 21]
Từ láy ba: là từ những đơn vị gồm ba âm tiết (ba tiếng), có sự hòa phối
ngữ âm Ví dụ: cỏn còn con, tất tần tật… Trong kiểu láy này, có một âm tiết có
nghĩa và đây chính là hình vị gốc, hai hình vị còn lại chính là hình vị láy Sốlượng từ láy ba không nhiều nhưng phần lớn đều là từ láy hoàn toàn Về thanhđiệu, trong từ láy ba âm tiết thứ hai thường mang thanh bằng, âm tiết thứ nhất
và thứ ba thường có sự đối thanh
Ví dụ: sạch sành sanh = sạch + sành + sanh
(thanh trắc) (thanh bằng) (thanh bằng)Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lê:
Trang 22Từ láy tư:
sự hòa phối ngữ
láy đôi
(thanh trắc) (thanh bằng) (thanh trắc)
là từ láy bao gồm bốn âm tiết (bốn tiếng), giữa các tiếng có
âm với nhau Đây là kết quả của sự tác động một lần vào từ
Ví dụ: khểnh
khấp khểnh khấp kha khấp khểnh nham
nham nhở nham nham nhở nhở
Theo Hà Quang Năng, từ láy tư là một cấu trúc gồmbốn tiếng, trong đó chỉ có nhiều nhất một tiếng hoặc mộtcặp đôi hai tiếng liền nhau có ý nghĩa từ vựng chân thực,
có khả năng hoạt động độc lập, nằm trong sự hòa phối âmthanh với cả tổng thể hoặc cặp hai tiếng còn lại theo nhữngquy luật nhất định tạo nên ý nghĩa khái quát nào đó [31, tr39]
Tuy nhiên, từ láy tư cũng đa dạng về kiểu láy, có thểphân thành hai loại lớn: từ láy tư được cấu tạo trên cơ sởcủa từ láy đôi bộ phận và từ láy tư được cấu tạo khôngphải dựa trên cơ sở của từ láy đôi bộ phận
Dựa trên cơ sở từ láy đôi bộ phận, từ láy tư được chia thành 5 kiểu:
- Kiểu 1: Lặp lại hai lần từ láy đôi cơ sở
Ví dụ: hấp tấp
hấp ta hấp tấpbập bõm
bập bà bập bõmĐại bộ phận từ láy tư đều được cấu tạo theo kiểunày Trong kiểu láy tư này phần láy luôn đứng trước phầngốc
- Kiểu 2: Lặp lại toàn bộ từ láy đôi cơ sở, trong khilặp lại biến đổi thanh điệu sao cho hai âm tiết đầu mangthanh điệu thuộc âm vực cao, hai âm tiết sau mang thanhđiệu thuộc âm vực thấp, thường là: hỏi hỏi - huyền huyền,
Trang 23sắc sắc - nặngnặng.
Ví dụ: bổi hổi bồi hồi, loáng choáng loạng choạng…
- Kiểu 3: Hai tiếng của hình
vị láy và hai tiếng ởhình vị gốc tách đan
xen nhau theo thế cặp đôi
Ví dụ:xăng xít
lăng xăng lít xít
22
Trang 24thơ thẩn
lơ thơ lẩn thẩn
- Kiểu 4: Láy lại từng tiếng một của từ láy đôi cơ sở theo đúng thứ tự
trong từ láy đôi cơ sở theo mô hình AB
Ví dụ: vắng vắng ngơ vắng ngắt
buồn buồn thỉu buôn thiu
Ví dụ: trùng điệp trùng trùng điệp điệp
tầng lớp tầng tầng lớp lớpNgoài ra còn có những từ láy tư mang tính chất lẻ tẻ, chưa thành hệ
thống như: xinh xinh xinh xinh, tí ti tì ti, teo tẻo tèo teo…
Đây cũng là cách phân loại từ láy mà chúng tôi sử dụng làm cơ sở cho các phần nghiên cứu tiếp theo của đề tài này
b Dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo cuả từ láy
Dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt về sự hòa phối ngữ âm giữa hình vị cơ sở
và hình vị láy, các nhà ngôn ngữ đã chia từ láy thành láy toàn bộ và láy
bộ phận (âm đầu, vần):
Trang 2523
Trang 26Láy toàn bộ (láy hoàn toàn): Đỗ Hữu Châu xem láy hoàn toàn nếu toàn
bộ âm tiết của hình vị cơ sở được láy lại, cũng tương tự như vậy Hoàng VănHành cũng đã nói đặc trưng chung của từ láy hoàn toàn là trong cấu tạo của nó,tiếng gốc được lặp lại ở toàn bộ tiếng láy; Hà Quang Năng cho rằng “từ láyhoàn toàn là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thànhphần cấu tạo của hai thành tố” [ 31, 21] Như vậy, láy toàn bộ có một hình vị
láy được lặp lại nguyên vẹn hình thức ngữ âm của hình vị gốc Ví dụ: xanh xanh, đỏ đỏ, chầm chậm, nhanh nhanh, đùng đùng, lành lạnh, nằng nặng, vân vân, lành lạnh Ở từ láy hoàn toàn, không phải lúc nào hình vị láy cũng lặp lại
toàn bộ những gì có ở hình vị cơ sở mà đôi khi chúng có sự biến đổi theo quytắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa
Từ láy hoàn toàn giữa hai âm tiết giống hệt nhau về hình thức ngữ âmnhưng khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và kéo dài trong quá
trình phát âm, ví dụ: xanh xanh, ầm ầm, rào rào, nhanh nhanh…trọng âm
thường rơi vào âm tiết thứ hai
Từ láy hoàn toàn có sự khác nhau về thanh điệu Do sự phát âm lướt nhẹ
ở âm tiết thứ nhất nên có hiện tượng biến thanh để cho việc phát âm được dễhơn:
đỏ đỏ
đo đỏ khẽ khẽ
khe khẽ tím tím
tim tím
Từ láy hoàn toàn giữa hai âm tiết có sự khác nhau về âm cuối Hiệntượng láy này tuân theo quy tắc chặt chẽ: phụ âm tắc vô thanh chuyển thànhphụ âm vang mũi:
Trang 27tốt tôn tốt
Láy bộ phận (âm đầu, vần): là từ láy trong đó có sự phối hợp ngữ âm
của từng bộ phận âm tiết theo những quy tắc nhất định Dựa vào bộ phận đượclặp lại, từ láy bộ phận được chia thành láy âm và láy vần:
Từ láy âm: theo Đỗ Hữu Châu, có hai kiểu từ láy âm lớn là từ láy âm có
hình vị cơ sở ở trước và từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau Các từ láy âm có hình
vị cơ sở ở trước gồm có nhiều kiểu nhỏ (căn cứ vào vần của hình vị láy) hơn
các từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau Ví dụ: vội vã, phờ phạc, gọn ghẽ, não nề, rầu rĩ, dây dưa, gầy gò, ví von, dựa dẫm, tung tăng, cay cú… Các từ láy âm có hình vị cơ sở đứng sau: ngậm ngùi, lung tung, …
Từ láy vần: là từ láy mà phần vần của hình vị láy lặp lại phần vần của
hình vị cơ sở còn âm đầu chúng khác nhau và đi thành từng cặp:
Dựa vào “sự tương quan âm - nghĩa”, Hoàng Tuệ đã chia từ láy thành banhóm:
- Nhóm 1: Những từ mô phỏng tiếng vang: gâu gâu, ào ào, meo meo, hì hì…, [35, 21]
25
Trang 28- Nhóm 2: Những từ láy bao gồm một âm tiết - hình vị: muộn màng, vững vàng, vụn vặt, nhau nhảu, xin xỏ… [35, 22]
- Nhóm 3; Những từ không bao gồm một âm tiết - hình vị những lại là
những từ có giá trị biểu cảm rất rõ: hớn hở, lai rai, hổn hển, lác đác, bâng khuâng… [35, 24]
Hoàng Văn Hành đã chú trọng đến mối liên hệ âm - nghĩa với quan điểmláy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng về nghĩa Hoàng văn Hành đãchia từ láy thành các tiểu loại sau đây:
- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản - từ tượng thanh, từ tiếng vang:
tí tách, lộp bộp… Từ láy thuộc nhóm này mô phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ
chế láy
- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: lênh đênh, bâng khuâng…
Những từ láy này đều không xác định được tiếng gốc Cả từ láy là một chỉnh thể thống nhất
- Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa: đỏ đắn, bồng bềnh, gọn ghẽ… Những từ láy này có thể xác định được yếu tố gốc
và yếu tố láy Ý nghĩa của từ được hình thành từ hình vị gốc, còn hình vị láyđem lại một sắc thái ý nghĩa nào đó cho từ, làm cho ý nghĩa của từ khác với ýnghĩa của hình vị gốc khi nó đứng riêng rẽ một mình
Tiêu chí của Đỗ Hữu Châu là lấy tính đột biến hay tính sắc thái làm tiêuchí để phân loại từ láy Theo Đỗ Hữu Châu, những từ láy trong tiếng Việtthường có những nghĩa sau đây:
Thứ nhất, nghĩa tổng hợp khái quát là những từ láy mang nghĩa lặp đi
lặp lại với cùng một trạng thái hoạt động tính chất đó là nghĩa của các từ láy
toàn bộ như ngày ngày, tháng tháng, người người, nhà nhà… và nghĩa khái quát của các từ như máy móc, mùa màng, da dẻ… mang sắc thái nghĩa mỉa mai
chê bai châm biếm đối tượng
26
Trang 29Thứ hai, nghĩa sắc thái hóa, “Sắc thái hóa có nghĩa là thêm cho ý nghĩa của hình vị cơ sở một số sắc thái nào đó chứ không thay đổi hẳn nó Kết quả của sự sắc thái hóa có thể là thu hẹp - và kèm theo sự thu hẹp là làm phong phú thêm nội dung - hoặc mở rộng - và kèm theo sự mở rộng là sự giảm bớt các thuộc tính trong nội dung - phạm vi biểu vật của hình vị cơ sở [11, 43] Phương thức sắc thái hóa tạo ra “từ đồng nghĩa” nhưng khác nhau về sắc thái
biểu hiện mà sắc thái biểu hiện một phần do khuôn vần quy định Ví dụ:
Xanh
xanh xao Nhỏ nh ỏ nhắn
nho nhỏ
Ở các ví dụ trên, phương thức láy mang nghĩa sắc thái hóa có thể làmgiảm hoặc tăng sự cảm nhận so với hình vị cơ sở và nó mang tính chủ quan của
người nói Ví dụ: xanh xanh: mang sắc thái giảm nhẹ so với hình vị cơ sở.
Đặc biệt, Đỗ Hữu Châu đã xác định được một số kiểu ý nghĩa nói chungcủa phương thức láy; ông đã chỉ ra một số kiểu láy tận cùng có ý nghĩa tươngđối thuần nhất, như:
Các từ láy toàn bộ có hình vị cơ sở gốc là tính từ ở sau, hình vị láy ởtrước với thanh bằng thường diễn đạt sự giảm nhẹ tính chất kèm theo sự
“loang” ra của tính chất đó: nhè nhẹ, tim tím…; nếu hình vị láy ở trước có thanh trắc thì ý nghĩa, mức độ sẽ tăng lên: dửng dung, cỏn con…
Các từ láy toàn bộ gốc động từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại, cường độ
giảm nhẹ đi: gật gật, lắc lắc…
Các từ láy toàn bộ gốc danh từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại một số sự
kiện, hiện tượng, sự vật… cùng tính chất: ngày ngày, đêm đêm…
Bên cạnh đó, Đỗ Hữu Châu cũng chú ý tới ý nghĩa của các khuôn vầntiếng Việt Khuôn vần là cấu trúc được cấu tạo bằng âm đệm, âm chính, âmcuối Khuôn vần có giá trị tạo nên tính hình tượng, tính biểu cảm cho các từláy
27
Trang 30Khuôn vần [a]: “a” là nguyên âm có độ mở lớn nhất trong các nguyên âmcủa tiếng Việt Vì thế, nó phụ hợp với việc diễn tả sự mạnh mẽ, to lớn, những gì
mang tính chất lan tỏa trong không gian Ví dụ: ha ha, xa xa…
Khuôn vần [i]: “i” là nguyên âm hàng trước, có độ mở hẹp nên nó phù
hợp với việc diễn tả, gợi ra những gì nhỏ bé: ti hí, li ti…
Khuôn vần [u]: “u” là nguyên âm hàng sau, tròn môi, có độ mở hẹp Do
vậy nó thường diễn tả những thứ nhỏ bé, tối tăm: tù mù, tù đù, bù xù, ù ù…
Khuôn vần có cặp nguyên âm [ê - a]: thể hiện ý nghĩa kéo dài về thời
gian hoặc mở rộng trong không gian (ê a, kề cà, lê la).
Khuôn vần [ăn]: thường diễn tả một tính chất đạt chuẩn mực chứng tỏ
người mang hoặc thực hiện tính chất đó là người trung thực, tin cậy được: đầy đặn, mặn mà, ngay ngắn, thẳng thắn, vuông vắn.
Khuôn vần [âp]: thường diễn tả sự dao động đều đặn theo chiều lên
xuống hoặc theo tình thế hiện ra - mất đi: nhấp nhô, bấp bênh, gập ghềnh…
Khuôn vần [uc]: diễn tả sự dao động theo chiều ngang từng quãng ngắn:
rục rịch, nhúc nhích…
Khuôn vần [iếc] thường diễn tả ý nghĩa phi cá thể hóa kèm theo thái độ
phủ định giá trị thực của sự vật, hiện tượng: sách siếc, bàn biếc, làm liếc…
Vận dụng và tiếp thu quan điểm phân loại từ láy theo tiêu chí ngữ nghĩacủa các nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại từ láy về mặt ngữ
nghĩa theo các tiêu chí sau: nghĩa sắc thái hóa và nghĩa tổng hợp khái quát.
1.3 Vai trò của từ láy trong tác phẩm văn chương
Tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa đã xếp từ láy là một loạiphương tiện tu từ từ vựng, một cơ sở để hình thành biện pháp tu từ ngữ âm Vớiđặc điểm ngữ âm là sự hòa phối âm thanh, từ láy đã tạo ra những điểm nhấnđáng chú ý trong lời văn, câu thơ Chúng gợi cho người đọc những ấn tượngmới mẻ, tạo điều kiện để trí tưởng tượng hoạt động Từ láy nói riêng và các yếu
tố láy âm nói chung luôn cho ấn tượng nhòe về nghĩa, vang về âm,
28
Trang 31hạn chế về hoạt động ở thang độ cao nhất - đây lại là yêu cầu hàng đầu đối vớingôn ngữ nghệ thuật, nhất là ngôn ngữ thơ luôn yêu cầu có độ dư vang, sự mơ
hồ của câu chữ, từ đó thôi thúc độc giả phải vận dụng mọi giác quan để cảmhiểu tác phẩm Kết quả là khi đi sâu nghiên cứu vốn ngôn ngữ, Nguyễn PhanCảnh đã thiết lập được trật tự: Dãy thuần Việt - Hán Việt - láy nghĩa - láy âm.Càng đi về phía tay phải, các yếu tố càng thuộc tài sản ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa cũng đưa ra nhận định về váitrò của từ láy như sau: “Không có một danh mục, một cuốn từ điển nào có thểghi chép đầy đủ những từ láy đang sản sinh và được dùng trong lời nói hằngngày Đó là cả một kho tàng phong phú vô tận mà mỗi từ có thể nói là một bứctranh nhỏ nhất về sự vật và tâm trạng con người” [26, 185]
Trong cuốn “Từ láy trong tiếng Việt”, tác giả Hoàng Văn Hành đã chỉ rõgiá trị của từ láy ở các điểm: giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm và giá trị phongcách Chính là vai trò của từ láy trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật - phongcách ngôn ngữ đặc trưng của các tác phẩm văn chương
Trong đời sống, từ láy có khả năng làm cho người đọc, người nghe cảmthụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động màu sắc, âmthanh, hình ảnh về đối tượng mà từ biểu hiện, gợi ra nơi người đọc những sựliên tưởng, thì trong văn chương khả năng đó càng được phát huy hơn bao giờhết Các nhà thơ, nhà văn đều chú ý khai thác hiệu quả nghệ thuật của từ láy khithai nghén đứa con tinh thần của mình Những tác gia lớn của văn học dân tộcđều là những người đã khai thác triệt để tiềm năng của từ láy để xây dựng hìnhtượng nghệ thuật
Trang 32Gara - Chảlé Boillot Cha ông mất khi ông mới được 7 tháng tuổi Vũ TrọngPhụng được mẹ là bà Phạm Thị Khách ở vậy nuôi con ăn học.
Sau khi học xong tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học đểkiếm sống vào năm 14 tuổi Ông có may mắn được hưởng thụ chế độ giáo dụcmới do toàn quyền Pháp đề xướng và là một trong những lứa thanh niên ViệtNam đầu tien được giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ Đó là lí do ôngluôn thần tượng nền văn hóa Pháp và là lớp nhà văn tích cực truyền bá chữquốc ngữ và lấy viết văn, làm báo là công việc chính của đời mình
Cả cuộc đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ, vì còn bà nội và mẹgià nên dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình Tuyviết về các tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức vàsống rất kham khổ Vì vậy mà ông mắc phải căn bệnh lao phổi Trên giườngbệnh, ông đã phải thốt lên với Vũ Bằng: “Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết
để ăn thì đâu có phải chết non như thế này”
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn đầy tài năng Ông đã có những đónggóp quan trọng vào sự phát triển của văn học Việt Nam theo hướng hiện đạihóa trước hết là ở lĩnh vực tiểu thuyết
Năm 1934, Vũ Trọng Phụng cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lí đầu tay
“Dứt tình” đăng trên tờ hải Phòng tuần báo Năm 1936, ngòi bút tiêu biểu củaông được nở rộ, chỉ trong vòng một năm, 4 cuốn tiểu thuyết lần lượt xuất hiện
trên các báo, thu hút sự chú ý của công chúng Cả 4 tiểu thuyết: Giông tố, Số
đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ đều hiện thực, đi sâu vào các vấn đề xã hội Trong đó, Số đỏ
xuất sắc hơn cả, được xem như một tác phẩm lớn nhất của Vũ Trọng Phụng,
một vài nhân vật, câu nói trong Số đỏ đã đi vào ngôn ngữ đời sống hằng ngày.
Tiểu thuyết của ông đã xây dựng nên bức tranh xã hội đen tối lúc bấy giờnhư ông đã từng phát biểu: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và
các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết thực sự là ở đời… Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe nhất là sự
30
Trang 33giả dối Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì cũng đúng sự thực.” (Vũ Trọng Phụng,
Báo Tương Lai, 25/03/1937)” Nghĩa là về nội dung thì nó thoát li hiện thực,trốn tránh sự thực, nhưng thực chất là thứ văn chương của tầng lớp mang ý thức
hệ tư sản Văn chương của họ quat lưng với đời sống xã hội, thi vị hóa cuộcsống hay nói như Vũ Trọng Phụng là sự chạy xa sự thực bằng những lời điêutrá của văn chương Về nghệ thuật, nó là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó mêhoặc người đọc bằn những cốt truyện thần kỳ, những tình tiết éo le, những cuộctình mùi mẫ lâm li Vũ Trọng Phụng lên án và phản đối thứ văn chương đó.Quan điểm ghệ thuật của Vũ Trọng Phụng gợi nhớ đến quan niệm của BanZắc
- đại thi hào Pháp - “nhà văn là thư ký trung thành của thời đại” Đó là nhữngquan điểm tiến bộ, có ý nghĩa chiến đấu Bằng quan điểm nghệ thuật sâu sắc,
tiến bộ đó, Vũ Trọng Phụng đã viết nên những tiểu thuyết nổi tiếng như Giông
tố, Vỡ đê, Số đỏ… mang lại vinh quang cho nền văn học nước nhà.
Vũ Trọng Phụng là nhà văn có biệt tài trong việc thể hiện cái hài Ôngđược xem là cây bút trào phúng bậc thầy Ngay sau khi Vũ Trọng Phụng xuấthiện trên văn đàn, người ta đã chú ý đến ông với lối viết sáng tạo, sắc sảo, gaycấn đến sỗ sàng
Vũ Trọng Phụng, khi viết Số đỏ nói riêng và khi viết các tiểu thuyết nói
chung đã kế thừa được cách gây cười, giễu cợt mỉa mai của văn học dân gianchúng ta và Việt hóa nhuần nhuyễn cái cười của phương Tây Tiếng cười trongcác tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là cái cười nhiều cung bậc khác nhau, đó làtiếng cười hài hước, tiếng cười châm biếm, tiếng cười mỉa mai ác độc Vì vậy
mà Vũ Trọng Phụng đã đóng góp cho văn học Việt Nam những tác phầm tràolộng xuất sắc
Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1939 khi mới 27 tuổi để lại gia đình còn
bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy một tuổi
1.4.2 Tiểu thuyết Số đỏ
31
Trang 34Số đỏ là một trong những tiểu thuyết làm nên tên tuổi của nhà văn Vũ
Trọng Phụng, được xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội báo và in thành sách vào
năm 1938 Số đỏ xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ Từ khi
hắn chỉ mới là tên hạ lưu bỗng chốc đổi đời, nhảy vọt lên tầng lớp danh giá thời
bấy giờ và Số đỏ đã góp phần nêu bật lên thói hư tật xấu của tiểu tư sản Hà
thành với lối sống xa hoa đầy giả tạo
Khi đọc Số đỏ, ta phải hiểu được tình hình xã hội thời trước giải phóng
với những thói ăn không ngồi trốc của tầng lớp giàu có, thì mới thấm thía đượcmặt trái mà Vũ Trọng Phụng muốn truyền tải Nhưng thay vì trực tiếp nêu quanđiểm của mình, ông đã mượn vai của thằng Xuân Tóc Đỏ Một thằng ất ơ,không ra gì lại hay ra vẻ trưởng giả học làm sang, để lấy đó làm điểm tựa màđào sâu vào cái chế độ phong kiến thối nát và cười mỉa vào nó
Ở Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nêu bật lên tấn trò đời của các nhân vật còn
là những diễn viên đại tài, diễn với đời, diễn với người, diễn với chính bản thânmình
“… Cứ ỡm ờ mãi!
Xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!
Khỉ lắm nữa!
Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn…”
Xuân Tóc Đỏ xuất hiện một cách vô cùng dân dã, gần gũi mà có thể nói
là quá đỗi chân thực đến mức lẳng lơ Mở đầu bằng việc hắn cố gắng tán tỉnhchị hàng mía và toan cướp giật ái tình về phía mình
Xuân Tóc Đỏ, từ một thằng mồ côi cha mẹ, ma cà bông, lớn lên bằngnghề bán phá sa, làm lính chạy cờ hiệu trong rạp hát, chuyên trèo cây hái sấu,quảng cáo thuốc lậu, nhặt banh ở sân quần vợt đến việc trở thành trở thành ôngĐốc tờ Xuân vang danh lừng lẫy hay thậm chí là vĩ nhân cứu quốc và đượcphong tặng Bắc đẩu bội tinh, rồi đến việc trở thành con rể quyền quý của một
32
Trang 35danh gia vọng tộc đã được Vũ Trọng Phụng miêu tả bằng một giọn châm biếmhết sức thú vị.
Xuyên suốt hai mươi chương tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng đã từng bướchoàn thành bức tranh châm biếm của xã hội đương thời với những trò lố lăng,kệch cỡm Ta có thể thấy được bản chất của đồng tiền và danh vọng đã làmbăng hoại các giá trị đạo đức truyền thống vốn có
Dưới kĩ năng viết trào phúng cũng như lối viết hài hước của Vũ Trọng
Phụng, Số đỏ đã tạo nên những tiếng cười sảng khoái cho độc giả nhưng sau
những nụ cười đó lại là một hương vị đắng ngắt trước cách hành xử của nhữngngười trong gia đình và đồng thời cũng là nạn nhân của tấn trò đời
Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nêu bật lên những tính cách khác người
và chơi trội của gia đình cụ cố Hồng Điều đặc biệt là không chỉ những nhânvật nam mà thậm chí những nhân vật nữ như bà Phó Đoan, cô Tuyết hay côHoàng Hôn đều sở hữu tính nết hư hỏng, không nên có ở một người phụ nữ Họ
là những con người suy đồi đạo đức và thiếu mất nét đẹp thuần túy thường thấy
của người con gái Việt Nam Không chỉ dừng lại ở đó, Số đỏ còn xây dựng
những hình tượng nhân vật phụ cũng hết sức lố bịch Những ông bạn thân của
cụ cố Hồng với trên áo khoe mẽ thật nhiều huy chương đến những cô cậu Âuhóa đang cười tình với nhau, ghen tuông nhau, bình phẩm nhau
Như vậy, Số đỏ đã lên án gay gắt cái xã hội tư sản thành thị Việt Nam
đang chạy theo lối sống “văn minh rởm” hết sức lố lăng, đồi bại đương thời.Tác giả Vũ Trọng Phụng đã đả kích phong trào “Âu hóa”, “thể thao” đang rầm
rộ phát triển khi ấy Nhân danh “văn minh” “tiến bộ” mà thực chất chỉ là ănchơi trụy lạc, làm tiền, chà đạp lên mọi nền đạo đức truyền thống
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày cơ sở lý luận cầnthiết nhất về từ tiếng Việt: khái niệm, các phương thức cấu tạo từ, các kiểu từ
33
Trang 36xét theo cấu tạo; và tìm hiểu kĩ hơn về từ láy trong tiếng Việt: khái niệm, phânloại và đặc điểm ngữ nghĩa.
Cũng giống như phương thức cấu tạo từ, có vô vàn khái niệm khác nhau
về từ láy Trong quá trình khảo sát, thống kê, chúng tôi theo quan điểm sau:
“Từ láy âm là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thứclập lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên haybiến đổi theo 2 nhóm: nhóm cao gồm có thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang vànhóm thấp - thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng của hình vị có nghĩa”
Về phân loại từ láy, chúng tôi dựa vào phương thức cấu tạo chia thànhcác kiểu (láy đôi, láy ba, láy tư), trong các kiểu láy này, chúng tôi lại dựa vào
sự lặp lai của thành phần âm tiết để chia thành láy toàn bộ và láy bộ phận, láy
bộ phận lại chia thành láy âm và láy vần Dựa vào phương diện ngữ nghĩa, theo
quan điểm của Đỗ Hữu Châu, chúng tôi đã chia thành các từ láy mang nghĩa
khái quát, sắc thái hóa Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm tới các khuôn vần
trong từ láy, chúng đem lại giá trị cao cả về phương diện ngữ âm và phươngdiện ngữ nghĩa Từ láy là một lớp từ phổ biến đồng thời vô cùng phong phútrong tiếng Việt Nó có tác dụng lớn khi được dùng để miêu tả âm thanh, hìnhảnh cũng như thế giới tình cảm, cảm xúc, bởi vậy nó rất thích hợp trong ngônngữ nghệ thuật
Trong chương này, chúng tôi cũng đã tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của
Vũ Trọng Phụng và giới thiệu về tiểu thuyết Số đỏ Với ngòi bút châm biếm độc đáo, Vũ Trọng Phụng đã làm cho Số đỏ trở thành một trong những thành
tựu nghệ thuật đặc sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là trong thể loạitiểu thuyết trào phúng
34
Trang 37CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ LÁY TRONG SỐ ĐỎ
2.1 Nhận xét chung về tần suất xuất hiện của từ láy trong Số đỏ
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, Số đỏ đã sử dụng khá nhiều từ láy ở các
kiểu láy (láy toàn bộ, láy âm đầu và láy vần) Vũ Trọng Phụng đã dùng từ láy dểdiễn tả thế giới nội tâm và cả những cung bậc cảm xúc ra thế giới bên ngoài
Trong tác phẩm Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng từ láy với tần xuất khá dày
đặc Có những câu văn mà từ láy xuất hiện từ hai đến năm lần
Ví dụ:
* Từ láy xuất hiện hai lần trong câu:
(1) “Sau khi đi qua một cái sân vắng ngắt, người lính cảnh sát dẫn Xuân
Tóc Đỏ và ông lão thầy số đến một cái buồng nhỏ vặn một vòng khóa, rồi mỉa mai ngọt ngào bảo:
- Mời hai ngài vào” [tr 16].
* Từ láy xuất hiện ba lần trong câu:
(2) “Ông ta nói thế một cách liến thoắng trôi chảy như nước suối, sốt sắng như những người không thành thực chút nào cả, đến nỗi bà Phó Đoan
nghe xong, tuy chẳng hiểu quái gì, nhưng cũng thấy êm tai và nhất là sung
sướng, vì cả hai bên cùng làm khác với ý nghĩ mà lại có vẻ như hiểu rõ bụng
tử tế của nhau lắm việc xây sân quần mà lại để cho cả xã hội văn minh thì bà
có cần gì?” [tr 64].
* Từ láy xuất hiện bốn lần trong câu:
(3) “Hôm nay ông phán mày râu nhẵn nhụi, áo quần nho nhã bảnh
bao, trông rõ ra vẻ một người mọc sừng vô tâm, thấy cuộc đời là vui vẻ…” [tr 116]
* Từ láy xuất hiện năm lần trong câu:
35
Trang 38(4) “Cửa xe mở một bà trạc ngoại tứ tuần mà y phục còn trai lơ hơn các
thiếu nữ mặt, bự ra những son và phấn, tóc đen lay láy nhưng mà quăn quăn,
cả người nặng ít ra cũng bảy mươi cân, nhưng cái khăn vành dây đúng mốt hết
sức thì lại nhỏ xíu và ngắn ngủi có một mẩu, một tay cầm một cái dù thật tí
hon và một cái ví da khổng lồ, tay kia ôm một con chó bé trông kỳ dị như một
con kỳ lân, bước xuống đất một cách nặng nề và vất vả.” [tr 10].
Không chỉ xuất hiện dày đặc các từ láy mà còn có những từ láy xuất hiệnhai lần trong một câu
Ví dụ:
(5) “Tôi đã dặn nó thỉnh thoảng phải bảo trẻ nhỏ ra ném sấu ngoài phố,
không thì để nhà cửa cho rõ bẩn thỉu, cống rãnh cho ngập lụt, cho thầy mintoa
thỉnh thoảng biên phạt, thì tôi mới có dịp phạt lại vợ thầy ấy, thế mà nó cứ để
con cái tôi ngoan như bụt, nhà cửa sạch như lau, như chùi! Con khốn nạn, con
ác phụ!” [tr 22].
Cách sử dụng từ láy của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ khá đa dạng và
phong phú cả về mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp Điều này sẽ đem đếnphong cách nghệ thuật riêng của tác giả (chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ vấn đề này ởchương 3) Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ
pháp của từ láy trong tác phẩm Số đỏ.
2.2 Đặc điểm cấu tạo của từ láy trong Số đỏ
2.2.1 Kết quả khảo sát
Qua khảo sát, chúng tôi đã thu được kết quả như sau: Số lượng từ láy mà
Vũ Trọng Phụng đã sử dụng trong tác phẩm là 162 từ láy với tổng số lượt từ láy là
316 lượt Điều đặc biệt là tất cả các từ láy được Vũ Trọng Phụng sử dụng đều là
từ láy đôi Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu cụ thể sự đa dạng của từ láy đôi trong
tác phẩm Số đỏ.
2.2.2 Sự đa dạng của từ láy đôi trong Số đỏ xét về mặt cấu tạo
36
Trang 39Các từ láy đôi được chúng tôi khảo sát trong tác phẩm có sự đa dạng về
cấu tạo Chẳng hạn: mỉa mai, lách tách, thỉnh thoảng, phàn nàn, un un…
(6) Sau khi đi qua một cái sân vắng ngắt, người lính cảnh sát dẫn Xuân
Tóc Đỏ và ông lão thầy số đến một cái buồng nhỏ, vặn một vòng khóa, rồi mỉa
mai ngọt ngào bảo:
- Mời hai ngài vào!” [ tr.16]
(7) “Cánh cửa bị đẩy đánh sập một cái, tiếng ổ khóa bị xoay lách tách,
tiếng giày viên đội sếp mỗi lúc một xa… một ngọn đèn đỏ vì yếu, chiếu một thứ sáng tối tăm cho gian phòng.” [tr.17]
(8) “Trên hè, dưới bóng cây gạo, một ông thầy số đã có tuổi ngồi bình tĩnh
nhìn cái tráp, nghiên mực, miếng son, ống bút với mấy lá số tử vi mẫu, thỉnh
thoảng lại ngáp một cái như một nhà triết học chân chính.” [tr 6]
Các từ láy đôi được Vũ Trọng Phụng sử dụng bao gồm cả từ láy đôi hoàntoàn và từ láy đôi bộ phận với số lượng và tần xuất cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Thống kê số lượng từ láy đôi trong Số đỏ xét về mặt cấu tạo
Từ láy hoàn toàn
Từ láy bộ phận
Tổng
2.2.2.1 Từ láy hoàn toàn
Theo kết quả thống kê có 30 từ láy hoàn toàn chiếm 18,5% tổng số từ láy
đôi Chẳng hạn: bồm bộp, chồm chỗm, đôm đốp, lay láy, lanh lảnh, quăn quăn, hầm hầm…
(9) “Những câu hô như vậy chen lẫn những tiếng bồm bộp của những
quả ban bị đánh đi, như giữ nhịp cho khúc âm nhạc của mấy vạn con ve sầu”.
[tr 5]
(10) “Ngoài đường ở vệ hè, một người bán nước chanh, ngồi chồm chỗm
trên càng xe, đương nói chuyện với một người bạn đồng nghiệp.” [tr 5]
37
Trang 40(11) “ Cửa xe mở, một bà trạc ngoại tứ tuần mà y phục còn trai lơ hơn
của các thiếu nữ, mặt bự ra những son và phấn, tóc đen lay láy nhưng mà
quăn quăn, cả người nặng ít ra cũng bảy mươi cân nhưng cái khăn vành dây
đúng mốt hết sức thì lại nhỏ xíu và ngắn ngủi có một mẩu, một tay cầm một cái
dù thật tí hon và một cái ví da khổng lồ, tay kia ôm một con chó bé trông kỳ dị như một con kỳ lân, bước xuống một cách nặng nề và vất vả.” [tr.10]
Vũ Trọng Phụng đã sử dụng đa dạng tất cả các nhóm trong nhóm các từláy đôi Cụ thể, có các từ láy đôi hoàn toàn có hình vị láy và hình vị cơ sở
giống nhau về phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu (nhóm 1); có các từ láy cóhình vị láy và hình vị cơ sở giống nhau về phụ âm đầu, phần vần, nhưng khácnhau về thanh điệu (nhóm 2); và có các từ láy có hình vị láy và hình vị cơ sởgiống nhau ở phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và âm cuối(nhóm 3) Kết quả khảo sát cụ thể như sau:
Bảng 2.2 Thống kê các từ láy đôi hoàn toàn
tương ứng với các nhóm trong Số đỏ
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Các từ láy đôi hoàn toàn được thống kê cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Thống kê từ láy tương ứng với các nhóm
của từ láy đôi hoàn toàn trong Số đỏ