1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ láy trong tác phẩm số đỏ của vũ trọng phụng

86 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Lấy Trong Tác Phẩm Số Đỏ Của Vũ Trọng Phụng
Tác giả Khambang Thippasone
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Trong ngôn ngữ học, nghiên cứu về từ láy phải kể đến một số nhà ngôn ngữ học như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Ho

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

Người hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ THU HÀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thu Hà và sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đó

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Khambang THIPPASONE

Xác nhận của khoa chuyên môn

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn những ý kiến nhận xét, đánh giá, góp ý quý báu của Hội đồng khoa học giúp em hoàn thiện hơn luận văn

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Khambang THIPPASONE

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt Đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị gốc theo những quy tắc nhất định Từ láy là sự hòa phối ngữ âm giữa các yếu tố tương ứng của các âm tiết; đó là sự hòa phối ngữ

âm có tác dụng biểu trưng hóa Vì thế, nội dung ngữ nghĩa được chứa đựng trong mỗi từ láy, bên cạnh những đặc điểm vốn có như bao từ khác thì nó còn có những đặc điểm rất riêng

2 Vũ Trọng Phụng được biết đến là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX Vũ Trọng Phụng là tác giả có văn nghiệp khá đồ

sộ Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi (27 năm), nhưng trong quãng thời gian cầm bút, ông đã để lại nhiều tác phẩm xuất sắc ở nhiều thể loại khác nhau, mà nổi bật hơn cả là tiểu thuyết và phóng sự Lưu Trọng Lư nhận xét về con người Vũ Trọng Phụng: “Trên trang viết Vũ Trọng Phụng sắc sảo bao nhiêu thì trong cuộc đời Vũ Trọng Phụng càng chân thành bấy nhiêu Con người ấy không giết quá một con muỗi Nhưng thật kì diệu, văn chương của con người ấy làm cho

kẻ trọc phú phải giật mình, kẻ trưởng giả phải cáu kỉnh”

3 “Số đỏ” là tiểu thuyết tập trung đề cập và phê phán tầng lớp tiểu tư sản

Hà Thành đầu thế kỉ XX Từ những bước tiến đáng kinh ngạc của Xuân Tóc Đỏ - một thằng lưu manh đầu đường, câu chuyện đã chuyển hướng nói về “tấn trò đời” của những diễn viên đại tài, những tri thức của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, như bà Phó Đoan, cụ cố Hồng, cô Tuyết, nhà mỹ thuật TYPN, ông đốc tờ Trực Ngôn,… Họ diễn trong cuộc sống, diễn với những người thân, và diễn cả với chính bản thân mình Họ nói chuyện với nhau thật văn hoa “một cách liến thoắng, trôi chảy như nước suối, sốt sắng như những người không thành thực chút nào cả”, mà người nghe thì “tuy chẳng hiểu cái quái gì, nhưng cũng thấy êm tai, và nhất là sung sướng.” Bấy nhiêu con người góp mặt trong một bức tranh hết sức

Trang 7

chân thật về cuộc sống của lớp thị dân Việt Nam, quay cuồng trong cái công cuộc

"cách tân", "âu hóa"

Vì những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Từ láy trong Số đỏ của Vũ

Trọng Phụng” để tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ văn học, về sự phong phú, đa dạng và khả năng biểu đạt tinh tế, chính xác, linh hoạt của các lớp từ láy tiếng Việt

2 Lịch sử vấn đề

Trong ngôn ngữ học, nghiên cứu về từ láy phải kể đến một số nhà ngôn ngữ học như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đào Thản, Nguyễn Thị Hai, Hữu Đạt, Nguyễn Đức Tồn… Những công trình của các tác giả đã chú ý đến đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, giá trị biểu trưng, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm của từ láy

Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: các sách nghiên cứu về tiếng Việt trong đó có từ láy, những chuyên luận về từ láy các tác phẩm là các

bài nghiên cứu trên các tạp chí Có thể kể đến như: Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành Nxb Khoa học Xã hội, 1985 Về một hiện tượng láy trong

tiếng Việt của Hoàng Văn Hành, đăng trong tạp chí ngôn ngữ số 2, 1979 Vấn

đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại của Hồ Lê, Nxb Khoa học Xã hội, 1976

Về từ lấp láy của văn học thế kỷ XVII đăng trong cuốn “Giữ gìn sự trong sáng

của tiếng Việt về mặt từ ngữ”, tập 2 Nxb Khoa học Xã hội 1981, Vấn đề từ láy

trong tiếng Việt của Hà Quang Năng in trong Từ láy những vấn đề còn bỏ ngỏ,

Nxb Khoa học Xã hội, 1998… Cũng có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề từ

láy trong các tác phẩm văn học Việt Nam như: “Hệ thống từ láy tiếng Việt

trong một số khúc ngâm thế kỷ XIX” luận văn thạc sĩ ngữ văn của Nguyễn Thị

Hường Đại học Sư phạm Hà Nội (2004), “Từ láy trong thơ văn Nguyễn Đình

Trang 8

Chiểu” - luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Hoàng Thị Lan (Trường Đại học Sư

phạm Thái Nguyên, 2009)…

Nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng và những tác phẩm của ông, chúng ta có thể kể đến một số công trình như “Đánh giá lại Số đỏ” - Phan Cự Đệ, năm 1989; “Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng” của Hà Bình Trị trên Tạp chí Văn học số 3, 1990; “Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ” của Hoàng Ngọc Hiến, 1990; “Nhân vật Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng” bài của Hà Minh Đức, 1998; “Cái nhìn bi quan mang nghĩa cảnh tỉnh” của Vương Trí Nhàn, 1999; “Số đỏ của Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam” của Peter Zinoman, 2002, V ũ Trọng Phụng - Về tác gia và tác phẩm

(NXB Giáo dục, 2003); Mấy suy nghĩ từ cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng

Phụng của Nguyễn Đăng Mạnh (Tạp chí Sông Hương, số 250, tháng 12 năm

2009), “Số đỏ” và “Kỹ nghệ lấy Tây” của Vũ Trọng Phụng: Từ tác phẩm văn

học đến tác phẩm sân khấu, luận văn thạc sĩ của Phạm Thụy Ngọc Quỳnh,

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012; Thi pháp tiểu

thuyết Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Thanh (NXB Văn học, 2013); Tiếp cận thế giới nhân vật Vũ Trọng Phụng từ góc nhìn phân tâm học của Nguyễn Thị

Thương, luận văn thạc sĩ ngành Văn học Việt Nam hiện đại, Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, 2014; Vũ Trọng Phụng và những tác phẩm vượt thời gian

(NXB Văn học, 2019)…

Qua các công trình tiêu biểu nói trên cũng như một số chuyên luận khảo cứu sau đó cho chúng ta thấy việc nghiên cứu Vũ Trọng Phụng đã ngày càng được mở rộng và đào sâu trên cơ sở tư liệu về nhiều mặt Tuy nhiên, đến nay

vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về từ láy trong tác phẩm Số đỏ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ đặc điểm của từ láy trong tác

phẩm Số đỏ trên các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ pháp; đồng thời phân

Trang 9

tích được giá trị, vai trò của từ láy trong tác phẩm Số đỏ trong việc miêu tả ngoại hình và tính cách nhân vật

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

- Khảo sát, thống kê, phân loại từ láy Vũ Trọng Phụng sử dụng trong tác

phẩm Số đỏ

- Nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm của từ láy trong Số đỏ trên các phương

diện cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp

- Phân tích vai trò, giá trị, tầm quan trọng của từ láy mà tác giả Vũ Trọng Phụng đã sử dụng để xây dựng, khắc họa hình tượng của các nhân vật trong tác

phẩm Số đỏ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống từ láy và việc sử dụng từ

láy trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu từ láy trên các phương diện cấu trúc, ngữ

nghĩa, ngữ pháp và giá trị sử dụng của chúng trong tác phẩm Số đỏ

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn nghiên cứu từ láy trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

nhằm làm sáng tỏ những đặc trưng cấu tạo, ngữ nghĩa của từ láy Những kết quả nghiên cứu có thể góp phần cung cấp những gợi ý cho việc tiếp cận tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ học Những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng có thể được làm sáng tỏ thông qua cách sử dụng, khai thác chất liệu

từ láy trong tác phẩm

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Trang 10

6.1 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để miêu tả những đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của các nhóm từ láy xuất hiện trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Đặc điểm của từ láy trong Số đỏ

Chương 3 Vai trò của từ láy trong Số đỏ

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Những vấn đề chung về từ tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm

“Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm của ngôn ngữ” [13] Từ là loại vật liệu cơ bản nhưng đặc biệt, thiếu nó thì ngôn ngữ không thể tồn tại Nó được sử dụng để cấu tạo nên câu, câu được sử dụng trong giao tiếp và tư duy Nói cách khác thì không có từ sẽ không có các đơn vị ngôn ngữ

Cho tới nay, có khoảng trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Có thể kể đến một số định nghĩa về từ như sau:

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất

có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [16, 69]

Trong cuốn “Vấn đề của cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại”, Hồ Lê cho rằng “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chức về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [27]

Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” đã nêu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [13]

Nguyễn Kim Thản trong cuốn “Nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt” cho rằng “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để sử dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý

Trang 12

bất biết về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học(như quan hệ về số,về giống…)và cú pháp trong câu,nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, úng với những nghĩa nhất định,sẵn

có đối với mọi thành viên trong xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11; 29]

1.1.2 Các phương thức cấu tạo từ

“Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị

để cho ta các từ” [11; 28] Theo Đỗ Hữu Châu, tiếng Việt sử dụng ba phương thức tạo từ: từ hóa hình vị, phương thức ghép, phương thức láy

Từ hóa hình vị: Phương thức từ hóa hình vị là phương thức tác động

vào bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó Từ đơn trong tiếng Việt được tạo thành nhờ phương thức này Ví dụ

các từ đơn: bàn, ghế, áo, quần, nhà, cửa… được tạo từ hình vị: bàn, ghế, áo,

quần, nhà, cửa…

Sau này Hoàng Văn Hành đã tiếp thu ý kiến của Đỗ Hữu Châu và định nghĩa: “Từ hoá hình vị là quá trình cấu tạo từ mà trong đó hình vị được cấp những đặc trưng nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp theo những quy tắc nhất định để thành từ đơn”

Phương thức ghép: Phương thức ghép là phương thức tác động vào hai

hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ) Từ được tạo ra từ phương thức này được gọi là từ ghép Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa mà người ta chia thành từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập

Ví dụ: Phương thức ghép tác động vào các hình vị “xe” và hình vị “máy” cho từ “xe máy”, tác động vào các hình vị “lái” và hình vị “xe” cho từ “lái xe”,…

Biểu đồ của phương thức ghép là:

Trang 13

Phương thức láy: Phương thức là phương thức tác động vào một hình vị

cơ sở (hình vị gốc), làm xuất hiện một hình vị thứ sinh (hình vị láy) Hình vị láy và hình vị cơ sở có quan hệ về mặt ngữ âm, hình vị láy giống hình vị cơ sở toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một

từ gọi gọi là từ láy Ví dụ: phương thức láy tác động vào hình vị “xinh” cho ta hình vị láy: xinh, hình vị láy và hình vị cơ sở tạo thành từ “xinh xinh”; tác động vào hình vị “đo” cho ta hình vị láy “đỏ” do đó có từ “đo đỏ”,

Biểu đồ của phương thức láy là:

Nếu như phương thức ghép tác động vào hình vị cơ sở, riêng rẽ, đối lập với nhau thì phương thức láy chỉ tác động vào một hình vị cơ sở làm nảy sinh đơn vị mới có quan hệ thứ sinh với hình vị gốc cũng tuân theo quy tắc nhất định Quy tắc ấy được gọi là quy tắc điệp - đối [19, 30]

1.1.3 Phân loại từ xét về kiểu cấu tạo

1.1.3 Phân loại các từ tiếng Việt xét theo kiểu cấu tạo

Dựa theo các phương thức tạo từ đã nêu ở trên thì từ tiếng Việt xét theo kiểu cấu tạo có thể chia thành hai loại lớn là từ đơn và từ phức Trong đó từ phức được chia thành từ ghép và từ láy Tùy theo đặc điểm mà mỗi loại từ lại được phân chia thành các kiểu khác nhau Theo như cách phân loại trên, ta có bảng phân loại từ tiếng Việt theo kiểu cấu tạo như sau:

Bảng 1.1 Bảng phân loại cơ bản từ tiếng Việt xét theo kiểu cấu tạo

Trang 14

1.1.3.1 Từ đơn

a Khái niệm:

Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ đơn là những từ một hình vị” [11, 40] Từ đơn chủ yếu được tạo nên bởi phương thức “từ hóa hình vị”

Ví dụ: ăn, mặc, nằm, nhà, cửa, xe…

Từ đơn chỉ được tạo nên bởi một hình vị, gồm một bộ phận không thể chia ra được nữa vì nó là ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, do đó nó khác với từ phức

 Xét về mặt ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta tiếp thu và ghi nhớ nghĩa của từng từ một cách riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghãi của từ

 Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời, chúng có thể là những từ có nguồn gốc thuần Việt hay một số từ được vay mượn từ ngôn ngữ nước ngoài

 Xét về mặt số lượng, từ đơn chiếm số lượng khá lớn hơn so với từ ghép và từ láy, trong đó chúng còn là những từ cơ bản nhất, nắm giữ vai trò quan trong trong việc biểu thị các khái niệm liên quan đến đời sống và cấu tạo

từ mới cho tiếng Việt…

b Phân loại:

Trang 15

Từ đơn được chia thành hai loại: từ đơn âm thuần Việt, từ đơn là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu

 Từ đơn âm thuần Việt

Từ đơn âm thuần Việt chiếm một số lượng khá lớn Chúng là những từ đơn một âm tiết, chỉ có một hình vị và đồng thời chỉ có một âm tiết

Ví dụ: vợ, chồng, đất, trời,

 Từ đơn là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu

Từ đơn là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu chiếm số lượng ít Chính là những từ đơn đa âm tiết, đó là những từ có một hình vị có thể mang hai

âm tiết

Ví dụ: radio, axit, cafe,

Một số từ đơn một âm tiết được tạo thành nhờ các từ đơn đa âm có cấu tạo theo quy tắc rút gọn; các từ đơn đa âm này sẽ được lược bỏ đi một số âm tiết và sau đó hình vị hóa âm tiết còn lại

1.1.3.2 Từ ghép

a Khái niệm:

Theo Đỗ Hữu Châu thì “Từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hay một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo), tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [11, 55] Từ ghép chủ yếu được tạo nên bởi phương thức ghép, đó là những từ

có hai hoặc hơn hai hình vị được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa

Trong tiếng Việt, điển hình là những từ ghép 2 hình vị Ví dụ: nhà cửa,

xe máy, máy bay, quần áo…

Trang 16

Ví dụ: nhưng mà, vì sao, cho rằng, mặc dù, tuy vậy, do đó

“Từ ghép thực là những từ ghép do hai hoặc hơn hai hình vị thực kết hợp với nhau” [11,12]

Ví dụ: bàn ghế, bát đũa, cửa sổ, máy bay

* Xét đến mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị trong từ ghép được chia thành hai loại: quan hệ chính phụ và quan hệ đẳng lập Từ đó, ta rút ra được hai loại từ ghép tương ứng: từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ) và từ ghép hợp nghĩa (từ ghép đẳng lập) Ngoài hai loại từ ghép trên, còn có từ ghép biệt lập

Cụ thể như sau:

 Từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ)

Từ ghép phân nghĩa (hay từ ghép chính phụ) là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn nhưng độc lập với nhau và độc lập với loại lớn”[11,12]

phải có nghĩa ngang bằng nhau (cùng thuộc một phạm trù ngữ nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, ) Nghĩa của từ ghép hợp nghĩa luôn bao trùm nghĩa của cả hai hình vị cấu tạo từ, và luôn lớn hơn nghĩa của từ ghép phân nghĩa tương ứng [11,12]

Ví dụ:

“Quần áo”: hai từ đều bình đẳng về nghĩa

“May mặc”

Trang 17

và vần hay chỉ giống nhau về âm hoặc về vần, trong đó có một hình vị có nghĩa

và một hình vị mờ nghĩa hoặc tất cả các hình vị đều mờ nghĩa

Từ láy được phân loại và cấu tạo theo những quy tắc nhất định, đây

chính là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu từ láy trong Số đỏ của

Vũ Trọng Phụng

1.2 Từ láy

1.2.1 Các quan niệm về từ láy tiếng Việt

Hiện tượng láy không phải chỉ riêng có ở tiếng Việt mà còn có ở nhiều ngôn ngữ khác Nó là hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng, đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nôn ngữ trong và ngoài nước Sở

dĩ như vậy là vì từ láy mang trong mình những đặc trưng có tính chất loại hình của tiếng Việt cũng như của các ngôn ngữu đơn lập khác ở phương Đông Trong tiếng Việt, từ láy là kết quả của một phương thức tạo từ đặc biệt Nhờ có phương thức láy mà tiếng Việt đã được bổ sung một bộ phận từ quan trọng với

số lượng lớn nhưng, cũng chính vì có số lượng lớn, lại được cấu tạp theo phương thức đặc biệt nên việc nghiên cứu, tìm hiểu từ láy vẫn còn là một việc làm hấp dẫn cho những ai quan tâm đến nó Mặc dù các nhà nghiên cứu đều có

Trang 18

chung mục đích: làm rõ bản chất của hiện tượng láy về mặt lý thuyết trong ngôn ngữ nói chung, cũng như trong Việt ngữ học nói riêng để từ đó góp phần tích cực vào việc giải quyết một số vấn đề thiết thực đang được đặt ra trong thực tiễn như: vấn đề sử dụng từ láy trong văn thơ, trong ngôn ngữ hằng ngày, vấn đề giảng dạy từ láy trong nhà trường…

Các tác giả Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hồ Lê, Nguyễn Tài Cẩn… là những người quan tâm đến vấn đề

từ láy Các nhà nghiên cứu trên đã có nhứng cách gọi khác nhau về bộ phận

từ này: từ lấp láy (Hồ Lê, 1976; Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn, 1975; Nguyễn Văn Tu, 1976); từ láy (Hoàng Tuệ, 1978;

Đào Thản, 1970; Hoàng Văn Hành, 1979,1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985;

Đỗ Hữu Châu, 1981, 1986; Diệp Quang Ban, 1989)… Sự tồn tại nhiều tên gọi khác nhau về cùng một khái niệm cho thấy quan niệm của các nhà nghiên cứu về từ láy không hoàn toàn giống nhau Tuy chưa có sự thống nhất về cách gọi nhưng chúng ta có thể thấy: về cơ bản đã có sự tương đối thống nhất trong quan niệm của các nhà nghiên cứu về từ láy tiếng Việt ở cách cấu tạo và các cách phân loại

Hồ Lê trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại cho rằng:

“Từ lắp láy là những từ được cấu tạo theo phương thức lấp láy” Từ đó tác giả

đã phân biệt từ lấp láy thành từ đơn lấp láy và từ ghép lấp láy Hồ Lê đưa ra định nghĩa: “Phương thức lấp láy là một phương thức ngữ pháp (chủ yếu là phương thức cấu tạo từ) lấy sự điệp (một hay nhiều bộ phận của từ) làm phương tiện biểu thị” [28, 162]

Trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định

nghĩa về từ láy như sau: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và

Trang 19

nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [11]

Nghiên cứu về từ láy, Đỗ Hữu Châu đã chú ý nhiều đến quy tắc trong cấu tạo của từ láy Trong khái niệm mà ông đưa ra, ông đã đề cập đến mặt nghĩa của từ láy như: từ láy có tác dụng hình tượng hóa, khái quát hóa, miêu tả cảm giác, giá trị biểu cảm, giảm nhẹ, tăng cường, tính cảm giác, tính hình tượng… Tuy nhiên, cái ưu thế về mặt ngữ nghĩa của từ láy trong văn chương nghệ thuật như là sự biểu cảm, giá trị gợi cảm âm thanh đường nét, giá trị góp phần biểu hiện nội dung và tạo phong cách tác giả… lại không được nhấn mạnh, đi sâu vào nghiên cứu

Quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn có thể coi là quan niệm rộng nhất về từ láy Theo đó, từ láy được hiểu là “loại từ ghép, trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan niệm ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần

và âm cuối vần)” [4, 109-110] Tác giả cũng nêu rõ: “Sở dĩ trong định nghĩa phải nói “theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay là vì có nhiều tổ hợp vốn trước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng trên diện đồng đại

mà xét thì đã chuyển sang thành kiểu láy âm” [4, 111]

Trong công trình nghiên cứu Từ vựng học tiếng Việt, nxb Giáo dục,

2002, Nguyễn Thiện Giáp đã chú ý tới giá trị ngữ nghĩa của từ láy Ông cho rằng, từ láy vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả Những quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp đã được Hoàng Văn Hành đồng tình Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa: “Ngữ láy

âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ

âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả” [86] Cách định nghĩa này cũng giống với

Trang 20

cách định nghĩa của Hoàng Văn Hành (về cơ bản) trong cuốn Từ láy trong

tiếng Việt Ông định nghĩa: “Láy là sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng

hóa” [16]

Như vậy, theo các quan niệm trên đây về từ láy, chúng ta có thể thấy có

2 quan điểm chính: coi láy như một phương thức cấu tạo từ riêng biệt và coi láy

là ghép

Hầu hết các tác giả đều thống nhất cho rằng: láy có sự hòa phối ngữ âm,

cơ chế cấu tạo của từ láy đó là láy được tạo thành từ một hình vị gốc, sau đó làm nhân lên tạo thành hình vị láy Gộp chúng lại với nhau ta có từ láy, thành

tố láy có thể lặp lại một phần hay toàn bộ thành tố chính

Tuy nhiên, có những tác giả cho rằng từ láy chỉ thiên về mặt ngữ âm mà chưa chú trọng tới mặt ngữ nghĩa; các tác giả khác lại chú trọng cả phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa Do vậy, khi chúng ta nghiên cứu về từ láy, chúng ta phải chú trọng cả hai bình diện ngữ âm và ngữ nghĩa: về ngữ âm, từ láy gồm hai hình vị trở lên, hình vị láy phải láy lại hoàn toàn hay bộ phận của hình vị gốc;

về nghĩa, chỉ có một hình vị gốc rõ nghĩa, hình vị còn lại mất nghĩa hoặc không

có nghĩa, có những từ láy cả hai hình vị đều không có nghĩa, khi đó nó phải mang nghĩa biểu trưng hoặc sắc thái hóa

Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy quan niệm của

Đỗ Hữu Châu là dễ hiểu hơn cả Chính vì thế, chúng tôi xin theo quan điểm của

Đỗ Hữu Châu như sau: “Từ láy âm là những từ láy được cấu tạo theo phương thức láy, đó là những phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết ( với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao - thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp - thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng của hình vị có nghĩa…” [11, 40]

1.2.2 Phân loại từ láy

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm: láy là phương thức cấu tạo từ Từ láy là kết quả của phương thức láy với đặc trưng hòa phối

Trang 21

ngữ âm, với các quy tắc nhất định là điệp và đối “Điệp và đối là được hiểu theo nghĩa rồng điệp là sự lặp lại, sự đồng nhất về âm, về nghĩa; còn đối là sự sai khác, sự dị biệt cũng về âm, về nghĩa Đồng nhất và dị biệt có quy tắc chứ không phải tùy tiện, là ngẫu nhiên” [22, 88] Như vậy, từ quan điểm này, từ láy được phân loại theo các tiêu chí:

- Số lượng âm tiết trong từ láy

- Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của từ láy

a Dựa vào số lượng âm tiết trong từ láy

Trong tiếng Việt, dựa vào tiêu chí này, từ láy đươc chia thành: từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư

Từ láy đôi: là từ láy bao gồm hai âm tiết (hai tiếng), có quan hệ với nhau

về mặt ngữ âm Ở kiểu này, phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị

gốc, ví dụ: đo đỏ, tim tím, đủng đỉnh, long lanh, rung rinh…Từ láy đôi chiếm

đại số lượng rất lớn trong tống số từ láy của người Việt “từ láy đôi chiếm vị trú hàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số các từ láy mà chính là vì ở từ láy đôi, tất cả các đặc trưng cơ bản thể hiện các bản chất của hiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng âm thanh lẫn ở bình diện ngữ nghĩa đều được bộc lộ đầy đủ [31, 21]

Từ láy ba: là từ những đơn vị gồm ba âm tiết (ba tiếng), có sự hòa phối

ngữ âm Ví dụ: cỏn còn con, tất tần tật… Trong kiểu láy này, có một âm tiết có

nghĩa và đây chính là hình vị gốc, hai hình vị còn lại chính là hình vị láy Số lượng từ láy ba không nhiều nhưng phần lớn đều là từ láy hoàn toàn Về thanh điệu, trong từ láy ba âm tiết thứ hai thường mang thanh bằng, âm tiết thứ nhất

và thứ ba thường có sự đối thanh

Ví dụ: sạch sành sanh = sạch + sành + sanh

(thanh trắc) (thanh bằng) (thanh bằng)

Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lê:

Xốp xồm xộp = xốp + xồm + xộp

Trang 22

(thanh trắc) (thanh bằng) (thanh trắc)

Từ láy tư: là từ láy bao gồm bốn âm tiết (bốn tiếng), giữa các tiếng có

sự hòa phối ngữ âm với nhau Đây là kết quả của sự tác động một lần vào từ láy đôi

Ví dụ: khểnh khấp khểnh khấp kha khấp khểnh

Theo Hà Quang Năng, từ láy tư là một cấu trúc gồm bốn tiếng, trong đó chỉ có nhiều nhất một tiếng hoặc một cặp đôi hai tiếng liền nhau có ý nghĩa từ vựng chân thực, có khả năng hoạt động độc lập, nằm trong sự hòa phối âm thanh với cả tổng thể hoặc cặp hai tiếng còn lại theo những quy luật nhất định tạo nên ý nghĩa khái quát nào đó [31, tr 39]

Tuy nhiên, từ láy tư cũng đa dạng về kiểu láy, có thể phân thành hai loại lớn: từ láy tư được cấu tạo trên cơ sở của từ láy đôi bộ phận và từ láy tư được cấu tạo không phải dựa trên cơ sở của từ láy đôi bộ phận

Dựa trên cơ sở từ láy đôi bộ phận, từ láy tư được chia thành 5 kiểu:

- Kiểu 1: Lặp lại hai lần từ láy đôi cơ sở

Ví dụ: hấp tấp  hấp ta hấp tấp

bập bõm  bập bà bập bõm Đại bộ phận từ láy tư đều được cấu tạo theo kiểu này Trong kiểu láy tư này phần láy luôn đứng trước phần gốc

- Kiểu 2: Lặp lại toàn bộ từ láy đôi cơ sở, trong khi lặp lại biến đổi thanh điệu sao cho hai âm tiết đầu mang thanh điệu thuộc âm vực cao, hai âm tiết sau mang thanh điệu thuộc âm vực thấp, thường là: hỏi hỏi - huyền huyền, sắc sắc - nặng nặng

Ví dụ: bổi hổi bồi hồi, loáng choáng loạng choạng…

- Kiểu 3: Hai tiếng của hình vị láy và hai tiếng ở hình vị gốc tách đan xen nhau theo thế cặp đôi

Ví dụ: xăng xít  lăng xăng lít xít

Trang 23

thơ thẩn  lơ thơ lẩn thẩn

- Kiểu 4: Láy lại từng tiếng một của từ láy đôi cơ sở theo đúng thứ tự trong từ láy đôi cơ sở theo mô hình AB  AABB

Ví dụ: hùng hổ  hùng hùng hổ hổ

vội vàng  vội vội vàng vàng

- Kiểu 5: Ghép hai từ láy đôi bộ phận có ý nghĩa từ vựng tương ứng, gần gũi nhau để tạo thành từ láy tư

Ví dụ: tẩn mẩn tần mần, lôi thôi lếch thếch…

Những từ láy tư được cấu tạo không dựa trên cơ sở của từ láy đôi bộ phận được chia thành hai kiểu:

- Kiểu 1: Kiểu ABAC

A là một từ đơn có nghĩa, còn BC là một khuôn láy kết hợp AB, AC không có khả năng tồn tại riêng biệt nhưng khi ghép lại thành khối ABAC thì lại có nghĩa của A với sắc thái do BC tạo nên

Ví dụ: vắng  vắng ngơ vắng ngắt

buồn  buồn thỉu buôn thiu

- Kiểu 2: Kiểu AABB

Trong kiểu này, AB là một từ ghép hoặc là một tổ hợp từ

Ví dụ: trùng điệp  trùng trùng điệp điệp

tầng lớp  tầng tầng lớp lớp Ngoài ra còn có những từ láy tư mang tính chất lẻ tẻ, chưa thành hệ

thống như: xinh xinh xinh xinh, tí ti tì ti, teo tẻo tèo teo…

Đây cũng là cách phân loại từ láy mà chúng tôi sử dụng làm cơ sở cho các phần nghiên cứu tiếp theo của đề tài này

b Dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo cuả từ láy

Dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt về sự hòa phối ngữ âm giữa hình vị

cơ sở và hình vị láy, các nhà ngôn ngữ đã chia từ láy thành láy toàn bộ và láy

bộ phận (âm đầu, vần):

Trang 24

Láy toàn bộ (láy hoàn toàn): Đỗ Hữu Châu xem láy hoàn toàn nếu toàn

bộ âm tiết của hình vị cơ sở được láy lại, cũng tương tự như vậy Hoàng Văn Hành cũng đã nói đặc trưng chung của từ láy hoàn toàn là trong cấu tạo của nó, tiếng gốc được lặp lại ở toàn bộ tiếng láy; Hà Quang Năng cho rằng “từ láy hoàn toàn là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố” [ 31, 21] Như vậy, láy toàn bộ có một hình vị

láy được lặp lại nguyên vẹn hình thức ngữ âm của hình vị gốc Ví dụ: xanh

xanh, đỏ đỏ, chầm chậm, nhanh nhanh, đùng đùng, lành lạnh, nằng nặng, vân vân, lành lạnh Ở từ láy hoàn toàn, không phải lúc nào hình vị láy cũng lặp lại

toàn bộ những gì có ở hình vị cơ sở mà đôi khi chúng có sự biến đổi theo quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa

Từ láy hoàn toàn giữa hai âm tiết giống hệt nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và kéo dài trong quá

trình phát âm, ví dụ: xanh xanh, ầm ầm, rào rào, nhanh nhanh…trọng âm thường rơi vào âm tiết thứ hai

Từ láy hoàn toàn có sự khác nhau về thanh điệu Do sự phát âm lướt nhẹ ở âm tiết thứ nhất nên có hiện tượng biến thanh để cho việc phát âm được dễ hơn:

đỏ đỏ đo đỏ khẽ khẽ khe khẽ

tím tím tim tím

Từ láy hoàn toàn giữa hai âm tiết có sự khác nhau về âm cuối Hiện tượng láy này tuân theo quy tắc chặt chẽ: phụ âm tắc vô thanh chuyển thành phụ âm vang mũi:

/-p/  /-m/

/-t/  /-n/

/-k/  /-ng/

Ví dụ: đẹp đèm đẹp

Trang 25

tốt tôn tốt

Láy bộ phận (âm đầu, vần): là từ láy trong đó có sự phối hợp ngữ âm

của từng bộ phận âm tiết theo những quy tắc nhất định Dựa vào bộ phận được

lặp lại, từ láy bộ phận được chia thành láy âm và láy vần:

Từ láy âm: theo Đỗ Hữu Châu, có hai kiểu từ láy âm lớn là từ láy âm có

hình vị cơ sở ở trước và từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau Các từ láy âm có hình

vị cơ sở ở trước gồm có nhiều kiểu nhỏ (căn cứ vào vần của hình vị láy) hơn

các từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau Ví dụ: vội vã, phờ phạc, gọn ghẽ, não nề,

rầu rĩ, dây dưa, gầy gò, ví von, dựa dẫm, tung tăng, cay cú… Các từ láy âm có

hình vị cơ sở đứng sau: ngậm ngùi, lung tung, …

Từ láy vần: là từ láy mà phần vần của hình vị láy lặp lại phần vần của

hình vị cơ sở còn âm đầu chúng khác nhau và đi thành từng cặp:

Ví dụ:

l  b: lềnh bềnh, lèm bèm…

d: lò dò…

b  nh: bắng nhắng  kh: băn khoăn

Ngoài những ví dụ kể trên từ láy vần vẫn còn những cặp: b - h, b - ch, b -

r, b - x, c - d, ch - l…

1.2.3 Đặc điểm về ngữ nghĩa

Khi phân loại từ láy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa vào hình thức ngữ âm Vì thế, việc dựa vào ngữ nghĩa để phân loại từ láy trong tiếng Việt không phải là việc dễ dàng Hiện nay, việc phân loại từ láy dựa vào nghĩa, có thể kể đến quan điểm của Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu

Dựa vào “sự tương quan âm - nghĩa”, Hoàng Tuệ đã chia từ láy thành

ba nhóm:

- Nhóm 1: Những từ mô phỏng tiếng vang: gâu gâu, ào ào, meo meo, hì

hì…, [35, 21]

Trang 26

- Nhóm 2: Những từ láy bao gồm một âm tiết - hình vị: muộn màng,

vững vàng, vụn vặt, nhau nhảu, xin xỏ… [35, 22]

- Nhóm 3; Những từ không bao gồm một âm tiết - hình vị những lại là

những từ có giá trị biểu cảm rất rõ: hớn hở, lai rai, hổn hển, lác đác, bâng

khuâng… [35, 24]

Hoàng Văn Hành đã chú trọng đến mối liên hệ âm - nghĩa với quan điểm láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng về nghĩa Hoàng văn Hành đã chia từ láy thành các tiểu loại sau đây:

- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản - từ tượng thanh, từ tiếng vang:

tí tách, lộp bộp… Từ láy thuộc nhóm này mô phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ

chế láy

- Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: lênh đênh, bâng khuâng…

Những từ láy này đều không xác định được tiếng gốc Cả từ láy là một chỉnh thể thống nhất

- Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa: đỏ

đắn, bồng bềnh, gọn ghẽ… Những từ láy này có thể xác định được yếu tố gốc

và yếu tố láy Ý nghĩa của từ được hình thành từ hình vị gốc, còn hình vị láy đem lại một sắc thái ý nghĩa nào đó cho từ, làm cho ý nghĩa của từ khác với ý nghĩa của hình vị gốc khi nó đứng riêng rẽ một mình

Tiêu chí của Đỗ Hữu Châu là lấy tính đột biến hay tính sắc thái làm tiêu chí để phân loại từ láy Theo Đỗ Hữu Châu, những từ láy trong tiếng Việt thường có những nghĩa sau đây:

Thứ nhất, nghĩa tổng hợp khái quát là những từ láy mang nghĩa lặp đi

lặp lại với cùng một trạng thái hoạt động tính chất đó là nghĩa của các từ láy

toàn bộ như ngày ngày, tháng tháng, người người, nhà nhà… và nghĩa khái quát của các từ như máy móc, mùa màng, da dẻ… mang sắc thái nghĩa mỉa mai

chê bai châm biếm đối tượng

Trang 27

Thứ hai, nghĩa sắc thái hóa, “Sắc thái hóa có nghĩa là thêm cho ý nghĩa

của hình vị cơ sở một số sắc thái nào đó chứ không thay đổi hẳn nó Kết quả của sự sắc thái hóa có thể là thu hẹp - và kèm theo sự thu hẹp là làm phong phú thêm nội dung - hoặc mở rộng - và kèm theo sự mở rộng là sự giảm bớt các thuộc tính trong nội dung - phạm vi biểu vật của hình vị cơ sở [11, 43] Phương

thức sắc thái hóa tạo ra “từ đồng nghĩa” nhưng khác nhau về sắc thái biểu hiện

mà sắc thái biểu hiện một phần do khuôn vần quy định Ví dụ:

Xanh xanh xao

Nhỏ nhỏ nhắn

nho nhỏ

Ở các ví dụ trên, phương thức láy mang nghĩa sắc thái hóa có thể làm giảm hoặc tăng sự cảm nhận so với hình vị cơ sở và nó mang tính chủ quan của

người nói Ví dụ: xanh xanh: mang sắc thái giảm nhẹ so với hình vị cơ sở

Đặc biệt, Đỗ Hữu Châu đã xác định được một số kiểu ý nghĩa nói chung của phương thức láy; ông đã chỉ ra một số kiểu láy tận cùng có ý nghĩa tương đối thuần nhất, như:

Các từ láy toàn bộ có hình vị cơ sở gốc là tính từ ở sau, hình vị láy ở trước với thanh bằng thường diễn đạt sự giảm nhẹ tính chất kèm theo sự

“loang” ra của tính chất đó: nhè nhẹ, tim tím…; nếu hình vị láy ở trước có thanh trắc thì ý nghĩa, mức độ sẽ tăng lên: dửng dung, cỏn con…

Các từ láy toàn bộ gốc động từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại, cường độ

giảm nhẹ đi: gật gật, lắc lắc…

Các từ láy toàn bộ gốc danh từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại một số sự

kiện, hiện tượng, sự vật… cùng tính chất: ngày ngày, đêm đêm…

Bên cạnh đó, Đỗ Hữu Châu cũng chú ý tới ý nghĩa của các khuôn vần tiếng Việt Khuôn vần là cấu trúc được cấu tạo bằng âm đệm, âm chính, âm cuối Khuôn vần có giá trị tạo nên tính hình tượng, tính biểu cảm cho các từ láy

Trang 28

Khuôn vần [a]: “a” là nguyên âm có độ mở lớn nhất trong các nguyên âm của tiếng Việt Vì thế, nó phụ hợp với việc diễn tả sự mạnh mẽ, to lớn, những

gì mang tính chất lan tỏa trong không gian Ví dụ: ha ha, xa xa…

Khuôn vần [i]: “i” là nguyên âm hàng trước, có độ mở hẹp nên nó phù

hợp với việc diễn tả, gợi ra những gì nhỏ bé: ti hí, li ti…

Khuôn vần [u]: “u” là nguyên âm hàng sau, tròn môi, có độ mở hẹp Do

vậy nó thường diễn tả những thứ nhỏ bé, tối tăm: tù mù, tù đù, bù xù, ù ù…

Khuôn vần có cặp nguyên âm [ê - a]: thể hiện ý nghĩa kéo dài về thời

gian hoặc mở rộng trong không gian (ê a, kề cà, lê la)

Khuôn vần [ăn]: thường diễn tả một tính chất đạt chuẩn mực chứng tỏ

người mang hoặc thực hiện tính chất đó là người trung thực, tin cậy được: đầy

đặn, mặn mà, ngay ngắn, thẳng thắn, vuông vắn

Khuôn vần [âp]: thường diễn tả sự dao động đều đặn theo chiều lên

xuống hoặc theo tình thế hiện ra - mất đi: nhấp nhô, bấp bênh, gập ghềnh…

Khuôn vần [uc]: diễn tả sự dao động theo chiều ngang từng quãng ngắn:

rục rịch, nhúc nhích…

Khuôn vần [iếc] thường diễn tả ý nghĩa phi cá thể hóa kèm theo thái độ

phủ định giá trị thực của sự vật, hiện tượng: sách siếc, bàn biếc, làm liếc…

Vận dụng và tiếp thu quan điểm phân loại từ láy theo tiêu chí ngữ nghĩa của các nhà nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại từ láy về mặt ngữ

nghĩa theo các tiêu chí sau: nghĩa sắc thái hóa và nghĩa tổng hợp khái quát

1.3 Vai trò của từ láy trong tác phẩm văn chương

Tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa đã xếp từ láy là một loại phương tiện tu từ từ vựng, một cơ sở để hình thành biện pháp tu từ ngữ âm Với đặc điểm ngữ âm là sự hòa phối âm thanh, từ láy đã tạo ra những điểm nhấn đáng chú ý trong lời văn, câu thơ Chúng gợi cho người đọc những ấn tượng mới mẻ, tạo điều kiện để trí tưởng tượng hoạt động Từ láy nói riêng và các yếu tố láy âm nói chung luôn cho ấn tượng nhòe về nghĩa, vang về âm,

Trang 29

hạn chế về hoạt động ở thang độ cao nhất - đây lại là yêu cầu hàng đầu đối với ngôn ngữ nghệ thuật, nhất là ngôn ngữ thơ luôn yêu cầu có độ dư vang, sự mơ

hồ của câu chữ, từ đó thôi thúc độc giả phải vận dụng mọi giác quan để cảm hiểu tác phẩm Kết quả là khi đi sâu nghiên cứu vốn ngôn ngữ, Nguyễn Phan Cảnh đã thiết lập được trật tự: Dãy thuần Việt - Hán Việt - láy nghĩa - láy âm Càng đi về phía tay phải, các yếu tố càng thuộc tài sản ngôn ngữ nghệ thuật

Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa cũng đưa ra nhận định về vái trò của từ láy như sau: “Không có một danh mục, một cuốn từ điển nào có thể ghi chép đầy đủ những từ láy đang sản sinh và được dùng trong lời nói hằng ngày Đó là cả một kho tàng phong phú vô tận mà mỗi từ có thể nói là một bức tranh nhỏ nhất về sự vật và tâm trạng con người” [26, 185]

Trong cuốn “Từ láy trong tiếng Việt”, tác giả Hoàng Văn Hành đã chỉ rõ giá trị của từ láy ở các điểm: giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm và giá trị phong cách Chính là vai trò của từ láy trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật - phong cách ngôn ngữ đặc trưng của các tác phẩm văn chương

Trong đời sống, từ láy có khả năng làm cho người đọc, người nghe cảm thụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động màu sắc, âm thanh, hình ảnh về đối tượng mà từ biểu hiện, gợi ra nơi người đọc những sự liên tưởng, thì trong văn chương khả năng đó càng được phát huy hơn bao giờ hết Các nhà thơ, nhà văn đều chú ý khai thác hiệu quả nghệ thuật của từ láy khi thai nghén đứa con tinh thần của mình Những tác gia lớn của văn học dân tộc đều là những người đã khai thác triệt để tiềm năng của từ láy để xây dựng hình tượng nghệ thuật

1.4 Vài nét về tác giả Vũ Trọng Phụng và tác phẩm Số đỏ

1.4.1 Tác giả Vũ Trọng Phụng

Vũ Trọng Phụng quê ở làng Hào, huyện Mỹ hào, tỉnh Hưng Yên nhưng ông sinh ra, lớn lên và mất tại Hà Nội Cha ông là Vũ Văn Lâm làm thợ điện ở

Trang 30

Gara - Chảlé Boillot Cha ông mất khi ông mới được 7 tháng tuổi Vũ Trọng Phụng được mẹ là bà Phạm Thị Khách ở vậy nuôi con ăn học

Sau khi học xong tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để kiếm sống vào năm 14 tuổi Ông có may mắn được hưởng thụ chế độ giáo dục mới do toàn quyền Pháp đề xướng và là một trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu tien được giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ Đó là lí do ông luôn thần tượng nền văn hóa Pháp và là lớp nhà văn tích cực truyền bá chữ quốc ngữ và lấy viết văn, làm báo là công việc chính của đời mình

Cả cuộc đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ, vì còn bà nội và mẹ già nên dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình Tuy viết về các tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức và sống rất kham khổ Vì vậy mà ông mắc phải căn bệnh lao phổi Trên giường bệnh, ông đã phải thốt lên với Vũ Bằng: “Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này”

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn đầy tài năng Ông đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa trước hết là ở lĩnh vực tiểu thuyết

Năm 1934, Vũ Trọng Phụng cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lí đầu tay

“Dứt tình” đăng trên tờ hải Phòng tuần báo Năm 1936, ngòi bút tiêu biểu của ông được nở rộ, chỉ trong vòng một năm, 4 cuốn tiểu thuyết lần lượt xuất hiện

trên các báo, thu hút sự chú ý của công chúng Cả 4 tiểu thuyết: Giông tố, Số

đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ đều hiện thực, đi sâu vào các vấn đề xã hội Trong đó, Số đỏ

xuất sắc hơn cả, được xem như một tác phẩm lớn nhất của Vũ Trọng Phụng,

một vài nhân vật, câu nói trong Số đỏ đã đi vào ngôn ngữ đời sống hằng ngày

Tiểu thuyết của ông đã xây dựng nên bức tranh xã hội đen tối lúc bấy giờ như ông đã từng phát biểu: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và

các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết thực sự là ở đời… Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe nhất là sự

Trang 31

giả dối Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì cũng đúng sự thực.” (Vũ Trọng Phụng,

Báo Tương Lai, 25/03/1937)” Nghĩa là về nội dung thì nó thoát li hiện thực, trốn tránh sự thực, nhưng thực chất là thứ văn chương của tầng lớp mang ý thức

hệ tư sản Văn chương của họ quat lưng với đời sống xã hội, thi vị hóa cuộc sống hay nói như Vũ Trọng Phụng là sự chạy xa sự thực bằng những lời điêu trá của văn chương Về nghệ thuật, nó là sản phẩm của trí tưởng tượng, nó mê hoặc người đọc bằn những cốt truyện thần kỳ, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫ lâm li Vũ Trọng Phụng lên án và phản đối thứ văn chương đó Quan điểm ghệ thuật của Vũ Trọng Phụng gợi nhớ đến quan niệm của BanZắc

- đại thi hào Pháp - “nhà văn là thư ký trung thành của thời đại” Đó là những quan điểm tiến bộ, có ý nghĩa chiến đấu Bằng quan điểm nghệ thuật sâu sắc,

tiến bộ đó, Vũ Trọng Phụng đã viết nên những tiểu thuyết nổi tiếng như Giông

tố, Vỡ đê, Số đỏ… mang lại vinh quang cho nền văn học nước nhà

Vũ Trọng Phụng là nhà văn có biệt tài trong việc thể hiện cái hài Ông được xem là cây bút trào phúng bậc thầy Ngay sau khi Vũ Trọng Phụng xuất hiện trên văn đàn, người ta đã chú ý đến ông với lối viết sáng tạo, sắc sảo, gay cấn đến sỗ sàng

Vũ Trọng Phụng, khi viết Số đỏ nói riêng và khi viết các tiểu thuyết nói

chung đã kế thừa được cách gây cười, giễu cợt mỉa mai của văn học dân gian chúng ta và Việt hóa nhuần nhuyễn cái cười của phương Tây Tiếng cười trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là cái cười nhiều cung bậc khác nhau, đó là tiếng cười hài hước, tiếng cười châm biếm, tiếng cười mỉa mai ác độc Vì vậy

mà Vũ Trọng Phụng đã đóng góp cho văn học Việt Nam những tác phầm trào lộng xuất sắc

Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1939 khi mới 27 tuổi để lại gia đình còn

bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy một tuổi

1.4.2 Tiểu thuyết Số đỏ

Trang 32

Số đỏ là một trong những tiểu thuyết làm nên tên tuổi của nhà văn Vũ

Trọng Phụng, được xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội báo và in thành sách vào

năm 1938 Số đỏ xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ Từ khi

hắn chỉ mới là tên hạ lưu bỗng chốc đổi đời, nhảy vọt lên tầng lớp danh giá thời

bấy giờ và Số đỏ đã góp phần nêu bật lên thói hư tật xấu của tiểu tư sản Hà

thành với lối sống xa hoa đầy giả tạo

Khi đọc Số đỏ, ta phải hiểu được tình hình xã hội thời trước giải phóng

với những thói ăn không ngồi trốc của tầng lớp giàu có, thì mới thấm thía được mặt trái mà Vũ Trọng Phụng muốn truyền tải Nhưng thay vì trực tiếp nêu quan điểm của mình, ông đã mượn vai của thằng Xuân Tóc Đỏ Một thằng ất ơ, không ra gì lại hay ra vẻ trưởng giả học làm sang, để lấy đó làm điểm tựa mà đào sâu vào cái chế độ phong kiến thối nát và cười mỉa vào nó

Ở Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nêu bật lên tấn trò đời của các nhân vật

còn là những diễn viên đại tài, diễn với đời, diễn với người, diễn với chính bản thân mình

“… Cứ ỡm ờ mãi!

Xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!

Khỉ lắm nữa!

Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn…”

Xuân Tóc Đỏ xuất hiện một cách vô cùng dân dã, gần gũi mà có thể nói

là quá đỗi chân thực đến mức lẳng lơ Mở đầu bằng việc hắn cố gắng tán tỉnh chị hàng mía và toan cướp giật ái tình về phía mình

Xuân Tóc Đỏ, từ một thằng mồ côi cha mẹ, ma cà bông, lớn lên bằng nghề bán phá sa, làm lính chạy cờ hiệu trong rạp hát, chuyên trèo cây hái sấu, quảng cáo thuốc lậu, nhặt banh ở sân quần vợt đến việc trở thành trở thành ông Đốc tờ Xuân vang danh lừng lẫy hay thậm chí là vĩ nhân cứu quốc và được phong tặng Bắc đẩu bội tinh, rồi đến việc trở thành con rể quyền quý của một

Trang 33

danh gia vọng tộc đã được Vũ Trọng Phụng miêu tả bằng một giọn châm biếm hết sức thú vị

Xuyên suốt hai mươi chương tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng đã từng bước hoàn thành bức tranh châm biếm của xã hội đương thời với những trò lố lăng, kệch cỡm Ta có thể thấy được bản chất của đồng tiền và danh vọng đã làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống vốn có

Dưới kĩ năng viết trào phúng cũng như lối viết hài hước của Vũ Trọng

Phụng, Số đỏ đã tạo nên những tiếng cười sảng khoái cho độc giả nhưng sau

những nụ cười đó lại là một hương vị đắng ngắt trước cách hành xử của những người trong gia đình và đồng thời cũng là nạn nhân của tấn trò đời

Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nêu bật lên những tính cách khác người

và chơi trội của gia đình cụ cố Hồng Điều đặc biệt là không chỉ những nhân vật nam mà thậm chí những nhân vật nữ như bà Phó Đoan, cô Tuyết hay cô Hoàng Hôn đều sở hữu tính nết hư hỏng, không nên có ở một người phụ nữ Họ

là những con người suy đồi đạo đức và thiếu mất nét đẹp thuần túy thường thấy

của người con gái Việt Nam Không chỉ dừng lại ở đó, Số đỏ còn xây dựng

những hình tượng nhân vật phụ cũng hết sức lố bịch Những ông bạn thân của

cụ cố Hồng với trên áo khoe mẽ thật nhiều huy chương đến những cô cậu Âu hóa đang cười tình với nhau, ghen tuông nhau, bình phẩm nhau

Như vậy, Số đỏ đã lên án gay gắt cái xã hội tư sản thành thị Việt Nam

đang chạy theo lối sống “văn minh rởm” hết sức lố lăng, đồi bại đương thời Tác giả Vũ Trọng Phụng đã đả kích phong trào “Âu hóa”, “thể thao” đang rầm

rộ phát triển khi ấy Nhân danh “văn minh” “tiến bộ” mà thực chất chỉ là ăn chơi trụy lạc, làm tiền, chà đạp lên mọi nền đạo đức truyền thống

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày cơ sở lý luận cần thiết nhất về từ tiếng Việt: khái niệm, các phương thức cấu tạo từ, các kiểu từ

Trang 34

xét theo cấu tạo; và tìm hiểu kĩ hơn về từ láy trong tiếng Việt: khái niệm, phân loại và đặc điểm ngữ nghĩa

Cũng giống như phương thức cấu tạo từ, có vô vàn khái niệm khác nhau

về từ láy Trong quá trình khảo sát, thống kê, chúng tôi theo quan điểm sau:

“Từ láy âm là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lập lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo 2 nhóm: nhóm cao gồm có thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp - thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng của hình vị có nghĩa”

Về phân loại từ láy, chúng tôi dựa vào phương thức cấu tạo chia thành các kiểu (láy đôi, láy ba, láy tư), trong các kiểu láy này, chúng tôi lại dựa vào

sự lặp lai của thành phần âm tiết để chia thành láy toàn bộ và láy bộ phận, láy

bộ phận lại chia thành láy âm và láy vần Dựa vào phương diện ngữ nghĩa, theo

quan điểm của Đỗ Hữu Châu, chúng tôi đã chia thành các từ láy mang nghĩa

khái quát, sắc thái hóa Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm tới các khuôn vần

trong từ láy, chúng đem lại giá trị cao cả về phương diện ngữ âm và phương diện ngữ nghĩa Từ láy là một lớp từ phổ biến đồng thời vô cùng phong phú trong tiếng Việt Nó có tác dụng lớn khi được dùng để miêu tả âm thanh, hình ảnh cũng như thế giới tình cảm, cảm xúc, bởi vậy nó rất thích hợp trong ngôn ngữ nghệ thuật

Trong chương này, chúng tôi cũng đã tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp

của Vũ Trọng Phụng và giới thiệu về tiểu thuyết Số đỏ Với ngòi bút châm biếm độc đáo, Vũ Trọng Phụng đã làm cho Số đỏ trở thành một trong những

thành tựu nghệ thuật đặc sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là trong thể loại tiểu thuyết trào phúng

Trang 35

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ LÁY TRONG SỐ ĐỎ

2.1 Nhận xét chung về tần suất xuất hiện của từ láy trong Số đỏ

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, Số đỏ đã sử dụng khá nhiều từ láy ở các

kiểu láy (láy toàn bộ, láy âm đầu và láy vần) Vũ Trọng Phụng đã dùng từ láy dể diễn tả thế giới nội tâm và cả những cung bậc cảm xúc ra thế giới bên ngoài

Trong tác phẩm Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng từ láy với tần xuất khá dày

đặc Có những câu văn mà từ láy xuất hiện từ hai đến năm lần

Ví dụ:

* Từ láy xuất hiện hai lần trong câu:

(1) “Sau khi đi qua một cái sân vắng ngắt, người lính cảnh sát dẫn Xuân

Tóc Đỏ và ông lão thầy số đến một cái buồng nhỏ vặn một vòng khóa, rồi mỉa

mai ngọt ngào bảo:

- Mời hai ngài vào” [tr 16]

* Từ láy xuất hiện ba lần trong câu:

(2) “Ông ta nói thế một cách liến thoắng trôi chảy như nước suối, sốt

sắng như những người không thành thực chút nào cả, đến nỗi bà Phó Đoan

nghe xong, tuy chẳng hiểu quái gì, nhưng cũng thấy êm tai và nhất là sung sướng, vì cả hai bên cùng làm khác với ý nghĩ mà lại có vẻ như hiểu rõ bụng tử

tế của nhau lắm việc xây sân quần mà lại để cho cả xã hội văn minh thì bà có

cần gì?” [tr 64]

* Từ láy xuất hiện bốn lần trong câu:

(3) “Hôm nay ông phán mày râu nhẵn nhụi, áo quần nho nhã bảnh

bao, trông rõ ra vẻ một người mọc sừng vô tâm, thấy cuộc đời là vui vẻ…”

[tr 116]

* Từ láy xuất hiện năm lần trong câu:

Trang 36

(4) “Cửa xe mở một bà trạc ngoại tứ tuần mà y phục còn trai lơ hơn các

thiếu nữ mặt, bự ra những son và phấn, tóc đen lay láy nhưng mà quăn quăn,

cả người nặng ít ra cũng bảy mươi cân, nhưng cái khăn vành dây đúng mốt hết

sức thì lại nhỏ xíu và ngắn ngủi có một mẩu, một tay cầm một cái dù thật tí

hon và một cái ví da khổng lồ, tay kia ôm một con chó bé trông kỳ dị như một

con kỳ lân, bước xuống đất một cách nặng nề và vất vả.” [tr 10]

Không chỉ xuất hiện dày đặc các từ láy mà còn có những từ láy xuất hiện hai lần trong một câu

Ví dụ:

(5) “Tôi đã dặn nó thỉnh thoảng phải bảo trẻ nhỏ ra ném sấu ngoài phố,

không thì để nhà cửa cho rõ bẩn thỉu, cống rãnh cho ngập lụt, cho thầy mintoa

thỉnh thoảng biên phạt, thì tôi mới có dịp phạt lại vợ thầy ấy, thế mà nó cứ để

con cái tôi ngoan như bụt, nhà cửa sạch như lau, như chùi! Con khốn nạn, con

ác phụ!” [tr 22]

Cách sử dụng từ láy của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ khá đa dạng và

phong phú cả về mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ pháp Điều này sẽ đem đến phong cách nghệ thuật riêng của tác giả (chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ vấn đề này ở chương 3) Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ

pháp của từ láy trong tác phẩm Số đỏ

2.2 Đặc điểm cấu tạo của từ láy trong Số đỏ

2.2.1 Kết quả khảo sát

Qua khảo sát, chúng tôi đã thu được kết quả như sau: Số lượng từ láy mà

Vũ Trọng Phụng đã sử dụng trong tác phẩm là 162 từ láy với tổng số lượt từ láy là

316 lượt Điều đặc biệt là tất cả các từ láy được Vũ Trọng Phụng sử dụng đều là

từ láy đôi Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu cụ thể sự đa dạng của từ láy đôi trong

tác phẩm Số đỏ

2.2.2 Sự đa dạng của từ láy đôi trong Số đỏ xét về mặt cấu tạo

Trang 37

Các từ láy đôi được chúng tôi khảo sát trong tác phẩm có sự đa dạng về

cấu tạo Chẳng hạn: mỉa mai, lách tách, thỉnh thoảng, phàn nàn, un un…

(6) Sau khi đi qua một cái sân vắng ngắt, người lính cảnh sát dẫn Xuân

Tóc Đỏ và ông lão thầy số đến một cái buồng nhỏ, vặn một vòng khóa, rồi mỉa mai ngọt ngào bảo:

- Mời hai ngài vào!” [ tr.16]

(7) “Cánh cửa bị đẩy đánh sập một cái, tiếng ổ khóa bị xoay lách tách,

tiếng giày viên đội sếp mỗi lúc một xa… một ngọn đèn đỏ vì yếu, chiếu một thứ sáng tối tăm cho gian phòng.” [tr.17]

(8) “Trên hè, dưới bóng cây gạo, một ông thầy số đã có tuổi ngồi bình tĩnh

nhìn cái tráp, nghiên mực, miếng son, ống bút với mấy lá số tử vi mẫu, thỉnh thoảng lại ngáp một cái như một nhà triết học chân chính.” [tr 6]

Các từ láy đôi được Vũ Trọng Phụng sử dụng bao gồm cả từ láy đôi hoàn toàn và từ láy đôi bộ phận với số lượng và tần xuất cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Thống kê số lượng từ láy đôi trong Số đỏ xét về mặt cấu tạo

Số lượng Tỉ lệ (%)

2.2.2.1 Từ láy hoàn toàn

Theo kết quả thống kê có 30 từ láy hoàn toàn chiếm 18,5% tổng số từ láy

đôi Chẳng hạn: bồm bộp, chồm chỗm, đôm đốp, lay láy, lanh lảnh, quăn quăn,

hầm hầm…

(9) “Những câu hô như vậy chen lẫn những tiếng bồm bộp của những

quả ban bị đánh đi, như giữ nhịp cho khúc âm nhạc của mấy vạn con ve sầu”

[tr 5]

(10) “Ngoài đường ở vệ hè, một người bán nước chanh, ngồi chồm chỗm

trên càng xe, đương nói chuyện với một người bạn đồng nghiệp.” [tr 5]

Trang 38

(11) “ Cửa xe mở, một bà trạc ngoại tứ tuần mà y phục còn trai lơ hơn

của các thiếu nữ, mặt bự ra những son và phấn, tóc đen lay láy nhưng mà quăn quăn, cả người nặng ít ra cũng bảy mươi cân nhưng cái khăn vành dây đúng

mốt hết sức thì lại nhỏ xíu và ngắn ngủi có một mẩu, một tay cầm một cái dù thật tí hon và một cái ví da khổng lồ, tay kia ôm một con chó bé trông kỳ dị như một con kỳ lân, bước xuống một cách nặng nề và vất vả.” [tr.10]

Vũ Trọng Phụng đã sử dụng đa dạng tất cả các nhóm trong nhóm các từ láy đôi Cụ thể, có các từ láy đôi hoàn toàn có hình vị láy và hình vị cơ sở giống nhau về phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu (nhóm 1); có các từ láy có hình vị láy và hình vị cơ sở giống nhau về phụ âm đầu, phần vần, nhưng khác nhau về thanh điệu (nhóm 2); và có các từ láy có hình vị láy và hình vị cơ sở giống nhau ở phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và âm cuối (nhóm 3) Kết quả khảo sát cụ thể như sau:

Bảng 2.2 Thống kê các từ láy đôi hoàn toàn

tương ứng với các nhóm trong Số đỏ

Từ láy đôi

Các từ láy đôi hoàn toàn được thống kê cụ thể như sau:

Bảng 2.3: Thống kê từ láy tương ứng với các nhóm

của từ láy đôi hoàn toàn trong Số đỏ

bồm bộp đôm đốp sềnh sệch thoăn thoắt huỳnh huỵch

Trang 39

dụng khá phong phú Chẳng hạn: quăn quăn, un un, run run, ồ ồ, xinh xinh…

(12) “Với mớ tóc đen và quăn quăn từ đầu cuồn cuộn xuống gáy, cái

cổ cao ngẩng và lộ hầu, đôi con mắt ốc nhồi, lại thêm cái mặt loang lổ những vòng tròn trắng, lúc ấy trông thật xứng đáng là một bậc son phấn mày râu…” [tr 134]

(13) “Sau mấy tiếng còi un un dữ dội nghe như tiếng gầm của một thứ

lợn rừng kỳ quái, chiếc xe chờ ba phút thì có một tên gia nhân chạy ra mở toang hai cánh cửa sắt, đón xe từ từ vào sân.” [tr 27]

(14) “Bà Phó vừa huýt hai tiếng còi thì con chó đã giơ hai chân lên

trước, run run hai chân sau, cố đứng, lưỡi lè dài, ra ý chào cậu bé ngồi tắm.”

[tr 28]

(15) “Thầy Min Đơ cười ồ ồ và thực thà nói:

- Rõ khéo! Thế mà nó kêu với tôi là vụ hiếp dâm nữa!” [tr 200]

* Nhóm 2:

Trang 40

Theo bảng 2.2, từ láy đôi hoàn toàn ở nhóm 2 với 12 từ chiếm 40% Đây

là nhóm từ láy hoàn toàn giống nhau về phụ âm đầu, phần vần, nhưng khác nhau về thanh điệu Các từ láy đôi hoàn toàn ở nhóm này đã được Vũ Trọng

Phụng sử dụng khá phong phú Chẳng hạn: nồng nỗng, lanh lảnh, sừng sững…

(16) “Cậu bé nhưng mà cậu đã nhớn lắm Trần truồng, nồng nỗng, cậu

đứng lên cao tồng tồng mà hôn mẹ Cảnh tượng ấy nếu không có cái giá trị quái gở, ít ra cũng hay ho chẳng kém một tấm ảnh khiêu dâm.” [tr 29]

(17) “Ông này tập tễnh bước vào, mặt lầm lầm, không nói gì cả, giơ tay

ra bắt… Xuân Tóc Đỏ bắt tay xong, ưỡn ngực lên cất giọng lanh lảnh nói to:

- Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng!

- Hay lắm! Xin đa tạ… cảm ơn vạn bội.” [tr 92]

(18) “Tuy chưa hiểu rõ, Tuyết cũng kinh hoàng mà chạy theo Xuân Cả hai ra đến cái cổng Nhật Bản thì lại tháy ngay cái xe ô tô của bà phó Ðoan

đứng sừng sững Bà này nhẩy xuống, gọi Tuyết, nói to:

- À, cô này đã có người sêu tết rồi, thế là không có phép!

Tuyết bĩu môi, chỉ Xuân:

- Người này chỉ là một người bạn trai của tôi, thế thôi!

Rồi Tuyết nhảy lên một cái xe cao su, mặc kệ Xuân với bà Phó Đoan.” [tr.121]

(19) “Ấy thế là ông Văn Minh nói nhai nhải đến gần một giờ đồng hồ về

lịch sử thể thao của nước cổ Hy Lạp, phong trào thể thao ở xứ ta, vận mệnh của nòi giống nếu không thể thao và nếu có thể thao, bà phán (xin hiểu ngầm là bà Phó Đoan) tiểu sử của bà, những tư tưởng tân tiến của bà, cử chỉ đáng làm gương của bà trong khi cho làm sân quần để phụng sự một công cuộc thể thao gia đình, trào lưu thể thao của phụ nữ từ khi có cuộc “tiểu thư đi bộ” vân vân…” [tr.123]

Sở dĩ có hiện tượng láy này là do quy tắc hài thanh chặt chẽ: Các thanh trong cùng một nhóm sẽ kết hợp với nhau, chẳng hạn, trong từ láy hoàn toàn cả hai tiếng đều là thanh trắc thì bao giờ một tiếng cũng chuyển sang thanh bằng

Ngày đăng: 18/06/2021, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, (1996), Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1996
2. Diệp Quang Ban, (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
3. Diệp Quang Ban, (2013), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
4. Nguyễn Tài Cẩn, (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
5. Đỗ Hữu Châu, (1962), Giáo trình Việt ngữ (từ hội học), NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ (từ hội học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1962
6. Đỗ Hữu Châu, (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
7. Đỗ Hữu Châu, (1999), Các bình diện của từ và từ trong tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ trong tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
8. Đỗ Hữu Châu, (2001), Đại cương ngôn ngữ học tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
9. Đỗ Hữu Châu, (2001), Đại cương ngôn ngữ học tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
10. Đỗ Hữu Châu, (2006), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
11. Đỗ Hữu Châu, (2009), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
12. Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê, (1963), khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, NXB Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: NXB Huế
Năm: 1963
13. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Hoàng Dũng, (1999), Bàn thêm về vấn đề nhận diện từ láy trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề nhận diện từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Dũng
Năm: 1999
15. Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết, (2000), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
16. Nguyễn Thiện Giáp, (1999), Từ và nhận diện từ trong tiếng Việt, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
17. Nguyễn Thiện Giáp, (1997), Từ vựng tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
19. Hoàng Văn Hành, (1979), Về hiện tượng láy trong tiếng Việt, Ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hiện tượng láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1979
20. Hoàng Văn Hành (chủ biên) – Hà Quang Năng – Nguyễn Văn khang - Phạm Hùng Việt – Nguyễn Công Đức, (1998), Từ điển từ láy tiếng Việt, NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ láy tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành (chủ biên) – Hà Quang Năng – Nguyễn Văn khang - Phạm Hùng Việt – Nguyễn Công Đức
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 1998
21. Hoàng Văn Hành, (1985), Từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w