1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết của vũ trọng phụng qua giông tố, số đỏ, làm đĩ

105 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 187,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân vật làm nên phần quan trọng sức sống của tác phẩm và tên tuổi của nhàvăn, điều đó hoàn toàn đúng với Vũ Trọng Phụng, một chân dung văn học tiêu biểu của thế kỉ XX đã cùng vớ

Trang 1

VŨ THỊ DUNG

ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG

PHỤNG QUA “GIÔNG TỐ”, “SỐ ĐỎ”, “LÀM ĐĨ”

THÁI NGUYÊN 2018

Trang 2

1.Lí do chọn đề tài……….………… 1

2.Lịch sử vấn đề 3

3.Đối tượng và mục đích nghiên cứu……… ……….8

4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu……… ……… 9

5. Phạm vi nghiên cứu……….……… 10

6.Cấu trúc của luận văn 10

7 Đóng góp của luận văn……… ………10

NỘI DUNG………11

CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI QUAN SÁNG TÁC CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 11

1.1 Một số khái niệm liên quan……… 11

1.1.1 Khái niệm thế giới quan sáng tác……….…………12

1.1.2 Khái niệm quan niệm con người trong văn học………… ….………… 11

1.2 Khái lược về thế giới quan sáng tác và quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945… …12

1.2.1.Khái lược về thế giới quan sáng tác của các nhà văn đương thời……….…12

1.2.2 Khái lược quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 19450……… .……… 15

1.3 Thế giới quan sáng tác của Vũ Trọng Phụng ……… ………17

1.3.1 Vài nét về tiểu sử và con người Vũ Trọng Phụng……….17

1.3.2 Thế giới quan sáng tác của Vũ Trọng Phụng……… ………… 19

1.3.2.1 Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về con người "tha hóa, biến chất"… 20

1.3.2.2 Quan niệm củaVũ Trọng Phụng về con người bản năng tính dục…… 24

TIỂU KẾT……….27

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG QUA “GIÔNG TỐ”, “SỐ ĐỎ” ,” LÀM ĐĨ”……….29

2.1 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng……… 29

2.1.1 Đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết……… 29

2.1.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng………31

2.2 Các kiểu nhân vật……….34

Trang 3

2.2.3 Nhân vật tích cực……….………… …… 49

2.2.4 Nhân vật tha hóa, biến chất……….…….51

2.3 So sánh cách thức xây dựng hệ thống nhân vật trong ba tiểu thuyết (Giông Tố, Số Đỏ, Làm Đĩ) của Vũ Trọng Phụng với cách thức xây dựng hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của một số nhà văn cùng thời……… 62

TIỂU KẾT……… ….68

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG QUA “GIÔNG TỐ”, “SỐ ĐỎ”, “LÀM ĐĨ”………….69

3.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình……….69

3.2 Xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động……….72

3.3 Xây dựng ngôn ngữ nhân vật……… 75

3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại……… 75

3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm……… 79

3.4 Giọng điệu trong xây dựng tính cách nhân vật………83

3.5 So sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng với nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của một số nhà văn cùng thời 86

TIỂU KẾT……….91

KẾT LUẬN………92

TÀI LIỆU THAM KHẢO………94

Trang 4

hủ cho đời và được dư luận báo chí suy tôn “vua phóng sự đất Bắc”.

Tài năng của Vũ Trọng Phụng không chỉ thể hiện qua những thiên phóng sựđặc sắc mà còn được thể hiện tập trung nhất, kết tinh nhất trong tiểu thuyết Ôngviết hàng chục cuốn tiểu thuyết như Dứt tình (1934), Giông tố (1936), Vỡ đê(1936), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc(1938) Những tiểu thuyết lớn có tầm khái quát cao và giàu chất sống thực tế nhưGiông tố, Số đỏ, Vỡ đê, đã nâng cao tầm vóc giá trị của tiểu thuyết hiện thực.Với tàinăng sáng tạo nhà văn đã xây dựng được nhiều nhân vật điển hình, sinh động và cóbản sắc riêng, có sức sống lâu bền với thời gian Các nhân vật của Vũ Trọng Phụngthể hiện rất rõ lịch sử giai đoạn tiếp nhận, tiếp biến, cả sự thay đổi, chuyển biến xãhội từ Á sang Âu, từ xã hội Nho giáo sang xã hội hiện đại tư bản Nói cách khác,bước chuyển từ mô hình xã hội này sang một hình thái xã hội khác đã biểu hiện rõnét trong các hệ thống nhân vật của Vũ Trọng Phụng Đó là những biểu hiện quahình ảnh, cách nhìn nhận của nhân vật, cách mô tả với các sắc thái khác nhau củacác quan niệm, tư tưởng, thái độ của tác giả và ý tưởng tiềm ẩn trong các mô tảhành vi, ngôn ngữ nhân vật

Ba cuốn tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ là những cuốn tiểu thuyết “tả chân đặc sắc” giàu giá trị hiện thực.Tiểu thuyết Giông tố là bước nhảy vọt, là một

trong những đỉnh cao nhất của sự nghiệp sáng tác của nhà văn đồng thời là mộtthành tựu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực 1930 - 1945, quả đúng là“ như

một quả bom lớn giữa làng văn khi đó” (Phạm Thế Ngũ) Tiểu thuyết Số đỏ là một

cuốn tiểu thuyết “vô tiền khoáng hậu”, kết tinh tư tưởng và tài năng trào phúng bậcthầy của nhà văn Trương Tửu nhận xét: Số đỏ là cuốn tiểu thuyết “tả chân đến tàn

Trang 5

ác”, “trào phúng đến chua xót” (Tao đàn số đặc biệt,12 -1939) Nguyễn Quang Sángcho rằng: Số đỏ là “lời nguyền rủa chua cay độc địa cái xã hội thối nát” còn NguyễnKhải cũng đánh giá rất cao tiểu thuyết này, coi đây là một trong những “cuốn sách

ghê gớm” “có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học” Làm đĩ là một trong số những

tiểu thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận trong hơn suốt nửa thế kỷ qua Đó là một

tác phẩm mang nhiều giá trị - nó vừa là một thiên "tả chân tiểu thuyết" như tác giả

tự giới thiệu, vừa thấm đẫm tinh thần nhân bản, nhân văn và xét từ góc độ nào đó,

đây là cuốn sách giáo dục giới tính rất sâu sắc và khoa học.Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ

là những tác phẩm tiêu biểu trong hệ thống sáng tác của Vũ Trọng Phụng đã nếmtrải nhiều sóng gió của dư luận khác nhau và vị trí của các tác phẩm ấy đến nay đãđược xác lập trong văn hóa, văn học nước nhà

Văn học là nhân học (M.Gorki).Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống con

người Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả thể

hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học [16] Nhân vật giữ vai trò quan

trọng, là hình tượng để khái quát những qui luật cuộc sống con người, thể hiện quanđiểm, tư tưởng của nhà văn Một tác phẩm văn học, việc sáng tạo nhân vật được

xem như là yếu tố quan trọng hàng đầu G.N Pospelov, Dẫn luận nghiên cứu văn

học (2 tập), Nxb Giaó dục Hà Nội đã cho rằng nhân vật “là phương tiện tất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng”, “là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm ấy quyết định phần lớn vừa cốt truyện vừa lựa chọn chi tiết, vừa phương diện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa”[44].

Nhân vật làm nên phần quan trọng sức sống của tác phẩm và tên tuổi của nhàvăn, điều đó hoàn toàn đúng với Vũ Trọng Phụng, một chân dung văn học tiêu biểu

của thế kỉ XX đã cùng với nhân vật của mình “đi vào cõi bất diệt của văn xuôi Việt

Nam”.Việc đi sâu tìm hiểu vấn đề “Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng qua“Giông tố”,“Số đỏ”,“Làm đĩ”” để có cái nhìn sâu về quan niệm

và cách miêu tả con người của nhà văn, một trong những phương diện không thểthiếu khi tìm hiểu về thế giới nghệ thuật của tác giả và chỉ ra nhiều điều mới mẻ chỉ

có trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng

Thực hiện đề tài “Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

qua“Giông tố”,“Số đỏ”,“Làm đĩ”” chúng tôi muốn nhìn nhận nhân vật từ nhiều

Trang 6

yếu tố, nhiều mặt để thấy được sự phong phú đa dạng trong việc xây dựng tính cách

và hình tượng nhân vật, cũng như sự sáng tạo riêng của Vũ Trọng Phụng để từ đó cócái nhìn khách quan và toàn diện về những giá trị tinh thần của nhà văn Đồng thờiđặt trong sự so sánh với nhân vật của các tác giả khác hay của cả giai đoạn văn họcđầy mới mẻ của một xã hội đang hiện đại hóa, đang thay đổi mạnh mẽ, từ đó nhìnthấy rõ nét hơn những đóng góp độc đáo và đặc sắc của tác giả Vũ Trọng Phụng Đócũng là góp thêm một cách tiếp cận mới về nghiên cứu tác phẩm giúp người đọc cócách hiểu sâu sắc hơn

Hơn nữa Vũ Trọng Phụng và các tác phẩm của ông được đưa vào trongchương trình giảng dạy, nên tiến hành nghiên cứu vấn đề hệ thống, đặc điểm nhânvật trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng sẽ ít nhiều góp phần phục vụ cho việcnghiên cứu, học tập và giảng dạy ở trường phổ thông về tác giả này

2 Lịch sử vấn đề

Vũ Trọng Phụng được xem là cây bút tài ba nhưng phức tạp nhất của văn học

Việt Nam thế kỉ XX Nhân vật trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã được rất

nhiều các nhà văn, nhà phê bình văn học nghiên cứu và quan tâm đến

Trong Phê bình - bình luận văn học, tác giả Vũ Tiến Quỳnh đã đưa ra ý kiến:

“Các nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đều có sự chuyển biến cương vị

xã hội; từ đầu đến cuối tác phẩm không bao giờ một nhân vật chịu đứng yên ở mộtcương vị nhất định”[5] Cũng trong cuốn này, tác giả Trương Chính nhận xét:

“Nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng được cá thể hóa cao độ, đa dạng,phong phú về mặt thẩm mỹ, những con người đang đuổi theo những dục vọng cánhân.”[5] Do mối quan hệ giữa các nhân vật trong tiểu thuyết được bộc lộ một cáchsinh động, chân thật đến tàn nhẫn nên đã để lại trong lòng người đọc không chỉ về ýnghĩa về xã hội mà còn cho chúng tôi thấy được tài năng xây dựng nhân vật trongtiểu thuyết của ông

Trương Chính (Dưới mắt tôi, Hà Nội,1939), sau khi nhắc tới một loạt nhân vật trong

Giông tố như Long “thất vọng vì tình”, Tuyết “phóng đãng, lẳng lơ”,Vạn Tóc Mai

“đểu giả, trụy lạc”, Hải Vân “một người phong trần, có chí khí lớn, hoài bão lớn” đãkhái quát được tài năng và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Vũ Trọng Phụng: “lầnlượt diễn ra trên màn ảnh tất các hạng người thuộc về các giai cấp, địa

Trang 7

vị khác nhau Mỗi nhân vật có những cử chỉ riêng, một vẻ mặt thích hợp Ông VũTrọng Phụng là một tiểu thuyết gia có óc quan sát và nhiều kinh nghiệm” [4] Lan

Khai (Phê bình các nhân vật hiện thời, NXB Minh Phương, Hà Nội 1941) đã chỉ ra

một đặc điểm nổi bật của nhà văn: “Khi đọc các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng , tathấy lúc nhúc một nhân vật đen tối, ngu xuẩn, ích kỉ, tàn nhẫn và dâm dật một cách

vô cùng lố bịch” “sự thật các vai truyện do anh tạo ra đều chín phần mười là những

kẻ đa dâm có khi rất quái ác” [28]

Trong Vũ Trọng Phụng con người và tác phẩm của Nguyễn Hoành Khung

-Lại Nguyên Ân, NXB Hội văn học, Hà Nội, 1994, lời giới thiệu nhận xét tiểu thuyếtVũ Trọng Phụng của Hoàng Cầm ông nhận thấy “Đọc đi đọc lại Số Đỏ, đối chiếuvới cuộc sống thành thị lúc bấy giờ, tôi tìm ra rất nhiều nhân vật ấy trong thực tế:những Xuân Tóc Đỏ, những bà Phó Đoan, những thầy Min-Đơ, Min-Toa nhan nhảntrên hè phố, trong tiệm nhảy và trong những chỗ sâu kín, tối tăm nhất của xã hội

thuộc địa, phong kiến” [28] Năm 1957, trong bài viết “Người thư ký” của thời đại của tác giả Văn Tâm đã có những nhận xét: “Những nhân vật trong tác phẩm của Vũ

Trọng Phụng hoạt động trên một địa bàn rất rộng, bao gồm thành thị và nông thôn;từ những dinh cơ đồ sộ của địa chủ, quan lại, tới nơi nhà tranh vách đất; từ nhữngbiệt thự tối tân muôn hồng nghìn tía của tư sản đến những mảnh đất ngập ngụa rácrưởi của hạng người cùng khổ…”(…) “Dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, nhữngnhân vật nằm trong cảnh thế sự thăng trầm này hầu hết lại xuất thân từ thành phầntiểu tư sản Vũ Trọng Phụng đã thấy được rằng trong lúc giai cấp tiểu tư sản bong ratừng mảng, ba con đường đã vạch sẵn trước mắt nó: tư sản hóa, vô sản hóa, lưumanh hóa.”[63] Qua nhân vật Vũ Trọng Phụng muốn phản ánh tầng lớp tiểu tư sản.Thứ hai, Vũ Trọng Phụng sử dụng nhân vật phản diện để phản ánh hiện thực xã hội

Nguyễn Tuân trong lời giới thiệu Giông tố cũng đề cao tài năng xây dựng

nhân vật, đặc biệt là nhân vật Nghị Hách của Vũ Trọng Phụng, ông hết lời khenchương XXIX của tác phẩm Ông cho rằng :“Đọc đến đây thấy sợ Vũ Trọng Phụng”[66] Nhóm Lê Qúy Đôn trong “ Lược thảo lịch sử văn học” các tác giả nhận xét

nhân vật Nghị Hách trong Giông Tố “Vũ Trọng Phụng chú ý đến những tay tư bản,

Nghị Hách trong Giông Tố không phải là một ông Nghị gật tầm thường,

Trang 8

không phải Nghị Quế của Ngô Tất Tố trong Tắt Đèn, Nghị Lại của Nguyễn CôngHoan trong Bước Đường cùng ( ) Nghị Hách lại sắp ứng cử ghế nghị trưởng, sắp cóBắc đẩu bội tinh Nói tóm lại hắn là một nhân vật quan trọng trong xã hội ngàytrước”.Về nhân vật Mịch các tác giả viết:“Đối với Mịch, nạn nhân trong Giông Tố,ngòi bút của Vũ Trọng Phụng cũng không đều Đoạn đầu ông tả Thị Mịch là một côgái quê hiền lành, chất phác, giản dị, chung tình và bị Nghị Hách làm nhục, ông cómột chút thương hại nhưng về sau dưới ngòi bút của ông, Thị Mịch trở thành mộtnhân vật dâm đãng và có những cử chỉ vô duyên đáng ghét của một người đang ởcảnh nghèo khổ bỗng được sống trong cảnh giàu có phong lưu”[15].

Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập I-1994) đã từ góc độ

phương pháp sáng tác cố gắng đi sâu lí giải những thành công của Vũ Trọng Phụngtrong việc xây dựng các nhân vật điển hình Ông đánh giá cao giá trị điển hình củanhiều hình tượng nhân vật :“Qua Nghị Hách, Vũ Trọng Phụng đã làm nổi bật tínhchất đa dạng của một tính cách điển hình hiện thực chủ nghĩa” [10] “Xuân Tóc Đỏ

đã trở thành một con người sống lừng lẫy trong tác phẩm.Vũ Trọng Phụng phảiphục tùng sự phát triển hợp logic nội tại của nó ( ) Xuân Tóc Đỏ là một điển hìnhkhá sinh động có cá tính riêng biệt có một sự phát triển hợp logic nội tại” [10]

Nguyễn Hoành Khung viết Số Đỏ và các nhân vật trong tác phẩm này cũng được

đánh giá thật chính xác “Số Đỏ đã đưa ra một loạt chân dung biếm họa rất sinh động

về gần đủ loại nhân vật tiêu biểu cho cái xã hội tư sản nhố nhăng.Với trình độ tiểuthuyết già dặn, bút pháp châm biếm đặc biệt sắc sảo, Số Đỏ là một trong nhữngthành tựu nghệ thuật đặc sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là trong thể loạitiểu thuyết trào phúng”[27]

Nguyễn Đăng Mạnh trong Tuyển tập Vũ Trọng Phụng có nhận xét “nhân vật

trong Giông Tố không chỉ toàn những người vô nghĩa lí, lẻ tẻ thấy xuất hiện trongtác phẩm một số nhân vật được tác giả miêu tả như những con người biết sống có

nghĩa lí”, Nguyễn Đăng Mạnh nhấn mạnh sự đa dạng trong hệ thống nhân vật đồng

thời cho thấy tài năng của Vũ Trọng Phụng trong việc miêu tả khắc họa hình tượng

nhân vật Năm 1990, trên tạp chí văn học số 2, trong bài viết Đọc lại Giông Tố của

Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đăng Mạnh có nhận xét:“cho đến nay, có thể nói chưa có

một nhân vật địa chủ tư sản nào trong văn học Việt Nam địch nổi nhân vật Nghị

Trang 9

Hách, một con quỷ dâm ô, độc ác, đểu giả, trắng trợn cỡ bạo chúa” Như vậy VũTrọng Phụng thành công nổi bật đã khắc họa nhân vật địa chủ phản diện điển hình.

Năm 1996, trên báo Nhân Dân, trong bài viết Đọc lại truyện Giông Tố, Nguyễn

Tuân nhận xét “Tiểu thuyết Giông Tố gồm nhiều thứ người:thôn quê, thành thị và cảnhững nhân vật từ quê ra tỉnh Có người là thôn nữ bị bán làm lẽ thứ 12 cho nhàgiàu, có người lại là thư kí, có người là du thủ du thực, có người là gái tân thời, cóngười là đốc học, có người làm cách mạng”[66] Như vậy Nguyễn Tuân đã nói tới

sự đa dạng trong thế giới nhân vật, đó là sự sáng tạo của Vũ Trọng Phụng trongnghệ thuật xây dựng nhân vật Năm 1999, trong cuốn Nhà văn và tác phẩm trongnhà trường, Vũ Dương Quỹ có nhận xét: “Nhân vật trong tiểu thuyết Giông tố lànhững con người ở thành thị (Hà Nội, Hải Phòng), ở nông thôn, ở vùng mỏ,….thuộc

đủ mọi tầng lớp: bọn tư sản mại bản kiêm chính khách rởm hợm, trụy

lạc, bất nhân, vô học, lũ lưu manh” (Giông tố, Số đỏ); những người nông dân đóikhát hoặc bị tha hóa, vài ba tri thức tiến bộ nhưng lúng túng (Vỡ đê); những cô gáicon nhà lành bị sa ngã (Làm đĩ); mấy nhà cách mạng bí hiểm,…”[51] Nhận xét trêncủa Vũ Dương Qũy giúp ta phần nào nhận thấy một khía cạnh quan trọng ở nhân vậtcủa Vũ Trọng Phụng, đó là thế giới nhân vật đông đúc, đa dạng như một thế giớicon người thật của xã hội Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cho rằng: Vũ Trọng Phụngsáng tạo một loại tiểu thuyết mới, tiểu thuyết cười, tiểu thuyết đa thanh, đa âm, đa

sắc diện Số đỏ là một siêu tiểu thuyết và nhân vật Xuân Tóc Đỏ là một siêu nhân

vật Nhân vật Xuân Tóc Đỏ đã vượt khỏi giới hạn của một hoàn cảnh, một thành thị

mà trở thành một nhân vật phiêu lưu, có mặt ở nhiều cảnh ngộ

Năm 2008, cuốn Đặc sắc văn chương Vũ Trọng Phụng của tác giả Trần Đăng

Thao đã nói về nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng như sau: “Nhân vậtcủa Vũ Trọng Phụng trước hết là nhân vật của thời đại Họ là những con người cụthể bằng xương, bằng thịt, tắm gội trong bầu không khí cụ thể của lịch sử Việt Namđúng vào cái thời điểm của những năm 30, họ là hiện thân, là sản phẩm tiêu biểucủa xã hội thành thị dưới chế độ thực dân phong kiến bạo tàn.”[59]… “Tiểu thuyếtphóng sự của Vũ Trọng Phụng thường được xây dựng có quy mô lớn, vì vậy kéotheo một hệ quả tất yếu là bao hàm trong đó một thế giới nhân vật đông đúc, nhữngnhân vật ấy có thể có những mối liên quan trực tiếp, song đều thống nhất với nhau

Trang 10

chịu sự chi phối chặt chẽ của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm với tư cách là mộtchỉnh thể ”[59].

Năm 2012, trong bài viết “Vũ Trọng Phụng - tài năng và thời cuộc”, Hà

Minh Đức nhận xét: “Nói đến tiểu thuyết phải nói đến nhân vật, Vũ Trọng Phụng cótài khắc họa nhân vật (…), mỗi nhân vật có một vóc dáng riêng, tính cách riêng, từnhững tên gọi như bà Phó Đoan mà không đoan chính; ông Văn Minh nhưng thực

sự là thụ động, bế tắc;các tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa; rồi ông Lang Tỳ, Lang Phếcho đến em Chã, cụ cố Hồng Mỗi người đều có những đặc điểm độc đáo VũTrọng Phụng am hiểu xã hội, các loại người đến chân tơ kẽ tóc để góp phần tạodựng nhân vật.”[11] Qua đây, cho thấy thành công của Vũ Trọng Phụng trong việcxây dựng tính cách của nhân vật đạt đến mức điển hình ở xã hội 1930-1945 mà cònđến hôm nay vẫn còn quanh quẩn đâu đây Nhìn chung, Vũ Trọng Phụng về conngười, cuộc đời cũng như tiểu thuyết của ông luôn là đề tài cho các nhà nghiên cứuphải đào sâu tìm tòi, khám phá vì những mâu thuẫn, những hình tượng độc đáo.Người ta từng phủ nhận rồi lại khẳng định tài năng của ông vì ông chuyên viết vềnhững chuyện ăn chơi trụy lạc, lưu manh, gái điếm, tha hóa,…để qua đó chúng tôithấy được cách xây dựng tính cách nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụngmột tính cách phong phú, đa dạng mà không lẫn lộn với bất kì tính cách của nhânvật nào khác

Công trình nghiên cứu khá sâu sắc về nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng

Phụng, đó là luận án Nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng

năm 1999, trường ĐHSP Hà Nội I Đinh Trí Dũng có nhận xét như sau: “Với cáctiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, người đọc không thể quên được thế giới nhân vậtđộc đáo của ông, một thế giới đông đúc với đủ kiểu người, đủ các khuôn mặt, chenchúc, ồn ào, náo loạn trong bối cảnh xã hội thăng trầm, điên đảo.”[9] “ trong thếgiới nhân vật đông đúc đó, ngòi bút Vũ Trọng Phụng đặc biệt thành công trong việckhắc họa các nhân vật phản diện.”[9] Phạm vi nghiên cứu khá rộng, toàn diện cácnhân vật đa dạng, phức tạp của tiểu thuyết Đồng thời luận án đã đi sâu tìm hiểuquan niệm về con người của nhà văn như một nhân tố quyết định, chi phối trực tiếpcác nhân vật của ông và khái quát hóa những điểm mạnh, điểm yếu và hạn chế

Trang 11

trong bút pháp xây dựng nhân vật, đặt trong tiến trình hiện đại hóa của tiểu thuyếtViệt Nam giai đoạn 1930-1945.

Ngoài ra còn có luận văn thạc sĩ của Trần Thị Lệ Thanh với đề tài “ Hai hình

tượng Long, Mịch trong tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng”, Trường ĐHSP

Hà Nội I, 1995 Luận án của Trần Đăng Thao “Đóng góp của Vũ Trọng Phụng đối

với lịch sử văn học Việt Nam hiện đại qua hai thể loại phóng sự và tiểu thuyết”.

Qua các ý kiến đánh giá và nhận định với nhiều cách tiếp cận khác nhau củanhiều công trình nghiên cứu đi trước, nhân vật trong các tác phẩm của Vũ TrọngPhụng thật phong phú và đa dạng nhưng một số nhân vật chưa được quan tâm, phântích sâu sắc để thấy được từng “cung bậc” đểu giả, tha hóa của một kiểu nhân vật,thông qua tiến trình sáng tác của ông Ví dụ như kiểu con người tha hóa, biến chấtcủa các cặp nhân vật như: Mịch - Huyền; Long - Xuân Tóc Đỏ… trong tiểu thuyếtcủa ông Chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chi tiết đặc điểm nhânvật trong ba tác phẩm “Giông tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng để chỉ ranhững điểm nổi bật, cái chung và cái riêng trong việc xây dựng hình tượng từngnhân vật của Vũ Trọng Phụng cũng như miêu tả chi tiết, tỉ mỉ chân dung nhân vật.Điều đó, dù có sự kế thừa những thành tựu người đi trước, dù các nhà nghiên cứucác tác phẩm khá nhiều và sâu sắc về Vũ Trọng Phụng thì đặc điểm nhân vật qua batác phẩm “Giông tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ” vẫn là đề tài mới và có ý nghĩa sâu sắc.Chúng tôi triển khai đề tài “Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ TrọngPhụng” mong muốn góp phần nhỏ vào việc đánh giá chung để cùng khẳng định tàinăng và những sáng tạo, đóng góp của tác giả trong nền văn học Việt Nam

3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi hướng đến đối tượng là các nhân vật với những đặc điểm của nótrong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Trong đó tập trung cao nhất vào các kiểu nhânvật được phản ánh trong ba tác phẩm Giông Tố, Số Đỏ, Làm Đĩ của Vũ TrọngPhụng

3.2 Mục đích nghiên cứu

- Khảo sát và nghiên cứu đặc điểm nhân vật trong ba tác phẩm Giông Tố, Số

Đỏ, Làm Đĩ của Vũ Trọng Phụng nhằm thấy rõ được cách lựa chọn các vấn đề của

Trang 12

thời đại, của xã hội thông qua đặc điểm nhân vật mà nhà văn thiết lập, đồng thờithấy được sự tha hóa biến chất trong từng nhân vật và cả trong xã hội Âu hóa Bứctranh hiện thực về con người đó, thể hiện rõ trong xã hội Việt Nam qua các nhân vậtthông qua sự sáng tạo của nhà văn.

- So sánh với cách tiếp cận, cách thức xây dựng tính cách nhân vật của VũTrọng Phụng với các nhà văn khác cùng thời và với các nhà viết tiểu thuyết hiệnnay để thấy được thế giới quan sáng tác độc đáo của Vũ Trọng Phụng và tài năngxây dựng hình tượng nhân vật của ông

- Chỉ ra những đóng góp của Vũ Trọng Phụng về cách thức xây dựng nhân vậtcũng như giá trị tác phẩm được khảo sát của ông trong toàn bộ sự nghiệp sáng táccủa ông và trong mảng văn học hiện thực phê phán Việt Nam lúc bấy giờ

4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát toàn diện, thống kê đầy đủ và phân tích sâu về hệ thống nhân vật tầng, lớp người được thể hiện trong ba tác phẩm: Giông Tố, Số Đỏ, Làm Đĩ của Vũ Trọng Phụng

Tìm hiểu thế giới quan sáng tác, cách tiếp cận, các hình thức thể hiện con người trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tiểu sử tác giả: sử dụng phương pháp này, đặt đối tượng nghiêncứu trong mối quan hệ với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng, đặcbiệt là quan điểm sáng tác để tìm hiểu chiếm lĩnh được nhân vật trong tác phẩm củaông

- Phương pháp phân loại - thống kê: khi đi vào hệ thống nhân vật, chúng tôiphân loại để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện của từng nhân vật, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại để nghiên cứu thêm xác đáng hơn

- Phương pháp phân tích- tổng hợp: phân tích một số nhân vật tiêu biểu trong ba tácphẩm từ đó chỉ ra đặc điểm của thế giới nhân vật và biểu hiện nghệ thuật xây dựng nhânvật Trên cơ sở đó đúc kết những đặc điểm nổi bật về nhân vật trong tác phẩm của nhà văn

Trang 13

- Phương pháp so sánh: tiến hành so sánh nhân vật trong tác phẩm của VũTrọng Phụng với các nhân vật trong một số tác phẩm của các nhà văn cùng thời haynhững giai đoạn trước để làm sáng tỏ vấn đề.

5. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào ba tác phẩm tiểu thuyết: Giông

Tố, Số Đỏ, Làm Đĩ

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương

Chương 1: Thế giới quan sáng tác của Vũ Trọng Phụng.

Chương 2: Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng qua“Giông

tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ”.

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

qua “Giông tố”,“Số đỏ”,“Làm đĩ”

7. Đóng góp của luận văn

Đề tài “Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng qua “Giôngtố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ” ” nghiên cứu toàn diện, có hệ thống, nhằm qua đó nhận thấycái quan tâm có tính tư tưởng, có tính quan niệm của nhà văn về xã hội, về thời đại

mà nhà văn sống, một xã hội và thời đại phát triển gấp gáp sang hướng hiện đại,chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang một hệ thống chính trị xã hội khác lạ Quanghiên cứu đặc điểm các nhân vật mà mỗi loại nhân vật là một đại diện thời đại, đạidiện điển hình xã hội sẽ làm bộc lộ rõ nét nhất tầm nhìn, cách nhìn của một nhà văntiêu biểu, một nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học đương thời và chotiểu thuyết hiện đại Việt Nam

Nghiên cứu đề tài này có thể vận dụng trong giảng dạy và học tập và gópphần làm tư liệu cho các nhà nghiên cứu và những người yêu văn học

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: THẾ GIỚI QUAN SÁNG TÁC CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm: Thế giới quan sáng tác

Theo từ điển Tiếng Việt: Thế giới quan là định hướng nhận thức cơ bản củamột cá nhân hay xã hội bao gồm toàn bộ kiến thức và quan điểm của các cá nhânhay xã hội Thế giới quan có thể bao gồm triết học tự nhiên; định đề cơ bản, hiệnsinh, và quy chuẩn; hoặc các chủ đề, các giá trị, cảm xúc và đạo đức

Văn học là sản phẩm sáng tạo của con người.Tuy nhiên để sáng tạo ra đượcmột tác phẩm văn học là một điều không hề đơn giản Người nghệ sĩ phải cónhững phẩm chất, tài năng và những quan điểm sáng tạo riêng biệt mới có thể tạo

ra được một sản phẩm văn học giá trị

Thế giới quan sáng tác chính là quan điểm, biểu hiện của cách nhìn của nhàvăn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cả thế giới bên ngoài, cả conngười và cả mối quan hệ của người – thế giới (tức là mối quan hệ của người đốivới thế giới) Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ namcho hành động của con người, qua cách nhìn cụ thể đó sẽ chi phối đến toàn bộ quátrình sáng tác của nhà văn: tư tưởng, quan niệm, tâm hồn, tình cảm thị hiếu, vốnsống, kinh nghiệm, tài nghệ của người nghệ sĩ

1.1.2 Khái niệm: Quan niệm con người trong văn học.

Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Con người

là đối tượng chủ yếu của văn học Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả conngười trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quantrọng, là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnhvực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn Mỗi nhà văn ở mỗi thời đại lại cónhững quan niệm khác nhau về con người, chi phối đến cách xây dựng và thể hiệntính cách nhân vật trong tác phẩm văn học Khái niệm quan niệm về con người vẫncòn nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng:

"Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết,

tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình”[12; tr 15] Giáo sư Huỳnh Như Phương nhận xét:

Trang 15

“Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu

triết lí của tác phẩm” Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.” [17; tr 275].

Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức đặc thù thể hiện con ngườitrong văn hoc, đó là những nguyên tắc cảm thấy, hiểu biết và miêu tả con ngườitrong văn học, được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giảicủa nhà văn về con người Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tácphẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan

sáng tạo của chủ thể Như vậy, trung tâm của văn học là con người nên con người

cũng là đối tượng thẩm mĩ để tác giả thể hiện quan niệm của mình về cuộc sống.Chủ thể sáng tác sẽ là người vận động và suy nghĩ về con người, cho con người, nêu

ra những tư tưởng mới để hiểu về con người Như vậy quan niệm nghệ thuật về conngười là một yếu tố vô cùng cần thiết và quan trọng, từ đó ta hiểu được bản chấtphản ánh của nghệ thuật, những yêu cầu sáng tạo thẩm mĩ về nghệ thuật, nội dungphản ánh và nghệ thuật biểu hiện tới sự vận động của con người trong văn học

1.2 Khái lược về thế giới quan sáng tác và quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945.

1.2.1 Khái lược về thế giới quan sáng tác của các nhà văn đương thời

Mỗi một tác phẩm văn học đều chứa đựng một nội dung tư tưởng nào đó vàkhông bao giờ là sự lý giải dửng dưng mà là phải gắn liền với một cảm xúc mãnhliệt, đó có thể là những tình cảm khẳng định: là niềm say mê khẳng định chân lý, lýtưởng ngợi ca, vui sướng, biết ơn, yêu thương hay có thể là những tình cảm phủđịnh giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, châm biếm, mỉa mai…vv, là thái độngợi ca đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo thế lực đen tối, cáchiện tượng tầm thường.Đồng thời tác phẩm phải mang ý nghĩa xã hội khi nó đẩy lênđược những cảm xúc về cõi nhân sinh, về con người, về cuộc đời mãnh liệt và sâu

Trang 16

sắc thì mới rung động được lòng người và tạo nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tácphẩm.

Thế giới quan của nhà văn được thể hiện ở việc lựa chọn sự việc miêu tả(đứng trước những hiện thực cuộc sống phức tạp muôn vẻ, nhà văn phải biết chú ýđến hiện tượng nào và cho đó là có ý nghĩa nhất) hay ở việc đánh giá những hiệntượng, ở thái độ và khuynh hướng giải quyết những vấn đề đặt ra trong tác phẩm vàviệc xây dựng hình thức nghệ thuật Trong giai đoạn 1930- 1945 các nhà văn lãngmạn tiêu cực chỉ ý niệm xung quanh “ cái tôi” nhỏ bé hoặc cái ta viển vông thì cácnhà văn hiện thực lại thiên về miêu tả hiện thực đời sống thống khổ của nhân dân vàtầng lớp dân nghèo thành thị còn các nhà văn cách mạng lại đề cập đến vấn đề đấutranh giải phóng dân tộc, hình ảnh những người chiến sĩ kiên cường

Trong giai đoạn 1930 – 1945 là giai đoạn đất nước ta đương đầu với nhiềubiến động to lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội rõ nét Dưới ách thống trị củathực dân Pháp, nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng mà đỉnh điểm là nạn đói

1945 khiến cho hàng triệu đồng bào bị thiệt mạng Bằng ngòi bút sắc bén của mình,các nhà văn hiện thực tài năng đã khắc họa sống động và phê phán một cách sâu sắccon người, chế độ và cuộc sống bấy giờ.Với hoàn cảnh đất nước như vậy, thế giớiquan sáng tác của các nhà văn vô cùng phong phú và đa dạng, họ luôn có cái nhìn

đa chiều, đa diện về xã hội đặc biệt mỗi nhà văn lại có những đề tài mới mẻ để gửigắm qua những trang viết của mình và nói lên những suy nghĩ trăn trở và thôngđiệp, tình cảm nào đó thông qua tác phẩm văn học Chúng tôi sơ lược qua một vàiquan điểm sáng tác của một số nhà văn hiện thực giai đoạn này để thấy những đặcsắc, mới mẻ trong thế giới quan sáng tác của mỗi nhà văn

Nguyễn Công Hoan là nhà văn hàng đầu của nền văn học hiện thực phê phánViệt Nam.Ngòi bút của ông vô cùng sắc sảo, mang tính đột phá, bất ngờ với nhữngquan điểm nhìn nhận trong thế giới xã hội hiện thực đầy biến động đó là quan điểmgiàu nghèo và quan điểm luân lí đạo đức là hai quan điểm cốt lõi trong sáng tác củaNguyễn Công Hoan xuất phát từ thực tế cuộc sống mà ông đã trải qua và chứngkiến Vốn hiểu biết về cuộc sống nơi quan trường hay nỗi long đong của nghề giáokhiến ông có điều kiện tiếp xúc với đủ hạng người giàu nghèo sang hèn trong xãhội, sống ở nhiều vùng đất, chứng kiến nhiều cảnh đời tạo nên một vốn sống vô

Trang 17

cùng phong phú và là chất liệu cho sáng tác của mình.Trong thời buổi Tây, Tàu nhốnhăng, đứng trên lập trường của lớp quan lại lỗi thời, Nguyễn Công Hoan đả kíchbọn quan lại vô liêm sỉ, bọn tư sản chạy theo lối “Âu hóa” nhố nhăng đồi bại, nhàvăn căm ghét xã hội thực dân tư bản, những kẻ có tiền, có quyền hà hiếp dân lành.Bản tính đùa cợt, tinh nghịch và năng khiếu trào phúng bẩm sinh, cá tính sáng tạođược phát huy trong bối cảnh xã hội có nhiều cái đáng phê phán và đáng cười chiphối đến tính chủ quan trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan để tạo ra được tiểuthuyết “ Những cảnh khốn nạn”, “Tắt lửa lòng”, “ Lá ngọc cành vàng”, “Ông chủ”,

“Bà chủ”, “Bước đường cùng”….vv sâu sắc trong lòng người đọc Ông luôn đứng

về phía người nghèo, bênh vực họ đồng thời lên án, tố cáo bọn có tiền, có quyền bấtnhân bất nghĩa

Nam Cao một nhà văn hiện thực kiệt xuất có tư tưởng nhân đạo phong phú vàsâu sắc, mà còn là nhà văn có quan điểm sáng tác nghệ thuật tiến bộ và nhất quán

Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao luôn luôn suy nghĩ về “Sống” và “Viết”.

Ban đầu, ông chịu ảnh hưởng sâu nặng của thứ nghệ thuật lãng mạn thoát li thi vịhóa hiện thực, ông đã sáng tác những bài thơ, truyện tình tâm lí, dễ dãi Nhưng vốn

là một nghệ sĩ chân chính, giàu tình thương yêu quần chúng lao khổ, Nam Cao đãsớm nhận ra thứ văn chương thơm tho đó xa lạ với đời sống lầm than của đông đảoquần chúng nghèo khổ xung quanh Và ông đã đoạn tuyệt với nó, để tìm đến con

đường nghệ thuật hiện thực chân chính, “nghệ thuật vị nhân sinh” Theo Nam Cao, người cầm bút chân chính không được “trốn tránh” sự thực mà “cứ đứng trong lao

khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của cuộc đời…” Nam Cao chủ

trương văn học phải chứa đựng nội dung nhân đạo Tác phẩm văn học có giá trịkhông chỉ phản ánh sự thực đời sống mà còn phải có giá trị nhân đạo sâu sắc Chủtrương văn chương phải miêu tả được hiện thực, phải diễn tả được tiếng lòng đaukhổ của quần chúng.Từ những quan niệm nghệ thuật thấm đẫm vị nhân sinh đó nêncác tác phẩm của nhà văn tập trung vào hai mảng đề tài lớn đó là đề tài nông thôn,nông dân nghèo và đề tài tiểu tư sản như Chí Phèo, Sống Mòn, Đời Thừa, Giăngsáng, Nghèo, Một bữa no vv Tất cả tác phẩm đều mang giá trị nhân đạo sâu sắc.Chính sự phát hiện và lý giải hiện thực của các nhà văn đã cho thấy nhiều điềumới mẻ trong tư tưởng tác phẩm của mình Sự vang động xã hội của tác phẩm

Trang 18

không chỉ phụ thuộc vào vào chiều rộng hoặc chiều sâu hiện thực phản ánh mà cònphụ thuộc vào việc nhà văn nói lên những tư tưởng xã hội nào, thể hiện trung thựcđến đâu, những nguyện vọng tâm tư nhân dân, yêu cầu của xã hội và thời đại, luôn

có cái nhìn thế giới quan sâu rộng gắn liền với thời đại và xã hội mình đang sống

1.2.2 Khái lược quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945.

Cuộc sống luôn vận động theo từng giai đoạn lịch sử nên văn học ở mỗi giaiđoạn khác nhau sẽ thể hiện con người với những đặc điểm riêng biệt Nếu như trongvăn học dân gian, con người được thể hiện là sản phẩm của tự nhiên gồm cả yếu tốbản năng và ý thức: vừa có vẻ đẹp về thể xác, vừa có vẻ đẹp về tâm hồn, trí tuệ.Ngoài những nhu cầu bản năng, con người còn có ý thức, có khả năng thăng hoanhững nhu cầu ấy thành chất Người Con người thăng hoa nhu cầu ăn uống thànhvăn hoá ẩm thực, thăng hoa nhu cầu tình dục thành tình yêu Con người ham sốngnhưng không sống bằng mọi giá Họ hiểu sống phải có vật chất nhưng còn hiểusống cần có cả những cái cao hơn vật chất, đó là tinh thần, là tình thương và danh

dự Trong văn học trung đại Việt Nam, quan niệm về con người chi phối cả một thời

kì văn học là quan niệm con người vũ trụ, con người đạo đức, luân lí, con người củachí khí, tỏ chí và tỏ lòng, con người đấng bậc Đến thời kì hiện đại, từ đầu thế kỉ

XX, khi điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội có nhiều đổi khác thì quan niệm về conngười trong văn học cũng thay đổi theo Con người tự nhiên, bản năng từng đượcthể hiện trong văn học dân gian, bị bó hẹp bởi những quy định khắt khe của văn họcNho giáo thời trung đại Con người cá nhân từng được ghi dấu trong văn học trungđại giai đoạn cuối đến thời kì hiện đại đã được khẳng định rõ nét Sự vận động nộitại của văn học gặp luồng gió văn hóa phương Tây đầu thế kỉ XX đã tạo nên sự thểhiện con người cá nhân trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cáchmạng tháng Tám 1945

Trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám

1945 có những hiện tượng văn học lớn với những quan niệm về con người đáng chúý

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã thể hiện một quan niệm con người mới làm nền

tảng cho việc xây dựng cốt truyện và miêu tả nhân vật trong tác phẩm Đó là con

Trang 19

người cá nhân với khát vọng tìm cách thoát ly mọi quan hệ xã hội để thỏa mãn tự dobản năng Con người cá nhân không chịu gò mình trong khuôn khổ lễ giáo phongkiến, muốn vượt ra ngoài vòng cương tỏa để hướng đến quyền tự do quyết địnhhạnh phúc.Đặc biệt là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã mở đầu cách miêu tả thế giớinội tâm con người, chú ý trình bày thế giới cảm giác của con người với môi trường

xung quanh, đối với người khác và đối với chính mình Nội dung tiểu thuyết Tự lực

văn đoàn là thay đổi cách nhìn về con người Nhà văn đưa con người ra đấu tranh

trực diện với xã hội cũ.

Thơ mới là thơ phát hiện cái tôi cá nhân thành thực, thầm kín của mỗi người.

Thơ mới, thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn xuất hiện mang theo một quan niệmmới mẻ về con người, là con người cá nhân với tất cả những biểu hiện trần thế nhất, là

cái Tôi riêng “Tôi chỉ là một khách tình si”, “Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng”, “Tôi là

con chim đến từ núi lạ”, “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”…Cái Tôi cá nhân như

đứng giữa cuộc đời để khẳng định sự xuất hiện của mình, thể hiện những xúc cảm sâusắc và chân thành Cái Tôi thi sĩ tự nhìn thấu tâm hồn mình và thể hiện trên trang thơnhững cảm xúc chân thực, sâu sắc nhất của tâm hồn trước cuộc đời

Văn xuôi hiện thực nhìn xã hội trong quan hệ với số phận và ứng xử cá

nhân.Văn học hiện thực xem con người là sản phẩm của hoàn cảnh, là tiêu bản củahoàn cảnh Nhà văn mổ xẻ con người chính là khám phá tác động hoàn cảnh lên conngười.Các nhà văn tiêu biểu giai đoạn này như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, NgôTất Tố Chúng tôi chỉ điểm qua vài nét về quan niêm con người của một số nhàvăn

Đối với Nguyễn Công Hoan, mỗi con người là một diễn viên đóng vai trong

tấn trò đời, vì "Đời là sân khấu hài kịch Khi mọi người đều đóng trò, đều diễn thì

ta có một xã hội giả dối, đánh mất bản chất chân thật Con người bị tha hoá, khôngcòn chung thuỷ, không còn hiếu, không còn tình, không còn vui, thích thật nữa! Bề

ngoài cái gì nó cũng có, mà bên trong thì không có gì cả, bên trong một đằng bên

ngoài một nẻo Quan niệm về con người của Nguyễn Công Hoan còn có điểm mới,

ông miêu tả con người bị vật hoá: ngựa người, người ngựa, người tranh cơm vớichó, người biến thành cây thịt, bộ xương, Bằng quan niệm con người làm trò vàcon người bị vật hoá, Nguyễn Công Hoan đã cười vào cái xã hội giả dối, phi nhân

Trang 20

tính trong thực tại Nguyễn Công Hoan đã đề cập đến một khía cạnh sâu sắc nhấttrong xã hội đồng tiền: sức mạnh của đồng tiền đã biến con người thành hàng hóa,thành đồ vật Đó là cái hiện thực tất nhiên, là hậu quả của xã hội tư sản.

Nam Cao là nhà văn tập đại thành của văn xuôi hiện đại trước Cách mạngtháng Tám 1945 Ông tiếp thu quan niệm con người cảm giác, ông chấp nhận conngười bị tha hoá, dị dạng trước những tác động của hoàn cảnh nhưng ông cũng thấycon người ở nơi sâu thẳm vẫn còn giữ được tính người Vì vậy tác phẩm của NamCao vừa đau đớn, vừa mạnh mẽ, nhức nhối Nam Cao là nhà văn đặt ra được nhữngvấn đề con người bức xúc nhất, sâu sắc nhất, nan giải nhất Nếu hiểu tiểu thuyết làhình thức nghệ thuật cung cấp những giải pháp thẩm mỹ cho những vấn đề conngười chưa được giải quyết trong hiện thực xã hội, lịch sử thì quan niệm nghệ thuật

về con người của Nam Cao đã mang chất tiểu thuyết sâu sắc nhất

Như vậy, sự xuất hiện của văn xuôi lãng mạn Tự lực văn đoàn, Thơ mới và

văn xuôi hiện thực với những cây bút xuất sắc trong văn học Việt Nam giai đoạn

1930-1945 đã thể hiện quan niệm mới mẻ về con người, khác biệt với quan niệm vềcon người trong văn học dân gian và văn học trung đại Sự thay đổi trong quan niệm

về con người phù hợp với hoàn cảnh thời đại có ý nghĩa quan trọng, giúp văn họcthực hiện được chức năng của nó là phản ánh chân thực bộ mặt của xã hội mới vớinhững con người mới, tâm tư, tình cảm mới

Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi, cũng vì thế được kế thừa thành quả của quátrình hiện đại hóa văn học đã diễn ra và phát triển từ những năm 30 của thế kỉ XX,trong đó có quan niệm mới mẻ về con người.Tiểu thuyết khám phá con người ở góc độcái Tôi cá nhân, thể hiện đặc điểm tính cách của từng lớp người cụ thể, cá tính của từngcon người cụ thể được phản ánh Trong một xã hội có sự giao thoa giữa hai luồng vănhóa Đông – Tây, con người với những mong muốn, sở thích của cá nhân, dám sống thậtvới bản chất con người của chính mình chứ không phải uốn mình theo khuôn phép lễgiáo phong kiến Các tác giả trong giai đoạn này cũng đã lắng nghe và thể hiện trêntrang viết những suy nghĩ, thái độ, xúc cảm riêng tư của con người,

1.3 Thế giới quan sáng tác của Vũ Trọng Phụng.

1.3.1 Vài nét về tiểu sử và con người Vũ Trọng Phụng

Trang 21

Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hà Nội, trong một gia đình dân nghèo.Ông quê ở làng Hảo (Bần Yên Nhân), huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên Cha mất sớmkhi nhà văn mới 7 tháng Mẹ ông là bà Phạm Thị Khách làm nghề khâu vá thuê, khichồng chết mới 24 tuổi, đã ở vậy nuôi con Theo lời Nguyễn Tuân, đó là “ mộtngười mẹ chí từ của một người con chí hiếu” đã âm thầm tận tụy hi sinh vì con.Năm 1926 Vũ Trọng Phụng đỗ bằng tiểu học nhưng vì gia đình nghèo túng nên phảithôi học để đi làm kiếm sống, đỡ đần cho mẹ Ông xin làm thư kí nhà Gô Đa vừamới được hai tháng thì bị mất việc Năm 1927, xin được chân đánh máy chữ chonhà in Viễn Đông nhưng chỉ được hai năm lại bị mất việc Từ đó, Vũ Trọng Phụngchuyển hẳn sang nghề làm báo, viết văn để kiếm sống mưu sinh Đầu năm 1938, VũTrọng Phụng lấy vợ, đến cuối năm thì có con Cuộc sống của ông hết sức chật vật,bấp bênh, nghèo túng Dù bị bệnh lao, đau đớn trong những cơn ho triền miên daidẳng nhưng ông làm việc hăng say không kể ngày đêm để viết ra những bài văn, bàibáo để kiếm tiền nuôi bà, nuôi mẹ, nuôi vợ, nuôi con Do làm việc quá sức, đời sốngnghèo khổ, ông mắc bệnh lao, Vũ Trọng Phụng qua đời vào ngày 13 tháng 10 năm

1939 để lại bà, mẹ già, người vợ trẻ và đứa con thơ chưa đầy một tuổi

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khổ, một thứ “ nghèo gia truyền”( Ngô Tất Tố), tuổi thơ đi học phải hứng chịu nhiều cay đắng, tủi cực, lại liên tiếp gặptrắc trở khi vào đời ( hai lần bị đuổi việc) Trong con người Vũ Trọng Phụng sớm có cáimầm bất mãn với cuộc sống.Môi trường sống của ông ở phố hàng Bạc ( ông sinh tạicăn nhà số 36 phố Hàng Gai, sau chủ yếu sống ở căn gác hẹp phố Hàng Bạc, Hà Nội)hết sức phức tạp, nhốn nháo, xô bồ Ở đó, những me tây, lưu manh, gái điếm, những kẻ

có tiền ngang nhiên sống xa hoa, trụy lạc, tàn nhẫn và giả dối Hoàn cảnh xã hội nước

ta lúc bấy giờ rất phức tạp, lối sống Âu hóa kệch cỡm, sự thống khổ của nhân dân laođộng, sự tàn bạo giả dối của giai cấp thống trị bộc lộ rõ nét Là một người tri thức, vớikhả năng nắm bắt tinh nhạy của người làm báo, lại là người có ý thức thường xuyêntheo dõi sách báo trong nước và nước ngoài, tiếp xúc với nhiều hạng người,Vũ TrọngPhụng đã cảm nhận sâu sắc sự bất công của xã hội đương thời, nhà văn hiểu bản chấtxấu xa của thực dân Pháp và tổ chức chính trị, guồng máy cai trị, những nhân vật gọi làtai to mặt lớn trong luồng gió Âu hóa tràn vào nước ta, tạo nên trong ông thái độ cămphẫn, uất ức cao độ với xã hội “ khốn

Trang 22

nạn”, “chó đểu” ấy Ông căm phẫn bọn có tiền trâng tráo nhưng bất lực đồng thời có

sự cảm thông với người dân nghèo, những con người dưới đáy của xã hội nhưngcũng không tin vào bản chất tốt đẹp của tầng lớp “hạ lưu” “dưới đáy” xã hội này

Chịu sự giáo dục của lễ giáo phong kiến qua bà mẹ, là người sống khuônphép và mực thước Chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử xã hội, cuộc khủng hoảngkinh tế 1929 -1933 quy mô toàn thế giới, phong trào Âu hóa rầm rộ làm cho tìnhtrạng xã hội bi thương hơn, đặc biệt đối với tầng lớp tiểu tư sản thì cuộc sống lạicàng bế tắc Đời sống xã hội ấy cung cấp cho nhà văn nhiều hình mẫu nhân vật gây

ra trong ông ý thức mạnh dạn và táo bạo, sự cần thiết bày tỏ thái độ trước hiện thựcxấu xa

1.3.2 Thế giới quan sáng tác của Vũ Trọng Phụng

Vũ Trọng Phụng trưởng thành và bắt đầu văn nghiệp của mình trong một giaiđọan lịch sử đầy những biến động dữ dội và phức tạp Các sự kiện lịch sử xã hội đó

có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc tới tư tưởng, sự nghiệp sáng tác của nhà văn hơnnữa các yếu tố hoàn cảnh gia đình, con người đều tác động đến sáng tác của ông

Vũ Trọng Phụng là một người tri thức, tiếp thu và ham học học những kiếnthức tinh hoa qua trang sách báo, những tác phẩm của văn học Pháp, của A Gide,của Freud nên ông nhìn xã hội bấy giờ với con mắt của một người Tây học, nhìn rõbản chất của một xã hội nhá nhem, nửa quê, nửa tỉnh, nửa Tây, nửa Ta trong lànsóng Âu hóa với những nhân vật nửa ông, nửa thằng, ma cô, gái điếm, con sen,thằng quýt nhố nhăng, đồi bại Những con người ấy với những cảnh tượng ănchơi, trụy lạc, đểu cáng, bịp bợm va đập vào mắt ông hằng ngày làm cho ông nhìn

rõ mặt trái của xã hội, cái xấu của từng con người, nhìn sâu rõ bản chất tính cáchcủa từng kiểu nhân vật và thấy được sự thay đổi, diễn biến tâm lý, tính cách của

kiểu nhân vật như Xuân tóc đỏ, Phó Đoan trong Số đỏ; Long, Mịch, Nghị Hách trong Giông tố; Phúc trong Trúng số độc đắc; Liêm trong Lấy nhau vì tình vv Ta

nhận thấy tiêu điểm của sự chú ý trong văn chương cũng như các tác phẩm VũTrọng Phụng không gì khác ngoài những cảnh đời nhố nhăng xô bồ, những thói tậtcủa con người, những cảnh huống oái oăm trong cuộc sống Nhà văn muốn săm soimột cách kỹ lưỡng, muốn phanh phui ngọn ngành mọi thứ làm sao cho bật dậy hết

Trang 23

cái sự thật cay đắng của cuộc đời Trong quá trình mổ xẻ đó, ta thấy được tâm trạngphẫn uất cao độ của ông, nỗi căm giận của một con người thua thiệt, bất hạnh.

Thế giới quan sáng tác của Vũ Trọng Phụng đã chi phối đến việc lựa chọn hệthống nhân vật trong các sáng tác, trong tiểu thuyết đó là những lớp người ở thànhthị, chi phối đến việc lựa chọn các kiểu nhân vật, chi phối đến việc xây dựng tínhcách nhân vật của các kiểu nhân vật trong tác phẩm cuả ông Thế giới quan sáng táccủa ông chi phối quan niệm về các kiểu dạng người trong xã hội của ông

1.3.2.1 Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về con người “tha hóa, biến chất”

Theo từ điển Tiếng Việt, “tha hóa” là một tính từ có hai nghĩa “Tha hóa” là trởnên khác đi, biến thành cái khác (chỉ hiện tượng, sự vật) “Tha hóa” chỉ con ngườitrở nên xấu đi, mất phẩm chất đạo đức “Biến chất” là biến đổi, thay đổi bản chấtvốn có của mình

Nhân vật “tha hóa, biến chất” là khái niệm chỉ con người trong tác phẩm văn học bị mất phẩm chất đạo đức, trở thành con người xấu đi so với bản chất tốt đẹp vốn có của con người [61] Nhân vật tha hóa do nhà văn hư cấu, tưởng tượng xây

dựng nên nhằm phản ánh hiện thực xã hội mục ruỗng, xấu xa đã làm biến đổi bảnchất con người Theo nghĩa rộng tha hóa là “tình trạng con người bị bóp nghẹt bởihoàn cảnh xã hội thối nát, con người không thể sống như mình mong muốn, đánhmất chất người của mình” Nhân vật “tha hóa, biến chất” là sản phẩm của chủ nghĩahiện thực Sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực tạo ra một bước ngoặt trong việc khámphá con người Chủ nghĩa hiện thực luôn gắn với con người, hoàn cảnh, môi trường.Tính cách nhân vật bị qui định bởi hoàn cảnh và biến đổi theo hoàn cảnh Do đó, tấtcả các loại người trong xã hội, đặc biệt là loại người xấu xa, kệch cỡm, biến chấtđều được nhà văn quan tâm phản ánh vào tác phẩm

Tha hóa có những hình thái khác nhau tùy theo các hình thái xã hội và hoạtđộng và tha hóa có tính chất xã hội Con người tha hóa là con người ra đời tronghoàn cảnh xã hội nhất định Khái niệm “tha hóa” được nhiều nhà triết học lớn nhưHegel, Feurbach, K.Marx đề cập đến thuộc về một phạm trù triết học.Theo Marx thìhoàn cảnh xã hội đó chính là xã hội tư bản, con người trở thành nô lệ của đồng tiền

và nô lệ với những mối quan hệ quanh quan hệ giữa tiền bạc, lợi nhuận và conngười Nói cách khác con người không được tự do về mặt xã hội, kinh tế mà bị

Trang 24

cưỡng bức, bị phụ thuộc Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh thì nhân vật tha hóađược ra đời trong một xã hội tha hóa, một xã hội độc ác, bất công, vô lý và “chóđểu” thời Pháp thuộc.

Nhân vật tha hóa trong văn học lãng mạn thì chưa được các nhà văn quan tâmnhiều nhưng đối với văn học hiện thực thì đã có rất nhiều tác giả viết nên nhữngtrang nhân vật “ tha hóa” gây ấn tượng và khắc sâu trong lòng độc giả Nhân vật thahóa có thể chia làm hai dạng:Dạng thứ nhất, nhân vật tha hóa là sản phẩm của xãhội thực dân nửa phong kiến thời pháp thuộc, xã hội này đẻ ra những con ngườithuộc về nó Đối với loại nhân vật này sự tha hóa đã ăn sâu vào máu thịt của chúng

và vì thế chúng cứ trượt dài trên sự tha hóa như tha hóa chính là bản chất của chúng

vậy, ví dụ nhân vật Long trong Giông tố, Huyền trong Làm đĩ…Dạng thứ hai, nhân

vật tha hóa chính là nạn nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến Những chínhsách đàn áp của chúng đã dẫn đến cuộc sống đói nghèo tăm tối của những conngười tầng lớp dưới đáy xã hội, xô đẩy họ đến bước đường cùng và biến họ thành

kẻ lưu manh tội lỗi Đối với loại nhân vật này, ta thường thấy họ là những con người

có bản chất tốt đẹp và khi bị tha hóa thì họ luôn phải “ quẫy đạp”, dằn vặt để thoátkhỏi số phận bị tha hóa của họ để trở về với những gì mà họ cho là tốt đẹp của con

người như nhân vật Tám Bính trong Bỉ Vỏ, Thứ trong Đời Thừa, Chí Phèo trong tác

phẩm cùng tên

Ý thức về mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh xã hội.Vũ Trọng Phụng đãchú ý đến loại nhân vật “ tha hóa”.Trong tám cuốn tiểu thuyết của nhà văn thì cóđến năm nhân vật chính (trong bốn tiểu thuyết) là nhân vật tha hóa và những nhân

vật ấy đã trở thành mối quan tâm đặc biệt, ám ảnh với tác giả ( Việt Anh trong Dứt

tình; Long, Mịch trong Giông tố; Huyền trong Làm đĩ; Phúc trong Trúng số độc đắc).Vũ Trọng Phụng cũng như các nhà văn hiện thực có cái nhìn về mối quan hệ

giữa con người và hoàn cảnh, sớm nhận thấy sự “ tha hóa” như một hệ quả tất yếucủa sự biến đổi tính cách con người dưới sự tác động của quan hệ xã hội và VũTrọng Phụng là một nhà văn đặc biệt quan tâm sâu sắc đến kiểu người “tha hóa”.Nhà văn đã phơi bày tất cả những điều quái gở, phanh phui các nguyên nhân và dõitheo từng chặng đường dẫn nhân vật đến sự tha hóa Trương Tửu trong lời nhận xét

về Vũ Trọng Phụng: “ là một người yêu đời, thèm biết và mến chuộng công lý - nhất

Trang 25

là mến chuộng công lý.Cuộc đời mà ông nhìn thấy mâu thuẫn hẳn với linh hồn ông.Và đã nhiều lần ông tê tái trước cảnh trái mắt của xã hội, ông già trước tuổi… não trạng này chính thực ra chỉ là một biểu thị tự vệ của một lòng yêu đời nồng nàn

và ngây dại…Trong cuộc sống cũng như trong văn chương ông luôn luôn sốt sắng tìm phương thuốc sau khi trình bày một căn bệnh của người đời”…[62];Vũ Trọng

Phụng đã “chăm chỉ tìm nguyên nhân, sự sa ngã của những người tử tế” và thực tế thì ông đã: “ nhận thấy sự sa ngã kia có hai nguồn gốc chính Một là hạng người

giàu sang trong xã hội được đủ quyền để gây ra nó.Hai là hạng người lầm đường muốn theo gót bà giàu sang để đến nỗi chóng mặt té nhào” [62] Ông băn khoăn,

day dứt, tìm cách cắt nghĩa vì sao Mịch trở thành thiếu phụ dâm đãng, Long sa đọatrong cảnh giàu sang và Huyền bước vào con đường làm đĩ Những câu hỏi vang lên

đi tìm nguyên nhân trong nhiều trang tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ,… như:

“ Một người xưa kia như thế mà bây giờ như thế? Hay là tại ông Đồ chưa phải hẳnngười thấm nhuần đạo Nho? ”, “ Những sự khó hiểu trái ngược nhau đến thế, trongcái thời gian chưa đầy nửa năm! Những nguyên nhân nào đã làm thay đổi lòngngười đến thế?” [47; tr 234- 235] “ Thế nào là hư? Tại sao là hư? Tại sao mà hư?Nếu nó hư thì nó chịu lấy trách nhiệm thôi hay là còn có kẻ khác cũng đang buộc

tội? ”[47; tr 72] Quả thật Trương Tửu nhận xét rất đúng: “Một ngày ông thấy một

gái đĩ rơi xuống đời gái điếm, một thanh niên rơi xuống đời bài bạc, một người rơi xuống đời cơm thầy cơm cô hay đời trộm cướp.Ông rùng mình.Ông chăm chỉ tìm nguyên nhân của sự sa ngã ấy” [64; tr 139].

Qua tìm hiểu đi sâu cắt nghĩa quá trình tha hóa của các nhân vật Long, Mịch,Huyền….Vũ Trọng Phụng hướng sự căm thù vào bọn tư sản, bọn giàu có trong xãhội, chính chúng và những đồng tiền nhơ bẩn chính là nguyên nhân gây ra sự biếnchất, hư hỏng của nhiều con người thời đó Chính nguyên nhân đó ta dễ hiểu vì saoMịch ban đầu là một cô gái quê mùa, hiền lành, chất phác; Long là một đứa trẻ mồcôi, có đạo đức, trọng danh dự, làm việc cho Đại Việt học hiệu Tú Anh; Huyền làmột cô gái con nhà tử tế, có học, thông minh Thế nhưng họ không thể nào sống yên

ổn, dù họ đã chấp nhận số phận của mình Cuộc sống với biết bao tấn bi kịch ập đếnvới họ để rồi kết cục số phận của họ thật đau đớn: Mịch lẻ loi, cô độc trong phận lẽmọn trở nên trơ tráo, dâm đãng; Long tự tử sau cơn thác loạn; Huyền chấp nhận

Trang 26

cuộc sống ô nhục…Thị Mịch, Long, Huyền khá giống nhau trên con đường số phận,được nhà văn tạo ra để minh chứng cho quy luật “tha hóa” nghiệt ngã đang nguy cơphổ biến trong xã hội thực dân nửa phong kiến, đang giết chết dần bao con ngườivốn xuất thân lương thiện Bước vào thế giới tư sản, thế giới của đồng tiền cũngđồng thời là quá trình tha hóa của con người, Vũ Trọng Phụng thể hiện cách nhìnkhá nghiệt ngã và đó cũng chính là cách để nhà văn hướng sự đả kích về phía xãhội, phơi bày một thực trạng thối nát của xã hội đương thời.

Trong bối cảnh công cuộc hiện đại hóa văn học giai đoạn 1930-1945, tiểuthuyết hiện thực phê phán đã có nhiều đóng góp Mỗi kiểu loại nhân vật ra đời lại

bổ sung cho cái nhìn về con người.Nếu như quan niệm con người của các tiểuthuyết của Hồ Biểu Chánh đến tiểu thuyết của Nguyên Hồng hay Ngô Tất Tố làđỉnh cao của quan niệm con người đạo lý gắn minh với gốc rễ truyền thống, luônnghĩ đến phận sự nghĩa vụ Chị Dậu vẫn có nét gần gũi với loại nhân vật đẹp nhườiđẹp nết như Cúc Hoa, Kiều Nguyệt Nga, chị Dậu không hề bị tha hóa dù hoàn cảnhdồn đẩy đến đâu và tâm lý nhân vật chủ yếu được biểu hiện thông qua ngôn ngữ vàhành động.Tuy nhiên đến tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, những góc nhìn mớiđược mở ra, những mảng hiện thực mới được nhìn nhận Kiểu nhân vật “ tha hóa,biến chất ” dường như là chỗ thể nghiệm, thử thác ngòi bút của nhà văn, nhân vậttha hóa thay đổi theo môi trường, hoàn cảnh sống và đặc biệt là những biến động dữdội trong tính cách Nhà văn đi sâu, lý giải hiện tượng có tính phổ biến trong xã hội

Ông đã có cái nhìn vô cùng mới được bổ sung trong giai đoạn văn học này: nhìn

con người từ phương diện cá nhân, mỗi con người là một chủ thể ý thức, nhà văn

nhìn vấn đề con người cá nhân trước hết là nhu cầu được sống lương thiện, được làmình, không muốn bị xô đẩy vào vũng bùn “tha hóa”.Ý thức cá nhân đã mài sắcnhân vật trong cái nhìn xoáy sâu vào nội tâm, trong sự mổ xẻ, phân tích tâm lý.Long thường “đem từng nỗi khổ một phân tích tỉ mỉ”, “muốn giải phẫu cái tâm hồnkhó hiểu của mình”, Huyền “xót xa cứ căn vặn mãi:vì lẽ gì em đến nỗi trụy lạc?”.Nếu như các nhân vật Nghị Hách, Xuân tóc đỏ tính cách nhân vật thể hiện quahành động và ngôn ngữ đời sống tâm lý còn mờ nhạt thì ở loại nhân vật tha hóa này

có chiều sâu tâm lý rõ nét.Và điều đó giúp ông lý giải những sự thay lòng đổi dạ

quá đột ngột, những quyết định đầy bất ngờ” của các nhân vật của ông.Vậy nên nhà

Trang 27

văn viết trong Giông tố, ông muốn “có một thứ ánh sáng nào soi thấu được những

điều uẩn khúc của lòng người” Nguyễn Hoành Khung cho rằng “tác giả Giông tố tỏ

ra khá sắc sảo trong việc thăm dò, phân tích tâm lý phức tạp của con người” [29; tr246]

1.3.2.2 Quan niệm của Vũ Trọng Phụng về con người bản năng, tính dục

Trong nền văn học trung đại đến nền văn học hiện đại giai đoạn đầu đều baohàm trong một tư tưởng đồng nhất đó là tư tưởng truyền thống đạo lý của dân tộc

Tư tưởng nho giáo, đạo đức với những thuần phong mỹ tục luôn được coi trọng và

đề cao nhưng vẫn có cái nhìn khắt khe về vấn đề tính dục bản năng Khi nền vănhọc Việt Nam bước vào giai đoạn mới, giai đoạn giao thời mạnh mẽ giữa Á - Âu,nền văn học Việt Nam bắt đầu có sự cách tân Tư tưởng và thị hiếu của tầng lớp tiếpnhận văn chương cũng dần có bước chuyển biến song song với quá trình du nhậpvăn hóa phương Tây Với sự du nhập của văn hóa Tây phương mà chủ yếu là vănhóa Pháp thì cách nhìn nhận về vấn đề bản năng tính dục trong văn học đã đượcnhìn nhận với một cách nghĩ mới Tuy nhiên chưa hoàn toàn thoát ly khỏi nếp vănhóa truyền thống cũ nhưng được xem là bước tiến mới cho nền văn học hiện đại.Tiêu biểu cho sự cách tân văn học, Vũ Trọng Phụng đã có những thành công vượtbậc về phong cách sáng tác mới, đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết tiêu biểu như Giông

tố, Số đỏ, Làm đĩ….Ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình những yếu tố thấmđẫm tính dục bản năng, bắt nhịp với cuộc sống mới, tân thời, đầy khao khát

Bản năng của con người thuộc về bản thể tự nhiên nhất, nằm ngoài vùng chechắn của ý thức con người bản năng là yếu tố bản năng tính dục Đó là những conngười dám sống thật với bản chất của mình, họ mong muốn có sự giao thoa giữacảm xúc, tình yêu và xác thịt là biểu hiện khát vọng hạnh phúc chính đáng mang ýnghĩa nhân sinh sâu sắc

Trong đời sống văn học hiện thực phê phán1930 - 1945, con người bản năng

có lẽ chưa chính thức hiện diện Vũ Trọng Phụng gần như là người cầm bút duynhất dám để cho đám nhân vật bản năng của mình xuất hiện trên trang văn đầy áitình nhục dục từ Nghị Hách, Mịch, Long cho đến Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, Tuyết,Huyền và bao nhân vật khác Tuy nhiên, hình tượng con người bản năng hiện lên

Trang 28

còn rất xa với một cảm hứng nhân văn… đòi hỏi đời sống tính dục lành mạnh đểcon người tìm lại và bước tiếp sau vô vàn tủi nhục cay đắng Qua ý thức nghệ thuậtcủa nhà văn, những bộc lộ vừa thầm kín vừa công khai của bản năng gốc thườnggắn với típ người hạ cấp, đểu cáng, đĩ thõa và “chó đểu”, “vô nghĩa lý”.Vũ TrọngPhụng dám đưa ra những vấn đề cấm kỵ nhất của xã hội Việt Nam thập niên 30: đó

là vấn đề tính dục, vấn đề luyến ái, vấn đề mãi dâm Và ông không ngại đi vàonhững vùng nóng hổi nhất của xã hội để điều tra sự thật: xã hội cờ bạc, xã hội lấyTây, xã hội làm điếm, xã hội con sen vấn đề tính dục trong tác phẩm của Vũ TrọngPhụng đã làm nhức nhối cả một thành phần trí thức và ông bị kết án là dâm ô. Nhất

Chi Mai trong bài Dâm hay không dâm đả kích Vũ Trọng Phụng một cách cay độc

và gọi văn chương của ông là "bẩn thỉu, nhơ nhớp, dơ đáy" (Ngày nay, số 51, 14/3/1937) Thái Phỉ trên báo Tin văn (số 25, 9/1936) cũng gọi văn chương của Vũ

Trọng Phụng là "văn chương dâm uế" Vũ Trọng Phụng bằng những lời lẽ sắc bén,đứng vững trên lập trường của một nhà văn "tả chân", "vị nhân sinh" đã mạnh mẽbảo vệ cho quan điểm của mình Vũ Trọng Phụng thường thể hiện bản năng tính dụcnhư một "căn tính" chung của loài người, bất kể họ ở tầng lớp nào, giai cấp nào.Tiếpthu khuynh hướng tả chân, Vũ Trọng Phụng đã góp phần tỉ mẫn giới thiệu đaynghiến loại con người bản năng ở góc nhìn bản năng nhất

Giông tố, những ẩn ức, những góc khuất bản năng dục tính lần đầu tiên

được Vũ Trọng Phụng thực sự quan tâm Qua cái bản năng thèm thuồng của ôngNghị khi bắt gặp “hai cái má phúng phính, cặp môi nhỏ và dầy, cái cằm tròn trĩnh,một bộ đùi phốp pháp trắng nõn, trông đáng yêu…” nó làm “nhà tư bản đứng trôngcái bộ đùi thôn nữ ấy một cách tần ngần đến vài phút” Con người bản năng trongNghị Hách bộc lộ, lấn át cả chút tỉnh táo còn sót lại Nghị Hách trơ tráo, liều lĩnh,hắn ỡm ờ gọi Thị Mịch lên xe trong tiếng gõ búa thình thịch của hai tên tài xế trungthành…Yếu tố bản năng đã được Vũ Trong Phụng lồng ghép vào tác phẩm như một

sự phơi bày và tố cáo Người đọc lại bắt gặp cảnh ngay trong đêm “tân hôn”, ThịMịch đã mơ màng nghĩ đến Long, bắt đầu bi kịch của người đàn bà không đượcsống với tình yêu, càng không được thỏa mãn khao khát tình dục của mình “Nhữngcảm giác đê mê ở cuộc hãm hiếp, còn để sót lại trong tâm trí Mịch những hồi ức băn

Trang 29

khoăn của một dục vọng chưa được thỏa mãn”…Mịch trở nên đáng thương và tộinghiệp Hóa ra, giông tố trong lòng mới đáng sợ vô cùng.Vũ Trọng Phụng cũngcường điệu hóa vai trò tính dục trong đời sống tâm lý của nhân vật Nhân vật Mịch -một cô gái quê ngây thơ, trong trắng, sau khi "biết mùi đời" trong chiếc xe hòmthỉnh thoảng lại nhớ lại cảm giác khoái lạc như một kẻ đói ăn khát uống: "Cái lúc ấythật là gớm giếc, thật là bẩn thỉu, thật là đau đớn, nhưng trong đau đớn không phải

là không có một thứ khoái lạc trong xác thịt nó làm cho đỡ thấy đau

Trong lúc này con vật đã nổi dậy trong lòng cô gái quê mập mạp, trẻ trung, đươngthì Mịch nhớ lại lúc ấy một cách say sưa như người háu đói vậy" [47; tr 360] Haynhân vật Long là người có học thức, có lòng tự trọng, không thoát khỏi sự chi phốinặng nề của bản năng để đòi hỏi thỏa mãn dục vọng Ôm mộng báo thù, thế mà khigặp được hai cô con gái nhà Nghị Hách, ở trong Long cũng xảy ra những xung độtkhông khác gì ở Mịch, đó là xung đột giữa "ái tình" và "dục tình" “Dục tình cũnglại mạnh hơn ái tình" Ngoài hành động loạn luân với Thị Mịch mà người đọc có thểhiểu như một sự trả thù đối với Nghị Hách và Tú Anh, thì cuộc loạn luân với Tuyết

mà khi đó Long đã biết rõ là em gái mình quả là điều không thể lý giải

Trong Số đỏ, ngoài những kẻ dâm đãng như Xuân Tóc Đỏ, Phó Đoan, Hoàng

Hôn vv,Vũ Trọng Phụng cho xuất hiện một nhân vật khá đặc biệt: đốc tờ TrựcNgôn, hễ mở miệng là bàn về "tình dục", "cái dâm", "sinh lý", "bản năng" "ái tình"

và "dục tình"

Về con người bản năng tính dục không thể không đề cập đến một cuốn tiểu

thuyết luận đề Làm đĩ Cuốn tiểu thuyết duy nhất có lời đề tựa này đã thể hiện cả ý

thức trách nhiệm của tác giả trước tệ nạn mại dâm đầy rẫy trong xã hội, lẫn cáchgiải thích mơ hồ và những ảo tưởng trong giải pháp khắc phục tệ nạn này Trong lời

tựa, Vũ Trọng Phụng viết: "Làm đĩ là một thiên tả chân tiểu thuyết mục đích là hô

hào nhà đạo đức và bậc làm cha mẹ lo chăm đến hạnh phúc của con cái và phải để ýđến cái sự mà những thành kiến hủ bại vẫn coi là điều bẩn thỉu, tức là cái sự dâm.Cái dâm thuộc về quyền sinh lý học chứ luân lý không kiềm chế nổi nó Tình dục đãcần cho xác thịt cũng như sự ăn uống thì ái tình cao thượng chỉ là một thứ ái tình màtrong đó sự ham muốn của xác thịt không được thỏa mãn, nghĩa là nói tóm lại

Trang 30

thì đó chỉ là thứ ái tình thất vọng mà thôi!" [48; tr 32 - 33] Đây chính là tư tưởng

quan trọng dẫn đường cho ngòi bút của tác giả Làm đĩ.Tác giả dõi theo từng chặng

đường của cuộc đời Huyền - cũng chính là từng chặng đường của sự phát triển sinh

lý từ khi Huyền còn là một đứa trẻ ngây thơ cho đến khi trở thành một gái đĩ đầykinh nghiệm Mục đích của cuốn tiểu thuyết nhằm chứng minh rằng "gia đình rồi xãhội đẩy con người đến chỗ làm đĩ" Nhà văn đi sâu miêu tả những ám ảnh, nhữngbiến động trong đời sống sinh lý của nhân vật, Huyền trở thành nạn nhân của chínhbản tính dâm đãng của mình

Trong các tiểu thuyết của mình, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện một cách khá

hệ thống cái nhìn về một phương diện của con người: phần bản năng, sinh lý, tínhdục Sự thể hiện con người bản năng này không phải chỉ hoàn toàn có ý nghĩa tiêucực Với các nhân vật Nghị Hách, Xuân Tóc Đỏ, Phó Đoan ), tác giả phê phán trênphương diện đạo đức đối với những kẻ luôn luôn muốn dấu diếm bộ mặt thật xấu xacủa chúng Nhưng đối với các nhân vật nạn nhân đáng thương của ông (Mịch, Long,Huyền ) thì việc nhìn thấy đời sống bản năng tính dục như một tồn tại thực tế, hơnnữa còn là một sự mở rộng, đào sâu cách nhìn về con người so với nhiều nhà vănhiện thực cùng thời

Trang 31

TIỂU KẾT

Lịch sử, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX đã có những thay đổi, mỗi một nhàvăn lại có những quan điểm, cách nhìn nhận riêng biệt thông qua thế giới quan củamình tạo nên những tác phẩm văn học mang nhiều màu sắc mới mẻ chứa đựng tưtưởng triết lý cuộc đời, cuộc sống và con người sâu sắc nhất Qua hiện thực đượcphản ánh tác phẩm, ta nhận ra sự đánh giá, lí giải của các nhà văn trước hiện thựcấy.Với văn học thời kì 1930 -1945, các nhà văn hiện thực đều có cái nhìn chủ quan

về bức tranh hiện thực đời sống, nhận thức được những mặt trái của xã hội vớinhiều những vấn đề ung nhọt diễn ra hết sức phức tạp của xã hội Âu hóa đồng thời

sự nghèo khổ của tầng lớp dân nghèo lại khổ cực gấp trăm nghìn lần Chứng kiếnđược hiện thực đó, nhiều nhà văn đã có những kí thác qua tác phẩm của mình đểcảm thông, chia sẻ và trân trọng giá trị của những người nghèo khổ đồng thời lên

án, tố cáo giai cấp bóc lột hà hiếp dân lành

Bước sang thời kì hiện đại, quan niệm về con người trong văn học có sự thayđổi, góp phần tạo nên một diện mạo văn học mới mẻ Nếu như con người được thểhiện trong văn học dân gian là con người tự nhiên với cả phần bản năng và ý thức,con người trong văn học trung đại chủ yếu là con người vũ trụ, con người đạo đức,con người đấng bậc của xã hội tôn ti, sản phẩm của làng xã, của chế độ quân chủnho giáo, thì con người trong văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỉ XXđến trước Cách mạng tháng Tám 1945 chủ yếu là con người cá nhân, con người làsản phẩm của hoàn cảnh xã hội mới theo hướng bình đẳng, dân chủ

Vũ Trọng Phụng với thế giới quan của mình đã có cái nhìn sâu sắc về một xãhội nhố nhăng, đồi bại với làn sóng Âu hóa tràn vào nước ta lúc bấy giờ.Với quanniệm riêng của mình về con người tha hóa, biến chất; quan niệm con người bảnnăng tính dục đã cho thấy nét đặc sắc, riêng biệt của mình so với các nhà văn cùngthời.Ông sắc sảo khi viết về các mối quan hệ xã hội, khám phá nhiều mặt bản chất

của xã hội giai đoạn 1930-1945 thông qua các nhân vật trong Giông tố, Số đỏ và

Làm đĩ.

Trang 32

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG QUA “GiÔNG TỐ”, “SỐ

ĐỎ” ,” LÀM ĐĨ”.

2.1 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Giông tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng

2.1.1 Đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

Tiểu thuyết có dung lượng phản ánh khá lớn, có khả năng khái quát cuộcsống một cách sâu rộng nhất, nhiều nhất so với các thể loại văn học khác nên nhânvật trong tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ chi tiết Tư duy tiểu thuyết cho phép các nhàvăn “trao ngòi bút cho nhân vật tự viết lấy giọng điệu riêng của nó”(Antonop)

Thạch Lam cho rằng “tiểu thuyết là sự sống, nhân vật là con người chịu ảnh

hưởng sâu sắc của hoàn cảnh và cũng được tạo nên để sống với hoàn cảnh” Vũ

Bằng cũng nhận định sự sống trong tiểu thuyết cũng như ngoài đời rất khó mà kểlại, rất khó mà tóm thuật, rất khó mà hiểu Nhân vật trong tiểu thuyết là nhân vậtcủa sự nếm trải, suy tư, nghiền ngẫm trong cuộc đời Nhân vật được đặt trong mốiquan hệ trung hòa của xã hội, chịu sự tác dộng của hoàn cảnh và cũng là chủ thể tácđộng lại hoàn cảnh Các sự kiện thăng trầm của cuộc đời nhân vật tiểu thuyết đềunếm mùi Vì vậy con người trong tiểu thuyết phải là con người bình thường củacuộc sống hằng ngày với những quan hệ cụ thể đời thường Con người của đờithường là con người của biết bao suy tư trăn trở nên nhân vật trong tiểu thuyết làmột thế giới không hề đơn giản mà hết sức phong phú, đa dạng Nhà phê bình Thiếu

Sơn cho rằng “ nhân vật trong tiểu thuyết từ những người tầm thường nhưng mang

bản sắc nhân loại với cái nghĩa là những phẩm chất yếu hèn, cao thượng mà cho dù

là ai, ở địa vị nào cũng ít nhiều có”[ 56; tr 102].Và vị vậy ông cho rằng “nhà nghệ

sĩ giỏi là nhà nghệ sĩ tạo ra những nhân vật thật và hoạt động, ngoài những tính chất và đặc điểm của cái địa vị xã hội, tìm đến được cái bí mật không tả được ở trong mỗi con người”[62; tr 228].Theo Vũ Bằng trong Khảo Sát về Tiểu Thuyết cho

rằng“nhân vật trong tiểu thuyết là một nhân vật phản chiếu cái hình ảnh của đời

như một nhân vật như chúng ta đây, một nhân vật rất gần, rất thân thiết chúng ta, một nhân vật mà nhìn vào lòng thấy như nhìn vào lòng ta vậy”[3; tr 73] Muốn xây

dựng được nhân vật có giá trị nhà văn phải có vốn sống phong phú, sự hiểu biết về

Trang 33

tâm lý, khả năng tưởng tượng nhà văn mới có thể đồng cảm, thâm nhập vào nhânvật để thể hiện nhân vật một cách thành công nhất.

Các nhân vật trong tiểu thuyết là những nhân vật được xây dựng thông quaquá trình hư cấu và sáng tạo nghệ thuật Đó là quá trình khá phức tạp phụ thuộc vàothế giới quan, vốn sống, trình độ hiểu biết, phong cách và cá tính của nhà văn, đồngthời bị chi phối bởi tư tưởng, chủ đề, kết cấu, và sáng tạo.Tuy nhiên sự tưởng tượngcủa nhà văn dựa trên hiểu biết nhiều nguyên mẫu để rồi trên cơ sở đó xây dựng mộtđiển hình nghệ thuật có sức khái quát cao Cũng có khi nhà văn phải xây dựng mặtđiển hình dựa trên cơ sở của nhiều nguyên mẫu khác nhau Qúa trình hư cấu đầyphức tạp mà nhà văn phải huy động tối đa vốn sống thế giới quan, trình độ hiểu biết,phong cách và cá tính dưới sự chi phối của tư tưởng, chủ đề, kết cấu và cốt truyện

để tạo nên một điển hình văn học có giá trị “khiến cho điển hình nghệ thuật có tầm

khái quát rộng lớn, ai cũng nhận ra mình có trong nó nhưng nó lại không giống riêng người nào “ [10; tr 253].

Trí tưởng tượng sáng tạo phong phú, mãnh liệt độc đáo là đặc điểm nổi bậttrong cá tính sáng tạo của Vũ Trọng Phụng và đây là điểm nổi trội hơn người củaông trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước năm 1945.Trong việc “thiết kế” bức

tranh hiện thưc Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, trong việc dựng lên thế giới nghệ thuật riêng

của mình, trí tưởng tượng sáng tạo của Vũ Trọng Phụng đóng vai trò quan trọng.Những tư liệu đời sống mà nhà văn trực tiếp chứng kiến, những tin tức, vấn đề nóngcủa xã hội Việt Nam đương thời và phần nào của thế giới mà ông thu nhặt qua báochí tiếng Việt và tiếng Pháp Đọc Vũ Trọng Phụng, ta thấy ông đã truyền vào những

tư liệu, thông tin ấy thái độ, tình cảm căm phẫn, uất ức, sôi sục, mãnh liệt của mình,thổi vào đó nguồn năng lượng tâm hồn để cho những chi tiết ấy “cất cánh” qua trítưởng tượng sáng tạo phong phú, độc đáo của nhà văn.Trí tưởng tượng độc đáo củanhà văn đã hướng ngòi bút của mình và khai tác tối đa những bất thường để làm nổibật bản chất của xã hội Việt Nam đương thời và sự điên đảo chìm nổi của những sốphận Nhiều tiểu thuyết của ông liên quan tới những nguyên mẫu ngoài đời nhưngông không miêu tả giống nguyên mẫu một cách đơn giản mà khắc họa những néttrong tính cách ấy một cách phóng đại nhằm thể hiện khuynh hướng mang ý nghĩachung mà chúng chứa đựng Chính vì vậy nhà văn tạo ra được

Trang 34

những điển hình nghệ thuật sống động, có sức sống thật sự như Nghị Hách, Vạn tóc

mai trong Giông tố, Xuân Tóc Đỏ, Phó Đoan, Cố Hồng trong Số đỏ…

Cảm hứng chủ đạo cùng với cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn đã tạo nênmột kiểu tiểu thuyết hiện thực mang những đặc điểm riêng, không lẫn với cây bútnào

2.1.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

Tiểu thuyết hiện thực của Vũ Trọng Phụng luôn có đặc điểm quan trọng làkhả năng bao quát hiện thực rộng lớn với những không gian mang tầm vĩ mô và thếgiới nhân vật đông đảo gồm đủ những tầng lớp người nhằm dựng lên bức tranh toàncảnh có ý nghĩa khái quát, tổng hợp cao độ về xã hội Việt Nam đương thời Nếu tiểuthuyết của Ngô Tất Tố có sự dồn nén cao độ về không gian, thời gian, tiểu thuyếtcủa Nguyễn Công Hoan chỉ tập trung bao quát không gian hẹp, tiểu thuyết của NamCao tập trung xoáy vào thế giới vi mô, cái cá thể của đời sống thì tiểu thuyết của Vũ

Trọng Phụng vướn tới tầm bao quát không gian rộng lớn, mang tầm vĩ mô.Giông

tố,Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ…mỗi tác phẩm tập trung vào những mảng hiện thực khác

nhau khi gộp lại tạo nên bức tranh liên hoàn bao quát toàn cảnh xã hội Việt Namđương thời, đa sắc thái thẩm mỹ về những quan hệ xã hội có sự đánh giá về bản chấtcủa các tầng lớp thống tri và thực trạng đời sống nhân dân lao động.Tóm lại đã phảnánh sâu sắc những tính cách, số phận của con người trong cơn giông tố điên đảo của

xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng vô cùng phong phú

và đa dạng, đồ sộ, mật độ và tần số xuất hiện các nhân vật đậm đặc và không thiếumột ai từ ông đồ, ông giáo, thầy kí, thầy đội, lục sự, cảnh sát, quan huyện, tổng đốc,công sứ, vua ta, vua Xiêm đến gái đĩ, gái tân thời, tư sản, khoán thầu, nông dân, thịdân…và đủ các thành phần, giai cấp, đủ giới (sĩ, công, thương, binh), đủ hạngngười, đủ phái tính, đủ độ tuổi……

Theo các công trình nghiên cứu thống kê mỗi tác phẩm có đến vài chục, trăm

nhân vật thậm chí có tác phẩm trên vài trăm nhân vật.Với tác phẩm Giông tố được

xem là bức tranh thu nhỏ về xã hội Việt Nam trước cách mạng thì Nguyễn Thị LệThanh thống kê có 89 nhân vật (chưa kể những đám đông hậu trường) [58; tr 23]

Trong luận án Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Lựu đã có sự thống

Trang 35

kê của các công trình nghiên cứu như: Đinh Thị Chúc thống kê có 242 nhân vật,Trịnh Hiền Lương thống kê có 80 nhân vật, Trần Đăng Thao thống kê có 84 nhân

vật, Phạm Bằng thống kê có 86 nhân vật.Tác phẩm Số đỏ, địa bàn có hẹp hơn nhưng

nhà văn cũng tạo nên một xã hội đông đúc, phức tạp với đủ mọi gương mặt củathành thị “Âu hóa”, Nguyễn Văn Dữ thống kê có 42 nhân vật, Đinh Thị Chúc thống

Nếu như Tắt đèn có vài chục khuôn mặt và trong Bỉ vỏ khối lượng nhân vật có

đông đúc thì tất cả cũng chỉ bó gọn trong phạm vi hẹp, một nhóm người, một lớpngười chứ chưa hợp thành một xã hội, một dân tộc.Trong các tác phẩm của NamCao thường chỉ có khoảng dăm bảy nhân vật, là những con người cô độc, con ngườinội tâm thì trái lại nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là con người côngdân, con người xã hội, những con người ấy luôn luôn sống, vận động không ngừngnghỉ trong một không gian rộng lớn và hàng loạt mối quan hệ phức tạp, đa chiều,phức điệu, đa đoan Đó là hình mẫu của nhân vật hướng ngoại, luôn có xu hướngvận động, muốn vượt rào, thoát ra khỏi cái tôi chật chội của mình, con người củaliên tiếp những hành động, những mưu mô, thủ đoạn…và chính con người, xã hộihiện thực đã được nhà văn trải bày trên trang viết của mình Trong bài Để đáp lại

báo Ngày nay: Dâm hay không dâm, Vũ Trọng Phụng đã nhắc đến 11 hạng người thì 11 hạng người này đều trở thành nhân vật trong tiểu thuyết: “Riêng tôi, xã hội

này, tôi chỉ thấy khốn nạn, quan tham lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt mà cái xa hoa chơi bời của bọn giàu thì thật là cái câu chửi rủa vào cái xã hội dân quê, thợ thuyền bị lầm than, bị bóc lột Lạc quan được, cho đời là vui, là không cần cải cách cho cái xã hội chó đểu này là hay ho tốt đẹp, rồi ngồi đánh phấn bôi môi hình quả tim để đi đua ngựa, chợ phiên, khiêu vũ, theo ý tôi thế là giả dối, là bị mình lừa mình và di họa cho đời, nếu không là vô liêm

sỉ một cách thành thực”[46; tr 131] Quan tham có quan huyện Cúc Lâm, tổng đốc;

lại nhũng có lục sự, tên cai; đần bà hư hỏng có Hoàng Hôn, Tuyết, Phó Đoan,

Trang 36

Huyền, Duyên, Bích số 2, ả đào; đàn ông dâm bôn có Hách, Tân, Cử Tân ; Văn sĩ đầu

cơ xảo quyệt có nhà báo; bọn giàu ăn chơi có Hách, Tân; dân quê thợ thuyền lầm than

có thợ ở mỏ than Hòn Gai; đánh phấn bôi môi có Phó Đoan, bà Năm,Văn Minh; đuangựa có Tân, Kim; chợ phiên có Kim Dung,Yến; khiêu vũ có Paul Sanh, Mai Thiên Tố,Huỳnh Liên, Bích Ngọc.Tất cả các nhân vật đó xuất hiện trong trang viết của nhà vănđều thể hiện tấm lòng của Vũ Trọng Phung muốn biến cải xã hội đã đến hồi suy thoái

về đạo đức, cách sống, thành một xã hội tốt đẹp, công bằng và văn minh

Trong luận án “Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng” Đinh Lựu đã khái

quát một số nét trong thế giới nhân vật đủ các hạng người, thành phần, giai tầng

“nhiều nhân vật chính đều cùng một trang lứa với Vũ Trọng Phụng (Việt Anh 30tuổi, Tiết Hằng 26 tuổi, Mịch 18 tuổi, Xuân tóc đỏ 25 tuổi, Huyền 22 tuổi, Liêm 27tuổi, Quỳnh 22 tuổi, Phúc 25 tuổi Những nhân vật không ghi tuổi như Quân, Đức,Long, Tú Anh, Phú cũng trong độ tuổi từ 20 đến 30 Phải chăng Vũ Trọng Phụngviết về những con người cùng thời đại cùng trang lứa là để nói rõ hơn, kĩ hơn, sâusắc hơn những vấn đề bức xúc, những thực trạng trong xã hội, tâm thức thế hệ thanhniên thời ấy” [31; tr 80] hay “nhân vật nạn nhân, kém may mắn, gánh chịu nhiểuthua thiệt, nhiều tâm trạng dằn vặt….như Huyền, Tiết Hằng, Tuyết, bà Cử, hay cuộcsống ban đầu bình lặng như Mịch, Quỳnh, thì giông tố của cuộc đời cũng ập đếnnhấn chìm họ trong vòng trầm luân, khổ ải, sống dở, chết dở, không thiếu thốn vềvật chất, cũng đau khổ về tinh thần Trong xã hội tôn thờ đồng tiền, chạy theo lốisong đua đòi, hưởng thụ, đánh mất nhân tính, lương tri con người, thì phụ nữ là nạnnhân số một vậy [31; tr 81]

Thế giới nhân vật trong các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thường được đặtvào trong bối cảnh xã hội đầy biến động, với những vấn đề đang diễn ra nóng hổi

của cuộc sống đương thời Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: “Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê

hệt như những cuốn phim thời sự Đương thời ít có cuốn tiểu thuyết nào lại gần với không khí chính trị của thời đại như thế.Tiểu thuyết mà như muốn chạy đua với thông tin báo chí [39; tr 47] Các nhân vật trong tiểu thuyết đặc biệt là các nhân vật

phản diện thường là những chân dung sinh động của những con người đang sống ở

ngoài xã hội Trên báo Tinh hoa, phê bình Giông tố Nguyễn Lương Ngọc cho biết:

“Ta có thể gọi rõ mặt những người ông (Vũ Trọng Phụng) ám chỉ trong mấy tên:

Trang 37

Long, Mịch, Vạn Tóc Mai, Nghị Hách” Trương Chính cũng cho rằng: “Hắn (Nghị Hách) là một nhân vật quan trọng trong xã hội ngày trước Và nếu ai tò mò thì có thể tìm thấy tên và ảnh hắn trong cuốn Những nhân vật ở Đông Dương in năm 1941” [28; tr 189] Nguyễn Tuân trong Một đêm họp đưa ma Phụng đăng Tao Đàn

số đặc biệt cũng khẳng định rằng: “Nhiều người còn sống sờ sờ kia, oán thằng

Phụng lắm Chúng nhìn thấy hình ảnh chúng ở Nghị Hách, Xuân Tóc Đỏ [65; tr 18].

Trong xã hội đương thời đó, Vũ Trọng Phụng đã dùng ngòi bút sắc bén tinh nhạycủa mình để thể hiện ấn tượng những bộ mặt dâm ác, đểu giả của tầng lớp thống trị,chúng hoạt động hoành hành nhốn nháo, quyết liệt, làm lũng đoạn xã hội, chi phối

pháp luật, chèn ép người lương thiện.Trong Giông tố, nhà văn đã vạch trần các cuộc

móc ngoặc đê hèn giữa Nghị Hách với quan tổng đốc, quan công sứ với đại diện của

“một hội lý tài” ở chính quốc….và phanh phui cái động lực của những trò hề tranh

cử dân biểu, tăng bốc bình dân Trong Số đỏ nhà văn đã đưa các nhân vật diễn viên

lên sân khấu những gương mặt đang chi phối cuộc sống chốn thành thị bao gồmnhững me tây, gái mới, chủ hiệu, nhà chính trị…với đủ thứ khẩu hiệu dối trá củachúng như “văn minh”, “âu hoá” , “cải cách y phục”, “cải cách Phật giáo”

2.2 Các kiểu nhân vật

2.2.1 Nhân vật Âu hóa

Trong những năm 1930-1945 cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ của lịch sử

mà hệ lụy của nó chính là sự biến đổi về cơ cấu xã hội đồng thời xã hội lúc nàycũng vận động theo những khuynh hướng mới Trước hết là sự trưởng thành củamột cơ cấu xã hội hiện đại với ba tầng lớp: phú hào tân đạt, tư bản bản xứ, tri thứcmới và thị dân Các tầng lớp này sản sinh trong cùng một giai đoạn đã thể hiện rõrệt bản chất rối ren của xã hội nửa thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ Sự xuấthiện của những tầng lớp mới kéo theo sự canh tân về phong hóa và thẩm mĩ, nhữngcái cũ chưa được loại bỏ thì đã phải tiếp nhận những cái mới không hợp thời tạo nênmột giai đoạn lịch sử - xã hội lố lăng mà kèm theo đó là sự lố lăng cả một thế hệcon người Sự xuất hiện của các phong trào cải cách xã hội mang tính chất cải lươngvào những năm 1936-1939, thực tế không làm thay đổi bộ mặt xã hội ngay được

nhưng cũng chỉ “khuấy đảo” bề mặt nổi của xã hội, đa phần các phong trào này đều

chịu sự thất bại hoặc không cũng chịu sự lợi dụng của thực dân Pháp Xã hội Việt

Trang 38

Nam giai đoạn này còn chịu sự ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng của xã hội ĐôngDương trong những năm 1940-1945 thế nên xã hội vốn đã rối nay còn rối hơn,những con người sống trong cái xã hội này mà yên ổn được thì đó là một điềukhông tưởng.

Cũng trong giai đoạn này sự phát triển của các phong trào yêu nước có thêmnhững bước tiến mới đó là các phong trào yêu nước trong thập niên 20 mang màusắc tư bản đồng thời phong trào cộng sản giai đoạn này phát triển mạnh và rộng rãi.Những năm 1936-1939, phong trào cộng sản có sự đột khởi trong chương trình hànhđộng được xem là giai đoạn hòa hoãn và hợp tác Sự phát triển mạnh mẽ của chế độphát xít độc tài kéo theo sự trỗi dậy của những đảng phái quốc gia với khuynhhướng thân Nhật, đứng trước nguy cơ bị xâm lược của phát xít phong trào cộng sảntrong những năm 1930-1945 có sự phát triển lớn mạnh phù hợp với quy luật đấutranh cũng như diễn biến lịch sử - xã hội

Bối cảnh lịch sử - xã hội đầy biến động phần nào đã tác động đến lối sống,cách suy nghĩ, tư duy của con người: họ không còn được sống đơn giản, cuộc sốngcủa họ giữa thời buổi nhiễu nhương bắt buộc phải vây quanh giá trị của đồng tiền,chính nó đã trở thành thước đo cho nhân cách và giá trị của con người Cũng trong

giai đoạn này “làn sóng Âu hóa” - một cách đồng hóa văn hóa của thực dân Pháp

áp dụng vào các nước thuộc địa đang lan tràn khắp mọi nơi mà đặc biệt là khu vực

thành thị chính vì vậy đã làm sản sinh ra những con người “nửa ta nửa Tây”, họ được xem là “con lai” của cái xã hội nửa thực dân nửa phong kiến thối nát lúc này.

Cùng với những chính sách cai trị về chính trị, kinh tế thực dân Pháp đồng thờitiến hành chính sách nô dịch về văn hóa nhằm làm cho dân ta trở nên ngu muội mất

đi khả năng đấu tranh và phản kháng Giai đoạn 1930-1939 là khoảng thời gian sựnghiệp sáng tác văn chương của Vũ Trọng Phụng phát triển mạnh mẽ cũng là lúctình hình lịch sử và xã hội có nhiều chuyển biến quan trọng

Với bản tính cầu toàn, ưa thích sự nề nếp, khuôn khép đã làm cho ông cảmthấy chán nản với thực tại xã hội thượng lưu lố lăng, với những con người ăn chơitrụy lạc, suy đồi và bằng đôi mắt tinh tường đã nhận ra những sự biến chuyển bênngoài lẫn bên trong của những con người đó như đã nói ở trên mà chúng ta tạm gọi

họ là con người “Âu hóa” Về vẻ bên ngoài họ vẫn là những con người tóc đen da

Trang 39

vàng nhưng mặc trên người họ đã không còn là áo tứ thân, váy đụp nữa mà là quần

âu, áo tân thời xét về mặt văn hóa lúc bấy giờ đó là một việc làm phản truyền thốngcủa cha ông ta, ở họ còn có sự pha tạp giữa cái quê kệch của thôn quê và cái tân thời

“nửa mùa” của thành thị Vẻ bên trong của con người không phải ai cũng có thể

nhìn thấy được, ở đó đã diễn ra sự thay đổi về nhận thức, tâm lý một cách tinh vi vàlặng lẽ nhất về mặt đạo đức, lối sống hay cách đối nhân xử thế đồng thời sự thay đổi

đó cũng báo hiệu cho sự chuyển biến của dòng lịch sử, của một xã hội rộng lớn.Điểm lại trong nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều tác giả viết về kiểu loại

nhân vật “Âu hóa” này như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyên Hồng

nhưng chỉ khi đến với Vũ Trọng Phụng thì kiểu loại nhân vật này mới thực sự trởthành điểm sáng cho tác phẩm Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng con người -

nhân vật “Âu hóa” không chỉ mang những đặc trưng cơ bản của xã hội mà còn là nhân chứng của lịch sử.Trong tác phẩm Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại

hóa của Vương Trí Nhàn đã nhận định về nhân vật “Âu hóa” trong tiểu thuyết Số

đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng: “Âu hoá không chỉ là tên gọi của cái cửa hàng thợ may nơi nhân vật Xuân trong Số đỏ đến học việc và bắt đầu một cuộc tiến thân.

Âu hoá cũng chính là nội dung của quá trình chuyển biến của cái xã hội nho nhỏ

mà tất cả các nhân vật của cuốn tiểu thuyết này – từ những nhà cải cách xã hội như

vợ chồng Văn Minh, các trí thức như ông Josef Thiết,ông đốc tờ Trực Ngôn đến lớp người mạt hạng như Xuân cùng mấy ông thầy bói mấy cô bán hàng mấy chị vú

em - bị cuốn hút theo.” [43; tr 107].

- Người tiểu tư sản“Âu hóa”

Tầng lớp tiểu tư sản hình thành khi xã hội Việt Nam chuyển từ phong kiếnsang nửa thực dân nửa phong kiến nhưng kiểu dạng nhân vật này hầu như khôngxuất hiện trong các sáng tác văn học thế kỷ XIX Sang đầu thế kỷ XX, nhân vật tiểu

tư sản đã xuất hiện trong các sáng tác của Hoàng Ngọc Phách (nhân vật Đạm Thủy

-Tố Tâm), Hồ Biểu Chánh (nhân vật Hiển Vinh - Chút phận linh đinh) nhưng nhìn

chung cũng chỉ là phác họa những nét đơn giản, chưa được tô điểm đậm nét và chưatrở thành một hình tượng văn học thực sự Đến giai đoạn 1930-1945, hình tượngnhân vật tiểu tư sản đã trở nên phổ biến và quen thuộc trong hầu hết các sáng táccủa các tác giả tiêu biểu Cuộc sống đời thường đầy mâu thuẫn của người tiểu tư sản

Trang 40

trở thành đề tài thu hút các nhà văn khai thác.Vũ Trọng Phụng là nhà văn tập trungmột cách xuất sắc khai thác mảng đề tài mới mẻ này.

Viết về những người tiểu tư sản, Vũ Trọng Phụng khác với những nhà văncùng thời đó là ông không rơi vào lối viết mơ mộng, thi vị hóa Người tiểu tư sản

của Tự Lực văn đoàn nếu không mang dáng dấp của những con người “phi

thường” thì cũng mang màu sắc lãng mạn và phần lớn họ có xuất thân từ những gia

đình quan lại hay tư sản giàu sang và được hưởng một cuộc sống nhung lụa dư thừa

Đó là Lộc (Nửa chừng xuân - Khái Hưng) mải mê theo đuổi một mối tình lãng mạn đến mức không tưởng hay như Dũng (Đôi bạn - Nhất Linh) cuồng si một lí tưởng

mơ hồ, là “khách chinh phu” ngày đây mai đó lang bạt khắp chốn giang hồ vô định.

Điểm sáng trong nhóm Tự Lực văn đoàn có thể nhắc đến cái tên Thạch Lam, ngườitiểu tư sản trong các sáng tác của ông mang những nét gần gũi và chân thực vớicuộc sống thường ngày, được đặt trong những hoàn cảnh khó khăn ứng với xã hội

đương thời Cái đói dằn vặt Sinh (Đói - Thạch Lam) hay cuộc sống cơm áo gạo tiền

đè nặng lên đôi vai Trường (Ngày mới - Thạch Lam) cho ta cái nhìn mới hơn về

cuộc sống của những con người tiểu tư sản lúc bấy giờ

So với những nhà văn theo trường phái lãng mạn thì cách nhìn của Vũ TrọngPhụng mang đầy sự đối lập nhưng với các nhà văn cùng trường phái hiện thực phêphán thì điều này cũng nảy sinh ra sự chênh lệch rõ rệt Người tiểu tư sản trong sángtác của Nam Cao chứa đựng những sự mâu thuẫn tương phản nhau giữa cái thời

buổi nghèo cực như trong bữa cơm rau muống của Thứ (Sống mòn - Nam Cao) cùng

hai người bạn của anh Khác với những nhà văn đã kể trên Vũ Trọng Phụng khaithác mặt trái của những người tiểu tư sản, đằng sau sự tri thức giả tạo đó ẩn chứanhững thứ toan tính tầm thường vụn vặt bình thường đến mức hèn mọn như một thứtha hóa về bản chất con người và đó cũng là một thứ bi kịch của người tiểu tư sản

Có thể điểm qua một số tác phẩm như: Số đỏ, Giông tố, Trong Số đỏ ta có thể

nhận thấy hàng loạt những nhà tri thức tiểu tư sản được cho đi du học nước ngoài để

mang “văn minh” về phục vụ cho nước nhà như Văn Minh chồng, cậu Tú Tân Nhưng thực chất thứ “văn minh” mà họ mang về chỉ là những thứ thượng lưu mang

tính chất bịp bợm đến mức hủ lậu như Văn Minh chồng tuyên truyền cho tiệm may

Âu hóa với những trang phục cách tân táo bạo đi trước cả thời đại, khuyến

Ngày đăng: 27/11/2020, 11:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (Sưu tầm và biên soạn) (1997), Vũ Trọng Phụng – tài năng và sự thật, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng – tài năng vàsự thật
Tác giả: Lại Nguyên Ân (Sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1997
2. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Dostoievski. Người dich: Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Dostoievski
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
3. Vũ Bằng (1955) Khảo sát về tiểu thuyết, Nxb Phạm Văn Đồng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về tiểu thuyết
Nhà XB: Nxb Phạm Văn Đồng. Hà Nội
6. Nguyễn Đình Chú (1991), Về giai đoạn văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX- 1945 (tài liệu bồi dưỡng môn văn lớp 11), Vụ giáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giai đoạn văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX-1945
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1991
7. Đinh Trí Dũng, Sự thể hiện con người “tha hóa” trong các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng,Tạp chí văn học, Hà Nội, số 5/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thể hiện con người “tha hóa” trong các tiểu thuyết của VũTrọng Phụng
8. Đinh Trí Dũng, Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng,Thông báo khoa học, ĐHSP Vinh số 15/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
9. Đinh Trí Dũng (1998), Nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng- Luận án tiến sĩ Ngữ Văn - ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 1998
10. Phan Cự Đệ (1974),Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Tập I, NXB ĐH & THCN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB ĐH & THCN Hà Nội
Năm: 1974
11. Hà Minh Đức (2012),Vũ Trọng Phụng- tài năng và thời cuộc, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng- tài năng và thời cuộc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2012
12. Hà Minh Đức (1962), Tác phẩm văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
13. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
14. Nhóm Lê Qúy Đôn biên soạn (1957), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Xây dựng, tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nhóm Lê Qúy Đôn biên soạn
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1957
16. M.Gooki (1965), Bàn về văn học (2), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Tác giả: M.Gooki
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1965
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - chủ biên (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
18. Lê Thị Đức Hạnh (1989), “Nhìn lại việc đánh giá Vũ Trọng Phụng, suy nghĩ về vấn đề đổi mới tư duy trong nghiên cứu văn học”, Tạp chí Văn học (1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại việc đánh giá Vũ Trọng Phụng, suy nghĩ về vấn đề đổi mới tư duy trong nghiên cứu văn học"”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1989
19. Lê Thị Đức Hạnh (2002), bài viết “ Sáng tác của Nguyễn Đình Lạp”, Tạp chí văn học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Nguyễn Đình Lạp
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 2002
20. Nguyễn Văn Hạnh( 1999),Về nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta, Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
21. Đinh Hùng (1965), “Nhớ Vũ Trọng Phụng”, Tạp chí Văn học (44), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhớ Vũ Trọng Phụng”, Tạp chí Văn học
Tác giả: Đinh Hùng
Năm: 1965
22. Hoàng Ngọc Hiến (1997),Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số Đỏ, Tạp chí văn học, số 2/1990, in lại trong Vũ Trọng Phụng tài năng và sự thật, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số Đỏ", Tạpchí văn học, số 2/1990, in lại trong "Vũ Trọng Phụng tài năng và sự thật
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxbvăn học
Năm: 1997
23. Đỗ Đức Hiểu (1993), Những lớp sóng ngôn từ trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng , Đổi mới phê bình văn học, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lớp sóng ngôn từ trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w