Xuất phát từ tình hình thực tế và mong muốn góp phần thiết thực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước, được sự tạo điều kiện giúp đỡ của thầy An Như Hưng -trường Học viện Ngân
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN
Đề tài: Dân số vàng Thực trạng, cơ hội và thách thức.
Giáo viên hướng dẫn: An Như Hưng
Lớp : ECO04A_01
Học phần : Kinh tế phát triển
Hà Nội,2020
Trang 2Thông tin nhóm
Danh sách thành viên
1 Phạm Thị Phương
2 Nguyễn Thị Thu Trang
3 Nguyễn Thị Mai Thảo
4 Lê Thị Hồng Chúc
5 Trần Thu Phương
6 Nguyễn Trang Linh
7 Phạm Như Ý
8 Đỗ Huyền Trang ( trưởng nhóm)
Cách thức liên hệ, email: dotrangsh@gmail.com
Danh sách đóng góp của từng thành viên:
viên
Mức độ đóng góp (%)
Ký tên Điểm kiểm
tra 2
1 Phạm Thị Phương 22A4030286 100 Phương
2 Nguyễn Thị Thu
Trang
3 Nguyễn Thị Mai Thảo 22A4030157 100 Thảo
4 Lê Thị Hồng Chúc 22A4030352 90 Chúc
5 Trần Thu Phương 22A4030389 100 Phương
6 Nguyễn Trang Linh 22A4030575 90 Linh
8 Đỗ Huyền Trang 22A4030280 90 Trang
Trang 3Mục Lục
Giới thiệu 4
Nội dung 5
Chương 1: Cơ sở lý thuyết 5
Chương 2: Thực trạng 6
1 Đặc điểm cơ cấu tuổi trong thời kì dân số vàng 6
2 Thực trạng lao động trong thời kỳ dân số “vàng” 6
Chương 3: Cơ hội, thách thức và giải pháp 7
1 Cơ hội 7
2 Thách thức 8
3 Giải pháp 12
Kết luận 14
Trang 4Giới thiệu
Cùng với sự biến động của lịch sử, dân số Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau với những thay đổi lớn về tỷ suất sinh và tỷ suất tử Việc tiến hành chính sách kế hoạch hóa gia đình nhằm kiềm chế mức sinh và giảm tỷ lệ dân số phụ thuộc đã mang lại cơ hội dân số “vàng” cho Việt Nam vào năm 2010 Hiện nay, dân số Việt Nam
đã đạt ở con số 90 triệu người – đứng thứ 14 trên thế giới, thứ 8 ở châu Á và đang ở giai đoạn cơ cấu “dân số vàng Giai đoạn này đã đem lại cho VN nhiều cơ hội cũng như thách thức Cơ hội dân số “vàng” có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế nói chung và vấn đề giải quyết việc làm nói riêng Đặc biệt trong giai đoạn then chốt
2010-2020, khi nước ta đặt mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và được xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình thì việc nghiên cứu cơ hội dân số “vàng”
và tận dụng cơ hội “vàng” là việc làm hết sức cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tế và mong muốn góp phần thiết thực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước, được sự tạo điều kiện giúp đỡ của thầy An Như Hưng -trường Học viện Ngân - chúng em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu bài tiểu luận là “ Dân số
và thực trạng cơ hội thách thức (Việt Nam) ” Bài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu cơ cấu dân
số “vàng”ở Việt Nam, phân tích tình hình lực lượng lao động trong thời gian qua, nghiên cứu những cơ hội thách thức của thời kỳ dân số vàng này Đồng thời đưa ra một số kiến nghị về chính sách giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong thời kỳ này
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu nhóm em không tránh khỏi những sai sót nhỏ mong thầy có những đóng góp để chúng em có thể hoàn thiện hơn bài tiểu luận của mình
Trang 5Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Một số khái niệm của đề tài:
Khái niệm cơ cấu dân số
Sự phân chia tổng số dân của một nước hay một vùng thành các nhóm, các bộ phận theo một tiêu thức đặc trưng nhất định gọi là cơ cấu dân số Ví dụ: như cơ cấu tự nhiên (tuổi và giới tính), cơ cấu dân tộc và cơ cấu xã hội tình trạng hôn nhân, tôn giáo, trình
độ học vấn…) Trong đó cơ cấu tuổi và giới tính của dân số là quan trọng nhất bởi vì không những nó ảnh hưởng tới mức sinh, mức chết và di dân mà còn ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội
Khái niệm cơ cấu dân số vàng
Cơ cấu dân số vàng (Golden population structure) được hiểu là số người trong độ tuổi lao động tăng gấp hai lần số người phụ thuộc
Nguồn lao động là một bộ phận của dân số, trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Thừa thầy thiếu thợ: Là trạng thái người tốt nghiệp đại học không kiếm được việc làm do đào tạo không sát với thực tế trong khi đó thị trường lao động lại thiếu người lao động có tay nghề
Trang 6Chương 2: Thực trạng
1 Đặc điểm cơ cấu tuổi trong thời kì dân số vàng
Hiện nay, tổng dân số của Việt Nam là 96,2 triệu người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới với tuổi thọ trung bình hơn 73 tuổi
Vào ngày 1 tháng 4 năm 2019, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương cho biết, tỷ trọng dân số từ 15 - 64 vẫn chiếm đa số, khoảng 68% tổng dân
số, nhưng tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đang tăng với tốc độ nhanh nhất, chiếm 7,7% Điều này cho thấy, mặc dù Việt Nam đang ở trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng nhưng tốc
độ già hóa dân số đang tăng nhanh, đòi hỏi chúng ta vừa phải đồng thời thực hiện các chính sách để thích ứng với già hóa dân số, vừa phải tranh thủ tận dụng nguồn nhân lực vàng cho phát triển kinh tế, tạo bứt phá để vượt qua bẫy thu nhập trung bình
2 Thực trạng lao động trong thời kỳ dân số “vàng”
Thời kỳ dân số “vàng” sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh của Việt Nam là nguồn lao động dồi dào, giá rẻ Song thực tế thì chất lượng đội ngũ lao động này không cao khi có tới 4/5 lực lượng lao động chưa qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ mà chỉ có khả năng lao động giản đơn Theo báo cáo về tình hình thị trường lao động Việt Nam của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, nước ta đang thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao (kỹ
sư, công nhân kỹ thuật) và lao động dịch vụ cao cấp (lãnh đạo, quản lý, điều hành) trên các lĩnh vực nên nhiều công việc phải thuê lao động nước ngoài Mặt khác, lao động xuất khẩu thì đa phần chỉ đạt chất lượng thấp, mới qua đào tạo sơ đẳng, không có ngoại ngữ Thu nhập từ những lao động này mang lại sẽ không cao, bấp bênh và tất yếu tỷ trọng đóng góp cho GDP của những lao động này sẽ không nhiều Như vậy, giống như hầu hết các quốc gia ở Đông Nam Á, Việt Nam cũng gặp phải tình trạng thiếu lao động có kỹ năng trong quản lý và sản xuất Trình trạng này kéo dài thì Việt Nam chỉ mãi đứng ở giai đoạn 1 của quá trình phát triển kinh tế và khó có thể phấn đấu trở thành nước Công nghiệp như mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra Số liệu của Tổng cục Thống kê đã chỉ ra rằng,ở Quý II/2019 lực lượng lao động đã qua đào tạo có văn
Trang 7bằng, chứng chỉ chỉ chiếm 22,37% (lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 10,82 %; cao đẳng chiếm 3,82%; trung cấp chiếm 4,65% và sơ cấp chiếm 3,08% trong tổng lực lượng lao động) Đây chính là thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” đã và đang tồn tại bấy lâu nay, gây ra nhiều bất cập cho thị trường lao động Việt Nam
Chương 3: Cơ hội, thách thức và giải pháp
1 Cơ hội
Trong bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam hiện nay, cơ cấu dân số vàng tạo
ra cho nước ta nhiều cơ hội để phát triển về giáo dục, kinh tế và an sinh xã hội.Theo dự báo dân số của Liên Hợp Quốc (2008) Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn dân số vàng năm 2010 và khoảng thời gian này sẽ kéo dài khoảng 30 năm có nghĩa là tới năm 2040 Việt Nam cần nắm bắt cơ hội có một không hai này Nếu tận dụng được cơ hội này, Việt Nam sẽ tạo ra sự phát triển vượt bậc về kinh tế
Trong thời kỳ này lợi thế lớn nhất của Việt Nam chính là lực lượng lao động dồi dào Dân số trong độ tuổi lao động tăng lên kéo theo nhu cầu về đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ đáp ứng yêu cầu của các ngành kinh tế, đặc biệt là trong công nghiệp
và dịch vụ
Việc tỷ lệ trẻ em từ 0 đến 14 tuổi ngày càng giảm, dân số trong độ tuổi lao động (15 đến 64) và dân số cao tuổi (trên 64 tuổi) ngày càng tăng lên tạo điều kiện nâng cao chất lượng và phát triển hệ thống giáo dục Số lượng học sinh tiểu học và trung học cơ sở giảm giúp nâng cao chất lượng giảng dạy ở hai cấp học này đồng thời có thêm chi phí đầu tư chuyên sâu cho các cấp học khác
Đặc điểm thời kỳ “dân số vàng” là mức sinh thấp nên áp lực dân số lên hệ thống giáo dục phổ thông giảm mạnh Nhờ kết quả của chương trình kế hoạch hóa gia đình, hầu như mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các gia đình chăm sóc sức khỏe và cho con đến trường, giúp cho nước ta chuyển hướng phát triển giáo dục
từ số lượng sang chất lượng Không những vậy, điều này còn làm cân bằng giữa tỷ lệ nữ
Trang 8sinh và nam sinh trong hệ thống giáo dục quốc dân, nâng cao vị thế của phụ nữ, góp phần thực hiện tốt bình đẳng giới
Việt Nam cần chú trọng đến việc chăm sóc y tế cho trẻ em và phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ, thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình nhằm giảm sức ép dân số và đảm bảo chất lượng lao động trong tương lai Việc chăm sóc sức khỏe tốt cho người dân ngay từ đầu làm giảm bớt áp lực chi tiêu y tế và các dịch vụ chăm sóc y tế sau này
Lực lượng lao động có việc làm ngày càng lớn, ngày càng có trình độ cao và đảm bảo sức khỏe để phục vụ cho các ngành kinh tế, đồng thời cũng là nguồn đóng góp và duy trì
hệ thống an sinh xã hội Nếu phần lớn dân số Việt Nam được tiếp cận với bảo hiểm xã hội
và bảo hiểm y tế thì sẽ có tác động tích cực trong việc giảm rủi ro cho chính họ và giảm tổn thất cho nền kinh tế
Trong thời gian tới, chúng ta cần nhận thức đúng đắn hơn nữa tầm quan trọng của cơ hội dân số vàng đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam cần đi theo hướng tạo cơ hội việc làm có thu nhập cao cho nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao Lực lượng lao động dồi dào nhưng đi đôi với nó phải là chất lượng ngày càng tăng lên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Lực lượng lao động dồi dào chỉ có thể tham gia sản xuất với năng suất và hiệu quả cao nếu thị trường lao động đủ năng động và linh hoạt
để toàn dụng lao động trong khi chính sách kinh tế vĩ mô thúc đẩy đầu tư và nhân công được trang bị đầy đủ kỹ năng phù hợp yêu cầu của nền kinh tế
2 Thách thức
Việt Nam đang tận dụng thời cơ trong thời kỳ dân số vàng, tuy nhiên cũng phải đói mặt với nguy cơ già hóa dân số Điều này đã tạo nên áp lực khá lớn đến vấn đề phát triển kinh tế-xã hội,
Thứ nhất, về lao động, việc làm Do phân bố lao động ở các vùng còn chưa đồng đều, chưa tạo điều kiện phát huy lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động Hiện nay,
có khoảng 70% lao động chưa được đào tạo nghề Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê trong quý II năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2020 là 53,1 triệu người, Lực lượng lao động trong độ tuổi lao là 46,8 triệu người, Tỷ lệ lao động qua
Trang 9đào tạo có bằng, chứng là 24,0%,Tỷ lệ qua đào tạo của lao động khu vực thành thị đạt 39,4%, cao hơn 2,4 lần so với khu vực nông thôn (16,2%) Hơn nữa, tình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, cả về chiều cao, cân nặng, những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế Kỷ luật lao động của người Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp Chất lượng lao động còn thấp như vậy nên năng suất lao động của Việt Nam còn thấp: Trong 25 năm qua, năng suất lao động của Việt Nam chỉ tăng chưa tới 3 lần, gây cản trở
đà tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia
Còn nhiều hạn chế trong dịch chuyển lao động: Phần lớn lao động di cư chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu, gặp khó khăn về nhà ở, học tập, chữa bệnh dẫn tới hậu quả là nguồn cung lao động không có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của các vùng, các khu công nghiệp, khu chế xuất
Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên cũng là một vấn đề nan giải trong điều kiện thị trường lao động này càng cạnh tranh
Thứ hai, là về dân số Dân số Việt Nam đang già hóa rất nhanh, nhanh hơn nhiều so với
dự kiến, nằm trong số 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới Việt Nam chưa thoát khỏi thu nhập trung bình và đang kém so với các nước trong khu vực (nếu nhanh thì cũng phải ít nhất 15 năm để thành quốc gia có thu nhập cao) Hơn nữa, nước ta đang trong quá trình phát triển, áp lực tài chính, thời gian làm việc tăng sẽ gây ra tâm lí ngại sinh đẻ mức sinh cũng đến giới hạn rồi và sẽ giảm nhanh chóng nếu không có các biện pháp hỗ trợ kinh tế… Chính vì vậy, Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ chưa giàu đã già Thứ ba, về giáo dục và đào tạo Khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục và đào tạo nghề rất khác biệt giữa các nhóm dân số, trong đó người nghèo và thiểu số có khả năng tiếp cận rất thấp Chất lượng giáo dục và đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay của thị trường lao động Đầu tư cho giáo dục còn chưa thích đáng , chưa đúng trọng tâm và hiệu quả còn thấp
Thứ tư là sức khỏe, gia đình, y tế, an sinh xã hội Sức khỏe sinh sản vẫn còn nhiều
Trang 10phá thai của vị thành niên và thanh niên Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao, nhất là khu vực miền núi, vùng nghèo và dân tộc thiểu số Ngược lại, tình trạng béo phì đang có xu hướng tăng nhanh ở cả nông thôn và thành thị
Bạo lực gia đình, lao động trẻ em… tác động tiêu cực đến dân số trẻ và dẫn đến nhiều tổn thương về mặt xã hội
Khả năng tiếp cận với các dịch vụ an sinh xã hội của nhóm lao động di cư - nhóm lao động dễ tổn thương nhất trước các cú sốc kinh tế - còn rất thấp
Tỷ lệ người cao tuổi hưởng hưu trí và các chế độ trợ cấp xã hội còn ít, đặc biệt các đối tượng yếu thế
Chúng ta có thể so sánh với Nhật Bản- một quốc gia đang trong thời kỳ già hóa dân số Nhật - Hàn - Singapore đều phát triển thần kì trong thời kì kinh tế vàng Một số nhân tố
cơ bản đóng góp cho tăng trưởng 'thần kỳ' trong giai đoạn kinh tế vàng của Nhật Bản là nguồn nhân lực dồi dào và có chất lượng, dân số ổn định và tăng trưởng việc làm cao và
tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao Bài học của Nhật Bản trong việc tận dụng cơ hội dân số
"vàng" cho giai đoạn "tăng trưởng thần kỳ" là hàng loạt các chính sách về sức khỏe sinh sản và hệ thống kinh tế vĩ mô được thực hiện đồng bộ Bên cạnh các nhân tố quan trọng
đó, nhiều nghiên cứu cũng kết luận rằng môi trường kinh tế và chính trị thuận lợi đã giúp Nhật khai thác triệt để cơ hội dân số "vàng" Ngoài việc tích lũy tư bản và nguồn lao động chất lượng cao, chính sách và chiến lược chủ động của chính phủ Nhật Bản khai thác triệt
để các nguồn lực tri thức cũng như các bí quyết công nghệ để tăng cường phát triển Nhật Bản đã thành công rực rỡ trong việc nắm bắt thời cơ dân số vàng Thực tế, cơ hội dân số "vàng" chỉ là cơ hội và không tự thân đem đến 'lợi tức' cho bất kỳ quốc gia nào không có những chính sách, chiến lược phù hợp để tận dụng nó Đây là bài học cho Việt Nam khi đón nhận cơ hội dân số có một không hai này
Hiện nay dân số Nhật Bản đang có dấu hiệu già hóa nhanh chóng Đây chính là một sự đáng báo động cho Việt Nam trong việc tận dụng dân số vàng Tỷ số phụ thuộc dân số được tính bằng tỷ số giữa số trẻ em (0-14) và người cao tuổi (từ 65 trở lên) với 100 người trong tuổi lao động (15-64) Theo đó, cơ hội dân số "vàng" xảy ra khi tỷ số này nhỏ hơn
Trang 1150, tức là cứ 1 người ngoài độ tuổi lao động sẽ được "hỗ trợ" bởi hơn 2 người trong độ tuổi lao động Biến đổi dân số, đặc biệt là sự thay đổi của tỷ suất sinh và tỷ suất chết, tác động đến cơ cấu tuổi dân số và cơ hội dân số "vàng" là một kết quả của sự biến đổi đó Mỗi nước có cơ hội "vàng" vào các thời điểm và với độ dài khác nhau Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009, cơ cấu tuổi của dân số Việt Nam biến đổi mạnh theo hướng tỷ
lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; dân số trong độ tuổi 15-64 tăng lên và dân số cao tuổi (65+) cũng tăng dần Kết quả là tỷ số phụ thuộc dân số đạt mức 45,8 vào năm 2010
và tăng lên 50,8 vào năm 2040 Đó là một căn cứ mà nhiều nhà dân số học dự báo thời kì
cơ hội dân số "vàng" của Việt Nam đã chính thức bắt đầu và kéo dài trong khoảng từ 2010- 2040 Việt Nam có thành công rực rỡ như Nhật Bản trong việc nắm bắt thời cơ dân
số vàng hay không chính là nhờ những chiến lược ngắn hạn dài hạn của nhà nước ta
1990 1995 2000 2005 2010 2015 2016 2017 2018 2019 2020
2.23
1.96
1.3
0.96 0.97 1.05 1.04 1.03 1 0.96 0.91
0.43
0.3
0.18 0.13
0.03
-0.09
-0.17 -0.2
-0.24 -0.27 -0.3
Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Việt Nam & Nhật Bản giai đoạn 1990-2020