Để bắt kịp nhịp độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới, tất cả các ngành nghề đều phải không ngừng vận động để tồn tại và phát triển, việc trao đổi mua bán trong ki
Trang 1BÀI TẬP LỚN
Môn: Kế toán ngân hàng I
Chủ đề:
Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế -
Thực trạng và giải pháp
Lớp: Kế toán ngân hàng I thứ 2 ca 1, 2 D7 Nhóm:
Phạm Thị Yến Ngọc Nguyễn Trần Hồng Hạnh Nguyễn Hoàng Hiệp Nguyễn Thị Mai
Trang 2Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 3
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 4
1 Định nghĩa về TTKDTM 4
a Tiền mặt là gì? 4
b Thanh toán là gì? 4
c TTKDTM là gì? 4
2 Các phương thức thực hiện TTKDTM 4
a Thanh toán bằng Séc 4
b Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Lệnh chi 5
c Thanh toán bằng ủy nhiệm thu – Nhờ thu 5
d Hình thức thanh toán thư tín dụng 6
e Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng (thẻ thanh toán) 6
3 Vai trò của TTKDTM 7
a TTKDTM là động lực tăng tốc độ chu chuyển vốn và thúc đẩy phát triển kinh tế 7
b Giúp Ngân hàng huy động tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi 7
c Giảm chi phí lưu thông tiền tệ 7
d Giúp Ngân hàng giám sát các khoản vay 7
II THỰC TRẠNG TTKDTM Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 8
1 Thanh toán qua thẻ 8
2 Thanh toán bằng Séc 11
3 Một số hình thức thanh toán khác 11
4 Thanh toán không dùng tiền mặt tại các doanh nghiệp 12
III GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TTKDTM Ở VIỆT NAM 13
1 Kinh nghiệm mở rộng TTKDTM tại các nước khác 13
2 Giải pháp và khuyến nghị nhằm mở rộng TTKDTM tại Việt Nam 15
a Đối với Nhà nước 15
b Đối với Ngân hàng Nhà nước 15
c Đối với Ngân hàng thương mại 16
d Đối với dân cư 17
KẾT LUẬN 18
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng không ngừng phát triển, nó đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường Để bắt kịp nhịp độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới, tất cả các ngành nghề đều phải không ngừng vận động để tồn tại và phát triển, việc trao đổi mua bán trong kinh doanh ngày càng phát triển, nhu cầu về thanh toán là rất lớn, đặc biệt là thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) TTKDTM đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến, được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch
có giá trị và khối lượng lớn Đó là một trong những cơ hội kinh doanh tốt cho ngân hàng TTKDTM không chỉ thúc đẩy tăng trưởng cho hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước Hiện nay, các hình thức TTKDTM đã phổ biến hơn rất nhiều trong nền kinh tế Việt Nam, đã quen dần hơn đối với khu vực dân cư, các doanh nghiệp cũng đẩy mạnh việc thanh toán qua ngân hàng đối với khách hàng, trả lương cho cán bộ công nhân viên, thanh toán hóa đơn, nộp ngân sách,v.v… Bài nghiên cứu của nhóm được thực hiện với mục đích tìm hiểu thực trạng của hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế Việt Nam và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động TTKDTM về cả tính phổ biến cũng như hiệu quả, chất lượng của hoạt động TTKDTM
Trang 4I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1 Định nghĩa về TTKDTM
a Tiền mặt là gì?
Tiền mặt được định nghĩa rất khác nhau trên mỗi khía cạnh (đối với các NHTM – đối với nền kinh tế nói chung, theo nghĩa rộng – theo nghĩa hẹp) Tuy nhiên, nhìn chung, trong nội dung đang nghiên cứu dưới đây, tiền mặt có thể được hiểu là một hình thức của tiền tệ, theo đó, trong thời gian giao dịch, chức năng lưu thông và cất trữ giá trị được thực hiện mà không cần sự tham gia của các định chế tài chính trung gian đặc thù
b Thanh toán là gì?
Thanh toán, trong các mối quan hệ kinh tế, được hiểu một cách khái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệ kinh tế nhất định Tiền
ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả nợ
c TTKDTM là gì?
TTKDTM là cách thức thanh toán trong đó không có sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản của các chủ thể liên quan đến số tiền phải thanh toán
TTKDTM còn được định nghĩa là phương thức thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy nhờ thu, giấy ủy nhiệm chi, séc…
để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đợn vị này sang tài khoản của đợn vị khác ở Ngân hàng TTKDTM gắn với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ
2 Các phương thức thực hiện TTKDTM
a Thanh toán bằng Séc
Séc là lệnh trả tiền vô diều kiện của người phát hành lập trên mẫu in sẵn do NHNN Việt Nam quy định, yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trích một số tiền từ tài
Trang 5khoản tiển gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc
Séc là công cụ lưu thông tín dụng được sử dụng rộng rãi( tổ chức và các cá nhân) ở tất cả các nước trên thế giới, quy tắc sử dụng séc đã được chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và trên công ước quốc tế
Từ năm 1996, ở Việt Nam được phép lưu hành loại séc vô danh và séc ký danh, trong đó séc vô danh được chuyển nhượng tự do, còn séc ký danh được phép chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu chuyển nhượng Nhờ có quy định này,séc giờ đây không còn là một công cụ chuyển khoản đơn thuần mà còn phát huy được vai trò là công cụ lưu thông
Trong hình thức thanh toán bằng séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi xướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền
Ở Việt Nam hiện nay, séc có nhiều loại nhưng séc dùng trong TTKDTM gồm có séc chuyển khoản và séc bảo chi
b Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Lệnh chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản tiền hàng, dịch vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống hay khác hệ thống Ngân hàng
c Thanh toán bằng ủy nhiệm thu – Nhờ thu
Uỷ nhiệm thu là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào Ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu hộ số tiền theo lượng hàng hóa đã giao, dịch vụ đã cung ứng cho người mua
Trang 6Uỷ nhiệm thu được áp dụng thanh toán tiền hàng, dịch vụ giữa các chủ thể mở TK trong cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng cùng hệ thống hay khác hệ thống Các chủ thể thanh toán phải thoả thuận thống nhất dùng hình thức thanh toán ủy nhiệm thu với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng phục vụ chủ thể thanh toán biết để làm căn cứ thực hiện các ủy nhiệm thu
d Hình thức thanh toán thư tín dụng
Thư tín dụng là lệnh của người trả tiền yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định theo đúng những điều khoản đã ghi trên thư tín dụng
So với các chứng từ thanh toán khác như séc, UNC, UNT các điều kiện ghi trên thư tín dụng tương đối chặt chẽ, hầu như phản ánh đầy đủ những cam kết thanh toán trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng đã ký
Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng dịch vụ giữa hai bên mua bán mở tài khoản ở hai Ngân hàng cùng hệ thống trong trường hợp thiếu tín nhiệm lẫn nhau về mặt tài chính, hoặc việc mua bán không xảy ra một cách thường xuyên
e Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng (thẻ thanh toán)
Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các máy trả tiền mặt tự động( ATM)
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng dụng trong Ngân hàng Thẻ thanh toán có nhiều loại, nhưng một số loại thẻ được
sử dụng phổ biến ở Việt Nam bao gồm:thẻ ghi nợ,thẻ ký quỹ thanh toán vàthẻ tín dụng
Các chủ thể tham gia thanh toán thẻ, gồm có:Ngân hàng phát hành thẻ, người sử dụng thẻ, người tiếp nhận thẻ và Ngân hàng đại lý thanh toán
Trang 73 Vai trò của TTKDTM
a TTKDTM là động lực tăng tốc độ chu chuyển vốn và thúc đẩy phát triển kinh tế
TTKDTM thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn rút ngắn chu
kỳ sản xuất, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và tác động trực tiếp dến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó được coi là khâu đầu tiên và cũng là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất và liên quan đến toàn bộ lĩnh vực lưu thông hàng hoá, tiền tệ của các tổ chức, cá nhân trong
xã hội Nếu tổ chức công tác thanh toán nhanh chóng an toàn và chuẩn xác sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn và góp phần thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân
b Giúp Ngân hàng huy động tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
TTKDTM giúp cho Ngân hàng huy động được tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành đầu tư, cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế Ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh
tế để thu lợi nhuận Đây là nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ mạng lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế
c Giảm chi phí lưu thông tiền tệ
TTKDTM góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội Mặt khác, TTKDTM còn tạo ra sự chuyển hoá thông suất giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và điều hoà lưu thông tiền tệ Nếu tổng chu chuyển tiền tệ không đổi mà tỷ trọng TTKDTM tăng lên sẽ làm giảm tỷ trọng tiền mặt một cách tương ứng, từ đó giảm chi phí lưu thông như: chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền, chi phí về thời gian thanh toán
d Giúp Ngân hàng giám sát các khoản vay
TTKDTM tạo những điều kiện tiền đề kinh tế thuận lợi để Ngân hàng kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tác nhân kinh tế (đặc biệt là các doanh nghiệp) với mục đích củng cố kỷ luật thanh toán, đảm bảo nguyên tắc thu chi tài chính và nâng cao hiệu quả sử
Trang 8dụng vốn Thu chi bằng tiền của các tác nhân thể hiện trên tài khoản tại Ngân hàng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, làm căn cứ cho vay hay thu hồi nợ Đồng thời qua việc giám sát, Ngân hàng có thể có những kiến nghị, giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển
II THỰC TRẠNG TTKDTM Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1 Thanh toán qua thẻ
Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến và được sử dụng nhiều nhất hiện nay là thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS Theo thống kê của ngân hàng Vietinbank, hiện nay đã có 43 ngân hàng tham gia phát hành thẻ Đến cuối tháng 6/2014, cả nước đã có trên 72 triệu thẻ, gấp 3.600 lần năm 2002; lượng ATM (máy rút tiền tự động) và POS (máy chấp nhận thẻ) lên gần 165.000 chiếc Doanh số thanh toán thẻ nội địa năm 2013 cũng lần đầu tiên vượt một triệu tỷ đồng
Thống kê số lượng thẻ, số lượng máy POS và máy ATM trong toàn hệ thống tính đến tháng 6/2014
Số lượng thẻ (Đơn vị: triệu ) - Nguồn: NHNN
Số lượng thẻ của các ngân hàng phát hành tăng lên nhanh chóng, chỉ mới qua 6 tháng đầu năm 2014 số lượng thẻ đã gia tăng gần 9% so với năm 2013, tương ứng với mức tăng tuyệt đối là 5,9 triệu thẻ Chất lượng kinh doanh của ngân hàng qua dịch vụ thẻ cũng được
33
72.1
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Số lượng thẻ
Số lượng thẻ
Trang 9nâng cao, thể hiện trên doanh số thẻ nội địa tăng đều qua các năm, đến hết tháng 6 năm
2014, doanh số này đã đạt gần 60% doanh số của năm 2013, đạt trên 600.000 tỷ đồng
Doanh số thanh toán thẻ nội địa (Đơn vị: tỷ đồng) - Nguồn: NHNN
Số lượng máy POS ( Đơn vị: chiếc) - Nguồn: NHNN
0 200000
400000
600000
800000
1000000
1200000
2011 2012 2013 Jun-14
787700 832700
1024600
605700
Doanh số thanh toán thẻ nội địa
Doanh số thanh toán thẻ nội địa
77500
104900
132000 147500
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
140000
160000
2011 2012 2013 Jun-14
Số lượng máy POS
Số lượng máy POS
Trang 10Máy POS được sử dụng ngày càng nhiều hơn trong thanh toán hiện bởi nhiều tiện ích
mà nó mang lại như nhỏ gọn và phù hợp với nhu cầu mua sắm tại các trung tâm thương mại, các siêu thị ngày càng gia tăng như hiện nay, POS gắn liền với ngành công nghiệp bán lẻ và dịch vụ Tính đến tháng 6 năm 2014 trong cả nước đã có tới 147500 máy POS, tăng 15500
so với cuối năm 2013 Đầu tư cho máy POS thấp hơn rất nhiều so với đầu tư ATM mà lại đảm bảo an toàn, thuận tiện cho người sử dụng Tuy nhiên, ở Việt Nam, mặc dù số lượng máy POS lớn như thế nhưng doanh số thanh toán qua máy POS vẫn còn rất thấp do thiếu sự liên kết đồng bộ giữa các ngân hàng và các trung tâm mua bán, máy POS vẫn còn rất xa lạ với hầu hết người dân, cộng thêm với việc các ngân hàng lại thường đầu tư lắp đặt ATM tại các trung tâm này thay vì đầu tư máy POS, do đó người dân thường có thói quen rút tiền mặt
để thanh toán hơn là quẹt thẻ để thanh toán
Số máy ATM (Đơn vị: chiếc) - Nguồn: NHNN Trong hệ thống các Ngân hàng thương mại thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện
có số lượng máy ATM dẫn đầu ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 710 máy, tiếp sau đó là Agribank với khoảng 600 máy, Vietinbank là 580 máy,v.v Mặc dù số lượng ATM đã tăng lên nhanh chóng, phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nền
12000
12500
13000
13500
14000
14500
15000
15500
16000
2011 2012 2013 Jun-14
13600
14500
15400
16000
Máy ATM
Máy ATM
Trang 11kinh tế nhưng vẫn còn nhiều yếu kém như chất lượng không đồng đều, đôi khi còn gặp phải lỗi và các biện pháp bảo trì, sửa chữa còn chậm trễ, bên cạnh đó thì phần đa các ATM cũng chỉ chủ yêu phục vụ cho các cá nhân, sử dụng với mục đích rút tiền mặt để thanh toán, vì vậy lượng tiền mặt trong lưu thông còn khá lớn, hệ thống TTKDTM còn chưa đồng bộ và khó khăn trong việc hoàn thiện
2 Thanh toán bằng Séc
Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ lâu nhưng đến nay, phương tiện thanh toán này ngày càng giảm Mặc dù thanh toán bằng séc có nhiều thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần cầm séc
và Chứng minh nhân dân ra ngân hàng là có thể nhận được tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiện nay, tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt; nguyên nhân thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một nguyên nhân khác là tâm lí lo ngại của người bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro, thời gian để có thể thanh toán Séc thường lâu hơn các hình thức khác
vì thường phải giao dịch thanh toán Séc với ngân hàng Việc thanh toán séc cũng gặp không
ít phiền phức nếu khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các Ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước nhưng hiện tại, Ngân hàng Nhà nước chưa có Trung tâm thanh toán bù trừ séc chính thức
3 Một số hình thức thanh toán khác
Thanh toán qua Internet banking: Các dịch vụ hiện đại như Internet Banking, Mobile Banking lần lượt ra đời từ năm 2004 đi kèm với các tiện ích như thanh toán hóa đơn điện, nước, cước viễn thông, mua vé máy bay và mới đây là thu hộ ngân sách khiến tỷ trọng TTKDTM ngày càng tăng, tỷ lệ giao dịch bằng tiền mặt giảm từ trên 20% năm 2004 về còn khoảng 12% hiện nay