1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DE TAI NLCT DICH VU

107 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiêncứu này chủ yếu tập trung vào cơ sở lý luận, một số kinh nghiệm quốc tế, thực trạng củaphát triển ngành DV của Việt Nam trong thời gian qua với phương pháp luận khác nhau.Tuy n

Trang 1

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯTRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ-XÃ HỘI QUỐC GIA

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỊCH VỤ

TRONG NỀN KINH TẾ - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Nguyễn Thị Mai Thư ký đề tài: CN Đỗ Thị An Giang

Trang 2

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỊCH VỤ

TRONG NỀN KINH TẾ - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM

Chủ nhiệm Đề tài: Th.S Nguyễn Thị Mai Thư ký Đề tài: CN Đỗ Thị An Giang Thành viên: Th.S Nguyễn Thị Hoàng Yến

KS Lê Văn Sự Th.S Phạm Thị Thu Phương Th.S Lê Trung Thông

CN Hạ Thị Thu Thủy

Hà Nội, 12/2010 MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 6

CỦA NGÀNH DỊCH VỤ 6

1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh trong nền kinh tế 6

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh trong nền kinh tế 6

1.1.2 Năng lực cạnh tranh trong khu vực dịch vụ 8

1.1.2.1 Khái niệm về khu vực dịch vụ 8

1.1.2.2 NLCT trong khu vực DV 9

1.1.2.3 Phương pháp phân tích NLCT của lĩnh vực DV 12

1.1.3 Sự cần thiết lựa chọn đánh giá NLCT một số ngành DV trọng yếu 14

1.2 Một số kinh nghiệm quốc tế về nâng cao NLCT ngành DV 15

1.2.1 Xu hướng phát triển của khu vực dịch vụ trên thế giới 15

1.2.2 Phát triển NLCT ngành DV viễn thông 16

ii

Trang 3

1.2.3 Phát triển NLCT ngành DV tài chính 18

1.2.4 Phát triển NLCT ngành DV phân phối 22

1.2.5 Phát triển NLCT ngành DV du lịch 23

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 26

CỦA NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM 26

2.1 Tổng quan về ngành DV của Việt Nam 26

2.1.1 Tăng trưởng khu vực DV đối với nền kinh tế 26

2.1.2 Tăng trưởng trong nội tại khu vực DV 29

2.2 DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 33

2.2.1 Dịch vụ viễn thông trong tổng thể nền kinh tế 33

2.2.2 Năng lực cạnh tranh của dịch vụ viễn thông 33

2.3 DỊCH VỤ TÀI CHÍNH (NGÂN HÀNG, BẢO HIỂM) 43

2.3.1 Dịch vụ tài chính trong tổng thể nền kinh tế 43

a) Dịch vụ Ngân hàng 44

b) Dịch vụ Bảo hiểm 44

2.3.2 Năng lực cạnh tranh của dịch vụ tài chính 45

2.3.2.1 Năng lực cạnh tranh của DV Ngân hàng 46

2.3.2.2 Năng lực cạnh tranh của DV bảo hiểm 54

2.4 DỊCH VỤ PHÂN PHỐI 63

2.4.1 Dịch vụ phân phối trong tổng thể nền kinh tế 63

2.4.2 Năng lực cạnh tranh của dịch vụ phân phối 64

2.5 DỊCH VỤ DU LỊCH 72

2.5.1 Dịch vụ du lịch trong tổng thể nền kinh tế 72

2.5.2 Năng lực cạnh tranh của dịch vụ du lịch 73

CHƯƠNG III MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỊCH VỤ TRỌNG YẾU TẠI VIỆT NAM 81

3.1 Định hướng chiến lược chung cho khu vực DV 81

3.2 Nhóm giải pháp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ đối với nền kinh tế 82

3.3 Nhóm giải pháp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh từng ngành dịch vụ trọng yếu của nền kinh tế 84

3.3.1 DV bưu chính viễn thông 84

3.3.2 DV tài chính (ngân hàng, bảo hiểm) 87

3.3.2.1 Đối với ngành DV ngân hàng 87

3.3.2.2 Đối với ngành DV bảo hiểm 88

3.3.3 Ngành DV phân phối 90

3.3.4 Ngành DV du lịch 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

iii

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Tổng hợp các tiêu chí CT có liên quan đến sản phẩm DL năm 2009 24

Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng GDP ngành DV thời kỳ 2001-2010 26

Bảng 3 Cơ cấu kinh tế theo ngành giai đoạn 2000-2010 27

Bảng 4 Cơ cấu lao động của các khu vực trong nền kinh tế 28

Bảng 5 Tốc độ tăng trưởng BQ và tỷ trọng trong GDP của các lĩnh vực DV 31

Bảng 6 Hạ tầng cơ sở thông tin của Việt Nam so với một số nước 41

Bảng 7 Số lượng ngân hàng qua các năm 46

Bảng 8 Cơ cấu vốn điều lệ của các khối NH tính đến tháng 7/2010 49

Bảng 9 So sánh lĩnh vực NH Việt Nam với các nước trong khu vực 49

Bảng 10 Xếp hạng môi trường kinh doanh sản phẩm BH tại Việt Nam 57

Bảng 11 Xếp hạng môi trường kinh doanh BH châu Á 58

Bảng 12 Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) 67

DANH MỤC HÌNH Hình 1 Hình thoi Porter-Dunning 12

Hình 2 Mô hình Porter – Dunning đối với lĩnh vực DV 13

Hình 3: Tốc độ tăng trưởng của khu vực DV so với tốc độ tăng của GDP 27

iv

Trang 5

Hình 4: Mô hình Porter - Dunning về dịch vụ viễn thông 34

Hình 5 Thị phần của các DN trên thị trường VT di động 35

Hình 6 Thị phần của các nhà cung cấp DV Internet trên thị trường 36

Hình 7 Tổng doanh thu các DV Internet giai đoạn 2006 – 2008 36

Hình 8 Đánh giá về lợi thế cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh chính 37

Hình 9 Đánh giá về các hành vi CT không lành mạnh trên thị trường VT 38

Hình 10 Doanh thu của lĩnh vực viễn thông giai đoạn 2006 – 2008 38

Hình 11: Mô hình Porter - Dunning về nhóm DV tài chính 45

Hình 12 Tổng tài sản của toàn hệ thống NH giai đoạn 2005-2009 50

Hình 13 Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tại Việt Nam 64

Hình 14: Mô hình Porter-Dunning cho ngành dịch vụ phân phối 65

Hình 15 Tỷ trọng thương mại hiện đại trong hệ thống bán lẻ 68

Hình 16 Mô hình Porter - Dunning về nhóm DV du lịch 74

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

v

Trang 6

TTCI Chỉ số năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch

vi

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

So với các quốc gia trong khu vực, mặc dù đã có sự phát triển mạnh mẽ kể từ công

cuộc “Đổi mới” (1986), khu vực dịch vụ của Việt Nam vẫn giữ quy mô khiêm tốn, phát

triển khá chậm mặc dù toàn bộ nền kinh tế đã phát triển nhanh chóng trong vòng 25 nămqua Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP hiện chiếm khoảng 39% và sử dụng khoảng26% lực lượng lao động của đất nước Những con số này còn cách xa so với các nướcđang phát triển có mức thu nhập trung bình (với tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDPkhoảng 55%) và ở các nước phát triển có thu nhập cao (khoảng 70%)1 Trong khi đó, sức

ép từ các cam kết trong khu vực, cam kết khi gia nhập WTO và các cam kết song phươngcủa Việt Nam cũng như sức ép về vấn đề tự do hoá trên toàn cầu giữa các nước ngàycàng tăng Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động trực tiếp đến khu vực dịch vụ, nhưngđồng thời cũng tạo ra những tác động gián tiếp đến toàn bộ nền kinh tế thông qua cácmối liên hệ giữa khu vực dịch vụ với các hoạt động kinh tế khác

Trong thời gian qua, các tổ chức quốc tế và các cơ quan quản lý Việt Nam đã thựchiện khá nhiều các Báo cáo đánh giá môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh tạiViệt Nam, trong đó có khuyến nghị với chính phủ các giải pháp nhằm thu hút hơn nữacác dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế Gần đây nhất là việc công bố Báocáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 vào cuối tháng 11 năm 2010 do Viện Quản lýKinh tế Trung ương CIEM (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Học viện Năng lựccạnh tranh châu Á (ACI) thực hiện cùng với sự hỗ trợ về chuyên môn của giáo sư đầungành về năng lực cạnh tranh (NLCT) Michael E Porter2 Trong bối cảnh hội nhập ngàycàng sâu rộng, bên cạnh các báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư,báo cáo đánh giá về NLCT là rất cần thiết nhằm đánh giá từ phương diện thể chế đến khảnăng tiếp cận thị trường, khả năng tồn tại trên thị trường và dự báo về khả năng rút khỏithị trường cho tất cả các chủ thể đang và có ý định sẽ tham gia thị trường

Thực trạng NLCT của khu vực DV Việt Nam đang mở ra nhiều vấn đề cần nghiêncứu, NLCT của khu vực DV Việt Nam theo đánh giá của nhiều tổ chức, chuyên gia trong

và ngoài nước còn khá thấp, chưa phát huy được hết năng lực và tiềm năng của mình Từthực tiễn đó, nhóm nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu của mình mong muốn đưa ra kháiquát tổng quan ngành DV Việt Nam với đánh giá NLCT của bốn ngành DV trọng yếudựa theo cơ sở lý luận tiêu chí đánh giá NLCT và bài học rút ra từ kinh nghiệm xây dựngphát triển NLCT của một số quốc gia để đề xuất một số kiến nghị cho việc nâng caoNLCT, khả năng phát triển của một số ngành DV trọng yếu Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài ở trong và ngoài nước

1 Tổng cục Thống kê

2 Giáo sư trường Đại học Kinh doanh Harvard, Mỹ

Trang 8

Ở các quốc gia phát triển và các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, khu vực DV đóngvai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, chính vì thế, việc nghiên cứu về xây dựng,phát triển nâng cao NLCT khu vực DV đã được đầu tư và chú trọng nhiều, từ đó làm thếnào để phát huy bền vững và hài hòa các ngành DV như du lịch, ngân hàng, bảo hiểm,vận tải, phân phối trong hệ thống nền kinh tế vĩ mô Trên thế giới đã có khá nhiềunghiên cứu về NLCT nói chung, NLCT của quốc gia và của ngành nói riêng Một số nhà

kinh tế đã xây dựng lý thuyết về cạnh tranh, trong đó nổi bật nhất là “Lý thuyết về năng

lực cạnh tranh” của giáo sư Michael E Porter Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu

chuyên sâu nào ở Việt Nam về đánh giá và phân tích NLCT của khu vực DV trong nềnkinh tế và so sánh với ngành DV của các quốc gia khác dựa trên khung mô hình “Kimcương” của Michael Porter và mô hình mở rộng “Hình thoi” của Porter – Dunning vềđánh giá NLCT cho khu vực dịch vụ nói chung và các nhóm ngành dịch vụ cụ thể

Tại Việt Nam, từ các nghiên cứu tổng quan trước đây cho thấy, có nhiều đề tài, bàiviết đã khai thác, phân tích tình hình thực trạng của ngành DV Việt Nam ở mức độ tổngquan và các khu vực DV riêng lẻ Nhiều tài liệu phân tích, báo cáo và đề án đánh giángành DV của Việt Nam từ quan điểm, cách nhìn nhận ở trong nước cũng như sự đánhgiá của các nhà kinh tế, nhà nghiên cứu nước ngoài trong đó đã đưa ra một số vấn đề lýthuyết về DV và vai trò của khu vực DV trong phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá tìnhhình phát triển khu vực DV ở Việt Nam trong 20 năm đổi mới, kinh nghiệm phát triển

DV ở một số nước và khái quát sự phát triển của khu vực DV tại Việt Nam Các nghiêncứu này chủ yếu tập trung vào cơ sở lý luận, một số kinh nghiệm quốc tế, thực trạng củaphát triển ngành DV của Việt Nam trong thời gian qua với phương pháp luận khác nhau.Tuy nhiên, trong các báo cáo này, vấn đề NLCT của một số ngành DV trọng yếu của ViệtNam cùng với việc phân tích và rút ra bài học từ kinh nghiệm quốc tế về phát triển nângcao năng lực từng ngành tại các quốc gia này chưa được chú trọng đánh giá và phân tích

cụ thể, đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào phân tích bốn phân ngành dịch vụ trọng yếutheo tiêu chí cạnh tranh của Porter – Dunning cho theo ngành kinh tế

Đề tài được thực hiện trong bối cảnh ở trong và ngoài nước có khá nhiều báo cáo,nghiên cứu đánh giá NLCT của Việt Nam, điển hình là Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễnđàn Kinh tế Thế giới WEF, Báo cáo NLCT Việt Nam 2010 vừa mới công bố, Dự thảo

“Chiến lược Tổng thể phát triển khu vực DV của Việt Nam đến năm 2020” do Bộ Kế

hoạch và Đầu tư làm đầu mối, Báo cáo “Đánh giá NLCT trong 10 lĩnh vực” của Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, hay đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học cho

việc phát triển ngành DV Việt Nam đến năm 2020” của PGS TS, Nguyễn Hồng Sơn làm

chủ biên… và một số đề tài, nghiên cứu khác Chính vì vậy, nguồn số liệu về khu vựcdịch vụ nói chung và một số ngành dịch vụ nói riêng có sự lệch nhau, đôi khi còn tráingược, điều này cũng là một trở ngại gây khó khăn cho đề tài Bên cạnh đó, Nhóm

Trang 9

nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích mà rất ít nghiên cứu trước đây sử dụng là dựatheo Mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của Michael Porter và Dunning cho cácngành dịch vụ áp dụng dựa trên điều kiện kinh tế của Việt Nam nên không tránh khỏi sựthiếu sót, chưa đánh giá đầy đủ được hết các vấn đề, khía cạnh của từng phân ngành dịch

vụ của Việt Nam

Báo cáo này không tham vọng có thể bao quát phân tích được hết các ngành DV,nhưng mong muốn của Nhóm nghiên cứu là có thể giới thiệu và đánh giá khái quát, phântích khả năng cạnh tranh, năng lực phát triển một số ngành DV chiến lược của Việt Nam

từ cơ sở lý luận và quy định thực tiễn về các tiêu chí đánh giá NLCT của các quốc gia vàcác tổ chức quốc tế, kết hợp với một vài kinh nghiệm sát và phù hợp với rút ra được từmột số quốc gia về phát triển ngành DV để từ đó so sánh và rút ra bài học, khuyến nghịvới đưa ra các đề xuất, giải pháp cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lýchuẩn bị nội lực để đối phó với những thách thức; tận dụng có hiệu quả những cơ hội đốivới ngành thương mại DV trong hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời vẫn hướng vào cácmục tiêu và ưu tiên việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng của khu vực dịch vụ và nănglực cạnh tranh của khu vực dịch vụ thông qua đánh giá năng lực cạnh tranh một số ngànhdịch vụ trọng yếu của Việt Nam dựa theo những tiêu chí đánh giá cạnh tranh của ngành,đồng thời nêu ra những hạn chế, thách thức còn tồn tại Trong đó, đề tài đưa ra một sốkinh nghiệm của quốc tế trong việc xây dựng chiến lược nâng cao NLCT của một sốngành DV trọng điểm Mục tiêu cuối cùng của đề tài là dựa vào các tiêu chí đánh giácạnh tranh từ cơ sở lý luận, từ thực tiễn NLCT của một số ngành DV Việt Nam cũng nhưbài học rút ra từ kinh nghiệm quốc tế về phát triển khu vực dịch vụ để đề xuất các giảipháp và khuyến nghị đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của một số ngành DV trọngyếu trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là NLCT của khu vực DV

nói chung và bốn ngành dịch vụ trọng yếu của Việt Nam Đề tài tập trung vào đánh giáNLCT và đề xuất giải pháp nâng cao NLCT một số ngành DV trọng yếu tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu ngành DV trong tổng thể nền kinh tế,

trong đó thu hẹp phạm vi nghiên cứu tập trung vào bốn ngành DV lớn của Việt Nam là

(i) DV viễn thông; (ii) DV tài chính: ngân hàng, bảo hiểm; (iii) DV phân phối; (iv) DV

du lịch.

Về thời gian: số liệu có liên quan dùng cho phân tích được thu thập và sử dụng

trong khoảng thời gian chủ yếu là 10 năm từ 2001-2010

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Để đánh giá NLCT của ngành DV Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp Mô hình

“Hình thoi” Porter-Dunning về đánh giá NLCT của ngành DV dựa trên các tiêu chí đểđánh giá NLCT được đưa ra ở mô hình Đây là phương pháp đánh giá NLCT theo ngànhcủa nền kinh tế, cụ thể là từng khu vực hay từng phân ngành dịch vụ phù hợp với điềukiện, đặc thù kinh tế, xã hội của Việt Nam Trong khuôn khổ của đề tài này, Nhómnghiên cứu đi sâu vào phân tích NLCT của một số ngành dịch vụ trọng yếu của Việt Nam

đã nêu ở phạm vi nghiên cứu trên Bên cạnh đó, đề tài sử dụng phương pháp phân tíchchính sách hỗ trợ phát triển các ngành dịch vụ chủ lực từ kinh nghiệm thực tiễn của một

số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học áp dụng và đề ra các kiến nghị giúp tăng NLCTcho khu vực DV Việt Nam Ngoài ra, để có thêm những thông tin thực tiễn phục vụ côngtác nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện phương pháp chuyên gia qua việc thamkhảo thông tin trực tiếp và gián tiếp ý kiến, đánh giá của một số chuyên gia, tổ chức cóliên quan đến lĩnh vực dịch vụ như Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công thương), Vụ Kinh

tế Dịch vụ, Viện Chiến lược Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),…

6 Ý nghĩa nội dung nghiên cứu của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ phân tích và đánh giá một cách có hệ thống các nhân tố đóng vai trò quantrọng trong ngành DV, khả năng cạnh tranh của các ngành chủ chốt khác nhau trong khuvực này, và các kinh nghiệm về nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực DV quantrọng của một số quốc gia phát triển và đang phát triển hay có lợi thế về ngành DV trongbối cảnh thương mại toàn cầu hóa hiện nay, từ đó giúp cho các nhà hoạch định chínhsách, các nhà quản lý nhà nước về dịch vụ hay các nhà chuyên môn có thể có cái nhìntổng thể về khả năng cạnh tranh của khu vực DV nói chung và các đặc điểm về cạnhtranh của các ngành dịch vụ quan trọng của Việt Nam, để từ đó giúp hiểu được bản chất

và vai trò của việc giữ vững và phát triển các điều kiện tăng cường năng lực cho cácngành DV Việt Nam

Đề tài này cũng nhằm góp phần bổ sung những hạn chế của những nghiên cứutrước trong việc rút những kinh nghiệm xây dựng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm

DV của các nước để áp dụng có sáng tạo và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế quốc dân vàngành DV của Việt Nam

Hiệu quả kinh tế

Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan liên quan trongviệc tham gia xây dựng NLCT các ngành trong khu vực DV của Việt Nam qua việc phântích một số hạn chế, bất lợi, các đặc điểm, tiêu chí về khả năng cạnh tranh của một sốngành DV trọng yếu cũng như những kinh nghiệm thực tiễn rút ra của một số nước trongkhu vực và trên thế giới trong việc xây dựng và nâng cao sức cạnh tranh của ngành DV

Hiệu quả xã hội

Việc thực hiện đề tài là rất cần thiết nhằm góp phần giúp cho các cơ quan quản lýnhà nước, các nhà hoạch định chính sách có căn cứ đánh giá theo tiêu chí cạnh tranh của

Trang 11

quốc tế để đưa ra các quy chế hay sáng kiến cho việc đổi mới khung pháp lý của khu vực

DV dựa vào việc phân tích NLCT, điểm mạnh cũng như hạn chế của một số ngành dịch

vụ chủ lực của Việt Nam, đồng thời góp phần đề xuất kiến nghị một số giải pháp cho cảithiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ trọng yếu của khu vực

DV ở Việt Nam trong giai đoạn tới

7 Kết cấu của đề tài

Bố cục của Báo cáo đề tài được trình bày như sau:

Lời mở đầu

Chương I Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ

Chương II Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ Việt NamChương III Một số khuyến nghị, giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của cácngành DV trọng yếu tại Việt Nam

1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh trong nền kinh tế

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh trong nền kinh tế

Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh phát triển cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển của xã hội Tuyvậy, việc làm thế nào để tạo ra sức cạnh tranh được xem là bài toán khá nan giải, kể cả vềthực tiễn lẫn lý thuyết trong nền kinh tế quốc dân Từ tổng quát các định nghĩa về Cạnh

tranh ở trong và ngoài nước, có thể đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: Sức cạnh tranh

là tổng hòa các đặc tính về tiêu dùng và giá trị vượt trội của sản phẩm trên thị trường,

có nghĩa là sự vượt trội của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại trong điều kiện cung vượt cầu.

Trang 12

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quantrọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã

có từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lýthuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại Có thể tóm lược một sốnội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay nhưsau:

- Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trongnền kinh tế thị trường

- Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực Cạnh tranh

là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sởnâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình Tuynhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, giành giật,khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí đổ vỡ lớn Để phát huy đượcmặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợppháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể

- Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnhtranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêudiệt lẫn nhau, triệt hạ nhau Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại dựa trên cơ sởcạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các DV hỗ trợ Bởi lẽ, khi mà các đối thủcạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản

Lý thuyết cạnh tranh thường đề cập đến các cấp độ cạnh tranh khác nhau: cạnh

tranh cấp quốc gia, cạnh tranh cấp ngành, cạnh tranh cấp doanh nghiệp và cạnh tranh cấp sản phẩm Trong phạm vi của đề tài, đối với việc nghiên cứu cạnh tranh cho

các ngành dịch vụ được xác định là cạnh tranh cấp ngành trong tổng thể cấp độ nền kinh

tế của quốc gia

Khái niệm Năng lực cạnh tranh

Các nhà khoa học và các quốc gia trên thế giới sử dụng thuật ngữ “Năng lực cạnhtranh của nền kinh tế” để chỉ ra và đánh giá sức cạnh tranh, sự tăng trưởng phát triển bềnvững của nền kinh tế, khả năng thu hút đầu tư ở trong và ngoài nước để phát huy nội lựcphát triển trước những điều kiện, cơ chế, hoạt động liên quan đến cạnh tranh ở trong vàngoài nước thay đổi hay có sự biến động Năng lực cạnh tranh là khái niệm mới được sửdụng từ vài thập kỷ gần đây trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập kinh tếngày càng rộng và sâu hơn của tất cả các quốc gia trên thế giới

Có nhiều tổ chức đã đưa ra các khái niệm riêng, nhưng đến nay cũng chưa hoàntoàn có một khái niệm thống nhất về NLCT trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay thế giới sửdụng nhiều khái niệm NLCT của giáo sư Michael Porter Khái niệm và cách phân tíchNLCT quốc gia của một nền kinh tế theo Michael Porter đã được Diễn đàn kinh tế thếgiới WEF và nhiều quốc gia vận dụng trong xây dựng báo cáo NLCT toàn cầu và NLCT

quốc gia Theo Michael Porter thì NLCT của một quốc gia được đo bằng sự thịnh vượng,

Trang 13

thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người và chất lượng sống Sự thịnh vượng chủ yếu

do năng suất và huy động lao động vào quá trình tăng trưởng quyết định Do đó, trong

khái niệm NLCT của M.Porter, năng suất là yếu tố quyết định tiêu chuẩn sống bền vững.Với khái niệm này, nâng cao NLCT quốc gia cũng có nghĩa là đóng góp và nâng cao chấtlượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế

Phương pháp đánh giá NLCT sau nhiều năm phát triển đã được xây dựng một cáchbài bản hơn Trước hết khái niệm về NLCT của Michael Porter là khá toàn diện, cho nên

về phương pháp đánh giá, các tổ chức và khối kinh tế trên thế giới chủ yếu tính toán chỉ

số NLCT nhằm mục tiêu so sánh giữa các nước Các báo cáo NLCT toàn cầu thườngkhông phân tích đầy đủ các điều kiện, yếu tố nhằm nâng cao NLCT của riêng từng ngànhkinh tế Trên thế giới, ngoài các báo cáo quốc tế như Diễn đàn NLCT toàn cầu (GlobalCompetitiveness Report), Niên giám NLCT thế giới (World Competitiveness Yearbook)hay báo cáo NLCT của khu vực như Báo cáo NLCT của khu vực EU, ASEAN… rấtnhiều quốc gia đã xây dựng báo cáo NLCT quốc gia hàng năm Điều đó chứng tỏ đánhgiá NLCT quốc gia được các nước rất quan tâm, nhất là khi các quốc gia này gia nhập Tổchức Thương mại thế giới WTO

Đối với một quốc gia, việc gia nhập WTO làm tăng sức ép cạnh tranh, tác động đếnlợi thế cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của các ngành DV nói riêng, đồng thờitác động đến hoạt động kinh doanh từ các doanh nghiệp nước ngoài đối với các doanhnghiệp của mỗi quốc gia thuộc tất cả các ngành nghề Trong đó, sức cạnh tranh tạo ra lợithế nâng cao thu nhập, GDP cho đất nước Sức cạnh tranh là tổng hợp của nhiều yếu tốkinh tế, chính trị, xã hội của một đất nước tác động tới hiệu quả kinh doanh của quốc gianày trên thị trường thế giới Ngoài năng lực quốc gia, việc xác định đúng thị trường đểđịnh vị là điều kiện quan trọng đạt được lợi thế cạnh tranh Trên thực tế, nhiều quốc giakhông có những nguồn lực nổi trội hơn các đối thủ cạnh tranh khác nhưng nhờ có chiếnlược định vị đúng đắn và các chính sách phát triển hợp lý vẫn giành được những lợi thếlớn hơn trong cạnh tranh Cách tiếp cận hay phương pháp luận để đánh giá NLCT quốcgia có khác nhau giữa các nước, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể từng nước muốn nhấnmạnh và những vấn đề nào Tuy nhiên, xu hướng chung là hầu hết các quốc gia sử dụngnhững bộ chỉ số tương tự nhau, có phương pháp xác định gần như nhau nhằm mục đích

so sánh với thế giới

1.1.2 Năng lực cạnh tranh trong khu vực dịch vụ

1.1.2.1 Khái niệm về khu vực dịch vụ

“Dịch vụ” thường được đề cập với vị trí là một trong ba khu vực của nền kinh tế,trong cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, khu vực dịch vụ có vai trò ngày càng quantrọng Chính vì vậy mà có rất nhiều tài liệu nghiên cứu đã bàn đến các khía cạnh khácnhau của khu vực DV Tuy nhiên, đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về DVđược thừa nhận trên phạm vi toàn cầu Ngay cả Hiệp định chung về Thương mại DV

Trang 14

GATS của WTO cũng không đưa ra định nghĩa DV mà chỉ liệt kê DV thành 12 ngành lớn

và 155 phân ngành khác nhau

Định nghĩa về DV do T.P Hill3 đưa ra năm 1977 có ảnh hưởng khá lớn tới các nhà

nghiên cứu về lĩnh vực này Theo Hill, “DV là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái

của người hay hàng hóa thuộc sở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó do sự tác động của chủ thể kinh tế khác với sự đồng ý trước của người hay chủ thể kinh tế ban đầu” Định

nghĩa này tập trung vào sự thay đổi điều kiện hay trạng thái nên tránh được việc địnhnghĩa DV dựa trên tính vô hình, các tiêu chí như vô hình, có thể lưu trữ trở thành các yếu

tố mà DV có thể có Ngoài ra, Hill cũng nhấn mạnh tới sự khác biệt giữa sản xuất DV và

sản phẩm DV Sản phẩm của một hoạt động DV là sự thay đổi về điều kiện hay trạng

thái của người hoặc hàng hoá bị tác động, trong khi quá trình sản xuất DV là hoạt động tác động tới người hoặc hàng hoá thuộc sở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó

Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu qua nhiều cách tiếp cận đã đưa ra định nghĩa

tương đối đầy đủ về DV Quan niệm phổ biến cho rằng “DV là những hoạt động mang

tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người” 4 Các định nghĩa về DV trên cơ bản là giống nhau vì chúng đều nêu ra

bản chất của khu vực DV Đó là DV là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động

và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; bên cạnh đó, khác vớihàng hóa là vật hữu hình, DV nhiều khi là vô hình, là phi vật thể

Tại Việt Nam, khu vực dịch vụ là một trong ba nhân tố cấu thành của nền kinh tế.Theo Tổng cục Thống kê, nền kinh tế được phân thành ba lĩnh vực: 1) nông nghiệp, lâmnghiệp và thuỷ sản; 2) công nghiệp và xây dựng; 3) Dịch vụ (Lĩnh vực thứ ba bao gồm

13 phân ngành DV5)

1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh trong khu vực dịch vụ

Qua khái niệm NLCT quốc gia và các tính chất chung của lĩnh vực DV đã giớithiệu ở trên, từ các khái niệm và bản chất về NLCT của lĩnh vực DV cả ở trên thế giới và

ở Việt Nam, khái niệm về NLCT khu vực dịch vụ có thể được tổng quát như sau

NLCT trong lĩnh vực DV là khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của lĩnh vực DV, khả năng tạo ra môi trường tốt cho toàn

bộ nền kinh tế phát triển, đồng thời có nhiều ngành và phân ngành DV có khả năng thích ứng linh hoạt khi điều kiện cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế thay đổi.

Từ khái niệm về NLCT của ngành DV, có thể thấy rõ bản chất trong định nghĩa về

NLCT của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế, trong đó có 2 vấn đề nổi lên như sau: thứ

nhất, để đánh giá NLCT của lĩnh vực DV cần phải đánh giá vai trò, sự đóng góp của khu

vực DV đối với nền kinh tế, là nền tảng và là ngành hỗ trợ cho các lĩnh vực khác trongnền kinh tế, được tính bằng sự bền vững và tăng trưởng về tỷ trọng trong GDP một quốc

3 Nhà kinh tế học người Anh, sách “Hàng hóa và DV”, 1977

4 Nguyễn Thu Hằng (2004), “Xu hướng phát triển của khu vực DV trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 9

5 Liệt kê cụ thể trong Chương 2: Thực trạng ngành dịch vụ

Trang 15

gia; thứ hai, NLCT của khu vực DV được thể hiện qua việc bản thân khu vực này có

nhiều phân ngành, lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao, sự phát triển, thích ứng linh hoạt

để thích nghi và phát triển khi các điều kiện về cạnh tranh ở trong nước và cả ở nướcngoài thay đổi

- Khu vực DV đối với nền kinh tế: Khu vực DV muốn đạt được NLCT tốt thì cần

phải có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững Điều này thể hiện qua tỷ trọng đóng góp của

DV trong GDP phải giữ vững sự ổn định và tăng lên qua các năm Trong cơ cấu nền kinh

tế quốc dân, ngành DV chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP của mỗi quốc gia, dù là nướcphát triển hay đang phát triển Trong khi đó, tại các nước đang phát triển, dù vai trò chưađược thể hiện rõ ràng như tại các nước phát triển nhưng tỷ trọng DV trong GDP của cácnước này khá cao Điều đó thể hiện rằng, nếu so với các lĩnh vực kinh tế khác, khu vựcdịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong tổng GDP của các quốc gia này Tỷ trọng DV trongGDP của các nước đang phát triển có xu hướng ổn định và tăng chậm hơn so với tỷ trọngtại các nước phát triển Đây có thể là do chiến lược phát triển kinh tế của các quốc giađang phát triển tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp

Bên cạnh đó, NLCT của khu vực DV đối với nền kinh tế quốc dân còn được thểhiện qua khả năng tạo ra môi trường tốt cho toàn bộ nền kinh tế phát triển Có nghĩa là sựvai trò của khu vực dịch vụ giúp cho nền kinh tế của các quốc gia phát triển sôi động hơn

và tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, đồng thời là cơ sở vững chắc cho phát triển và điềuhành hoạt động kinh tế Trong đó, khu vực dịch vụ khi phát triển và hoạt động tốt sẽ cóthể tạo dựng được nền tảng và sự hỗ trợ cho sự vận hành, phát triển của các khu vực khácnhư nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng trong nền kinh tế Khu vực DV có vai trò lớntrong việc tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, số lượng lao động làm việc tronglĩnh vực DV ngày càng có xu hướng gia tăng và cao hơn hẳn so với các lĩnh vực kháccủa nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, lao động trong lĩnh vực DV sẽ gia tăng mạnh

và dẫn đến xu hướng di chuyển lao động từ các lĩnh vực chế tạo sang lĩnh vực DV Tạicác nước đang phát triển, hiện nay lực lượng lao động tập trung nhiều trong lĩnh vựcnông nghiệp và công nghiệp nhưng đã và đang có xu hướng di chuyển lao động liênngành đang trở nên ngày càng phổ biến Thống kê cho thấy tỷ lệ lao động trong lĩnh vực

DV của các nước đang phát triển gia tăng với tốc độ khoảng 8-9%/năm Theo ước tính,lực lượng lao động trong lĩnh vực DV tại các nước đang phát triển đạt khoảng từ 20-30%

và con số này có xu hướng tăng dần6

- Đối với nội tại khu vực dịch vụ: để khu vực dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao so

với các khu vực khác trong nền kinh tế hay so với khu vực dịch vụ của các quốc giakhác, bản thân ngành DV có nhiều ngành, lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao, sự pháttriển, thích ứng linh hoạt để thích nghi và phát triển khi các điều kiện về cạnh tranh ởtrong nước và cả ở nước ngoài thay đổi Lĩnh vực DV có một đặc điểm nổi bật là sự liên

6 Chương trình Phát triển Liên hợp quốc UNDP (2006), Phát triển khu vực DV ở Việt Nam: chìa khóa cho tăng

trưởng bền vững, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 16

kết cao giữa các ngành và phân ngành DV Một mặt, sự phát triển kinh doanh của mỗingành DV phụ thuộc chặt chẽ vào các ngành DV khác như là các yếu tố đầu vào, mặtkhác, sản phẩm của một ngành DV có thể lại là đầu vào của một số các ngành DV khác.Ngoài ra, đối với một quốc gia, mức cạnh tranh của một số phân ngành DV có thể không

cao, nhưng quốc gia đó không thể có lĩnh vực DV cạnh tranh cao mà hầu hết các ngành

DV lại không có khả năng cạnh tranh tương đối cao Vì vậy, khi phân tích tính cạnh

tranh của lĩnh vực DV bắt buộc phải phân tích các yếu tố nâng cao cạnh tranh của một sốngành hay phân ngành DV cụ thể, từ đó rút ra các nhân tố then chốt tạo nên sức cạnhtranh của toàn bộ lĩnh vực DV

Từ các đặc điểm về năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ trên, để nghiên cứuđánh giá NLCT của khu vực dịch vụ trong tổng thể nền kinh tế, trước hết Nhóm nghiêncứu đánh giá vai trò, khả năng đóng góp của khu vực dịch vụ đối với nền kinh tế, nănglực để có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển các khu vực kinh tế khác Tiếptheo là đánh giá khả năng cạnh tranh của bản thân khu vực dịch vụ đó thông qua đánh giáxem khu vực dịch vụ có nhiều ngành/phân ngành có khả năng cạnh tranh cao hay không,khả năng thích ứng và phát triển bền vững của các ngành dịch vụ đó trong điều kiện vềcạnh tranh, hoạt động của đối tác/đối thủ cạnh tranh ở thị trường nội địa và quốc tế tácđộng hay thay đổi gây ảnh hưởng đến hoạt động của ngành/phân ngành dịch vụ đó

Trong các nghiên cứu gần đây của OECD và WTO người ta đã phát triển khái niệm

về Nhóm Dịch vụ (services cluster) Mỗi Nhóm DV bao gồm một ngành hoặc một vài

phân ngành DV “chủ chốt”, đồng thời có một số ngành hay phân ngành DV có liên quantrực tiếp tới các DV chủ chốt đó Ngoài ra còn có nhiều ngành hay phân ngành khác có

liên quan gián tiếp tới sự phát triển của DV chốt Thứ nhất, một vài DV có thể là yếu tố

đầu vào quan trọng để có thể cung cấp một số DV khác Sự tiếp cận các DV này trên cơ

sở cạnh tranh sẽ đóng vai trò quan trọng đối với tính hiệu quả và tính cạnh tranh của các

DV khác Thứ hai, một DV có thể là yếu tố đầu vào quan trọng để có thể cung cấp một số

DV khác, các DV khác này lại là yếu tố đầu vào quan trọng để cung cấp một số DV tiếptheo, trong đó có thể là DV hỗ trợ của DV này, mối quan hệ này tạo nên chuỗi các DV,hay Nhóm dịch vụ

Xét trên phạm vi toàn bộ lĩnh vực DV và rộng hơn nữa là toàn bộ nền kinh tế, cóthể coi một số DV luôn luôn đóng vai trò chủ chốt Do tầm quan trọng đặc biệt của các

DV “chủ chốt” này đối với NLCT của toàn bộ lĩnh vực DV có thể gọi chúng là các DV

hạ tầng của khu vực dịch vụ Các DV hạ tầng là nền tảng để cung cấp mọi DV khác và đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của toàn bộ lĩnh vực DV, qua đó nâng cao

NLCT của lĩnh vực DV và nền kinh tế Mỗi quốc gia có thể không có một số ngành haynhiều phân ngành DV nhưng không thể có lĩnh vực DV cạnh tranh mà lại thiếu các DV

hạ tầng này hoặc tồn tại các DV hạ tầng nhưng sức cạnh tranh lại thấp Tuy nhiên, mỗi

quốc gia không nhất thiết phải có đầy đủ mọi phân ngành trong một DV hạ tầng nhất

Trang 17

định Các DV hạ tầng như vậy chính là các DV xây dựng, viễn thông, vận tải và tài chính Sự cung cấp và phát triển mọi DV, hay nói cách khác là toàn bộ lĩnh vực DV đều

phải dựa trên sự phát triển của các DV hạ tầng này

Nghiên cứu về nâng cao NLCT trong lĩnh vực DV và từng ngành hay phân ngành

DV cũng có sự khác biệt Phân tích và giải pháp nâng cao NLCT cho từng ngành hayphân ngành DV sẽ có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt vớinâng cao NLCT cho toàn bộ lĩnh vực DV vì lý do mỗi ngành hay phân ngành DV có đặcthù, đặc tính riêng, cụ thể, không mang tính tổng quan như cả lĩnh vực dịch vụ Mặc dùtrong các chiến lược hay quy hoạch phát triển cho từng ngành hay phân ngành DV có thể

đã đề cập tới nâng cao NLCT cho ngành hay phân ngành đó nhưng để nâng cao NLCTcho toàn bộ lĩnh vực DV đòi hỏi phải có cách tiếp cận hệ thống toàn diện hơn Nói cách

khác, nghiên cứu nâng cao NLCT của toàn bộ lĩnh vực DV đòi hỏi phương pháp tiếp cận khác với nghiên cứu nâng cao NLCT của quốc gia cũng như của từng ngành hay phân

ngành DV cụ thể

1.1.2.3 Phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của lĩnh vực dịch vụ

Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, về cơ bản nhóm nghiên cứu áp dụng

mô hình “Kim cương” của Michael Porter và mô hình “Hình thoi” Porter-Dunning đểnghiên cứu, đánh giá khả năng cạnh tranh của lĩnh vực DV

- Mô hình “Kim cương” và “Hình thoi” cho đánh giá NLCT từng ngành: MichaelPorter đã đưa ra mô hình “Kim cương” nhằm phân tích tính cạnh tranh của một ngành cụthể, dựa trên mô hình này có thể tiến hành nghiên cứu NLCT của mỗi ngành một cách hệthống và toàn diện Cạnh tranh trên thị trường nội địa của một ngành có tác động lớn tớiNLCT trên thị trường quốc tế Từ mô hình “Kim cương” của Michael Porter, một nhànghiên cứu khác về năng lực cạnh tranh là giáo sư Dunning đã phát triển Mô hình “Hìnhthoi” của Porter-Dunning để đánh giá NLCT của ngành trong đó đưa thêm các yếu tố bênngoài khác có tác động gián tiếp tới NLCT của ngành, giáo sư Dunning7 phát triển thêmhai yếu tố gián tiếp bên ngoài khác là chính phủ, môi trường pháp lý và tự do hóa, yếu tốnước ngoài và mở rộng thành Mô hình “Hình thoi” Porter - Dunning như sau:

Hình 1 Hình thoi Porter-Dunning cho năng lực cạnh tranh ngành

7 John H Dunning là giáo sư trường Đại học bang New Jersey, Mỹ và là giáo sư trường Đại học Reading, Anh

Thị trường, điều kiện về nhu cầu

Các ngành hỗ trợ và Các ngành hỗ trợ và

Tự do hóa, yếu tố nước

ngoài

Tự do hóa, yếu tố nước

ngoài

Chính phủ, môi trường pháp lý Chính phủ, môi trường pháp lý

Trang 18

Từ mô hình này có thể thấy, các ngành và phân ngành DV có mối quan hệ chặt chẽvới nhau Để có thể phát triển một ngành hay phân ngành DV nào đó, ví dụ ngành DV du

lịch, cần có sự tồn tại của một số ngành hay phân ngành DV khác như là các yếu tố đầu

vào, chẳng hạn ngành DV vận tải Hơn nữa, cần có một số phân ngành DV hỗ trợ cho sự

phát triển của ngành DV đó, như để phát triển DV du lịch cần có các ngành DV hỗ trợnhư tài chính và VT Trong mô hình Porter-Dunning, các ngành DV hỗ trợ chính là các

yếu tố hỗ trợ liên quan

- Mô hình hình thoi Porter-Dunning cho NLCT ngành dịch vụ:

Mô hình hình thoi Porter-Dunning mở rộng được xem là công cụ tốt trong phân tíchNLCT toàn bộ lĩnh vực dịch vụ Trong trường hợp cần nghiên cứu NLCT của các ngànhhay phân ngành DV cụ thể nhằm hỗ trợ cho việc phân tích NLCT của cả lĩnh vực, trên cơ

sở mối liên hệ khách quan của nhóm DV, mô hình này cũng là mô hình thích hợp

Dựa trên cách tiếp cận này, và thông qua điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của ViệtNam, dưới đây Nhóm nghiên cứu đưa ra những tiêu chí, yếu tố cụ thể để đánh giá NLCTcủa từng ngành dịch vụ, từ đó có thể đánh giá và phân tích những khâu then chốt cầnphải tác động mạnh để nâng cao NLCT của lĩnh vực DV một cách hiệu quả nhất, đồngthời có thể đề xuất những giải pháp cụ thể cả ở tầm vĩ mô lẫn tầm nhóm DV hay thậm chímức ngành hoặc phân ngành DV

Trong điều kiện của Việt Nam, các DV hạ tầng và chủ lực là dịch vụ viễn thông,dịch vụ tài chính, dịch vụ du lịch và dịch vụ phân phối Do tính chất cụ thể của từng lĩnhvực dịch vụ, dựa trên mô hình Hình thoi Porter- Dunning về đánh giá năng lực cạnh tranhtrong khu vực dịch vụ, Nhóm nghiên cứu đưa ra sáu yếu tố để đánh giá vấn đề cạnh tranh

trong từng ngành dịch vụ: thứ nhất, cấu trúc chiến lược và môi trường cạnh tranh của ngành; thứ hai, vấn đề tự do hóa trong lĩnh vực DV, đó là các cam kết song phương, đa

phương (khu vực và WTO); các rào cản gia nhập ngành hay các yếu tố liên quan đến

nước ngoài; thứ ba, yếu tố đầu vào là kết cấu hạ tầng vật chất và kết cấu hạ tầng xã hội;

thứ tư, yếu tố hỗ trợ, có liên quan như là đầu tư, giáo dục, công nghệ thông tin, quảng

cáo…; thứ năm, yếu tố Chính phủ ở đây là các đường lối chính sách của nhà nước, môi trường pháp lý,… trong hoạt động phát triển DV; thứ sáu, tiêu chí cuối cùng là Thị

trường liên quan đến vấn đề Kiểm tra nhu cầu kinh tế (Economic Needs Test ENT) baogồm các yếu tố về nhu cầu của thị trường, của người tiêu dùng, phạm vi nhằm đạt đượccác yêu cầu về phát triển kinh tế hay xã hội Đây được xem là các tiêu chí và điểm cơ bảnnhất đánh giá về năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ nói chung tại Việt Nam

Hình 2 Mô hình Porter – Dunning đối với lĩnh vực Dịch vụ

Thị trường, yêu cầu về KT:

- Phát triển kinh tế: Sản xuất

hàng hoá; Cung ứng DV;

- Phát triển xã hội: Xoá đói,

giảm nghèo; Phát triển vùng.

Thị trường, yêu cầu về KT:

- Phát triển kinh tế: Sản xuất

Yếu tố hỗ trợ, có liên quan

Đầu tư Giáo dục

Cơ cấu ngành, môi trường cạnh tranh:

- Chiến lược, cấu trúc…

Trang 19

1.1.3 Sự cần thiết lựa chọn đánh giá NLCT một số ngành DV trọng yếu

Qua phân tích năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ dựa trên Mô hình Hìnhthoi Porter-Dunning, có thể thấy rằng NLCT của từng ngành dịch vụ trước hết phụ thuộcvào chiến lược của ngành đó Đồng thời các DV đầu vào có ảnh hưởng lớn tới sự phát

triển của mỗi ngành Trên phạm vi toàn bộ lĩnh vực DV thì các DV vận tải, tài chính và

viễn thông là các DV “đầu vào” quan trọng nhất Trong đó ngành DV phân phối là mộtkhâu quan trọng trong ngành DV tiếp vận8

Bên cạnh đó, mô hình Porter-Dunning đã đưa ra các ngành DV hỗ trợ và có liên

quan, đó chính là các yếu tố hỗ trợ liên quan Một ví dụ cụ thể là để có thể phát triển

ngành DV du lịch, cần có sự tồn tại của một số ngành hay phân ngành DV khác như là các yếu tố đầu vào, đó là ngành DV vận tải, ngành DV tài chính, và DV thông tin bưu chính viễn thông, trong đó ngành DV phân phối và DV du lịch có mối quan hệ rất khăng

khít với nhau Một ví dụ khác đó là đối với ngành DV tài chính, DV viễn thông đượcxem là một trong những DV đầu vào quan trọng

Như vậy, có thể gọi ngành DV phân phối, ngành DV tài chính và viễn thông là bangành DV hạ tầng cho toàn bộ khu vực DV cũng như cho toàn nền kinh tế Phát triểntrước một bước các DV hạ tầng này là tiền đề để nâng cao NLCT của toàn bộ lĩnh vực

DV và từ đó là cả nền kinh tế Ba ngành này cũng chính là các yếu đố đầu vào và yếu tố

hỗ trợ liên quan của ngành DV du lịch Dựa vào sự phân chia khu vực DV của WTO vàdựa trên các lý thuyết về khu vực DV, bốn ngành DV bưu chính viễn thông, tài chính,phân phối và du lịch được xem là bốn ngành DV trọng yếu của nền kinh tế, và chiếm tỷtrọng lớn trong khu vực DV của nhiều quốc gia trên thế giới

Đối với Việt Nam, ngành DV tài chính, viễn thông và ngành du lịch là ba ngành DVtrọng yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của ngành DV, tỷ lệ lao động cao, đóng vai tròquan trọng đối với phát triển kinh tế và xã hội Còn ngành DV phân phối tuy chưa đượcphát triển đồng đều như những ngành kể trên, là ngành DV còn khá mới mẻ, nhưng đã vàđang đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành, khu vực khác, mở rộng thịtrường nội địa và ngày càng hỗ trợ phát triển nền kinh tế Từ cơ sở lý luận và tiêu chíđánh giá cạnh tranh của Mô hình Porter-Dunning, trong khuôn khổ nghiên cứu của một

đề tài khoa học, Nhóm nghiên cứu trước hết sẽ khái quát, đánh giá tình hình và môi

8 Chu trình thực hiện DV tiếp vận bao gồm 2 nhân tố quan trọng nhất là DV giao nhận và DV phân phối (Mô hình NLCT trong ngành DV - vận tải biển – của Michael Porter)

Trang 20

trường cạnh tranh của ngành DV trong tổng thể nền kinh tế, và thu hẹp phạm vi nghiên

cứu chỉ trong bốn ngành DV trọng yếu là: (i) DV viễn thông; (ii) DV tài chính (phân

ngành NH và phân ngành BH; (iii) DV phân phối; (iv) DV du lịch.

Tóm lại, dựa vào cơ sở lý luận đã đưa ra ở trên, ở phần tiếp theo đề tài sẽ tập trung

đi sâu vào đánh giá 4 ngành dịch vụ trọng yếu như đã nêu trên Ở chương 2 của đề tài sẽlần lượt phân tích tổng quan khu vực dịch vụ của Việt Nam: đóng góp của khu vực dịch

vụ đối với nền kinh tế, tạo ra môi trường phát triển cho các ngành kinh tế khác Tiếp theo

là phân tích khả năng cạnh tranh trong nội tại khu vực dịch vụ trong đó nêu ra 4 phânngành dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao so với các phân ngành khác của Việt Nam đó

là Viễn thông, tài chính, phân phối và du lịch trong đó tập trung đánh giá khả năng thíchứng với áp lực cạnh tranh, sự thay đổi của các nhân tố đầu vào và liên quan đối vớingành dịch vụ đó trong điều kiện kinh tế ở trong và ngoài nước thay đổi

1.2 Một số kinh nghiệm quốc tế về nâng cao NLCT ngành DV

1.2.1 Xu hướng phát triển của khu vực dịch vụ trên thế giới

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phát triển khu vực dịch vụ là xu hướng nổi trội củanền kinh tế hiện đại, giúp giảm áp lực phát triển cho các khu vực kinh tế khác là nông –lâm – ngư nghiệp và công nghiệp, từ đó có thể hạn chế việc khai thác tài nguyên biển,rừng, khoáng sản phục vụ cho phát triển hai khu vực này, bảo vệ môi trường, khai thácđược tài nguyên nguồn nhân lực Trình độ phát triển của khu vực dịch vụ thể hiện trình

độ phát triển của một nền kinh tế nói chung, vì vậy có thể nói khu vực dịch vụ chắc chắn

sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới Xu hướng phát triển của khu vực dịch vụ

có một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Thứ nhất, khu vực dịch vụ phát triển với tốc độ nhanh về quy mô, chủng loại và

chất lượng: Nhằm đáp ứng được sự phát triển nhảy vọt của sức sản xuất cũng như sức

tiêu dùng của xã hội, hệ thống DV không còn thụ động như trước đây mà phát triển mộtcách chủ động và tích cực Khu vực dịch vụ trên thế giới đang được hoạt động ở một môitrường cạnh tranh sôi động, khiến các ngành kinh tế DV phát triển nhanh chóng cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu chất lượng Nền kinh tế dịch vụ hiện nay dựa trên hai nền tảngchính là toàn cầu hóa và kinh tế tri thức và được thúc đẩy bởi những thành tựu của tiến

bộ khoa học kỹ thuật Khác với những nền kinh tế DV truyền thống trước đây, kinh tế

DV hiện đại có nhiều điểm tương đồng với kinh tế tri thức, trong đó kinh tế DV hiện đạiphát triển dựa vào sự sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin hay nói mộtcách khác, đó là kinh tế DV tri thức

- Thứ hai, công nghệ thông tin thúc đẩy toàn bộ ngành dịch vụ phát triển còn tài

chính - ngân hàng và dịch vụ kinh doanh là những ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất: Ngành dịch vụ tri thức phát triển dựa vào khoa học kỹ thuật mà hạt nhân là

công nghệ thông tin Hàm lượng công nghệ và tri thức ngày càng cao hơn trong các sảnphẩm dịch vụ giúp cho nhiều loại DV, kể cả những DV truyền thống, được cung cấp vàtiêu dùng hiệu quả hơn rất nhiều như thông qua internet, các công ty lữ hành có thể cung

Trang 21

cấp thông tin về các tuyến du lịch, đặt khách sạn và vé máy bay; các nhà phân phối cóthể chuyển từ hình thức bán hàng cổ điển sang thương mại điện tử; internet giúp pháttriển thương mại điện tử (e-commerce) và ngân hàng điện tử (e-banking), tạo điều kiệncho những ngành dịch vụ này phát triển vượt bậc Các ngành tài chính-ngân hàng (gồm

cả bảo hiểm) và DV kinh doanh trở thành hai ngành dịch vụ quan trọng, tạo ra phần lớngiá trị gia tăng của ngành DV và là động lực thúc đẩy tăng trưởng của toàn nền kinh tế

- Thứ ba, thuê ngoài (Outsourcing) ngày càng tăng trong ngành dịch vụ: một trong

những yếu tố thúc đẩy ngành dịch vụ hiện nay phát triển là xu hướng các công ty “thuêngoài” nhiều hơn đối với các hoạt động trước đây vẫn tự mình tiến hành Ngày nay, hầuhết các giai đoạn của quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ đều có thể được thuê ngoài.Thuê ngoài không chỉ bó hẹp giữa các công ty trong một quốc gia mà còn là các hoạtđộng xuyên biên giới Việc thuê ngoài giúp công ty có thể giảm chi phí và tăng hiệu quả

vì các công ty thực hiện dịch vụ thuê ngoài cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp hơnsong vẫn duy trì được khả năng sáng tạo Ngoài ra, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh,các công ty có xu hướng chuyên môn hóa trong những lĩnh vực nhất định nhằm giảm chiphí và khai thác lợi thế bên ngoài nên đã tạo điều kiện hình thành các công ty chuyênmôn cung cấp các dịch vụ thường được thuê ngoài

- Thứ tư, FDI vào ngành dịch vụ tăng nhanh và vượt quá đầu tư FDI vào ngành

chế tạo: Xu hướng FDI vào ngành dịch vụ tăng nhanh xuất hiện từ những năm 1990 do

các nhà cung cấp dịch vụ tăng cường thiết lập sự “hiện diện thương mại” tại các thịtrường nước ngoài9 FDI vào ngành dịch vụ tập trung vào các ngành như bán lẻ, ngânhàng, dịch vụ kinh doanh, viễn thông, khách sạn và nhà hàng là những ngành cần có sựhiện thương mại để tiến hành hoạt động kinh doanh, song FDI vào các lĩnh vực như giáodục, y tế, các dịch vụ cá nhân và xã hội còn hạn chế Một trong những yếu tố thúc đẩyFDI vào khu vực DV là xu thế của các công ty cung ứng dịch vụ mở rộng đầu tư nướcngoài nhằm tăng doanh số khi thị trường nội địa bão hòa thông qua tham gia vào các dự

án liên doanh, thỏa thuận hợp tác và liên minh, mua lại và sáp nhập với các đối tác nướcngoài

Với những xu hướng phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực dịch

vụ thế giới nói trên, Nhóm nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung đi sâu phân tích và đánh giá

cụ thể một vài kinh nghiệm nổi bật của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, NhậtBản, Châu Âu, các nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, In-đô-nê-xia, Ma-lai-xiatrong việc phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh của từng ngành dịch vụ hạ tầng vàquan trọng của nền kinh tế như đã đề cập ở phần trên

1.2.2 Phát triển NLCT ngành dịch vụ viễn thông

Một số kinh nghiệm quốc tế về nâng cao NLCT cho ngành

9 Hiện diện thương mại là phương thức cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện của các nhà cung cấp của một nước

ở trong lãnh thổ của nước khác và điều này thường đòi hỏi phải đầu tư vào một hoạt động dịch vụ nào đó (PGS TS Nguyễn Hồng Sơn, 2010)

Trang 22

Hoa Kỳ: Thị trường viễn thông của Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất và có tính cạnh

tranh nhất thế giới Đối với DV viễn thông, Hoa Kỳ có chủ trương tự do hóa mạnh mẽ vàcoi đây như là cơ sở hạ tầng quan trọng cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt là cung cấp

DV Cơ quan quản lý ngành viễn thông của Hoa Kỳ là Ủy ban thông tin liên bang (FCC)

và hoạt động dựa trên Luật thông tin năm 1934 có sửa đổi bởi Luật viễn thông năm 1996.Tuy nhiên, một số ủy ban tại các bang cũng giữ quyền quyết định đối với việc điều chỉnhphí cung cấp DV, các điều kiện hoạt động trong nội bộ bang v.v

Các công ty nước ngoài được phép cung cấp các DV viễn thông nội hạt và quốc tế.Điều kiện để cấp phép thường được dựa trên tiêu chí vì lợi ích của công chúng và hoàntoàn do FCC quyết định FCC có thể từ chối cấp giấy phép nếu xét thấy công ty này cókhả năng gây ra “rủi ro cao đối với sự cạnh tranh trên thị trường” Chính điều này đãkhiến nhiều nước quan ngại về khả năng tùy tiện của FCC trong việc quyết định cấp phépcho các công ty nước ngoài

Nhật Bản: Để thúc đẩy sức cạnh tranh của ngành DV VT, Nhật Bản đã ban hành

một loạt biện pháp nhằm tự do hóa ngành VT dựa theo Chương trình hành động tự docủa Chính phủ và Chương trình thúc đẩy tự do hóa 3 năm Các biện pháp được thực hiệntheo Chương trình này bao gồm: loại bỏ hạn chế về vốn góp nước ngoài đối với các DVviễn thông thuộc Loại 1 và đối với các nhà cung cấp DV truyền hình cáp, loại bỏ yêu cầugiấy phép đối với áp dụng phí với người sử dụng cuối cùng

Theo cơ chế quản lý, Bộ Bưu chính Viễn thông điều chỉnh các chính sách nhằmthúc đẩy sự phát triển của ngành Ngoài ra, Bộ này cũng phụ trách DV phát thanh vàđược uỷ quyền xây dựng các văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động trong các ngànhtrên trong đó đáng chú ý như Luật kinh doanh viễn thông, Luật truyền thanh, Luật NTT,Luật phát thanh, Luật Truyền hình cáp

Thái Lan: Trong vài năm trở lại đây, Chính phủ Thái Lan đã có kế hoạch cải tổ

ngành thông tin theo hướng thúc đẩy quá trình tư nhân hóa hai nhà cung cấp DV chínhcủa quốc gia Đặc biệt năm 1997, Chính phủ Thái Lan đã quyết định thực hiện quy hoạchtổng thế phát triển ngành viễn thông quốc gia bằng biện pháp chính thức xóa bỏ tìnhtrạng độc quyền Nhà nước trong ngành viễn thông Theo biện pháp này, hai nhà cung cấp

DV thông tin là TOT và CAT sẽ được tư nhân hóa nhằm tăng cường môi trường cạnhtranh trong ngành Tuy nhiên, quá trình tư nhân hóa hai công ty hùng mạnh này sẽ đượcchia thành 2 giai đoạn Giai đoạn 1 sẽ thiết lập một công ty mẹ đứng ra quản lý cả 2 công

ty Giai đoạn 2 sẽ cho phép các công ty khác cũng như tư nhân tham gia mua cổ phiếunhưng cổ phiếu Nhà nước vẫn giữ tỷ lệ khống chế (50%)

Bài học rút ra cho Việt Nam để cải thiện khả năng cạnh tranh của ngành

Cơ quan có chức năng thẩm quyền quyết định cấp phép cho các công ty trong nướchay nước ngoài kinh doanh lĩnh vực viễn thông cần xem xét và thẩm tra kỹ các đơn vịxin giấy phép về khả năng chiến lược kinh doanh, tránh tình trạng gây rủi ro, chèn ép

Trang 23

cạnh tranh trên thị trường, gây bất lợi trước hết cho người tiêu dùng, sau đó là các công

ty kinh doanh trong ngành BCVT khác

Nới lỏng các quy chế gia nhập ngành phù hợp lộ trình quy định theo cam kết song

phương, cam kết của Việt Nam với WTO về BCVT (Hộp 1 – Phụ lục), tạo điều kiện về

cơ sở hạ tầng cho các công ty kinh doanh ngành này

Nhà nước có quy chế, hướng dẫn cụ thể việc tiến hành công tác tư nhân hóa cáccông ty viễn thông lớn có kế hoạch, giai đoạn cụ thể dài hạn, Nhà nước nắm giữ tỷ lệkhống chế trong giai đoạn đầu đồng thời nới lỏng, mở rộng việc tư nhân có thể tham giamua cổ phiếu công ty đã cổ phần hóa

1.2.3 Phát triển NLCT ngành dịch vụ tài chính

a) Kinh nghiệm nâng cao NLCT ngành ngân hàng

Trung Quốc nâng cao NLCT của hệ thống NHTM trong bối cảnh hội nhập quốc tế:

Thứ nhất, tập trung xử lý nợ xấu: tháng 8/1998 tỷ lệ nợ xấu của 4 NHTM quốc

doanh của Trung Quốc chiếm 25,5% tổng dư nợ cho vay của 4 NHTM này, đến hết năm

2004 là khoảng 13-14% Giải pháp cơ bản để xử lý nợ xấu là 4 NHTM quốc doanh đềuthành lập 4 công ty quản lý tài sản Tất cả các khoản nợ xấu của 4 NHTM quốc doanhđều giao cho 4 công ty này khai thác xử lý Tiếp đến là tiến hành bán đấu giá nợ xấu chocác ngân hàng nước ngoài Khoản nợ xấu này liên quan chủ yếu trong các khoản cho vayđầu tư vào bất động sản

Thứ hai, yêu cầu các NHTM Nhà nước tự hoạch định kế hoạch tăng vốn điều lệ

theo thông lệ quốc tế là 8% tổng vốn điều lệ của ngân hàng Ngân hàng Xây dựng TrungQuốc (Construction Bank of China) có phương án phát hành cổ phiếu trị giá 4,8 tỷ USD

để tăng vốn điều lệ, trong đó có 1 tỷ USD được phát hành trong tháng 4/2004

Thứ ba, thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp, thực hiện cổ phần hóa và niêm yết

cổ phiếu NHTM trên thị trường chứng khoán Hiện nay, một số NHTM cổ phần cũngđang dự kiến niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài Ngân hàng Pháttriển Trung Quốc thỏa thuận với HSBC, Morgan Stanley phát hành trái phiếu của ngânhàng này trên thị trường toàn cầu

Thứ tư, đẩy mạnh văn hóa kinh doanh trong ngân hàng kết hợp với tăng lương hợp

lý cho cán bộ nhân viên ngân hàng Văn hóa ngân hàng được thể hiện hoạt động ngânhàng theo tiêu chuẩn quốc tế, phong cách làm việc, khả năng giao tiếp với khách hàng vàcác nội dung khác thuộc về văn hóa trong kinh doanh Các công việc đó được gắn liềnvới tinh giảm biên chế trong ngành ngân hàng, chỉ riêng năm 2004, các ngân hàng TrungQuốc đã tinh giảm 45.000 nhân viên

Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Việt Nam và Trung Quốc đều là những quốc gia đang phát triển, lực lượng kinh tế,trình độ văn hóa, hệ thống luật pháp còn có những hạn chế so với các nước phát triển; hai

Trang 24

nước đều vừa phải trải qua thời kỳ thực hiện kinh tế kế hoạch tập trung, giao lưu kinh tếđối ngoại mới thực sự từ ngày chuyển sang cải cách mở cửa, chưa nhiều kinh nghiệmtrong quan hệ quốc tế về kinh tế… do vậy , những kinh nghiệm của Trung Quốc trongquá trình hội nhập rất có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, trong

đó có lĩnh vực ngân hàng Các bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao NLCT ngành

NH ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, xây dựng một môi trường pháp lý ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế:

- Tiến hành bước đầu rà soát, đối chiếu các quy định hiện hành của pháp luật ViệtNam để xây dựng văn bản pháp luật cho phù hợp với các quy định cam kết

- Xây dựng khung pháp lý đảm bảo sân chơi bình đẳng, an toàn cho các loại hìnhNHTM trên lĩnh vực tín dụng, DV ngân hàng, đầu tư và các nghiệp vụ tài chính khác

- Từng bước thiết lập và áp dụng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về an toàn trongkinh doanh tiền tệ như: chuẩn mực về tỉ lệ an toàn trong hệ thống ngân hàng, phân loại,trích lập và sử dụng dự phòng bù đắp rủi ro, bảo hiểm tiền gửi, phá sản TCTD… thôngqua việc tiến hành sửa đổi, bổ sung các văn bản để môi trường pháp lý về hoạt động ngânhàng phù hợp với thông lệ quốc tế

Thứ hai, nâng cao vai trò của NHNN trong điều hành chính sách tiền tệ

- Hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp quá sâu của chính phủ, các cơ quan, tổchức đối với các hoạt động của NHNN

- Tiếp tục hoàn thiện các công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chuyển từtrực tiếp sang gián tiếp

- Đẩy mạnh và phát triển thị trường liên ngân hàng: Từng bước hoàn thiện thịtrường tiền tệ thứ cấp, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng về nội tệ và ngoại tệ Pháttriển các công cụ tài chính của thị trường này, đặc biệt là các công cụ phái sinh như:forward, swap, option… Mở rộng thành viên tham gia giao dịch trên thị trường liên ngânhàng cho tất cả các TCTD kể cả NH nước ngoài

Thứ ba, nâng cao NLCT cho các NHTM Việt Nam

- Nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam thông qua thực hiện tăngvốn tự có, cần tăng vốn tự có lên mức ngang bằng với các ngân hàng trong khu vực (trên

1 tỷ USD), tuy nhiên, việc nâng vốn tự có phải phù hợp với chiến lược tài chính

- Giảm tỷ lệ nợ xấu bằng cách các ngân hàng phải thực hiện chặt chẽ quy trình chovay, chấn chỉnh và thường xuyên kiểm tra, xử lý kịp thời rủi ro tín dụng, thực hiện cácnghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro hữu hiệu Song song với việc phân loại nợ, cầnnhanh chóng phối hợp với các công ty mua bán nợ của các ngân hàng và công ty muabán nợ của Bộ tài chính để nhanh chóng làm sạch bảng cân đối Đây là cách mà cácNHTM Trung Quốc đã thực hiện và đạt được kết quả

Trang 25

b) Kinh nghiệm nâng cao NLCT của ngành bảo hiểm trên thế giới

Kinh nghiệm của các nước Châu Âu: Các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có

lịch sử rất lâu đời về phát triển BH Những đơn BH đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu,

và những nghiệp vụ BH đầu tiên cũng được ra đời ở đây Tính đến nay, qua nhiều bướcphát triển thăng trầm, BH đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều nước

EU Hàng năm, doanh thu từ phí BH của các nước chiếm khoảng 8% GDP10 (tươngđương 670 USD) Để có được sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc đó, vai trò của hệthống pháp luật cùng các hoạt động quản lý Nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng.Các nước Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật BH từ rất sớm Đến nay, với mục tiêuxây dựng một thị trường BH chung, về cơ bản, các nước EU đã thống nhất các quy địnhpháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho các CTBH… thông qua việc ban hànhcác chỉ thị hướng dẫn thực hiện các hoạt động về BH nhân thọ và phi nhân thọ mà tất cảcác nước thành viên đều phải tuân thủ Nhìn chung, hoạt động BH ở hầu hết các nước EUđều chịu sự điều chỉnh của Luật về DNBH (hay Luật về quản lý, giám sát BH) và Luật vềhợp đồng BH Một số loại BH đặc thù như BH hàng hải, BH hàng không, BH tráchnhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái BH… thường được điều chỉnh bằng các văn bản luậtriêng Trong các chừng mực khác nhau và tùy theo trường hợp cụ thể, các luật khác liênquan đến bảo vệ người tiêu dùng, thương mại, lao động… cũng có thể được dẫn chiếu

Ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh BH trực thuộccác Bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại… như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý… hoặc Cơquan quản lý DV tài chính như của Anh, có những nước dành cho cơ quan quản lý BH vịtrí độc lập và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng (Đức) Mục tiêu hoạt động củacác cơ quan quản lý BH là bảo vệ quyền lợi của người tham gia BH và đảm bảo sự pháttriển lành mạnh của thị trường BH Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan này là “đầy

đủ, khách quan, nhất quán và minh bạch”

Tại các nước EU, DNBH chỉ có thể kinh doanh dưới những hình thức pháp lý nhấtđịnh và phải có tư cách pháp nhân Hình thức DNBH ở các nước EU khá đa dạng về cơcấu sở hữu và hình thức pháp lý Về cơ bản, loại hình phổ biến nhất là công ty cổ phần

BH, tiếp đó là các Hội BH tương hỗ và các chi nhánh của các CTBH nước ngoài Tùytheo quy định của pháp luật mỗi nước, hoạt động kinh doanh BH còn có thể tiến hànhthông qua CTBH Nhà nước (Ý, Bồ Đào Nha), Lloyd’s (Anh), hội hợp tác (Bỉ), các hộitiết kiệm (Thụy Điển)… Theo quy định của các luật về DNBH, một công ty không đượcphép kinh doanh đồng thời cả BH nhân thọ và BH phi nhân thọ

Tại tất cả các nước EU, một tổ chức nhất thiết phải có giấy phép mới được kinhdoanh trong lĩnh vực BH Giấy phép này có giá trị trong toàn bộ EU và được cấp chotừng loại nghiệp vụ BH cụ thể (bao gồm cả nội dung kinh doanh BH và kinh doanh tái

10 Báo cáo Dự án Mutrap III Hỗ trợ thương mại đa biên “Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020

và tầm nhìn tới năm 2025

Trang 26

BH) Việc cấp giấy phép kinh doanh BH ở các nước EU chỉ căn cứ vào các yêu cầu về tàichính, pháp lý, kế toán, kỹ thuật, nhân sự theo nguyên tắc thận trọng mà không phụ thuộcvào nhu cầu của nền kinh tế Trong các điều kiện cấp giấy phép, điều kiện về tài chínhđược đặt lên hàng đầu Tại tất cả các nước EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu

về vốn pháp định, tuỳ thuộc vào loại nghiệp vụ Tuy nhiên, số vốn pháp định nói trên sẽđược tăng lên do các yếu tố lạm phát và sự phát triển của thị trường Ngoài ra, số vốn cổphần đã đóng không được thấp hơn vốn pháp định và không thấp hơn 20 – 50% số vốnđiều lệ của công ty

Hoạt động đầu tư của các DNBH được EU kiểm soát khá chặt chẽ Pháp luật cácnước đều có sự phân định các loại tài sản mà một DNBH có thể dùng để đầu tư, baogồm: các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được BH và các tàisản dùng để thanh toán cho các chủ nợ khác Do có các tính chất khác nhau, mỗi loại tàisản phải tuân theo các quy định riêng về đầu tư Nguyên tắc của hoạt động đầu tư mà cácdoanh nghiệp đều phải tuân thủ là “đa dạng hoá, phân tán rủi ro và đảm bảo tính thanhkhoản cao” nhằm đáp ứng các yêu cầu về độ an toàn và khả năng sinh lời Mặc dù cómức độ tự do hoá cao, các nước EU vẫn chú trọng yêu cầu “nội địa hoá tài sản đầu tư”,theo đó, các tài sản tạo thành biên khả năng thanh toán phải được cất giữ lại một nước

EU, nơi có hoạt động kinh doanh BH Theo định kỳ, DNBH phải báo cáo cho cơ quanquản lý BH về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư của mình

Do những đặc thù riêng, hoạt động kinh doanh tái BH được kiểm soát chặt chẽ hơnqua việc quản lý các thoả thuận tái BH của các công ty nhượng tái và hoạt động tái BHcủa CTBH gốc trong nước Các nước đều áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảorằng các công ty nhận tái BH là các công ty có uy tín trên thị trường và có năng lực tàichính tốt, đảm bảo đáp ứng các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng tái BH

Bài học đối với Việt Nam

Qua kinh nghiệm của một số nước, bài học rút ra đối với Việt Nam nhằm nâng caoNLCT ngành BH như sau:

- Các hoạt động BH cần được điều chỉnh cụ thể ở các quy định pháp luật Luật Hợpđồng bảo hiểm cũng cần thiết ban hành để tránh rủi ro cho các bên tham gia BH Một sốloại BH đặc thù như BH hàng hải, BH hàng không, BH trách nhiệm dân sự chủ xe cơgiới, tái BH… nên được điều chỉnh bằng các văn bản luật riêng

- Các hoạt động kinh doanh BH cần được giám sát chặt chẽ của Nhà nước nhằmtránh những hành vi cạnh tranh không lành mạnh

- DNBH có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán và trích lập

đủ các khoản dự phòng nghiệp vụ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Hoạt động đầu tư của các DNBH cũng cần được kiểm soát chặt chẽ Cần có sựphân định các loại tài sản mà một DNBH có thể dùng để đầu tư, bao gồm: các quỹ dựphòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được BH và các tài sản dùng để

Trang 27

thanh toán cho các chủ nợ khác DNBH phải báo cáo cho cơ quan quản lý BH về cơ cấutài sản và biến động trong danh mục đầu tư của mình.

1.2.4 Phát triển NLCT ngành dịch vụ phân phối

a) Một số kinh nghiệm phát triển NLCT của các nước

Thái Lan: Chính phủ Thái Lan có biện pháp tác động tới DV phân phối thông qua

Luật Kinh doanh 1999, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư vào DVbán lẻ và DV bán buôn với vốn cố định là từ 100 nghìn bạt trở lên, trong khi đó mức vốntối thiểu của một cửa hàng bán lẻ là hơn 20 triệu bạt Yêu cầu trong liên doanh vốn đầu

tư nước ngoài là phải dưới 50% và cũng được áp dụng với các DV khác Ngoài ra chínhphủ Thái Lan còn hạn chế đầu tư nước ngoài vào “các DV bán hàng thực phẩm và đồuống” qua yêu cầu về vốn đầu tư nước ngoài ở các DV bán lẻ hàng thực phẩm của siêuthị bị hạn chế ở mức dưới 50%

Ma-lai-xi-a: Chính sách của chính phủ Ma-lai-xi-a cho phép đầu tư nước ngoài vào

lĩnh vực bán lẻ, thương mại, in ấn, vận chuyển, phát triển nhà và xây dựng với điều kiệnphần vốn trong nước lớn hơn 70% và có 30% phải là vốn bumiputra (là loại hình doanhnghiệp của người có quốc tịch Ma-lai-xi-a) Chính phủ đưa ra các khoản vay với lãi suấtthấp và có các chương trình huấn luyện và đào tạo bí quyết quản lý cho các chủ cửa hàngbán lẻ để khuyến khích họ tham gia vào bumiputra Chính phủ Ma-lai-xi-a không choxây dựng đại siêu thị ở xung quanh thủ đô Kuala Lumpur từ tháng 1 năm 2004 để ngănngừa việc mở rộng quá nhiều cửa hàng và bảo vệ các cửa hàng nhỏ lẻ của địa phương

Năm 2004, chính phủ Ma-lai-xi-a đã đưa ra chính sách “Hướng dẫn đối với hoạt

động xâm nhập của nước ngoài vào các DV phân phối” có nguy cơ làm phát sinh thêm

các chi phí mới cho các công ty nên chính sách này chịu sự chỉ trích liên tục của các công

ty nước ngoài Tuy nhiên, bản hướng dẫn đã sửa đổi quy định nếu các điều kiện về vốnđầu tư nước ngoài mà đã được xác định bởi Ủy ban Đầu tư nước ngoài có những ưu đãihơn đối với các nhà đầu tư so với các hướng dẫn trước đây thì không được áp dụng

Trung Quốc: Trung Quốc đã có những bước đi thực hiện những cam kết của

WTO về DV phân phối nhưng vẫn phải cố gắng phát triển lĩnh vực DV phân phối trongnước để có thể cạnh tranh đối với các đối thủ nước ngoài, đặc biệt hỗ trợ đối với các nhàbán lẻ quy mô nhỏ và vừa Các chính sách của Trung Quốc đưa ra và đã thực hiện trongnhững năm qua trong từng giai đoạn thể hiện Trung Quốc vẫn đảm bảo thực hiện đượccác mục tiêu của mình vừa đảm bảo thực hiện cam kết vừa đảm bảo hỗ trợ với lĩnh vực

DV phân phối trong nước

Một số chính sách về DV phân phối của Trung Quốc theo lịch trình mở cửa thịtrường khi gia nhập WTO:

- DN nước ngoài có thể tham gia trước khi gia nhập nhưng có quy định chặt chẽ

- Tỷ lệ phần trăm có thể phụ thuộc vào Hướng dẫn đầu tư nước ngoài

- Vẫn còn có những hạn chế đối với chuỗi cửa hàng và các cửa hàng tổng hợp

Trang 28

Quá trình thực hiện các cam kết mở cửa thị trường trong gia nhập WTO của TrungQuốc thể hiện trên 3 lĩnh vực sau: các chính sách, biện pháp về đầu tư nước ngoài vềhoạt động thương mại nội địa và nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực DVPP.

b) Bài học rút ra cho Việt Nam để xây dựng phát triển NLCT

Dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới có thể rút ra một số bài họckinh nghiệm mà chính phủ Việt Nam có thể áp dụng để thực hiện mở cửa DV phân phốitheo cam kết của WTO những vẫn có thể đảm bảo lợi ích quốc gia:

- Các nước đều có Quy định về mức vốn điều lệ mở công ty kinh doanh hoạt độngphân phối, thực hiện duy trì yêu cầu kiểm tra kinh tế như đã quy định và tách giữa quyềnsản xuất và phân phối;

- Phối hợp quy hoạch của địa phương và khu vực với việc xác định các vị trí và sốlượng cửa hàng bán buôn bán lẻ mới; Duy trì những biện pháp tác động tới việc thiết lậpcác chuỗi có số lượng cửa hàng lớn và hiện đại; Giới hạn về hoạt động bán buôn bán lẻngoài các vị trí cố định của các cửa hàng;

- Bản thân các doanh nghiệp trong nước cần hỗ trợ liên kết với nhau và có cácchính sách khuyến khích hỗ trợ trong liên kết các doanh nghiệp trong việc nâng cao kỹnăng quản lý và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ để có thể thực hiện hiện đạihóa và nâng cao chất lượng DV, đồng thời xây dựng các doanh nghiệp và cửa hàng bánbuôn bán lẻ mang đặc trưng riêng có của người Việt Nam

số chỉ sổ, từ đó có thể rút ra một số kinh nghiệm quý báu cho ngành du lịch Việt Nam.Đối với Trung Quốc, chính quyền Trung Quốc ngày càng ý thức được thế mạnh về

du lịch văn hóa lịch sử nên đã tập trung chủ yếu cho việc khuếch trương quảng bá sảnphẩm du lịch này trên thị trường DL thế giới và của khu vực, giúp thu hút được hàngtriệu lượt khách tới thăm hàng năm nhờ những nỗ lực xúc tiến quảng bá giới thiệu nhữngđiểm DL ấn tượng ở nước ngoài Nhờ vậy lượng khách đến nước này trong những nămqua tăng trưởng rất mạnh và Trung Quốc được dự đoán là 1 trong 10 nước tăng trưởng

DL cao nhất thế giới trong giai đoạn 2006-2015 Tương tự, In-đô-nê-xia cũng là quốc giarất chú trọng tới việc xúc tiến quảng bá sản phẩm DL nói chung và sản phẩm DL văn hóanói riêng ở nước ngoài Nước này có tới 31 văn phòng đại diện du lịch quốc gia ở nước

Trang 29

ngoài để hỗ trợ cho công tác xúc tiến DL quốc gia với nguồn kinh phí đầu tư cho hoạtđộng xúc tiến quảng bá DL ở nước ngoài cũng khá lớn trên 100 triệu USD/năm11.

Bảng 1 Tổng hợp các tiêu chí CT có liên quan đến sản phẩm DL năm 2009

Đơn vị: Xếp hạng

Các chỉ số liên quan đến tính hấp dẫn và độc đáo

của tài nguyên

Các chỉ số liên quan đến đầu tư xúc tiền SP

Hiệu quả xúc tiến quảng bá và tạo dựng thương

hiệu

Các chỉ số liên quan đến giá cả trong SP DL

Nguồn: Báo cáo xếp hạng Cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành, du lịch của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2009

So sánh về giá cả, In-đô-nê-xia được đánh giá là nước có NLCT giá du lịch, xếp thứ

3/133 nước nhờ giá các DV rất rẻ, đặc biệt về giá phòng khách sạn Mặc dù Việt Namcũng nằm trong nhóm các nước có NLCT về giá bởi sức mua tương đương được đánhgiá, nhưng tính cạnh tranh chung lại tụt từ mức xếp thứ 7 năm 2008 xuống thứ 11 năm

2009 do giá phòng khách sạn tăng hơn nhiều Nếu so sánh với Trung Quốc thì Việt Nam

có khả năng CT giá cao hơn trong các chỉ tiêu ở trên Ngoài ra so sánh mức lệ phí vàocác điểm du lịch văn hóa của Trung Quốc thường gấp 4-6 lần so với Việt Nam

Về chất lượng phục vụ, từ kết quả nghiên cứu điều tra khách du lịch và từ thực tiễn

khảo sát một số điểm du lịch văn hóa của Trung Quốc có thể khẳng định, chất lượngphục vụ du lịch văn hóa của TQ tốt hơn so với Việt Nam Tính chuyên nghiệp của đội

11 Báo cáo “Xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực, quốc tế” (2010), Viện Nghiên

cứu Phát triển Du lịch

Trang 30

ngũ nhân viên phục vụ du lịch cao hơn, thái độ phục vụ nhiệt tình và chân thành, am hiểusâu sắc về văn hóa lịch sử, điều đó làm cho khách du lịch hài lòng và có thể bỏ quanhững hạn chế về trình độ cũng như ngoại ngữ của nhân viên tại điểm du lịch đó Còn ởIn-đô-nê-xia, chất lượng phục vụ tại các điểm du lịch văn hóa cũng tốt hơn Việt Nam nhờtính chuyên nghiệp của đội ngũ những người phục vụ tại các điểm du lịch này

Vấn đề tổ chức sản phẩm: DL văn hóa của Trung Quốc là một loại hình sản phẩm

DL được Chính quyền trung ương cũng như địa phương TQ quan tâm đầu tư nhiều nhất.Điều này thể hiện ở quy mô cũng như khả năng được đầu tư nâng cấp của các di sản vănhóa và lịch sử của nước này Việc tổ chức xây dựng và khai thác sản phẩm DL văn hóacủa TQ bài bản hơn và có kế hoạch rõ ràng hơn Các quy định, quy chế tổ chức các hoạtđộng tại các điểm DL văn hóa của TQ là rất nghiêm ngặt và có kỷ cương Các hình thứckinh doanh DL được quản lý chặt chẽ nên quy trình tổ chức tham quan rất hợp lý In-đô-nê-xia cũng là quốc gia có kinh nghiệm lâu năm trong khu vực về tổ chức và khai thácsản phẩm DL văn hóa phục vụ khách DL

Bài học rút ra cho Việt Nam: Với định hướng phát triển DL văn hóa và DL sinh

thái, DL Việt Nam cũng đã tập trung dựa vào thế mạnh về văn hóa và lịch sử để khuếchtrương hình ảnh và thương hiệu DL Việt Nam trong thời gian qua Nhờ vậy, sản phẩm DLcủa Việt Nam đã gây được ấn tượng với du khách và dần định hình được thương hiệuriêng của mình So với TQ và In-đô-nê-xia, thương hiệu sản phẩm DL văn hóa của ViệtNam không thua kém, tuy nhiên sản phẩm DL của Việt Nam cũng giống như In-đô-nê-xia vẫn chưa rõ nét mặc dù hai nước đều có nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc do yếu tố

đa dân tộc mang lại Việt Nam cần phải tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch, tham gianhiều hội chợ du lịch quốc tế để giới thiệu các sản phẩn du lịch văn hóa và du lịch sinhthái của Việt Nam Đồng thời, ngành du lịch cần phải chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhânviên làm nghề du lịch như hướng dẫn viên, nhân viên lữ hành phục vụ, giới thiệu cáctuyến, sản phẩm DL cho khách nước ngoài Bên cạnh đó, muốn thu hút được thêm kháchquốc tế cần phải đa dạng hóa các sản phẩm như giới thiệu thêm những địa điểm văn hóa,mang tính lịch sử; ở các quốc gia khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, dù di tích, địa điểm lịch

sử của họ không hẳn đã lâu đời và có quy mô lớn nhưng họ biết “chuyên nghiệp hóa”,xây dựng và giới thiệu, nâng tầm di sản, di tích lịch sử với các DV toàn diện và đầy đủcác khâu, các giai đoạn

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về ngành DV của Việt Nam

2.1.1 Tăng trưởng khu vực DV đối với nền kinh tế

Trong thời kỳ 2001-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức cao so

Trang 31

với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cả thời

kỳ ước đạt 7,2%/năm Trong giai đoạn 2001 - 2010, khu vực DV của Việt Nam đã duy trìtốc độ tăng trưởng ổn định, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế Trong thời

kỳ này, tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực DV ước đạt 7,3%, nhỉnh hơn tốc độ tăngtrưởng toàn nền kinh tế12 Tốc độ tăng trưởng khu vực DV của năm 2007 là cao nhất(8,9%) trong cả giai đoạn 2001-2010 Năm 2007, 2008 do ảnh hưởng của suy thoái kinh

tế nên tốc độ tăng của khu vực DV đã giảm đi rõ rệt so với những năm trước Năm 2010,

DV đã có dấu hiệu phục hồi tăng trở lại theo đà tăng trưởng của cả nền kinh tế với tỷ lệ

Nguồn: Niên giám Thống kê và dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Đóng góp đối với tăng trưởng của nền kinh tế: Khoảng cách chênh lệch về tốc độ

tăng của khu vực DV với tốc độ tăng của GDP có sự chênh lệch khá rõ, nhất là trong giaiđoạn 2003-2005; 2007-2009 Về cơ bản, tốc độ tăng trưởng của KV DV tăng nhanh hơn

so với tốc độ tăng của GDP, nhưng trong một số năm như 2003, 2010 thì tốc độ tăng củaGDP cao hơn tốc độ tăng của khu vực DV hay nói một cách khác là tốc độ tăng trưởngthấp hơn tốc độ tăng chung của nền kinh tế Tình trạng phát triển chậm của ngành DV đãphần nào hạn chế những tác động lan tỏa của ngành này đối với các ngành khác và là mộttrong những nguyên nhân khiến cho NLCT của ngành này chưa được cao, kéo theoNLCT của cả nền kinh tế vẫn còn một số tồn tại, môi trường kinh doanh chưa thực sựthuận lợi cho phát triển một số ngành

Hình 3: Tốc độ tăng trưởng của khu vực DV so với tốc độ tăng của GDP

12 Chiến lược tổng thể phát triển khu vực DV của Việt Nam đến năm 2020

Trang 32

Nguồn: Nhóm nghiên cứu

- Xét về khía cạnh tỷ trọng của khu vực DV trong tổng GDP, tỷ trọng khu vực này

trong cơ cấu kinh tế cả nước có xu hướng tăng nhưng không đáng kể Trong giai đoạn

2006 – 2009, tỷ trọng khu vực DV chỉ xoay quanh mức trên 38-39% Do chịu ảnh hưởngtiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên tốc độ tăng trưởng công nghiệp vàxây dựng năm 2008, 2009 giảm mạnh và đến năm 2010 dự tính tỷ trọng công nghiệp vàxây dựng trong GDP còn 40,3%; tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 24,5% xuốngcòn khoảng 19,9% Tỷ trọng khu vực DV cũng có sự thay đổi, từ 38,7% năm 2000 lên38,9% năm 2009 và dự kiến 39,8% vào năm 2010

Bảng 3 Cơ cấu kinh tế theo ngành giai đoạn 2000-2010

Nguồn: Niên giám thống kê các năm của Tổng cục Thống kê

Lý do khiến cơ cấu ngành DV có sự chuyển dịch chậm so với kế hoạch đưa ra cho

tỷ trọng khu vực dịch vụ là 42%-43% của Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn

2001 – 2010 là do thiếu một chiến lược quốc gia để định hướng phát triển các ngành DVmang lại giá trị gia tăng cao, trong đó có các ngành DV có hàm lượng công nghệ caohoặc các ngành DV trung gian nhằm mục đích tăng trưởng

- Tỷ trọng đóng góp trong GDP của ngành DV Việt Nam thấp hơn nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (như Xingapo, Phi-lip-pin, Thái Lan, Ma-lai-xia và In-đô-nê-xia)

và nhiều nền kinh tế đang phát triển Năm 2008, tỷ trọng GDP của ngành DV của nhómnước có mức thu nhập trung bình thấp là 45%, của nhóm nước có mức thu nhập trungbình là 53%, còn của nhóm nước có mức thu nhập trung bình cao lên đến 61% Ở các đôthị lớn của các nền kinh tế đang phát triển, năm 2001, ngành DV đóng góp 61% GDP của

Trang 33

Bắc Kinh, Trung Quốc và 77% GDP của New Dehli, Ấn Độ Các Nghị quyết của Đại hộiĐảng gần đây đều xác định mục tiêu phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nước côngnghiệp hóa về cơ bản và có mức thu nhập trung bình (thuộc hạng trung bình) vào năm

2020 Điều đó có nghĩa rằng, ngành DV của Việt Nam cần phải phấn đấu tăng trưởngnhanh hơn nữa và nhanh hơn ngành công nghiệp và xây dựng để đẩy nhanh tốc độchuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm tới Đây là một nhiệm vụ tương đối khókhăn vì chỉ mới từ năm 2006 đến nay, ngành DV mới tạo được đà tăng trưởng này, songmức chênh lệch còn chưa cao Tuy nhiên, có một thực tế cần phải tính đến là, khônggiống một số cách phân loại của quốc tế (ví dụ WTO), Tổng cục Thống kê Việt Namkhông xếp ngành xây dựng vào khu vực DV, nên mức tỷ trọng tương đối thấp nói có thểchưa phản ánh chính xác quy mô của ngành DV Việt Nam Nếu tính thêm cả ngành xâydựng thì tỷ trọng của ngành DV trong GDP của Việt Nam đạt khoảng 45,5% (trong giaiđoạn 2006-2009)13

- Đóng góp của khu vực dịch vụ đối với việc tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập,

góp phần quan trọng giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển: Về nguyên

lý, dịch vụ là lĩnh vực tạo nhiều việc làm Do có thể thành lập nhiều doanh nghiệp dịch

vụ với số vốn ban đầu nhỏ, các ngành dịch vụ tạo ra cơ hội tốt với nguồn lực tối thiểu đểngười lao động có thể tự tạo việc làm mà vẫn đem lại hiệu quả kinh tế Về cơ cấu laođộng, tỷ trọng lao động khu vực dịch vụ tăng chậm, từ 21,8% năm 2000 lên 26,5% năm

2009 và dự kiến 27% năm 2010 Trong khi đó tỷ trọng lao động công nghiệp trong tổng

số lao động xã hội tăng lên đáng kể, từ 13,1% năm 2000 lên 23% năm 2010

Bảng 4 Cơ cấu lao động của các khu vực trong nền kinh tế

Đơn vị: %

Chỉ tiêu 2000 2001 2005 2006 2008 2009 DK 2010

Cơ cấu LĐ theo KV 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

Nguồn: Niên giám thống kê các năm của Tổng cục thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Số lượng người lao động trong lĩnh vực dịch vụ đã tăng đều kể từ năm 2000 Năm

2008, số lượng người lao động trong lĩnh vực dịch vụ đã tăng 1,5 lần so với năm 2000,với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 4,6% Trong cùng giai đoạn, tổng số lượng lao độngcủa toàn bộ nền kinh tế chỉ tăng 1,08 lần, với tốc độ bình quân là 2,41% một năm Cáclĩnh vực dịch vụ thương nghiệp, sửa chữa, giáo dục và đào tạo, dịch vụ vận tải, kho bãi

và thông tin liên lạc, hoạt động phụ vụ cá nhân, công cộng và dịch vụ làm thuê, dịch vụkhách sạn, nhà hàng là các lĩnh vực tạo nhiều việc làm, tương ứng là 45%, 11,8%, 10,2%,

13 Đề tài cấp Nhà nước: “Luận cứ khoa học cho việc phát triển ngành DV Việt Nam đến năm 2020” của PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự

Trang 34

8,2% và 7% lao động trong khu vực dịch vụ Năm lĩnh vực này chiếm tới 82% lao độngtoàn khu vực dịch vụ và khoảng 21,9% lao động của toàn nền kinh tế

- Thương mại dịch vụ phát triển thúc đẩy sự phát triển chung của khu vực dịch vụ,

đóng góp vào tăng trưởng xuất, nhập khẩu chung của toàn nền kinh tế: Trong giai đoạn2001-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của xuất khẩu dịch vụ là 9,32% Tớicuối năm 2010, dự kiến tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ chiếm khoảng 10% trong tổng kimngạch xuất khẩu của nền kinh tế Trong cùng giai đoạn này, nhập khẩu dịch vụ của ViệtNam đã tăng đáng kể, từ 3,382 tỷ USD năm 2001 lên 5,036 tỷ đô la năm 2005 và dự kiến7,139 tỷ đô la năm 2010 Du lịch, hàng không, vận tải biển và tài chính là 4 lĩnh vực xuấtkhẩu dịch vụ lớn nhất, chiếm khoảng 93,1% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ

- Vốn FDI đăng ký chuyển mạnh dần sang lĩnh vực dịch vụ: Các chiến lược, chính

sách phát triển khu vực dịch vụ, các chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việcthực hiện các cam kết về mở cửa các ngành dịch vụ trong thời gian qua đã có tác dụng tốtđối với việc phát triển các phân ngành dịch vụ nói riêng và tổng thể khu vực dịch vụ nói

chung (Hộp 2, Hộp 3, Bảng 1 – Phụ lục) Mở cửa khu vực dịch vụ là một trong những

nguyên nhân chính dẫn đến bùng phát đầu tư trong khu vực này Vốn FDI đăng kýchuyển mạnh sang lĩnh vực dịch vụ, tăng từ 30,7% thời kỳ 1988-2006 lên 48,1% tổngvốn đăng ký trong các năm 2007-2009 Với chuyển dịch về FDI và đầu tư trong nướcdưới tác động của thực hiện cam kết hội nhập, cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội theo ngành

đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng giảm tỷ trọng vào công nghiệp và nông nghiệp,tăng tỷ trọng vào khu vực dịch vụ Tỷ trọng vốn đầu tư ngành DV, xã hội và các lĩnh vựckhác có xu hướng tăng dần từ 48,2% vào năm 2001 lên 53,0% vào năm 2008

Với sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư này, các ngành kết cấu hạ tầng (vận tải, kho bãi

và thông tin liên lạc, xây dựng, điện, nước) đã và đang tiếp tục được ưu tiên Hoạt độngliên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn bùng phát mạnh sau khi Việt Nam trởthành thành viên WTO Tuy nhiên, chưa có chuyển biến mạnh về đầu tư trong các ngành

có GTGT cao và góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế như tài chính ngânhàng, các ngành góp phần cải thiện nguồn nhân lực như giáo dục đào tạo, y tế, khoa họccông nghệ có tỷ trọng đầu tư còn nhỏ, không tăng hoặc thậm chí giảm

2.1.2 Tăng trưởng trong nội tại khu vực DV

Theo hệ thống SNA của Việt Nam, các ngành kinh tế được phân chia dựa vào chứcnăng hoạt động chủ yếu của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Trong đó, khu vực dịch vụcủa Việt Nam được chia thành 13 phân ngành khác nhau Cụ thể như sau:

(1) Thương nghiệp và sửa chữa xe động cơ và đồ dùng cá nhân, gồm cả hoạt độngxuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ

(2) Khách sạn, nhà hàng

Trang 35

(3) Vận tải, thông tin liên lạc, bao gồm nhiều loại hoạt động như: vận tải đường bộ,đường sắt, đường thủy, hàng không, đường ống…; hoạt động bưu chính viễnthông; hoạt động dịch vụ du lịch (chỉ tính riêng phần hướng dẫn du lịch).

(4) Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

(5) Hoạt dộng khoa học và công nghê, bao gồm tất cả hoạt động khoa học cơ bản,khoa học ứng dụng và chuyển giao công nghệ

(6) Hoạt động quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo hiểm xã hội bắt buộc từTrung ương đến cơ sở, nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp

(7) Kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vẫn

(8) Hoạt động giáo dục, đào tạo

(9) Hoạt động y tế và cứu trợ xã hội

(10) Hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí

(11) Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân, cộng đồng

(12) Hoạt động của đoàn thể, hiệp hội, tổ chức quốc tế tại Việt Nam (với tư cách làđơn vị thường trú tại Việt Nam)

(13) Dịch vụ làm thuê trong hộ gia đình

Trong nội tại khu vực dịch vụ, một số lĩnh vực duy trì được tốc độ tăng trưởng khá

cả thời kỳ, như DV vận tải, viễn thông (10,8%), thương mại (phân phối) (7,9%); kháchsạn nhà hàng (8,8%); tài chính, ngân hàng (7,9%)

- Về tốc độ tăng trưởng các phân ngành DV: Từ bảng trên có thể thấy sự khác biệt

trong tăng trưởng qua các thời kỳ Thời kỳ 2001-2005 đạt tốc độ tăng trưởng bình quânnăm khu vực DV chỉ đạt 7,0%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân GDP (7,5%/năm).Bình quân 5 năm 2006 - 2010 tốc độ tăng trưởng của khu vực DV đạt khoảng 7,7%,trong đó riêng năm 2008, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng,làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng của ngành (chỉ đạt khoảng 7,18%) Năm 2009 tốc

độ tăng trưởng đạt 6,63% và ước năm 2010 khu vực DV sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 7,5%

Từ bảng dưới đây có thể đưa ra một số nhận xét về tốc độ tăng trưởng khu vực DV tronggiai đoạn 2001-2010 trong nền kinh tế:

+ Một là, nhìn chung tăng trưởng hầu hết các phân ngành DV có xu hướng tăng qua

các thời kỳ cùng với quá trình đổi mới và mở cửa kinh tế ngày một sâu, rộng hơn

+ Hai là, tốc độ tăng trưởng của các phân ngành DV không đều So với tốc độ tăng

trưởng chung của toàn ngành DV, một số phân ngành DV có tốc độ tăng cao hơn, cònmột số phân ngành DV lại tăng trưởng thấp hơn Trong đó đáng lưu ý là những phân

Trang 36

ngành DV tiêu dùng cuối cùng (như khách sạn, nhà hàng, du lịch, giải trí,…) có tốc độtăng trưởng cao hơn do nhu cầu tiêu dùng của dân cư thay đổi theo hướng chi tiêu chocác sản phẩm DV nhiều hơn khi thu nhập tăng lên Ngoài ra, trong các phân ngành DVtrung gian, ngành tài chính tín dụng đã có tốc độ tăng trưởng cao, thể hiện tính năngđộng và sự phát triển hơn của nền kinh tế và nhu cầu đầu tư tăng cao Song ngành DVkhoa học và công nghệ lại tăng thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành DV do

cả hai yếu tố đầu vào và đầu ra

Bảng 5 Tốc độ tăng trưởng bình quân và tỷ trọng trong GDP của các lĩnh vực DV

Đơn vị: %

Lĩnh vực Tốc độ tăng 2001-2005 Tốc độ tăng 2006-2010 Tỷ trọng 2005 2010 (DK)Tỷ trọng

1 Thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ,

12 Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng và

Nguồn: Niên giám Thống kê, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

- Về tỷ trọng các phân ngành DV: Dịch vụ thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tổng GDP (gần 14,3% GDP năm 2009), tiếp theo là DV bưu chính viễn thông(4,5%), khách sạn và nhà hàng (4,5%), bất động sản và tư vấn (3,7%) Tỷ trọng của cácngành này trong khu vực dịch vụ lần lượt là 36,6%, 11,4%, 11,6% và 9,7% Đây cũng làcác nhóm ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao Giá trị xuất khẩu DV tăng liên tụcqua các năm, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 ước đạt 13-14%/năm,trong đó kim ngạch xuất khẩu DV năm 2009 đạt 7,585 tỷ USD Ước thực hiện năm 2010,xuất khẩu DV đạt trên 8,2 tỷ USD, nhập khẩu DV 8,5 tỷ USD Thâm hụt cán cân xuấtnhập khẩu DV được cải thiện và giảm dần, dự kiến ở mức năm 2010 là 276 triệu USD.Như vậy, trong thời gian qua, hoạt động dịch vụ thương mại đóng góp vai trò lớn nhấttrong khu vực dịch vụ của Việt Nam

Tuy nhiên, điều quan trọng là Việt Nam vẫn đang thiếu một nền kinh tế dịch vụhiện đại và hiệu quả được định hướng bởi một số dịch vụ hàng đầu có tốc độ tăng trưởng

Trang 37

nhanh, bền vững, tiếp cận với công nghệ cao và có tiềm năng tạo ra giá trị xuất khẩu lớn,thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài Mặc dù các ngành dịch vụ như dịch vụ viễn thông,ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán, du lịch và phân phối đã cho thấy có triển vọng đểphát triển trong thời gian tới, Chính phủ cũng chưa đưa ra được các chiến lược dài hạn,

cụ thể để đảm bảo dành ưu tiên cho các ngành dịch vụ hạ tầng và chủ chốt của nền kinh

tế phát triển Sự phát triển các dịch vụ cơ sở hạ tầng chiến lược và trọng yếu như viễnthông, tài chính, phân phối và du lịch cũng đã được nghiên cứu và thảo luận trong nhiềunăm, khả năng cạnh tranh của các ngành này đã được nâng lên, có nhiều điểm mạnh, pháttriển vững chắc và đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng vẫn còn một số điểm hạn chế và

có những yếu kém nội tại khó có thể giải quyết nhanh chóng

Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của các phân ngành dịch vụ này dưới đây sẽ giúpkhái quát hơn những đặc điểm, nhận định trên dựa theo phương pháp phân tích NLCTcủa Porter - Dunning Mô hình Hình thoi về phân tích NCLT của ngành, cụ thể là khuvực dịch vụ mà đề tài áp dụng đã được rất nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nước trên thế giới

sử dụng để phân tích NLCT của quốc gia, của ngành có thể chưa là phương pháp sử dụnghoàn hảo nhất, phù hợp nhất với điều kiều kinh tế của Việt Nam, tuy nhiên cho đến bâygiờ mô hình này được cho là khá phù hợp, dễ dàng ứng dụng và đánh giá được nhiều tiêuchí, khía cạnh về NLCT của từng ngành kinh tế Chính vì vậy, Nhóm nghiên cứu sẽ sửdụng mô hình này để khai triển và phân tích các tiêu chí cạnh tranh tùy theo từng nhóm

dịch vụ khác nhau cho bốn ngành dịch vụ là viễn thông, tài chính, phân phối và du lịch

dưới đây

2.2 DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

2.2.1 Dịch vụ viễn thông trong tổng thể nền kinh tế

Dịch vụ viễn thông được hiểu như là cách thức trao đổi dữ liệu thông qua kỹ thuậtđiện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác Ngày nay các thiết bị viễn thông là mộtthành phần cơ bản của hệ thống hạ tầng14 Trên thị trường viễn thông hiện nay bao gồmrất nhiều các DV viễn thông khác nhau, trong đó có hai loại DV viễn thông chính chiếm

tỷ trọng doanh thu lớn nhất trên thị trường, có tốc độ phát triển nhanh nhất đó là: DVviễn thông di động và DV Internet Hiện nay, thị trường thông tin di động các nước trên

14 Khái niệm trên trang Web Wikipedia

Trang 38

thế giới đang cạnh tranh mạnh mẽ và các chiến lược cạnh tranh cũng đa dạng như cácchiến lược về giá cước, quảng cáo, khuyến mãi, giảm giá, chăm sóc khách hàng, nângcao chất lượng DV cơ bản cũng như DV giá trị gia tăng… Thị trường VT của Việt Namhiện nay bao gồm rất nhiều các DV VT khác nhau, trong đó, hai loại DV viễn thôngchính có doanh thu lớn nhất trên thị trường hiện nay đồng thời đây cũng là hai sản phẩm

DV viễn thông có tốc độ phát triển nhanh nhất, đó là: DV viễn thông di động và Internet Tính đến cuối tháng 8 năm 2010, số thuê bao điện thoại cả nước ước tính đạt 158,8triệu thuê bao, tăng 44,4% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 16,4 triệu thuê bao

cố định, tăng 8% và 142,4 triệu thuê bao di động, tăng 50,2%15 Số thuê bao internet trên

cả nước ước tính đạt 3,5 triệu thuê bao, tăng 30,1% so với cùng thời điểm năm trước.Mạng 3G và DV mở rộng đã tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ giá trịgia tăng như internet banking, giải trí, báo chí và phương tiện thông tin đại chúng Cùngvới đó, sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp DV cũng trở nên sôi động hơn, nhất là trongcác loại hình DV mang lại lợi nhuận cao như DV thông tin di động, ADSL và VoIP

Trong những năm qua, DV viễn thông đã góp phần quan trọng trong việc xóa đóigiảm nghèo, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giữa thành thị và nôngthôn; đảm bảo an toàn, an ninh thông tin Hiện nay trong lĩnh vực này đang có những sựthay đổi đáng kể, với xu hướng tăng tỷ trọng DV viễn thông di động (lĩnh vực đang cótốc độ tăng trưởng cao)

Hiện nay, gần như 100% diện tích của Việt Nam đã được phủ sóng điện thoại cả cốđịnh và di động Chất lượng phủ sóng cho tất cả các khu vực lãnh thổ hầu như đã ngangbằng nhau Thị trường viễn thông Việt Nam tiếp tục đạt được các bước tiến vượt bậc, hỗtrợ đắc lực cho các ngành kinh tế khác và được xem là một trong những nước có thịtrường viễn thông phát triển nhanh nhất trên thế giới hiện nay

2.2.2 Năng lực cạnh tranh của dịch vụ viễn thông

Dưới đây là những phân tích, đánh giá cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của DV

viễn thông, đó là 6 yếu tố cấu trúc ngành và môi trường cạnh tranh; vấn đề

chính sách, pháp lý của nhà nước; vấn đề tự do hóa và yếu tố nước ngoài; thị trường, nhu cầu về DV VT; các ngành phụ trợ và liên quan đến DVVT; các điều kiện và nhân tố đầu vào cho ngành DVVT.

Hình 4: Mô hình Porter - Dunning về dịch vụ viễn thông

15 Báo cáo Đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của Cục Quản lý Cạnh tranh – Bộ Công thương

+ Internet: VNPT, Viettel, FPT

Chính phủ, môi trường PL

- Nhà nước dần nới lỏng điều tiết gia nhập ngành

- Ban hành quy định chống độc quyền, vi phạm CT, giảm giá cước

- Hạn chế về quy định, chế tài xử lý hành vi vi phạm

Chính phủ, môi trường PL

- Nhà nước dần nới lỏng điều tiết gia nhập ngành

- Ban hành quy định chống độc quyền, vi phạm CT, giảm giá cước

- Địa bàn chính là các đô thị, đang mở rộng mạng lưới nhiều KV

Thị trường:

- Có nhu cầu lớn về DV VT: điện thoại và net;

- Địa bàn chính là các đô thị, đang mở rộng mạng lưới nhiều KV

Tự do hoá:

- Mức độ cam kết quốc tế

đang ngày càng mở hơn so

với trước đây, đặc biệt từ

cuối 2009 theo lộ trình

Tự do hoá:

- Mức độ cam kết quốc tế

đang ngày càng mở hơn so

với trước đây, đặc biệt từ

cuối 2009 theo lộ trình

Trang 39

i) Cấu trúc ngành và môi trường cạnh tranh

* Cấu trúc ngành

Ngành viễn thông bắt đầu thật sự bước vào cạnh tranh vào năm 2003 sau khi một sốnhà khai thác mới được cấp phép Để chuẩn bị cho tiến trình này, một số quy định phápluật được ban hành như Luật Viễn thông và các Nghị định, văn bản hướng dẫn liên quan

Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan điều tiết ngành có trách nhiệm hoạch địnhchính sách phát triển cũng như bảo vệ môi trường CT ngành VT Có thể nói, thời gianđầu, Viễn thông Việt Nam - khi đó mới chỉ có thể gọi là “ngành”, chưa thực sự là “thịtrường”- đi lên một cách chậm chạp với những DV chất lượng ở mức tối thiểu Các DV

VT của Việt Nam chậm hơn thế giới khoảng 40-50 năm, DV điện thoại di động chậmhơn của thế giới khoảng 15-20 năm và Internet chậm hơn thế giới khoảng 7-8 năm

DV viễn thông di động

Trên thị trường viễn thông di động trong nước, cạnh tranh giữa các nhà cung cấpcũng không kém phần mạnh mẽ do sự ra đời của các mạng trong những năm gần đây, đặcbiệt là sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài với công nghệ hiện đại, kinh nghiệmquản lý, tiềm lực tài chính và ảnh hưởng không nhỏ của các DV thay thế Đối với VT diđộng, mức tăng trưởng cũng tương tự khi số lượng của thuê bao trả trước và trả sau đềutăng lên khoảng 4 lần trong giai đoạn 2006-2009, từ gần 17 triệu lên đến 63,7 triệu thuêbao Trong năm 2008, 3 nhà cung cấp hàng đầu là Viettel, Mobile Phone và VinaPhone(thuộc VNPT) đã chiếm gần 90% thị phần, 2 nhà cung cấp còn lại chiếm khoảng 10% thịphần16

Hình 5 Th ph n c a các DN trên th tr ị ầ ủ ị ườ ng VT di đ ng ộ

16 Bộ Thông tin và Truyền thông

Trang 40

Năm 2008 Năm 2009

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông

Xét trên yếu tố thị phần, rõ ràng các có sự tập trung kinh tế ở mức độ cao ở DV

viễn thông di động, đó là 3 nhà cung cấp lớn nhất là MobilePhone, VinaPhone (VNPT)

và Viettel hiện đang chiếm giữ đến 90,6% thị phần Các mạng khác như EVN Telecom,

HT Mobile (nay đổi tên thành Vietnamobile)… chiếm thị phần không đáng kể Các nhàkhai thác này không chỉ cạnh tranh trong phát triển thuê bao di động, mà còn cạnh tranhtrong phát triển các DV giá trị gia tăng đi kèm theo

Xét trên yếu tố công nghệ, thị trường VT di động hiện nay có 2 nhóm DN sử dụng 2

loại công nghệ khác nhau cung cấp DV: 6/8 DN dùng công nghệ GSM; 2 DN dung côngnghệ CDMA là S-fone và EVN Telecom Tuy nhiên các nhà cung cấp DV CDMA đang

tỏ ra “yếu thế” hơn trước các nhà cung cấp dùng công nghệ GSM cả về thị phần lẫn sốlượng nhà cung cấp

Thị trường DV viễn thông Internet

Thị phần DV Internet năm 2009 của các ISP chủ yếu được chia sẻ giữa 3 doanhnghiệp lớn: VNPT (qua công ty con VDC) 69,8%, Viettel: 12,9% và FPT: 12,1% thịphần Các nhà cung cấp DV internet (ISP) còn lại (khoảng 10 doanh nghiệp) chỉ chiếmchưa đầy 6% thị phần Trong thời gian tới, thị trường DV Internet sẽ tiếp tục duy trì tốc

độ tăng trưởng hàng năm khoảng 10% và đạt mật độ 35% vào năm 2011

Hình 6 Th ph n c a các nhà cung c p DV Internet trên th tr ị ầ ủ ấ ị ườ ng

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông

Ngày đăng: 03/06/2021, 00:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Nguyễn Hồng Sơn (2010), Đề tài cấp Nhà nước: Luận cứ Khoa học cho việc phát triển ngành DV Việt Nam đến năm 2020, Mã số: KX 01.18/06-10, Bộ Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ Khoa học cho việc pháttriển ngành DV Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2010
18. Nguyễn Thị Quy (2005), NLCT của các ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NLCT của các ngân hàng thương mại trong xu thế hộinhập
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2005
19. Nguyễn Thu Hằng (2004), “Xu hướng phát triển của khu vực DV trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xu hướng phát triển của khu vực DV trên thế giới”
Tác giả: Nguyễn Thu Hằng
Năm: 2004
20. Tổng cục Thống kê (2010), Niên giám Thống kê các năm, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê các năm
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thốngkê
Năm: 2010
21. Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (2005), Định hướng phát triển Bưu chính viễn thông Việt Nam đến năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển Bưuchính viễn thông Việt Nam đến năm 2015
Tác giả: Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
Năm: 2005
22. Viện Chiến lược phát triển (2005), Báo cáo phát triển ngành DV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển ngành DV
Tác giả: Viện Chiến lược phát triển
Năm: 2005
1. Đại hội Đảng IX, Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2001 – 2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w