1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

mot so cau hoi kinh te chinh tri

12 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 28,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất cứ hàng hoá nào cũng có một hoặc một số công dụng nhất định và chính công dụng đó làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng; giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần trong quá trình[r]

Trang 1

Câu hỏi 1 Phân tích điều kiện ra đời và ưu thế của sản xuất hàng hoá so với tự cấp, tự túc Liên hệ thực tế trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta, Đảng ta đã

có những chủ trương chính sách gì để phát triển kinh tế?

1) Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá ra đời, tồn tại và phát triển dựa vào hai điều kiện:

a) Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội một cách tự phát thành các ngành, nghề khác nhau của nền sản xuất xã hội Theo sự phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất; mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một vài loại sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau để thoả mãn nhu cầu của mỗi người Phân công lao động xã hội là cơ sở và tiền đề của sản xuất hàng hoá Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng và đa dạng hơn

b) Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất hay tính chất tư nhân của quá trình lao động Chế

độ tư hữu tạo nên sự độc lập về kinh tế giữa những người sản xuất, chia cắt họ thành từng đơn vị riêng lẻ, trong quá trình sản xuất những người sản xuất có quyền quyết định về việc sản xuất loại hàng hoá nào, số lượng bao nhiêu, bằng cách nào và trao đổi với ai Như vậy, chế độ tư hữu làm cho những người sản xuất hàng hoá độc lập với nhau, nhưng phân công lao động lại làm cho họ phụ thuộc vào nhau tạo thành mâu thuẫn Muốn giải quyết mâu thuẫn này phải thông qua trao đổi, mua-bán sản phẩm của nhau

Trên đây là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá Thiếu một trong hai điều kiện ấy thì sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa

2) Ưu thế của sản xuất hàng hoá.Sản xuất hàng hoá có những ưu thế so với sản xuất tự cung, tự cấp

a) Sản xuất hàng hoá khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hoá lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hoá lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng mở rộng, sâu sắc Từ đó, nó phá vì tính tự cấp, tự túc, bảo thủ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá mở rộng giữa các quốc gia, thì nó cũng khai thác được lợi thế giữa các quốc gia với nhau

b) Trong sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất cũng bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi địa phương, mà

Trang 2

được mở rộng trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy sản xuất phát triển

c) Trong sản xuất hàng hoá, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hoá như quy luật giá trị, cung-cầu, cạnh tranh v.v buộc người sản xuất hàng hoá phải luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế; cải thiện hình thức và chủng loại hàng, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng

d) Trong sản xuất hàng hoá, sự phát triển của sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước v.v không chỉ làm cho đời sống vật chất, mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao, phong phú, đa dạng hơn 3) Trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta, Đảng ta đã có những chủ trương chính sách để phát triển kinh tế

- Để phát triển sản xuất: Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần dựa trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu, khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu thủ phát triển ở các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà luật pháp không cấm Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển phân công lao động xã hội, đào tạo nhân lực, tiếp cận khoa học kĩ thuật tiên tiến Phát triển những chương trình cho vay vốn sản suất, học tập Tiến hành xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, đồng thời

mở rộng hợp tác với nhiều nước nhiều khu vực trên thế giới

- Lưu thông: Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ Xây dựng thị trường vốn, phát triển thị trường chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật

- Khắc phục: Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế Tiến hành các chính sách, chương trình xóa đói giảm nghèo như

135, xóa đói giảm nghèo, phổ cập văn hóa Đặc biệt, có biện pháp mạnh vào các vấn đề như môi trường, dân số,…

Câu hỏi 2 Hàng hóa là gì? Phân tích nội dung và mối quan hệ của hai thuộc tính của hàng hóa? Liên hệ với quá trình sản xuất hàng hóa ở nước ta có đặc điểm gì khác với quá trình sản xuất hàng hóa ở các nước TBCN.

1) Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người

và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi hay mua bán

2) Hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng của hàng hóa và giá trị của hàng hóa

Trang 3

a) Giá trị sử dụng của hàng hoá do công dụng và thuộc tính tự nhiên của nó quy định Công dụng đó nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người, có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng sản xuất Bất cứ hàng hoá nào cũng có một hoặc một số công dụng nhất định và chính công dụng đó làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng; giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần trong quá trình phát triển của khoa học, kỹ thuật và lực lượng sản xuất (ngày xưa than đá chỉ được dùng để nấu, sưởi ấm; khi nồi ra đời, than đá được dùng làm chất đốt; về sau nó cũng được dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp hoá chất v.v) Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua-bán Trong nền kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi Trong bất kỳ một xã hội nào, của cải vật chất của xã hội đều là một lượng nhất định những giá trị sử dụng Xã hội càng tiến bộ thì số lượng giá trị sử dụng càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao

b) Giá trị của hàng hoá Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải bắt đầu nghiên cứu giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác Ví dụ, 1m vải có giá trị trao đổi bằng 10 kg thóc Vải và thóc là hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau về chất, nhưng chúng có thể trao đổi với nhau theo tỷ lệ nào đó là do giữa chúng có một cơ sở chung là cả vải và thóc đều

là sản phẩm của lao động, đều có lao động kết tinh trong đó Nhờ có cơ sở chung đó

mà các hàng hoá có thể trao đổi được với nhau Vì vậy, khi người ta trao đổi hàng hoá cho nhau về thực chất là trao đổi lao động của mình ẩn dấu trong những hàng hóa ấy

Do vậy có thể nói, lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá là cơ sở chung cho việc trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hoá

Như vậy, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Cùng giá trị trao đổi mà chúng ta để cập ở trên, chẳng qua chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá Cũng chính vì vậy, giá trị là phạm trù chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá

3) Quá trình sản xuất kinh tế hàng hóa ở các nước xã hội chủ nghĩa như nước ta và quá trình sản xuất kinh tế hàng hóa ở các nước kinh tế tư bản chủ nghĩa là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và mục đích phát triển:

Kinh tế hàng hóa ở nước ta Kinh tế tư bản chủ nghĩa

1 Chế độ sở hữu

Kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủKinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Trang 4

nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế

nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà

nước cùng với kinhtế tập thể ngày càng

trở thành nền tảng vững chắc

nghĩa

Xem quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất là thiêng liêng được xã hội

và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền

sở hữu phải thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định

Thành phần kinh tế tư nhân đóng vai trò năng động, lực đẩy quyết định tính hiệu quả của nền kinh tế tư bản, còn thành phần kinh tế nhà nước chủ yếu để giải quyết các vấn đề xã hội đảm bảo công ăn việc làm cho lực lượng lao động

2 Chế độ quản lý

Có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã

hội chủ nghĩa

Được điều hành bởi cá nhân và các doanh nghiệp tư nhân định hướng đến quyền lợi cá nhân nên kinh doanh trong kinh tế tư bản chủ nghĩa về cơ bản là tự định hướng, tự điều hành, tự phát theo quy luật của thị trường tự do và quy luật cạnh tranh

3 Chế độ phân phối

Kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu

theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

đồng thời phân phối theo mức đóng góp

vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất,

kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội

+ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo

đảmtiến bộ và công bằng xã hội ngay

trongtừng bước phát triển

+ Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát

triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền

văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và

đào tạo con người, xây dựng và phát triển

nguồn nhân lực của đất nước

Nhà nước chủ động giải quyết ngay từ

đầu mối quan hệ giữa tăng trưởng với bảo

đảm an sinh và công bằng xã hội

Các yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

4 Cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa là

việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho

sự vận hành của nó phù hợp với quy luật

kinh tế cơ bản và các quy luật kinh tế

khác của chủ nghĩa xã hội

Cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho

sự vận hành của nó phù hợp với các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, trong đó quy luật sản xuất ra giá trị thặng dư giữ vai trò quyết định, nhằm đem lại lợi

Trang 5

nhuận ngày càng nhiều cho các nhà tư bản, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia

Câu hỏi 3 Phân tích nội dung và tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa? Liên hệ trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta Đảng đã vận dụng những tác động trên như thế nào để phát triển kinh tế hàng hóa?

1) Nội dung của quy luật giá trị

Theo quy luật giá trị thì sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là trong kinh tế hàng hóa mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản xuất mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi thì người sản xuất phỉa điều chỉnh sao cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được

Trong nền sản xuất hàng hóa việc trao đổi hàng hóa cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, có nghĩa là trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá, sự vận động quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá trị hàng hóa vì giá trị là cơ sở cảu giá cả nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị do đó hàng hóa nào có nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại Tuy nhiên, trên thị trường ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó

Sự vận động giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế tác động của quy luật giá trị, thông qua sự vận động giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng

2) Tác động của quy luật giá trị

Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có ba tác động sau:

- Thứ nhất, quy luật giá trị điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa theo một cách tự phát

+ Quy luật giá trị tự động điều tiết sản xuất thể hiện ở chỗ thu hút vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động vào cấc ngành nghề khác nhau theo sự biến đổi cung cầu giá cả nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội

Trang 6

+ Quy luật giá trị điều tiết lưu thông hàng hóa thể hiện ở chỗ thu hút hàng hóa từ nơi

có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, do đó nó làm cho lưu thông hàng hóa trên thị trường thông suốt

- Hai là, quy luật giá tri kích thích cải tiến, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động thức đẩy lực lượng sản xuất phát triển Trong kinh tế hàng hóa mục đích của sản xuất là thu được nhiều lợi nhuận, để đạt được mục đích đó buột các chủ thể sản xuất phải quan tâm đến cải thiện công cụ sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ, đổi mới tổ chức quản lý làm cho năng suất lao động tăng lên, hao phí lao động giảm xuống làm nâng cao hiệu quả kinh tế Nhiều chủ thể làm như vậy thì có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất lao động xã hội phát triển

- Ba là, quy luật giá trị thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo Do cạnh tranh theo quy luật giá trị tất yếu làm dẫn đến kết quả là những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, trình độ kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt nên hao phí lao động cá biệt thấp hơn lao động xã hội cần thiết nhờ đó giàu lên nhanh chóng, ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh dẫn đến làm ăn thua lỗ, phá sản Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có những quy luật thực tiễn hết sức to lớn, một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải mặt yếu kém, kích thích các nhân tố phát triển mặt khác phân hóa xã hội thành kẻ giàu, người nghèo tạo ra sự mất cân bằng xã hội, do đó nhà nước cần có biện pháp phát huy mặt tích cực, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

3) Trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta Đảng đã vận dụng những tác động trên

để phát triển kinh tế hàng hóa

4) Trong quá trình phát triển thì có nhừng vấn đề nảy sinh hay còn gọi là mặt trái của thị trường Đảng ta đã có những chủ trương gì để khắc phục hạn chế đó???

Câu 4: phân tích sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Liên hệ thực tế, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay có sứ mệnh lịch sử gì?

1 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

 Khái niệm giai cấp công nhân:

Xuất phát từ quan niệm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân, nghiên cứu những biến đổi cuẩ giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay có thể định nghĩa giai cấp công nhân là 1 tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ cao, phát triển lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản

Trang 7

xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ sản xuất, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hay về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải lam thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Ở các nước xã hộ chủ nghĩa họ cùng với nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhân dân lao động hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội, trong đó có lợi ích cá nhân chính đáng của họ

 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

- Trong tác phẩm tuyên ngôn của đảng cộng sản Mác – Ăngghen đã khẳng định

sư mệnh của giai cấp công nhân là xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ bóc lột và tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới

- Như vậy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải trải qua 2 bước:

+ Bước thứ nhất: giai cấp công nhân phải chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất chủ yếu thành sở hữu nhà nước

+ Bước thứ 2: giai cấp công nhân phải tiến hành lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động tiến hanhg cải tạo xã hội cũ và tiến tới xây dựng xã hội mới về mọi mặt để tiến tới xây dụng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

- Hai bước này phải có quan hệ chắt chẽ với nhau, giai cấp công nhân không thể thực thiện bước thứ nhất thì không thực hiện được bước thứ 2 Nhưng bước thứ 2 là bước quan trọng nhất để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

- Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp được các tầng lớp nhân dân lao động xung quanh mình để tiến hành đấu tranh cách mạng nhằm xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xã hội mói về mọi mặt từ kinh tế đến chính trị, xã hội, tư tưởng

2 Trong giai đoạn hiện nay giai cấp công nhân ở Việt Nam có sứ mệnh lịch sử là:

- Phát triển kinh tế thị trường: Giai cấp công nhân là đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động, cho cả dân tộc nên giai cấp công nhân giải phóng mình đồng thời giải phóng các giai cấp và tầng lớp khác, thực hiện liên minh giai cấp, các tầng lớp xoá bỏ CNTB, xây dựng thành công CNXH

- Công ngiệp hóa hiện đại hóa đất nước: thông qua chính đảng của mình đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta xây dựng và phát triển đất nước quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản tiến hành CNH – HĐH đất nước

- Đổi mới hệ thống chính trị: giai cấp công nhân Việt Nam cần phải thực hiện và giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, tư tưởng có trình độ học vấn tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng hiệu quả cao, vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình

- Xây dựng nền kinh tế đậm đà bản sắc dân tộc: Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vượt qua khó khăn, thử thách, xây dựng và phát

Trang 8

triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo ra thế và lực mới

- Mở rộng quan hệ quốc tế

Câu 5: phân tích đặc điểm chính trị của giai cấp công nhân? Liên hệ giai cấp công nhân việt nam có những đặc điểm gì khác so với giai cấp công nhân quốc tế?

1 Đặc điểm chính trị của giai cấp công nhân

- Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần tiên phong trong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất

+ Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng vì giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất tỏng lịch sử phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, gắn liền với khoa học hiện đại

+ Giai cấp công nhân là giai cấp có hệ tư tưởng tiên phong thời đại là chủ nghĩa Mác – Lênin mang tính cách mạng, khoa học

+ Giai cấp công nhân không chỉ tiên phong trong lí luận mà còn tiên phong trong hành động, đó là giai cấp luôn đi đầu trong mọi phong trào cách mạng bằng hành động tiên phong của mình tập hợp, lôi cuốn giai cấp khác vào phong trào cách mạng + Trong tuyên ngôn của đản công sản Mác – Ăngghen khẳng định rằng trong tất

cả các giai cấp đối đầu với giai cấp tư sản, chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng

- Thứ 2, giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức, kỉ luật chặt chẽ nhất + Do sản xuất trong nên đại công nghiệp với hệ thống sản xuất mang tính chất dây chuyền và nhịp độ khẩn trương, buộc giai cấp này phải tuân thủ nghiêm ngặt kỉ luật lao động từ đó hình thành giai cấp công nhân có tính tổ chức kỉ luật chặt chẽ + Cùng với cuộc sống đô thị tập trung và làm việc trong môi trường công nghiệp

đã giúp cho giai cấp công nhân hình thành tác phong công nghiệp, tư duy công nghiệp

+ Sống trong xã hội tư bản phải thường xuyên tham gia các cuộc đấu tranh chống lại tư sản đồi hỏi giai cấp công nhân phải có ý thức kỉ luật chặt chẽ Nhất là khi được giác ngộ bằng chủ nghĩa Mác – Lênin và tổ chức ra được chính đảng do chính mình lãnh giai đạo thì ý thức kỉ luật càng được nâng lên

- Thứ 3, giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế

+ Theo chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời giai cấp tư sản là 1 lực lượng quốc tế, là giai cấp có bản chất quốc tế chúng cấu kết với nhau để bóc lột giai cấp công nhân ở cả chính quốc và thuộc địa vì vậy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia phải có sự đoàn kết, găn sbos với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,

có như vậy thì phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân mới thắng lợi

Những đặc điểm nói trên chứng tỏ rằng giai cấp công nhân có đủ phẩm chất và sứ mệnh để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

Trang 9

2 Giai cấp công nhân việt nam có do những điều kiện cụ thể riêng của đất nước nên ngoài những đặc điểm chung của cấp công nhân quốc tế, thì giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như :

- So với giai cấp công nhân ở các nước Châu Âu và các nước đang phát triển thì giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn ( từ cuối thế kỷ XIX ) phát triển chậm, chiếm tỷ lệ thấp trong dân cư và trong lực lượng lao động

- Sinh ra và lớn lên trong một nước thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam phải chịu hai tầng áp bức bóc lột Đều này càng làm cho số phận và lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam gắn liền với lợi ích dân tộc, ý thức giai cấp hoà quỵên với ý thức dân tộc … vì lẽ đó ngay từ đầu giai cấp công nhân đã đại diện cho cả dân tộc, vai trò lãnh đạo của nó được cả dân tộc thừa nhận

- Được sinh ra và lớn lên trong lòng dân tộc có truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, ý thức tự lực tự cường tinh thần kết

- Được ánh sáng của cách mạng tháng mười Nga soi sáng , nên giai cấp công nhân Việt Nam sớm tiếp thu và dễ dàng tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin

- Tuy ra đời muộn, số lượng ít nhưng lại sớm có lãnh tụ sáng suốt, sớm thành lập được chính đảng lãnh đạo với cương lĩnh đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn

- Do nguồn gốc xuất thân nên giai cấp công nhân Việt Nam có mối quan hệ gắn

bó với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Từ đó đã sớm hình thành nên khối liên minh công nông bền vững củng cố khối đại đoàn kết dân tộc

- Mặc dù so với giai cấp công nhân quốc tế thì giai cấp công nhân Việt Nam còn nhiều hạn chế như số lượng ít, tính tổ chức kỷ luật chưa cao, trình độ học vấn tay nghề thấp, còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng phong kiến, tâm lý thãi quen tập quán của người sản xuất nhỏ, nó được ra đời vào thời kỳ phong trào cộng sản và công nhân thế giới đang phát triển nên gắn với ý thức dân tộc với chủ nghĩa quốc tế vô sản phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở Vịêt Nam

Câu 6: phân tích mục tiêu và động lực của xã hội chủ nghĩa? Liên hệ mục tiêu và động lực của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

1 Mục tiêu và động lực của xã hội chủ nghĩa:

 Mục tiêu của xã hội chủ nghĩa:

- Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi sự áp bức bóc lột tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện

- Mục tiêu cao cả đó được cụ thể hóa thành 2 giai đoạn:

+ Trong đó mục tiêu của giai đoạn thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai cấp công nhân phải đoàn kết với người lao động khác thực hiện việc lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị bóc lột, phải giành lấy chính quyền để thiết lập chính quyền chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân

Trang 10

+ Mục tiêu của giai đoạn thứ 2 của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai cấp công nhân phải tập hợp các tầng lớp nhân dân vào công cuộc tổ chức xã hội mới về mọi mặt

để tiến tới thành công

 Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa

- Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng đem lại lợi ích cho giai cấp công nhân và quần chúng lao động, do vậy nó thu hút được sự tham gia đông đảo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng

- Trong cách mạng xã hội giai cấp công nhân vừa là giai cấp lãnh đạo vừa là động lực chủ yếu của con người bởi vì:

+ Giai cấp công nhân là đại biểu cho phương thức xản xuất mới, phương thức sản xuất của xã hội chủ nghĩa

+ Giai cấp công nhân có hệ tư tưởng tiên phong là chủ nghĩa Mác – Lênin, đây là

lí luận mang tính cách mạng khoa học

+ Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, kỉ luật chặt chẽ

+ Giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để nhất, do đó giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo trong cách mạng xã hội chủ nghĩa hay cách mạng cộng sản + Mặt khác giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích cơ bản gắn bó chặt chẽ lâu dài với xã hội chủ nghĩa và cũng là giai cấp đi đầu trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ bóc lột và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản do đó giai cấp công nhân là động lực chủ yếu cảu xã hội chủ nghĩa

2 Mục tiêu, động lực trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta:

 Mục tiêu của đổi mới ở nước ta là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mục tiêu này được Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định là sáng tạo độc đáo trong việc tìm tòi một công thức thể hiện được các mục tiêu của chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam

 Động lực đổi mới ở nước ta:

- Giai cấp công nhân: Bằng hành động và chính sách thực tiễn, giai cấp công nhân thu hút mọi tầng lớp lao động, trước hết là nông dân và trí thức về phía mình, cùng với họ xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là điều kiện để giai cấp công nhân củng

cố vai trò chính trị tiên phong của mình

- Do địa vị kinh tế - xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp

họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hóa được tích tụ trong quá trình lao động, xây dựng ở nông thôn

- Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng nổi bật là lao động trí óc sáng tạo Công nhân và nông dân tạo nên những cơ sở vật chất, điều

Ngày đăng: 02/06/2021, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w