Mỏ Cát gồm nhiều đảo nhỏ nối tiếp nhau theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Bên cạnh đó còn có đá vôi khá nhiều nằm ở phía Tây và Tây Bắc; phân bố thành từng đảo nhỏ rải rác trên mặt biển suố[r]
Trang 1Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
đồ thì tổng quát hoá là một khâu rất quan trọng Đây là một nội dung khái quát đòi hỏi phải có sự tư duy, hình dung và khả năng tóm lược bản đồ Với mỗi một đề tài, một mục đích, một tỉ lệ, ta sẽ có các loại bản đồ khác nhau phù hợp, đảm bảo không có hiện tượng chồng chéo, rối Các đối tượng thể hiện trên bản đồ phải rõ ràng, rành mạch, cụ thể và chi tiết
Xuất phát từ vai trò của bản đồ nói chung và tổng quát hóa nói riêng cùng với
thực tế giảng dạy học tập tại khoa Địa Lý, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tổng quát hoá bản đồ” Tuy không đề cập được hết các khía cạnh của đặc điểm bản đồ do
những điều kiện nhất định về tư liệu cũng như thời gian, song khi đề cập đến quá trình tổng quát hóa, chúng tôi sẽ cố gắng vận dụng những hiểu biết và tư liệu hiện có để làm
rõ thêm về quá trình này trong công tác xây dựng, thành lập và sử dụng bản đồ
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Khái quát về tổng quát hóa bản đồ
1.1 Các khái niệm chung về bản đồ học và bản đồ địa lí
Trong suốt quá trình phát triển, con người đã sớm biết dùng phương pháp bản đồ
để nhận thức về thực tại khách quan Việc xác định khái niệm về bản đồ địa lí cũng như bản đồ học gắn liền với từng thời kì phát triển văn hóa, khoa học kĩ thuật Sau một thời
kì hình thành lâu dài và phát triển qua nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học bản
đồ thì hiện nay khái niệm về bản đồ nói chung và bản đồ địa lí nói riêng đã đi đến những điểm chung thống nhất Một trong những khái niệm được nhiều người ủng hộ là khái niệm của Xalisev Ngoài ra khái niệm do hội đồng bản đồ học thế giới đưa ra cũng
là khái niệm được sử dụng phổ biến
Trước đây bản đồ địa lí chỉ được xem là bức tranh ảnh chụp thu nhỏ Trái đất hoặc một phần Trái đất do đó đã không nêu ra được bản chất của bản đồ địa lí Nhưng
Trang 2Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
theo cách nhìn hiện nay, bản đồ là sự biểu thị bằng kí hiệu về thực tế địa lí phản ánh giữa các yếu tố hoặc các đặc điểm một cách chọn lọc thông qua nỗ lực sáng tạo của tác giả bản đồ và được thiết kế để sử dụng khi các quan hệ không gian là những vấn đề cần được ưu tiên với ba tính chất cơ bản: cơ sở toán học, hệ thống kí hiệu và tổng quát hóa bản đồ
1.2 Tổng quát hóa bản đồ
Tổng quát hóa là sự lựa chọn cái chính, quan trọng và sự tổng quát hóa có chủ định nhằm phản ánh trên bản đồ bộ phận này hay bộ phận khác của hiện thực trong nhiều nét cơ bản điển hình của nó và những đặc trưng phù hợp với mục đích đề tài và tỉ
lệ bản đồ Việc khảo sát độ chính xác và độ chắc chắn của các nghiên cứu trên bản đồ sẽ chưa đầy đủ nếu không xét ảnh hưởng của tổng quát hóa - một đặc điểm không thể tách rời của bất cứ bản đồ nào Tổng quát hóa nhằm mục đích giữ lại các yếu tố chủ quan quan trọng và cần thiết vì trên mặt đất có rất nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội phức tạp, trong khi đó bản đồ là hình thức thu nhỏ thì không thể biểu thị hết Chúng được lựa chọn, giữ lại những yếu tố liên quan đến nội dung vì bản đồ có nhiều loại, mỗi loại có mục đích, yêu cầu riêng nên cũng không cần thiết biểu thị các yếu tố mặt đất lên bản đồ, khái quát để phản ánh các đặc trưng cơ bản điển hình và mối quan hệ phân bố tương đối của các yếu tố nội dung Do thực tế bản đồ có hạn không thể biểu thị nguyên vẹn các hình dạng đặc trưng số lượng và chất lượng của các yếu tố trên mặt đất
Tổng quát hóa là một quá trình đòi hỏi sự tư duy, khái quát và trừu tượng hóa cao
Do đó để đảm bảo cho quá trình này được thực hiện rõ ràng, chính xác thì phải đảm bảo được tính logic, tính chính xác về mặt toán học và phải giữ được sự phù hợp về mặt địa lí
2 Quá trình tổng quát hóa bản đồ
2.1 Tổng quát hóa không gian
Mỗi một đối tượng, hiện tượng địa lí đều tồn tại hữu hình hoặc vô hình Chúng luôn luôn chiếm một khoảng không gian nhất định trên bản đồ Sự biểu thị tổng quát đồng thời với sự biểu thị trừu tượng hóa khoảng không gian của các đối tượng, hiện tượng địa lí là phương pháp trực tiếp tổng quát hóa không gian
2.2 Tổng quát hóa nội dung
Trên thực tế các đối tượng địa lí rất đa dạng và phong phú nên không thể thể hiện hết lên bản đồ Do đó cần phải tổng quát hoá nội dung khi tiến hành tổng quát hoá bản đồ Khi tiến hành tổng quát hoá nội dung ta cần chọn lọc các đối tượng thành lập bản đồ, tổng quát hoá về mặt hình học, các đặc trưng số lượng, chất lượng, thay đổi các đối tượng đứng riêng biệt bằng các kí hiệu tập hợp, tăng cấp đơn vị lãnh thổ thống kê
3 Tổng quát hóa một số loại bản đồ
3.1 Tổng quát bản đồ chuyên đề thực vật
Bản đồ chuyên đề thực vật hay bản đồ thảm thực vật là hình ảnh được thu nhỏ
Trang 3Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
kết hợp phải thể hiện những đặc tính phù hợp với tỷ lệ và mục đích của bản đồ Bản đồ chuyên đề thực vật có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc nhận biết toàn bộ phức hệ của hoàn cảnh tự nhiên, mà đối với mục đích thực tế đa dạng nhất Các bản đồ này cần thiết khi phân vùng, đánh giá tự nhiên và kinh tế lãnh thổ; đánh giá điều kiện tự nhiên các vùng mới, khả năng phân bố đồng cỏ bãi chăn thả; xác định được sự cung cấp của đồng cỏ, xác định khả năng cải tạo cây gỗ, thực vật và những vấn đề khác
Việc sử dụng bản đồ chuyên đề thực vật khi nghiên cứu các thành phần khác của cảnh quan tạo ra mối liên hệ qua lại sâu sắc, tạo mới được mối quan hệ qua lại của tất cả các hiện tượng tự nhiên Khi tiến hành lập bản đồ chuyên đề thực vật phải có sự lựa chọn và tổng quát các đối tượng sẽ được biểu thị
Bản đồ chuyên đề thực vật là một dạng bản đồ chuyên đề Vì vậy khi tiến hành tổng quát hóa ta phải xác định nội dung tổng quát hóa, mức độ tổng quát hóa đối với từng đối tượng Trước hết phải biểu thị mô tả đầy đủ các đối tượng quan trọng nhất chính là lớp phủ thực vật Các thành phần khác của cảnh quan được chia ra ít đầy đủ hơn, tổng quan hơn
3.2 Tổng quát hoá bản đồ hành chính
Bản đồ hành chính là một bản đồ khái quát chung, trên đó thể hiện các đối tượng nội dung như ranh giới hành chính các tỉnh, ranh giới quốc gia, hệ thống thủy văn, hệ thống đường giao thông, các trung tâm kinh tế chính trị chủ đạo, then chốt của cả nước
Khi tổng quát hóa bản đồ hành chính cần tùy thuộc vào mục đích nội dung hay
tỉ lệ bản đồ để biểu thị các đối tượng nội dung sao cho phù hợp Tổng quát hóa bản đồ hành chính quốc gia sẽ khác với tổng quát hóa bản đồ hành chính tỉnh, huyện Mức độ khái quát của tờ bản đồ hành chính quốc gia sẽ cao hơn bản đồ hành chính tỉnh huyện cùng nội dung, mục đích
3.3 Tổng quát hoá bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình là loại bản đồ địa lí chung, là mô hình thu nhỏ của một khu vực
bề mặt Trái Đất thông qua phép chiếu toán học nhất định, bằng hệ thống kí hiệu và tổng quát hoá có chủ định nhằm phản ánh sự phân bố trạng thái và các mối quan hệ tương quan nhất định giữa các yếu tố cơ bản của địa lí tự nhiên và kinh tế xã hội với mức độ đầy đủ, chi tiết và độ chính xác cao, các yếu tố này được biểu thị theo tỉ lệ bản đồ, đồng thời giữ được tính chính xác hình học của kí hiệu và tính tương ứng địa lí của yếu tố nội dung cao
Khi lựa chọn đối tượng đưa lên bản đồ phải nghiên cứu khu vực thành lập, phân loại đối tượng, xác định chỉ tiêu và lập mẫu tổng quát hóa, lựa chọn phải theo trình tự nhất định Trước hết biểu thị các đối tượng quan trọng nhất, những đối tượng mang tính
cá biệt rồi quan trọng bậc hai, lựa chọn tiếp cho đến khi đủ nội dung đưa lên bản đồ Khi tổng quát hóa ta cần phân lớp các đối tượng đó để tổng quát hóa
Trang 4Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
KẾT LUẬN
Bản đồ là mội tư liệu rất cần thiết trong mọi lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng… Với tầm quan trọng ấy, bản đồ học nói chung và bản
đồ địa lý nói riêng đã, đang và sẽ ngày càng phát triển
Khi tiến hành xây dựng và thành lập bản đồ một khâu quan trọng không thể thiếu ở bất cứ một loại bản đồ nào đó là quá trình tổng quát hóa Đây là một quá trình đòi hỏi khả năng tư duy - khái quát, nắm vững kiến thức về các đối tượng hiện tượng thể hiện trên bản đồ Tổng quát hóa được tiến hành theo nhiều hướng, có nhiều dạng khác nhau, do đó trong quá trình thành lập bản đồ cần phải biết lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích, đề tài và tỉ lệ của bản đồ Từ đó sẽ nâng cao được chất lượng của bản
đồ và chứng tỏ khả năng của quá trình tổng quát hóa
Nếu nắm rõ các nguyên tắc tổng quát hóa ta sẽ phản ánh đúng, đủ, chính xác đối tượng hiện tượng Ngược lại nếu không nắm chắc được các nguyên tắc tổng hợp quát hóa sẽ dẫn đến phản ánh sai bản chất, đặc điểm đối tượng, làm cho người đọc bản đồ hiểu không đúng nội dung của bản đồ cần truyền đạt so với thực tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] AM Berliant, Phương pháp nghiên cứu bằng bản đồ, NXB ĐHQG Hà Nội
[2] Lâm Quang Dốc và các tác giả, Bản đồ học đại cương
[3] Lâm Quang Dốc, Bản đồ học
[4] Vusivikin Đ.Đ, Thành lập bản đồ địa thực vật, NXB Khoa học và kĩ thuật
[5] Lê Huỳnh, Bản đồ học
[6] Lê Huỳnh và các tác giả, Bản đồ học chuyên đề
SO SÁNH MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỂ HIỆN NỘI DUNG BẢN ĐỒ
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Tươi, K58TN Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Lê Huỳnh
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bản đồ học có vai trò quan trọng, không chỉ hạn định trong chuyên ngành địa lý Đây là một phân ngành có tính ứng dụng thực tiễn thiết yếu, là công cụ để tìm hiểu và trợ giúp cho nhiều ngành kinh tế, các hoạt động văn hoá, cho đến các hoạt động quân
sự, chính trị…Được xác định là “chìa khoá để thâm nhập nội dung bản đồ”, ngôn ngữ bản đồ là một trong ba yếu tố chính yếu cấu thành nội dung bản đồ Như vậy, rõ ràng ngôn ngữ bản đồ mang ý nghĩa “đối thoại”, dẫn dắt người đọc thâm nhập nội dung một tấm bản đồ Thế nhưng, trong thực tiễn vẫn tồn tại vấn đề nan giải: người sử dụng chưa hiểu biết hết ý nghĩa ngôn ngữ bản đồ; đặc biệt là có sự nhầm lẫn giữa các phương pháp
Trang 5Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Xuất phát từ mục đích giúp mọi người tìm hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ, rõ ràng các phương pháp thể hiện bản đồ nhằm khai thác hiệu quả thông tin từ bản đồ, chúng tôi
chọn đề tài: “So sánh một số phương pháp thể hiện nội dung bản đồ” Trong đó, chủ yếu đi sâu so sánh hai cặp phương pháp: “Phương pháp kí hiệu và phương pháp Catodiagram” và “Phương pháp nền chất lượng và phương pháp vùng phân bố”là hai
phương pháp được sử dụng phổ biến nhưng dễ nhầm lẫn nhất
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Lí luận chung về ngôn ngữ bản đồ
1.1 Khái niệm ngôn ngữ bản đồ
1.1.1 Khái niệm:
“Ngôn ngữ bản đồ là một dạng ngôn ngữ khoa học thoả mãn ba tính chất: dạng (cấu trúc) của đối tượng liên tưởng đến đối tượng cần phản ánh, bản thân mỗi kí hiệu phải chứa đựng một thông tin nào đó về: số lượng, chất lượng, cấu trúc động lực phát triển của đối tượng cần phản ánh lên bản đồ, kí hiệu phải phản ánh được vai trò của đối tượng trong không gian và vị trí tương quan của nó với các yếu tố khác Hệ thống các kí hiệu bản đồ tạo thành ngôn ngữ bản đồ” [42,2]
1.1.2 Chức năng của ngôn ngữ bản đồ
Ngôn ngữ bản đồ có hai chức năng cơ bản: thông tin và sự nhận thức
- Chức năng thông tin: chứa đựng các thuộc tính của đối tượng như: tên gọi, các thuộc tính một số đối số, và các mối tương quan so sánh
- Chức năng về nhận thức: khả năng thông tin hay thông báo của kí hiệu 1.1.3 Ý nghĩa và tính chất cơ bản của ngôn ngữ bản đồ của hệ thống kí hiệu bản đồ
Hệ thống kí hiệu bản đồ được sử dụng phải đảm bảo ba khía cạnh: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng Tức là hệ thống kí hiệu bản đồ phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc thể hiện nội dung bản đồ, các kí hiệu phải đại diện cho một đối tượng
cụ thể, và phù hợp với đối tượng sử dụng bản đồ
Mối kí hiệu bản đồ phải đảm bảo: xác định vị trí của đối tượng trong không gian, chúa đựng thông tin về sự phát triển, cấu trúc…và đặc biệt là gợi lên đối tượng cần phản ánh
1.2 Hệ thống kí hiệu và quy ước bản đồ
Các phương tiện chủ yếu được sử dụng trong ngôn ngữ bản đồ: chữ, các dạng đồ hoạ màu sắc
Khả năng thể hiện nội dung bản đồ của các kí hiệu: để thể hiện các đặc tính cơ bản của hiện tượng các kí hiệu bản đồ thường ở dạng: kí hiệu điểm, kí hiệu tuyến tính,
kí hiệu diện tích
1.3 Các phương pháp thể hiện nội dung bản đồ
Có 11 phương pháp thể hiện nội dung bản đồ chia ra thành ba loại chính:
- Phương pháp thể hiện theo điểm (phương pháp kí hiệu, phương pháp biểu đồ định vị)
Trang 6Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
- Phương pháp thể hiện theo đường (Phương pháp kí hiệu tuyến tính, phương pháp đường đẳng trị, phương pháp đường chuyển động)
- Phương pháp thể hiện theo vùng (Phương pháp chấm điểm, phương pháp nền
số lượng, phương pháp khoanh vùng, phương pháp nền chất lượng)
- Phương pháp sử dụng số liệu thống kê (Phương pháp Cartodiagram, phương pháp Catogram)
Trong thực tế khi xây dựng bản đồ hiếm khi người ta sử dụng một phương pháp
để thể hiện một đối tượng, mà thường kết hợp giữa nhiều phương pháp để thể hiện một hiện tượng, hoặc tổng hợp các hiện tượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
2 So sánh một số phương pháp thể hiện nội dung bản đồ
2.1 So sánh phương pháp kí hiệu và phương pháp Cartodiagram
2.1.1 Đặc điểm giống nhau
Phương pháp kí hiệu và phương pháp Cartodiagram có khá nhiều điểm giống nhau từ hình thức đến khả năng thể hiện Nhưng hình thức thể hiện vẫn là đặc điểm khiến người đọc dễ nhầm lẫn giữa hai phương pháp này Cả hai phương pháp đều sử dụng các kí hiệu hình học, các biểu đồ để thể hiện các đối tượng địa lí và có khả năng thể hiện các đặc điểm về số lượng, chất lượng, cơ cấu, động lực phát triển của các hiện tượng
2.1.2 Đặc điểm khác nhau
Đặc điểm khác nhau nổi bật giữa “Phương pháp kí hiệu” và “Phương pháp Cartodiagram” là đối tượng thể hiện của mỗi phương pháp, bên cạnh đó còn hình thức thể hiện và cách chú giải cũng là một trong những cơ sở để phân biệt hai phương pháp này
Đối tượng thể hiện: Phương pháp kí hiệu thể hiện những đối tượng phân bố theo từng điểm cụ thể hoặc những đối tượng phân bố dày đặc trên một lãnh thổ nhỏ bé mà ta không thể biểu thị diện tích của đối tượng trên lãnh thổ địa lí theo đúng tỉ lệ được Phương pháp Cartodiagram thể hiện sự phân bố của các hiện tượng bằng các biểu đồ, đặt trong đơn vị phân chia lãnh thổ (thường là đơn vị hành chính) Biểu đồ biểu thị độ lớn tổng cộng của hiện tượng trong một đơn vị phân chia lãnh thổ
Hình thức thể hiện: Phương pháp kí hiệu ngoài sử dụng các kí hiệu hình học để thể hiện đối tượng, việc sử dụng phương pháp kí hiệu chữ, kí hiệu tượng hình để thể hiện đối tượng Phương pháp Cartodiagram sử dụng các biểu đồ với các kích thước, hình dáng khác nhau để thể hiện giá trị tổng cộng của các đối tượng
Cách chú giải: Phương pháp kí hiệu: chú giải thường gắn liền với các tên trung
Trang 7Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
2.2 Phương pháp vùng phân bố và phương pháp nền chất lượng
2.2.1 Đặc điểm giống nhau
“Phương pháp vùng phân bố” và “phương pháp nền chất lượng” có hình thức thể hiện tương đối giống nhau vì đều sử dụng các nét trải với độ rộng khác nhau hoặc sử dụng màu sắc khác nhau về tông độ
2.2.2 Đặc điểm khác nhau
Điểm khác nhau cơ bản giữa “Phương pháp vùng phân bố” và “phương pháp nền chất lượng” là đối tượng thể hiện, hình thức, khả năng thể hiện và cách chú giải của mỗi phương pháp
Đối tượng thể hiện: Phương pháp vùng phân bố: dùng để thể hiện những đối tượng phân bố theo vùng nhưng không đều khắp trên lãnh thổ mà chỉ ở từng vùng nhất định Phương pháp nền chất lượng: thể hiện về chất lượng của các hiện tượng phân bố dày đặc trên bề mặt trái đất hay các hiện tượng có sự phân tán theo khối (dân cư) Để phân chia ranh giới các vùng cần dựa vào một chỉ tiêu nào đó hoặc hàng loạt các chỉ tiêu
Hình thức thể hiện: Phương pháp vùng phân bố: ranh giới thể hiện có thể là ranh giới tuyệt đối hoặc ranh giới tương đối Phương pháp nền chất lượng: ranh giới
rõ ràng
Khả năng thể hiện: Phương pháp vùng phân bố: thể hiện sự phân bố của các đối tượng Qua đó cho ta biết chất lượng của hiện tượng.Phương pháp nền chất lượng: thể hiện được chất lượng của hiện tượng
- Cách chú thích: Phương pháp vùng phân bố thường sử dụng nền màu với các gam màu khác nhau, các nét trải với độ rộng của các nét trải khác nhau Phương pháp nền chất lượng: sử dụng số để thể hiện các vùng hoặc nền màu khác nhau về tông độ
KẾT LUẬN
Các phương pháp thể hiện nội dung bản đồ rất đa dạng với phương pháp thể hiện theo điểm (phương pháp kí hiệu, phương pháp biểu đồ định vị), phương pháp thể hiện theo đường (phương pháp kí hiệu đường đẳng trị, phương pháp đường chuyển động…), phương pháp thể hiện theo vùng (phương pháp vùng phân bố, phương pháp nền số lượng, phương pháp nền chất lượng), phương pháp sử dụng số liệu thống kê (phương pháp Cartogram, phương pháp Cartodiagram)
Tuy nhiên một số phương pháp có hình thức thể hiện giống nhau dễ gây nhầm lẫn cho người sử dụng như: “phương pháp nền số lượng” và “phương pháp Cartogram”,
“phương pháp nến số lượng ” và “phương pháp vùng phân bố”, “phương pháp kí hiệu”
và “phương pháp Cartodiagram”…
Trang 8Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Qua việc so sánh hai cặp phương pháp: “phương pháp nền số lượng” và
“phương pháp vùng phân bố”, “phương pháp kí hiệu” và “phương pháp Cartodiagram” người viết đã chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa các phương pháp
Việc phân biệt các phương pháp chủ yếu dựa vào bản chất của mỗi phương pháp, ngoài ra còn dựa vào hình thức thể hiện (ranh giới rõ ràng, không rõ ràng )…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, 2004 Thành lập bản đồ giáo khoa treo tường tỉnh Vĩnh Phúc,
khoá luận tốt nghiệp
[2] Lê Huỳnh, 2001, Bản đồ học chuyên đề, NXB Giáo dục
[3] Lê Huỳnh, 2001 Bản đồ học, NXB Giáo dục
[4] Lê Quốc Khánh, Thành lập bản đồ giáo khoa treo tường kinh tế chung tỉnh Vĩnh Phúc năm 2003, 2004
[5] Ngô Đạt Tam, 1986, Bản đồ học, NXB Giáo dục
Trang 9Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
HIỆN TRẠNG ĐẤT MẶN NAM ĐỊNH, PHƯƠNG HƯỚNG SỬ DỤNG VÀ BIỆN PHÁP CẢI TẠO
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân Anh, K57A Nguyễn Thị Hồng, K57A Giáo viên hướng dẫn: TS Lương Hồng Hược
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nơi con người định cư và tiến hành các hoạt động sản xuất Hiện nay, vấn đề cải tạo các loại đất tự nhiên không thuận lợi cho việc canh tác là một giải pháp cần thiết để mở rộng diện tích đất nông nghiệp Trong đó, đất mặn là loại đất có tiềm năng lớn cho sản xuất nếu như được cải tạo tốt Đất mặn Nam Định có diện tích lớn và hàng năm vẫn được bồi tụ do đó có vai trò rất lớn trong việc mở rộng diện tích đất tự nhiên cho tỉnh Nam Định nói riêng và cho cả nước nói chung
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên trong sự hình thành đất mặn
1.1 Các nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội
Vị trí địa lí: tỉnh Nam Định là một bộ phận phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng giới hạn bởi toạ độ địa lí: 19055’B đến 20016’B và 106000’Đ đến 106033’Đ, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông và Đông Nam giáp vịnh Bắc Bộ
Khu vực nghiên cứu tập trung ở 3 huyện: Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, có đường bờ biển dài trên 72 km
Địa hình thấp, quá trình bồi tụ phù sa ở cửa sông diễn ra rất mạnh nên diện tích đất mặn ven biển tăng nhanh Địa hình chia thành 2 vùng chính là: vùng đồng bằng trũng thấp và vùng đồng bằng ven biển, địa hình nghiêng theo hướng tây bắc xuống đông nam và thấp dần ra biển
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa và chịu ảnh hưởng của biển với một mùa mưa và một mùa khô Mùa mưa quá trình bồi tụ phù sa mạnh, mùa khô nước biển lấn sâu vào nội đồng
Chế độ dòng chảy của các con sông cũng có sự phân mùa rõ rệt, mùa lũ từ tháng
Trang 10Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
1.2 Quá trình hình thành
Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nam Định gắn liền với quá trình thành tạo phù sa vùng trũng đồng bằng sông Hồng Về bản chất quá trình hình thành vùng đất mặn ven biển là sự tương tác giữa đất liền và biển với sự tham gia của các yếu tố tự nhiên - kinh tế xã hội Các con sông mang phù sa từ đất liền ra biển thông qua quá trình xâm thực vận chuyển và tích tụ, còn biển có nơi tiến sâu vào đất liền có nơi lại lùi ra xa
Vì vậy, trên lãnh thổ tỉnh Nam Định đất mặn cũng có sự khác biệt giữa các vùng
2.2 Đặc điểm
- Đất mặn sú vẹt đước: có tầng hữu cơ bán phân huỷ (xác sú vẹt) Đất nhão và lầy thụt, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thuỷ triều, vẫn còn ngập trong nước biển và được bồi tụ hàng năm
- Đất mặn nhiều: được hình thành do quá trình bồi tụ phù sa sông, phổ biến ở trong đê nên không chịu tác động của nước mặn Hàm lượng Cl- trên 0,25%
- Đất mặn trung bình và ít: hình thành do quá trình bồi tụ phù sa sông, phân bố ở trong đê nên không chịu tác động của nước biển Hàm lượng Cl- đạt 0,05% đến 0,25%
Trang 11Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
chuyên trồng lúa nước là 39.557,41 ha chiếm 50,8% Ngoài ra đất mặn còn được sử dụng vào nhiều mục đích khác như nuôi trồng thuỷ hải sản nước lợ, nước mặn, làm muối…
Trên cơ sở phân loại đất người ta tiến hành quy hoạch theo mục đich sử dụng: đất mặn ít được dùng để trồng lúa 2 vụ và nuôi thuỷ sản Đất mặn nhiều dùng trồng lúa
và hoa màu một vụ Đất mặn sú vẹt được dùng phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, phát triển rừng ngập mặn
3.2 Các biện pháp cải tạo
Đất mặn được con người sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, hiện nay vấn đề cải tạo đất mặn rất được chú trọng, các biện pháp được áp dụng như:
+ Biện pháp thuỷ lợi: tiến hành xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước ngọt vào ruộng để rửa mặn, đắp đê ngăn mặn
+ Biện pháp cây trồng: lựa chọn các cây có khả năng thích nghi được với đất mặn
để từng bước cải tạo làm giảm độ mặn của muối trong đất sau đó sẽ đưa vào trồng lúa
+ Biện pháp hoá học: sử dụng vôi bột, thạch cao bón cho đất để thay đổi thành phần hoá học của đất mặn, giảm độ muối trong đất
Ngoài ra, việc tích cực bón phân theo quy trình khoa học cũng có thể cải tạo đất mặn
KẾT LUẬN
Như vậy, đất mặn ở Nam Định là loại đất có tiềm năng lớn trong việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa được khai thác một cách hợp lí gây lãng phí và ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái vùng ven biển Vì vậy, đòi hỏi địa phương cần nhanh chóng có các biện pháp quy hoạch, sử dụng đi đôi với bảo vệ diện tích đất mặn ven biển để trong tương lai đất mặn tỉnh Nam Định sẽ thực sự phát huy hết vai trò của mình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Ngọc Bích 1996 Đất mặn Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội
[2] Vũ Khúc (chủ biên), Đào ĐìnhThục, Lê duy Bách, Tống Duy Thanh, Trần Tất Thắng,
Trần Văn Trị, Trịnh Tránh, Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam
[3] Vũ Tự Lập 1999 Địa lí tự nhiên Việt Nam NXB Giáo dục Hà Nội
[4] Lê Bá Thảo 1977 Thiên nhiên Việt Nam NXB khoa học và kĩ thuật Hà Nội
Trang 12Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
TIỀM NĂNG, THÀNH PHẦN, ĐẶC ĐIỂM, HIỆN TRẠNG,
HƯỚNG KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN CÁ
BIỂN ĐÔNG VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Hường, K58TN Nguyễn Thị Âu, K58TN Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Đặng Duy Lợi
ĐẶT VẤN ĐỀ
Biển Đông là bộ phận quan trọng của lãnh thổ Việt Nam - nơi có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên cá biển Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên phức tạp của biển Đông nên tài nguyên cá biển Việt Nam rất đa dạng Đó là một điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế biển tiềm năng
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sự phân bố, đặc điểm cá biển Việt Nam
1.1 Điều kiện tự nhiên
-Vị trí địa lý:
Biển Đông có vị trí địa lý rất thuận lợi và quan trọng để phát triển nghề cá biển ở Việt Nam: diện tích rộng lớn (3,4 triệu km2), kéo dài từ vĩ độ 30- 260B và trải dài từ kinh độ 1000- 1210Đ, độ sâu trung bình 1140m, giáp với nhiều nước, nhiều cung đảo, quần đảo
- Địa hình đáy biển Đông:
+ Thềm lục địa: cấu tạo địa hình và điều kiện môi trường rất thuận lợi cho sự phát triển phong phú của cá biển
+ Sườn lục địa: cấu tạo địa hình và điều kiện môi trường ít thuận lợi cho sự phát triển của cá biển
+ Đáy đại dương: cấu tạo địa hình và điều kiện môi trường ít thuận lợi, số lượng
cá ở đây rất nghèo nàn
- Khí hậu:
+ Nhiệt độ: đặc điểm khí hậu nước ta làm cho cá biển Đông mang tính nhiệt đới
về cơ bản, có sai biệt khác về thành phần loài giữa 2 miền Bắc - Nam
+ Lượng mưa: tương đối lớn làm giảm đi đáng kể độ mặn của nước biển tạo nên môi trường sống gần như nước lợ ven biển rất có ý nghĩa với ngành nuôi trồng thuỷ sản
+ Thuỷ văn: có quan hệ chặt chẽ với biển tạo mối cân bằng về nước, nhiệt độ, ion góp phần làm nên sự phong phú và đa dạng của cá biển Đông Việt Nam
- Các đặc trưng hải văn:
0
Trang 13Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
+ Hải lưu: mùa đông và mùa hè có sự khác nhau tạo môi trường sống đa dạng lôi cuốn nhiều đàn cá có giá trị vào biển Đông
1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội:
Sự phát triển dân số: đe doạ tới nguồn tài nguyên cá biển nếu không có hướng khai thác hợp lí
Các hoạt động kinh tế: du lịch, khai thác dầu mỏ, sự cố tràn dầu có chiều hướng tác động xấu tới môi trường sống và số lượng cá biển
2 Hiện trạng khai thác cá biển Đông Việt Nam
2.1 Tiềm năng:
Hiện nay biển Đông nước ta có khoảng 2038 loài cá, trong đó cá nổi chiếm 14%, cá tầng đáy chiếm 45%, cá đáy chiếm 24%, cá rạn san hô chiếm 17% Có khoảng
110 loài có giá trị kinh tế cao, 40 - 50 loài có trữ lượng đánh bắt lớn
Trữ lượng: khoảng 2.769.041 tấn, khả năng khai thác 1.108.717 tấn, trong đó cá nổi chiếm tỉ lệ lớn (1.730.000 tấn, khả năng khai thác 692.000 tấn)
Nhiều ngư trường lớn, đường bờ biển dài có nhiều vũng vịnh đầm phá, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng cá biển
2.2 Thành phần và đặc điểm:
- Thành phần: phong phú và đa dạng, chia làm 4 nhóm chính (cá nổi, cá tầng đáy, cá đáy, cá rạn)
+ Cá nổi nhỏ: sống ở tầng nước mặt, không di cư xa như loài cá lớn, thường phân
bố ở ven bờ trong cả 3 vùng biển Bắc, Trung, Nam của Việt Nam
Một số loài cá nổi tiêu biểu: cá hè chấm đỏ, cá nục thuôn, cá nục sò, cá chỉ vàng,
cá trích xương, cá trích vây xanh, cá cơm săng, cá cơm thường
+ Cá nổi lớn: sống chủ yếu ở tầng nước mặt, có hiện tượng di cư xa, là đối tượng khai thác chính của nghề cá ở Việt Nam, có giá trị xuất khẩu cao
Một số loài cá nổi lớn: cá ngừ, cá Ấn Độ (cá cờ gòn), cá nục heo cờ, cá thu chấm,
cá thu ngàng
+ Cá rạn: sống ở tầng đáy gắn với các vùng biển đáy rạn đá và san hô, đây là nhóm cá đặc biệt và quý hiếm Một số loài được nghiên cứu và phát triển nuôi ở Việt Nam (vịnh Bắc Bộ), đang mở ra nhiều triển vọng
Một số loài cá rạn tiêu biểu: cá song chấm đỏ, cá song mỡ, cá song sáu sọc ngang, cá mú chấm, cá chẽm, cá hồng đỏ
+ Cá đáy: sống ở đáy và gần đáy vùng biển Ở nước ta cá đáy có giá trị kinh tế khá cao Cá đáy có chu kì sống tương đối ngắn (3- 4 năm)
Một số loài cá đáy tiêu biểu: cá bơn cát, cá hố, cá miễn sành 2 gai, cá chim đen,
cá chim trắng, cá đù bạc, cá đục bạc, cá sạo, cá đuối mõm nhọn
Trang 14Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
- Đặc điểm:
Cá biển Đông Việt Nam mang nhiều nét của khu hệ nhiệt đới giàu có vào bậc nhất thế giới Nguồn tài nguyên cá biển Đông nước ta được tạo nên bởi một phức hợp các nhóm loài có nguồn gốc vốn có của vùng biển Tây Bắc Thái Bình Dương: thành phần
đa dạng, tập trung ở tầng mặt và gần đáy, có 2 nhóm chính: cá thuộc thềm lục địa và cá thuộc đại dương, có sự di cư theo mùa và theo hướng thẳng đứng
Số lượng tàu đánh cá và số lao động nghề cá tăng
Tuy nhiên ngành đánh bắt vẫn còn một số khó khăn: chất lượng đánh bắt chưa cao, phương tiện đánh bắt còn thô sơ lạc hậu; đánh bắt không có kế hoạch còn xảy ra phổ biến , trình độ học vấn của ngư dân còn thấp
+ Nuôi trồng: Sản lượng tăng nhanh qua các năm Năm 2002, sản lượng nuôi trồng đạt 486,4 nghìn tấn, chiếm 57% sản lượng thuỷ sản nuôi trồng
Nhiều tỉnh có chính sách đầu tư nuôi trồng cá biển rất hiệu quả như một số tỉnh
ở Đồng bằng sông Cửu Long
- Ý nghĩa kinh tế:
+ Giá trị dinh dưỡng cao góp phần nâng cao khẩu phần ăn của người dân
+ Giá trị xuất khẩu: chiếm từ 15 - 20% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của nước ta + Các mặt hàng xuất khẩu rất đa dạng: ướp đá đông lạnh nguyên con, phi lê,
3 Hướng khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên cá biển Việt Nam
3.1 Hướng khai thác:
Cá biển Đông nước ta phong phú về thành phần loài, số lượng cá thể không lớn
do đó nên phát triển ngành cá đa nghề sử dụng dụng cụ thích hợp, quy mô từ nhỏ tới lớn
Duy trì ổn định sản lượng cá hiện nay thông qua việc cơ cấu lại nghề cá khai
Trang 15Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Phát triển theo chiều sâu: đầu tư công nghệ chế biến, tinh chế nhằm nâng cao giá trị sản phẩm Đi cùng với đó là đầu tư trang thiết bị hiện đại cho các tàu đánh bắt, áp dụng nhiều thành tựu khoa học - kĩ thuật
Nông nghiệp hoá biển: đánh bắt đi đôi với nuôi trồng, đó là con đường đúng đắn nhất của ngành thuỷ sản hiện nay
KẾT LUẬN
Cá biển Đông là một tài nguyên tiềm năng và giá trị Tuy nhiên, hiện trạng khai thác nguồn lợi này chưa thực sự hiệu quả, vấn đề sử dụng và bảo vệ còn nhiều tồn tại Trong tương lai muốn phát triển bền vững, nguồn tài nguyên cá biển cần được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư hơn nữa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Âu, 1999 Địa lí tự nhiên biển Đông Việt Nam NXB Đại học QG Hà
Nội
[2] Nguyễn Chín, 1999 Tiềm năng biển cả NXB Đại Học QG Hà Nội
[3] Phùng Ngọc Đĩnh, 1999 Tài nguyên biển Đông Việt Nam NXB Giáo Dục
[4] Vũ Phi Hoàng, 1990 Biển Việt Nam NXB Giáo Dục
[5] Vũ Tự Lập, 1999 Địa Lí tự nhiên Việt Nam NXB Giáo Dục
Trang 16Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
MỎ CÁT VÂN HẢI (VÂN ĐỒN - QUẢNG NINH): QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
VẤN ĐỀ KHAI THÁC VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Bân, K57C
Giáo viên hướng dẫn: ThS Bùi Thị Thanh Dung
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quảng Ninh là một miền vàng đen và cũng là miền cát trắng Vân Đồn là một quần đảo dài vòng quanh phía Đông Bắc của vịnh Bái Tử Long Nơi đây có một loại khoáng sản phi kim rất quý đó là cát thuỷ tinh
Mỏ cát được phát hiện năm 1931 Từ ngày hoà bình lập lại đã được tiến hành thăm dò và đạt kết quả tốt vào những năm 1960 Cả một vùng quần đảo Vân Hải (Vân Đồn) là khu cát trắng, rải thành bãi, cồn sáng lấp lánh, có nơi cát dồn lên thành núi, phân bố với trữ lượng lớn trên các đảo Quan Lan, Minh Châu, Ngọc Vừng, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung Điều đó đã mở ra triển vọng lớn về khai thác nguyên liệu quý phục vụ phát triển ngành công nghiệp thuỷ tinh và pha lê của nước ta
NỘI DUNGVÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Quá trình hình thành mỏ cát Vân Hải (Vân Đồn - Quảng Ninh)
1.1 Địa chất
Mỏ Cát gồm nhiều đảo nhỏ nối tiếp nhau theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Đá vùng này chủ yếu là trầm tích, nhóm nham thạch tìm thấy có diệp thạch, sa thạch có kiến trúc quăczit dạng vò sa thạch, dạng tảng hòn Bên cạnh đó còn có đá vôi khá nhiều nằm ở phía Tây và Tây Bắc; phân bố thành từng đảo nhỏ rải rác trên mặt biển suốt từ
Kế Bào đến Hạ Long, nối liền vùng đảo với vùng Đông Bắc, trong khu vực này gồm các tầng đá tuổi từ Đê Vôn, Pecmi tới Đệ Tứ Nhưng cát trắng nằm gọn trong tầng bồi tích kỷ Đệ Tứ Những dãy cồn cát được hình thành do nguyên nhân chính là bồi tích
Căn cứ vào đặc điểm nham thạch, địa tầng kỷ Đệ Tứ vùng mỏ cát Vân Hải chia thành 6 tầng lần lượt từ dưới lên trên:
a) Tầng tàn tích phong hoá: độ dày 0,5 - 2m, là tầng cát cuối cùng của vùng mỏ tiếp giáp với đá nền Nham thạch chủ yếu là tầng đá vụn, kaolin hoá rất ít Quăczit dạng
sa thạch phong hoá dễ vỡ, nhưng phần lớn còn nằm nguyên theo nền đá gốc
b) Tầng cuội sỏi, đất sét: độ dày 0,5 - 4m, thành phần gồm cuội, sỏi, đất sét lẫn cát trắng đục và gỗ mục Đất sét độ dẻo rất kém, phần nhiều lẫn với nước tạo ra bùn
c) Tầng than đen: độ dày từ 0,5 - 7m Phân bố ở phía Tây vùng mỏ và những nơi khai thác cũ thuộc vùng Minh Châu, Khe Luồn, Ngọc Vừng
d) Tầng cát trắng sữa: độ dày 0,5 - 4,5m Phân bố liên tục hạt cát trắng sữa, trắng đục Đây là tầng cát thứ nhất của vùng mỏ
Trang 17Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
g) Tầng cát trắng: độ dày 1 - 7m, có nơi 8 - 9m Đây là tầng cát trắng thứ hai và cũng là tầng cát có giá trị công nghiệp Cát có màu trắng hoàn toàn, phân bố rộng rãi và xuất lộ ngay trên mặt đất Độ dày của tầng cát thay đổi từ Tây sang Đông Các đồi cát cao dần và triệt tiêu ở phía Tây
1.2 Địa mạo mỏ cát Vân Hải
Địa mạo vùng mỏ là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố như cấu tạo địa chất, khí hậu cùng nhiều nhân tố ngoại lực khác Nhưng nước và sóng biển chiếm vị trí quan trọng Địa hình của khu vực có thể chia làm ba loại: địa hình xâm thực, địa hình lũ tích
và bồi tích, địa hình karst
Địa hình bồi tích ở Vân Đồn có đặc điểm là vùng cát trắng, cát vàng nhạt thuộc phạm vi thăm dò của vùng mỏ Địa hình bồi tích này do sóng biển tạo nên làm thành cồn cát thấp nhỏ Địa hình kéo dài thành vòng cung đảo theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Địa hình bồi tích cát trắng và cát vàng là dạng địa hình nhỏ có cấu tạo xâm thực,
có nơi thấp dưới mực nước biển 1 - 3m
1.3 Cấu tạo của mỏ cát Vân Hải
Căn cứ vào đặc điểm phân bố và cấu tạo nham thạch thì dải đất Vân Hải thuộc
hệ thống vòng cung Đông Bắc Được hình thành nằm sâu dưới đáy từ kỷ Đêvôn, qua chuyển động tạo núi Hecxini được nâng lên một bước Các giai đoạn tạo sơn và vận động nâng cao về sau tiếp tục đưa khu vực này lên khỏi mực nước biển Tầng Đêvôn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, nhiều nơi bị cắt đứt tạo nên nhiều uốn nếp quan trọng Quăczít dạng sa thạch xuất hiện ở khu vực này và làm cơ sở vật chất tạo nên mỏ cát Vân Hải
1.4 Đặc trưng khoáng sản
Vật chất cung cấp tạo thành mỏ cát Vân Hải chủ yếu là quăczit dạng sa thạch phong hoá được sóng biển mang vào bồi tích Vùng mỏ là hệ thống cồn cát kéo dài, dạng hình vòng cung lượn sóng cao dần từ đông sang tây với các tầng chính như sau:
a) Tầng cát trắng sữa: dày 0.45 - 4.5m phân bố rộng khắp nằm sâu dưới mực nước biển Hàm lượng SiO2 98,54%-99%, Fe2O3 từ 0,025-0,25%
b) Tầng cát trắng: phân bố từ Minh Châu đến Quan Lạn, Vĩnh Thực
c) Tầng cát vàng: được hình thành trong thời gian gần đây Hàm lượng SiO2 và chiều dày tầng không ổn định Hầu hết hàm lượng SiO2 đạt yêu cầu công nghiệp, nhưng
Fe2O3 từ 0,2 đến 0.5 % Chất lượng kém hơn cát trắng
Quy luật tập trung cát trắng: kết quả thăm dò cho thấy cát trắng tập trung nhiều
từ Đầu Giộc tới xã Minh Châu Hàm lượng SiO2 cao 98,76% và hàm lượng Fe2O3 từ
0,03 đến 0,2%
1.5 Đánh giá nhân tố hình thành mỏ cát Vân Hải
Động lực của quá trình địa mạo chính diễn ra ở khu vực bờ là sóng biển và các kiểu chuyển động của nước biển do sóng sinh ra Mỏ cát Vân Hải hình thành do nguyên nhân sóng và sóng bờ là chính
Trang 18Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Do quá trình mài mòn một lượng vật liệu vụn nào đó được đưa vào bờ rồi biến đổi di chuyển bởi sóng và sóng vỗ bờ Bên cạnh đó các vật liệu rắn cũng có thể được hình thành trực tiếp dưới đáy biển Rất nhiều sinh vật biển có vỏ xương vôi, đổi khí bằng Silic Khi sinh vật này mất đi, những phần không hoà tan của chúng được sóng và sóng vỗ bờ di chuyển và gia công Ngoài ra nhiều hạt khoáng được thành tạo bởi quá trình hoá học diễn ra trong nước biển Chính những hạt vật liệu có nguồn gốc khác nhau này tạo nên những dạng đặc biệt của trầm tích gọi là bồi tích ven bờ Khoáng vật phổ biến nhất là thạch anh, chiếm tới 98 - 99 % Đây cũng là vật liệu chính cấu tạo nên mỏ cát Vân Hải
Ban đầu những vật liệu vụn được sóng vỗ bờ di chuyển vào bờ với một góc, đến tại nơi có độ sâu bằng 1/2 chiều cao sóng, sóng bắt đầu biến dạng và đồng thời gây tác dụng lên các trầm tích nằm trên sườn bờ ngầm Dưới tác dụng của sóng, hạt bồi tích phải di chuyển vào bờ với “tốc độ thuận” lại vừa phải di chuyển ra ngoài khơi với “tốc
độ nghịch” Khi sóng yếu đi tốc độ thuận của hạt bồi tích còn chưa trội hơn tốc độ nghịch bao nhiêu, trong khi đó tốc độ nghịch còn được cộng thêm tác động của trọng lực theo chiều dốc của sườn bờ ngầm nên bị xê dịch chút ít ra ngoài khơi Càng vào bờ tương quan này càng thuận lợi cho tốc độ thuận và đến một điểm nào đó hoàn toàn cân bằng với tốc độ nghịch và trọng lực Khi đó hạt bồi tích chỉ thực hiện dao động lên xuống tại chỗ, không di chuyển vào bờ mà cũng không di chuyển ra xa bờ Điểm đó được gọi là điểm tập trung Đường nối tất cả các điểm tập trung trên sườn bờ ngầm gọi
là đường bờ ngầm Đường tập trung vật liệu được quá trình vận động nâng lên khỏi ảnh hưởng của biển do nội lực trong lòng đất gây ra, tạo thành những dải cồn cát song song với biển Mỏ cát Vân Hải có thể được hình thành do hiện tượng này Sau đó quá trình gió ở biển diễn ra trong mối liên hệ với quá trình sóng là điều kiện thuận lợi nhất tạo nên những đụn cát
2 Vấn đề khai thác mỏ cát Vân Hải và ảnh hưởng tới môi trường xung quanh
Hoạt động khai thác của con người làm cho những cồn cát nhấp nhô vốn là những tấm bình phong án ngữ che chắn sóng gió cho vùng bờ đã trở thành những bề mặt san phẳng Thảm thực vật bị phá huỷ làm mất cảnh quan tự nhiên Bên cạnh đó công tác khai thác vận chuyển cát làm ô nhiễm môi trường Nguồn nước thải từ nhà máy sàng lọc cát không qua xử lí thải trực tiếp ra biển và khu vực xung quanh Lớp phủ thực vật bị chặt phá bừa bãi, làm hiện tượng khô hạn của vùng cát tăng lên Trước kia khu vực vùng mỏ có nhiều loài động vật cư trú như kỳ đà, rắn, cò, beo, cáo, v.v… nhưng khi tiến hành quá trình khai thác cát làm mất môi trường sống của sinh vật
Nhiều cồn cát sát mép biển bị khai thác làm cho bức chắn thuỷ triều phá vỡ khi
Trang 19Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
bão gây ra càng lớn Ở phía đông mỏ cát Vân Hải, bãi biển được đánh giá có tiềm năng
du lịch rất lớn Nhưng quá trình khai thác cát làm cho bãi biển này bị biến đổi mạnh mẽ theo chiều hướng tiêu cực
Vì thế trong công tác khai khoáng cần có biện pháp hợp lí, cải tạo lại môi trường Việc cần thiết và hữu hiệu nhất là trồng rừng phủ lên trên nền cát nhưng công việc này gặp nhiều khó khăn do thiếu nước, hơn nữa chịu ảnh hưởng mạnh của gió biển làm cát di chuyển nên rễ cây khó phát triển Tuy nhiên khu vực này nằm ở phía đón gió biển, nên có lượng mưa rất lớn với lượng mưa trung bình 2500-3000mm/năm, tạo nguồn nước dồi dào cho quá trình phát triển của thực vật Hiện nay chính quyền địa phương và công ty cát Vân Hải đã tiến hành trồng cây phi lao phủ xanh những nơi đã khai thác, và đã cho kết quả tốt
KẾT LUẬN
Cát thủy tinh là nguồn tài nguyên quý giá không chỉ đối với huyện đảo Vân Đồn (Quảng Ninh) mà còn với sự phát triển kinh tế nước ta Đặc biệt đây là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thủy tinh Tuy nhiên để khai thác bền vững và lâu dài cần đi đôi với công tác bảo vệ và cải tạo môi trường địa phương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Văn Chinh, 2000 Bước đầu tìm hiểu tiềm năng, thực trạng, định hướng phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh Khóa luận tốt nghiệp
[2] Phùng Ngọc Đĩnh, 1998 Tài nguyên khoáng sản Việt Nam NXB Đại học Sư phạm,
Trang 20Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
TÌM HIỂU CHẾ ĐỘ LŨ LỤT TRÊN SÔNG CẢ VẬN DỤNG ĐỀ XUẤT XÁC ĐỊNH CƠ CẤU MÙA VỤ, CÁC GIỐNG CÂY LÚA, NGÔ, LẠC TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Giang, K57A Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Hồng Mai
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam, hàng năm phải chịu nhiều thiên tai Trong các thiên tai đó có hiện tượng lũ lụt lớn trên sông Cả là loại thiên tai phổ biến gây thiệt hại nghiêm trọng phá hoại mùa màng và đời sống sinh hoạt của nhân dân Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về nguyên nhân, quy luật diễn biến lũ lụt trên sông Cả Nghệ An để tìm ra giải pháp giảm tránh tối đa những thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp do lũ gây ra đang là vấn đề cấp bách Đề tài này nhằm tìm hiểu rõ chế
độ lũ lụt trên sông Cả từ đó đề xuất xác định cơ cấu mùa vụ các giống cây lúa, ngô, khoai
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Khái quát về hiện tượng lũ lụt
Lũ là hiện tượng nước dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định sau đó giảm dần Trong mùa mưa lũ những trận mưa từng đợt liên tiếp trên lưu vực sông, làm cho nước sông từng đợt nối tiếp nhau tạo ra những trận lũ trong sông suối
Lụt là hiện tượng mực nước dâng cao tràn qua bờ (đê) sông và những vùng đất trũng gây ngập lụt trên diện rộng
Mức độ lũ lớn hay nhỏ được đánh giá qua các chỉ tiêu về đỉnh lũ, cường suất lũ,
và thời gian lũ kéo dài Nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng lũ lụt là do mưa liên tục trong nhiều ngày với cường độ mưa lớn và do hiện tượng tuyết tan băng tan Trong đó nguyên nhân chính gây ra mưa lớn là do áp thấp nhiệt đới, bão và sự kết hợp hình thế thời tiết khác nhau
Trang 21Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
liệt tạo nên dòng chảy cát bùn lớn Thêm vào đó cấu tạo thổ nhưỡng chủ yếu là cát pha, sét pha, sỏi, có độ rỗng lớn, cường độ thấm nước cao trong điều kiện độ che phủ thảm thực vật giảm mạnh nên dễ bị xói mòn và sụt lở khi mưa lớn Vì vậy trong mùa lũ khi cường độ mưa lớn liên tục xảy ra làm cho lượng bùn đáy sông tăng cao dẫn đến mực nước sông dâng nhanh nên ngập lụt tràn bờ
Hệ thống sông Cả có mật độ sông suối tương đối cao trung bình từ 0,6 - 0,7 km/km2., mạng lưới sông có dạng hình lông chim nên khả năng tập trung lũ trên dòng chính sông Cả đã có sự phân tán Tuy nhiên mức độ lũ vẫn diễn ra rất mạnh và gây thiệt hại nghiêm trọng về cả người lẫn của cải trên lưu vực
Về đặc điểm khí hậu Nghệ An do chịu tác động của gió mùa Đông Bắc thổi từ miền Bắc xuống nên khí hậu được phân ra thành 2 mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh cao là 20-240C độ ẩm lớn (80-85%), lượng mưa bình quân năm từ 1000-2000mm Thêm vào đó do tác dụng bức chắn địa hình đồi núi ở phía tây làm cho tất cả các dòng chảy đều đổ dồn vào dòng chính sông Cả và ảnh hưởng của biển ở phía Đông gây mưa lớn, lại chịu thủy triều tác động vào nên khả năng thoát nước kém Vì thế nước trong lưu vực dâng cao gây lũ lớn dễ dàng
Trong các nhân tố khí hậu thì mưa là nhân tố quan trọng nhất gây ra hiện tượng
lũ lụt hàng năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng V đến tháng X tuy nhiên lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng VIII đến tháng X chiếm 46-62 % tổng lượng mưa trong năm, trong đó mưa lớn nhất vào tháng IX chiếm 20 % tổng lượng mưa trong năm Vì vậy ở Nghệ An hầu như lũ thường xuyên xảy ra trong mùa mưa và các trận lũ lớn mang tính nguy hiểm ác liệt tập trung vào tháng IX tháng X Còn trong mùa khô tuy lượng mưa ít hơn nhưng cuối tháng V đầu tháng VI diễn ra các trận mưa tiểu mãn lớn nên vẫn gây ra các trận lũ quét trong thời gian ngắn nhưng để lại hậu quả khó lường
Ngoài những nhân tố về điều kiện tự nhiên, khí tượng thuỷ văn thì tác động của biển ở vùng cửa sông và những hoạt động của con người trên lưu vực đã làm cho thiên tai
lũ lụt xảy ra ngày càng phức tạp và cường độ tăng mạnh gây ngập úng trên diện tích rộng
3 Đặc điểm lũ trên sông Cả
Do các yếu về địa hình và khí hậu mà trên toàn lưu vực sông Cả có xu hướng lũ xuất hiện muộn và ngắn dần từ Bắc xuống Nam trong mùa mưa Còn trong mùa khô thì
có các trận lũ tiểu mãn diễn ra trong thời gian ngắn nhưng mang tính chất ác liệt Điều
đó cho thấy quanh năm trên lưu vực sông Cả đều có khả năng diễn ra các trận lũ lớn Trong mùa lũ lượng nước tập trung lớn nhất chiếm 62,5-75,1% lượng dòng chảy trong năm Trong đó tháng có lượng dòng chảy tháng lớn nhất chiếm khoảng 20-24% lượng dòng chảy năm
Trung bình hàng năm trên lưu vực hệ thống sông Cả thường xảy ra từ 2-3 trận
lũ Diễn biến lũ không đồng bộ, không ác liệt và phức tạp như các sông khác ở khu vực
Trang 22Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Bắc Trung Bộ Bởi vì sông Cả có hình dạng sông kéo dài, các phụ lưu phân bố theo nhiều hướng khác nhau, thời gian lũ diễn ra trên các chi lưu phụ lưu không đồng thời vì vậy nước trên dòng chính sông Cả có sự phân tán
Trong các trận lũ lớn diễn ra trên sông Cả thì có trận lũ lịch sử tháng IX/1978 và trận lũ đặc biệt lớn X/1988 là hai trận lũ lớn nhất, điển hình nhất trên lưu vực sông Cả Mức độ lũ vượt trên báo động III Với đỉnh lũ trong trận lũ lịch sử IX/1978 đo được tại trạm Nam Đàn là 9,64 m, cường độ mực nước sông dâng nhanh từ 1-2,5m Còn trận lũ đặc biệt lớn X/1988 đỉnh lũ đo được tại Nam Đàn là 9,41 m và tại Dừa là 24,98 m Nước lũ dâng cao gây ngập úng trên diện rộng trong thời gian dài đã phá hoại mùa màng gần như mất trắng gây thiệt hại lớn, để lại hậu quả nặng nề cho người dân ngay cả khi lũ đã kết thúc
Nguyên nhân chính gây ra lũ lụt trên sông Cả đó là do ảnh hưởng của các cơn bão,
áp thấp nhiệt đới từ biển Đông trực tiếp đổ bộ vào Nghệ An Hàng năm tỉnh vẫn phải chịu 1-3 cơn bão, các cơn bão đổ bộ vào Nghệ An thường bão lớn, dồn dập, tần suất bão có gió cấp 11 trở lên chiếm 56% Khi những cơn bão đổ bộ vào đất liền kết hợp với khối không khí lạnh và các hình thể thời tiết khác đã gây mưa lớn, cường độ mạnh kéo dài liên tục trong nhiều ngày dẫn đến hiện tượng lũ lụt
4 Đề xuất phân chia cơ cấu sản xuất mùa vụ và cơ cấu cây lúa, ngô, lạc thích hợp trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Nghệ An
Dựa vào đặc điểm và diễn biến của lũ trên sông Cả đưa ra đề xuất xác định thời gian thích hợp để sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương tỉnh Nghệ An
Bảng phân chia cơ cấu thời vụ sản xuất nông nghiệp thích hợp ở một số địa phương
Tháng không thích hợp
Mường Xén đến
Con Cuông
V,VI,VII (vụ hè thu)
IX,X,XI (vụ mùa )
VIII Quế Phong đến
Con Cuông
VI,VII,VIII (vụ hè thu)
V,XI (vụ mùa )
IX Con Cuông đến
Vinh
I,VII,VIII (vụ hè thu)
V ,XI (vụ mùa)
IX,X
Về cơ cấu cây trồng:
Để giảm tránh thiệt hại trong trồng trọt thì các địa phương trong tỉnh cần phải trồng các giống cây có đặc điểm sinh thái thích nghi với điều kiện tự nhiên của tỉnh Đặc biệt thời gian thu hoạch phải xong trước thời gian lũ diễn ra vì vậy dựa trên kết quả nghiên cứu của sở nông nghiệp tỉnh Nghệ An tôi xin đề xuất cơ cấu một số loại giống
Trang 23Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Cây lúa: Trong vụ hè thu sử dụng các giống lúa khang dân 18, CR203, IR 352, CN2,
NN1 Trong đó có thể dùng khang dân 18 làm giống gieo trồng chủ lực trên diện rộng, nhưng tốt nhất là sử dụng giống NN1 để gieo đại trà vì giống này cho năng suất cao mà thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng gạo ngon Còn trong vụ mùa gieo trồng các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu hạn tốt và các điều kiện khác như Bào Thai Lùn, Mộc Tuyền CR203, Khang Dân 18 …
Giống ngô: Có các loại giống ngô lai cho năng suất cao như : Biozeed 9681, ĐK 999,
LVN 4, LVN 17, lai số 3, lai số 6…Trong đó giống tốt nhất phù hợp với các điều kiện sinh thái và khí hậu địa phương lại cho năng suât cao, bán được giá trên thị trường là: Biozeed 9681, ĐK 999
Giống lạc: Các địa phương trong tỉnh có thể trồng các loại lạc Sen đã được chọn lọc và
phục tráng như LO2, LVT, lạc Sen 75/23, V79
Ngoài ra trong vùng phụ thuộc vào từng điều kiện địa phương cụ thể có thể trồng các loại cây khác như khoai lang, khoai tây, đậu tương, vừng…
KẾT LUẬN
Hàng năm trên lưu vực sông Cả vẫn thường xuyên diễn ra các trận lũ lớn Nguyên nhân chính gây ra lũ lụt là do tác động tổ hợp của bão, áp thấp nhiệt đới và các hình thế thời tiết khác Thời gian lũ diễn ra khác nhau trên các khu vực được quyết định bởi sự phân bố lượng mưa và có xu hướng muộn dần từ Bắc đến Nam Tuy cấu tạo mạng lưới sông đã làm dòng chảy phân tán nhưng các trận lũ diễn ra vẫn lớn và mạnh mẽ gây ra
những hậu quả lớn cho nhân dân
Lũ diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp mức độ lũ dâng nhanh kéo dài trong nhiều ngày đã gây nhiều thiệt hại trầm trọng trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy những đề xuất giải pháp đưa ra bằng cách xác định cơ cấu thời vụ gieo trồng và các giống cây lúa, ngô, lạc có thời gian sinh trưởng ngắn tránh được thời gian lũ diễn ra lại cho năng suất cao chất lượng tốt và phù hợp với thị trường chính là giải pháp tốt nhất trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhà
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Âu 1997 Sông ngòi Việt Nam phần Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ NXB
ĐHSPHN
[2] Nguyễn Thị Hải 1976 “Một vài nhận xét về chế độ nước sông ngòi khu vực Bắc Trung Bộ” Luận văn tốt nghiệp
[3] Vũ Tự Lập 2006 Địa lý tự nhiên Việt Nam NXB Giáo Dục Hà Nội
[4] Bùi thị Mai 2004 “Nghiên cứu lũ lụt sông Ba và đề xuất giải pháp giảm nhẹ thiệt hại” Luận văn thạc sĩ
Trang 24Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG THẢM THỰC VẬT RỪNG
HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 1997 - 2006
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hà, K57C
Nguyễn Thị Hải, K57C Giáo viên hướng dẫn : TS Lương Hồng Hược
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Cở sở khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu thảm thực vật rừng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các yếu tố sống và không sống giữa chúng có
sự trao đổi vật chất và năng lượng tạo nên một hệ thống ổn định Nói cách khác rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần xã sinh vật và các yếu tố môi trường vật lí, trong đó có
sự tương tác giữa chúng với nhau
Tái sinh rừng - diễn thế rừng là hai quá trình rất quan trọng trong sự phát triển rừng Tái sinh rừng gồm 3 hình thức: tái sinh tự nhiên, tái sinh nhân tạo, xúc tiến tái sinh tự nhiên còn diễn thế rừng gồm 2 loại: diễn thế nguyên sinh và diễn thế thứ sinh
Có rất nhiều cách để phân loại rừng như: phân loại rừng theo phát sinh sinh học
và phân loại rừng theo trạng thái, chức năng Theo phát sinh sinh học có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các loại rừng khác nhau là: địa lí - địa hình, khí hậu - thủy văn,
đá mẹ - thổ nhưỡng, khu hệ thực vật, sinh vật và con người Phân loại rừng theo trạng thái gồm: rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng phục hồi Còn phân loại rừng theo chức năng gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất
Thanh Sơn là một huyện miền núi có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Phú Thọ song thảm thực vật rừng đang có nguy cơ bị suy giảm trong tương lai do chặt phá rừng bừa bãi, nhu cầu về củi đốt ngày càng tăng…Vì vậy cần có những giải pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực và hướng đến phát triển bền vững thảm thực vật rừng
2 Hiện trạng thảm thực vật rừng huyện Thanh Sơn
2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thảm thực vật rừng
2.1.1.Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí: Bắc giáp Yên Lập, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Nam giáp tỉnh Hoà Bình, Tây giáp tỉnh Sơn La, Đông giáp Tân Sơn
Trang 25Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
tương đối rộng so với các huyện trong tỉnh nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là phát triển nông - lâm nghiệp
Thanh Sơn nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng núi phía Bắc Địa hình chia cắt khá mạnh, độ cao địa hình thấp từ Tây Bắc xuống Đông Nam tạo nên các dạng địa hình tương đối phức tạp Ở đây có đất khá màu mỡ do sông Bứa bồi đắp Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa gió chính là gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ Nhiệt độ trung bình từ 22 - 240c Số giờ nắng tương đối cao từ 1300 -
1700 Lượng mưa trung bình từ 1500- 1600 mm Mùa mưa chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa năm, mùa khô chỉ chiếm 10 - 20% tổng lượng mưa Độ ẩm tương đối cao từ 85 - 88% Nguồn nước cung cấp tưới tiêu dồi dào Với những điều kiện trên Thanh Sơn có điều kiện thuận lợi cho cây cối phát triển xanh tốt quanh năm với cơ cấu cây trồng đa dạng và phong phú
2.1.2 Nhóm nhân tố kinh tế xã hội
Dân cư: Thanh Sơn có dân số tương đối đông, năm 2005 là 117200 người, trong vòng 3 năm dân số đã tăng lên 1022 người (năm 2008 là 1220276 người ) Đây chính là nguồn lao động dồi dào cho ngành lâm nghiệp Tuy nhiên do là một huyện miền núi còn kém phát triển lại có tới 10 dân tộc cùng sinh sống, chủ yếu là dân tộc ít người (60 % là dân tộc ít người) nên chất lượng dân cư còn ở mức thấp, năng lực tiếp thu khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn hạn chế Kết cấu hạ tầng của vùng còn rất lạc hậu và thiếu thốn Cùng với quá trình CNH - HĐH của cả nước, thời gian gần đây cơ sơ vật chất kỹ thuật
đã và đang được cải thiện và nâng cấp Huyện làm mới 38 km đường, nâng cấp 46 km đường huyện lộ, hầu hết các xã đều có nhà văn hoá và bưu điện, có tới 600000 tạp chí
và ấn phẩm
Các hoạt động kinh tế: Bước đầu đạt được kết quả tương đối cao: Trong 5 năm Huyện đã giao 48600 ha rừng cho 9829 hộ quản lí Năm 2006 diện tích rừng trồng đạt
19891 ha tăng 1.5 lần so với thời kì trước
2.2 Hiện trạng thảm thực vật rừng huyện Thanh Sơn theo số liệu thống kê tháng 5/ 2006
Thanh Sơn là huyện có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Phú thọ, toàn huyện có 34335.6 ha rừng trong đó 14444.7 ha là rừng tự nhiên (chiếm 29,14 % diện tích rừng)
và 19891 ha rừng trồng (chiếm 40.3 % diện tích rừng) với độ che phủ là 55.32 %
Rừng tự nhiên của huyện chủ yếu là rừng đang phục hồi (66.9 ha ), rừng tre nứa (4325.7 ha), rừng nghèo (1970 ha) Các loại rừng còn lại có diện tích rất nhỏ: Rừng hỗn giao (1089 ha - 1.75 %); rừng trung bình (493.1 ha - 0.79 %), đặc biệt diện tích rừng giàu hoàn toàn không có
Diện tích rừng trồng hiện nay có trữ lượng vẫn còn thấp mới đạt 123283.5 ha (chiếm 19.95 %), rừng chưa có trữ lượng 7507.5 ha (chiếm 12,1 %)
Trang 26Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Thảm thực vật có sự phân bố không đều giữa các xã trong huyện Khả Cửu, Thượng Cửu, Võ Miếu, Hương Cần, Tân Lập, Cự Thắng là những xã chiếm phần lớn diện tích rừng của huyện
Khả Cửu có diện tích rừng lớn nhất 3337,7 ha chiểm 9,72 % diện tích toàn huyện, rừng tự nhiên 2687,5 ha, rừng trồng 650,2 ha, độ che phủ rất lớn 83,2 %
Tính đến tháng 5/ 2006 Thanh Sơn đã triển khai quy hoạch rừng và bước đầu đạt hiệu quả Diện tích rừng chủ yếu được quy hoạch thành rừng sản xuất 38688,0 ha chiếm tới 78,1 % diện tích đất nông nghiệp, rừng phòng hộ chỉ quy hoạch ở những vùng trọng điểm và xung yếu do dó chỉ còn chiếm 21,3% diện tích đất nông nghiệp
3 Nguyên nhân, giải pháp, định hướng phát triển thảm thực vật rừng
Những nguyên nhân khác: Công tác phòng cháy chữa cháy rừng, công tác kiểm tra và bảo vệ rừng, sự chỉ đạo của các cấp chính quyền
- Nguyên nhân tiêu cực: Tình trạng khai thác gỗ trái phép vẫn diễn ra, dân số tăng mạnh gây sức ép lên rừng, hiện tượng cháy rừng, tình trạng du canh du cư, đốt nương làm rẫy, hạn chế về kỹ thuật trồng rừng khoanh nuôi, tái sinh rừng, và hạn chế về
cơ chế chính sách, tổ chức và quản lí lâm nghiệp trong việc bảo vệ và phát triển rừng
Trang 27Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Minh Thảo Rừng Việt Nam Nxb: Lao động, 2005
[2] Thái Văn Trừng Phát sinh quần lạc và phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam
Nxb: Nông Thôn (1963) (luận án Tiến sĩ khoa học1962)
[3] V.V Pampilốp Quy hoạch rừng Người dịch Nguyễn Xuân Quang, Nxb Nông Thôn,
1962
[4] Điêu Thị Thủy Nguyên Nghiên cứu thảm thực vật rừng Tỉnh Phú Thọ (thời kì 1997
- 2005) Khoá luận tốt nghiệp cử nhân địa lý, ĐHSPHN,2006
[5] Hạt kiểm lâm huyện Thanh Sơn Kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng Huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ tháng 5 năm 2006
DIỄN BIẾN LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LỤC NAM
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thu Hà, K57TN Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Đặng Duy Lợi
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lũ lụt là một trong những thiên tai phổ biến và nguy hiểm nhất ở các nước trên thế giới hiện nay Trong đó, Việt Nam là một quốc gia điển hình Diễn biến thất thường của lũ lụt hằng năm, cường độ và quy mô lũ lớn là một trong những vấn đề thời sự ở nước ta hiện nay trong những năm gần đây Trong đó, lũ xảy ra nhiều ở lưu vực sông Thái Bình nói chung và lưu vực sông Lục Nam nói riêng Hai trận lũ lịch sử tháng 7/1986, và tháng 9/2008 vừa qua đã để lại hậu quả nghiêm trọng về tài sản và tính mạng cho nhân dân trong vùng với 9 người thiệt mạng, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng
800 tỉ đồng
Lưu vực sông Lục Nam có diện tích lưu vực là 3070 km2 chiếm khoảng 13,52% lưu vực sông Thái Bình Chiều dài của dòng chính là 175 km Sông Lục Nam là một con sông hẹp, độ uốn khúc lớn, thượng lưu lắm thác ghềnh, núi áp sát bờ sông Hằng năm nhân dân trong vùng phải gánh chịu những hậu quả của lũ lụt hết sức nặng nề
Vì vậy việc nghiên cứu “Diễn biến lũ lụt trên lưu vực sông Lục Nam” trước hết
nhằm xác định nguyên nhân, diễn biến mùa lũ các năm 2001 - 2008 để từ đó đề xuất các
Trang 28Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt gây ra trên lưu vực này Đây là một vấn đề bức xúc có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn to lớn
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Phân tích các yếu tố tác động đến lũ lụt trên lưu vực sông Lục Nam
- Sông Lục Nam bắt nguồn từ vùng núi Kham, Sâu - Chòm cao 700 m, chảy từ Đình Lập theo hướng Đông Bắc - Tây Nam qua Sơn động, Chũ, Lục Nam rồi nhập vào sông Thương ở làng Cỗi cách cửa sông Thương 9,5km
- Giới hạn lưu vực: Phía Bắc giáp với lưu vực sông Kỳ Cùng - Bằng Giang Phía Nam giáp với lưu vực sông Hồng Phía Đông giáp với lưu vực các sông thuộc duyên hải Quảng Ninh Phía Tây và Tây Bắc giáp với lưu vực sông Thương
- Lũ lụt xảy ra là kết quả tác động của nhiều yếu tố: khí hậu, mặt đệm (địa chất, địa hình, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật) và hoạt động kinh tế - xã hội của con người trên lưu vực
Địa chất: nền địa chất chủ yếu của lưu vực là phiến thạch sét ít thấm nước, khi
gặp nước mưa tập trung thường xuyên gây ra lũ lụt rất ác liệt…
Địa hình: phần lớn diện tích lưu vực sông Lục Nam có độ cao trung bình trên
200m, địa hình chủ yếu ở khu vực là đồi núi thấp bị chia cắt khá mạnh…
Thổ nhưỡng: lớp phủ thổ nhưỡng khá đa dạng, tuy nhiên không đồng nhất trên
nhiều dạng địa hình, đất dốc, tầng đất mỏng, đất bị xói mòn rửa trôi chiếm diện tích khá lớn khả năng giữ nước kém làm tăng cường khả năng lũ lụt…
Thảm thực vật: Diện tích rừng tự nhiên trong vùng còn khá lớn Tại huyện Đình
Lập (tỉnh Lạng Sơn) độ che phủ của rừng đạt hơn 70% Ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam độ che phủ của rừng cũng đạt 37% Bên cạnh đó còn có rừng sản xuất, rừng trồng, rừng phòng hộ đầu nguồn chiếm diện tích khá lớn… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện tích rừng trong vùng ngày càng bị suy giảm do khai thác không có quy hoạch, tình trạng phá rừng làm nương rẫy của nhân dân trong vùng
Khí hậu: mưa là yếu tố khí hậu trực tiếp gây ra lũ lụt trên lưu vực sông Lục Nam
- Lượng mưa: Khá lớn Tâm mưa lớn nhất là Sơn Động: 2000 - 3000 mm Lục
Ngạn là nơi mưa ít nhất 1078 mm có khi chỉ đạt 820 mm
- Chế độ mưa: Lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 Trong những năm
có trận lũ lịch sử lượng mưa lớn so với các năm Năm 2008 xảy ra trận lũ lịch sử trên lưu vực sông Lục Nam lượng mưa trung bình năm tại Sơn Động là 2143,0 mm Trong
đó lượng mưa tháng 9 là 654,7 mm vượt trung bình nhiều năm tới 4 lần
- Cường độ mưa rất lớn nhất là trong mấy ngày xảy ra lũ lịch sử Trong 2 ngày
24/9 đến 25/9 lượng mưa đo được là 465,1 mm , mưa trong vòng 36 tiếng trong khi năm
Trang 29Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Địa lý thuỷ văn: mạng lưới sông suối của sông Lục Nam phát triển mạnh hơn
sông Thương tuy nhiên kém sông Cầu với mật độ sông suối là 0,94 km/ km2 Tổng số các phụ lưu dài 10 km, có 35 con sông với tổng chiều dài là 791,5 km Tổng lượng nước
là 1,8 tỉ m3, lưu lượng bình quân 52,8 m3/s
- Chế độ nước của sông Lục Nam gồm một mùa lũ và một mùa cạn Mùa lũ kéo dài trong 5 tháng, từ tháng 5 đến tháng 9 Mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 4
- Sông Lục Nam bao gồm 2 phụ lưu chính là sông Cẩm Đàn, và sông Đạo Bình
Kinh tế xã hội: lưu vực sông Lục Nam dân số tập trung thấp Mật độ dân số ở Đình
Lập chỉ là 22 người/km2… Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người như Sán Chỉ, Dao… Trình độ của nhân dân còn có nhiều hạn chế Tuy nhiên, trong những năm gần đây nền kinh tế trong vùng có sự chuyển biến tích cực với mô hình kinh tế nông, lâm nghiệp đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá
Trong vùng đã xây dựng một số công trình thuỷ lợi như Hồ Khuôn Thần góp phần giải quyết vấn đề tưới và tiêu nước
2 Diễn biến lũ lụt trên lưu vực sông Lục Nam
2.1 Khái quát diễn biến lũ lụt trên sông Lục Nam từ năm 2001 - 2004
Trong giai đoạn này lũ lụt xảy ra tương đối phức tạp, trung bình mỗi năm có từ 4
- 5 trận, trong đó có 1 - 2 trận lũ vượt báo động III Đỉnh lũ tương đối lớn Năm 2001 là năm có số trận lũ lớn nhất với 9 trận, 2 trận vượt báo động III, tiếp đó đến năm 2002, năm 2003, 2004 số trận lũ ít hơn mỗi năm 3 trận
2.2 Diễn biến tình hình lũ lụt trên sông Lục Nam từ năm 2005- 2008
- Mùa lũ năm 2005, do ảnh hưởng của 4 cơn bão số 2, 3, 6,7 mùa lũ năm 2005
trên lưu vực sông Lục Nam có những diễn biến thất thường Lũ xảy ra muộn hơn so với cùng kỳ năm 2004, kết thúc muộn vào giữa tháng 9, mực nước luôn dao động ở mức thấp Cả năm có 6 trận lũ…
- Mùa lũ năm 2006, lưu vực sông Lục Nam chịu ảnh hưởng gián tiếp của rìa tây cơn bão số 2 và áp thấp nhiệt đới số 2, lũ xuất hiện muộn (đầu tháng 7), kết thúc sớm (giữa tháng 8) Cả mùa có 5 trận lũ, đỉnh lũ không lớn, thấp dưới báo động II…
- Mùa lũ năm 2007, lũ ảnh hưởng đến lưu vực không lớn Lũ đến muộn, tập
trung vào tháng 7,tháng 8 Trong năm có tất cả 3 trận lũ, kéo dài từ 3- 5 ngày
- Mùa lũ năm 2008 và trận lũ lịch sử tháng 9/2008, trên lưu vực sông Lục Nam tình hình mưa bão rất khắc nghiệt Do ảnh hưởng của cơn bão số 6, tháng 9/2008 đã xảy
ra trận lũ lịch sử rất lớn từ ngày 24/9 đến 28/9 Lũ vượt báo động III, cao hơn lũ lịch sử tháng 7/1986 Biên độ nước lên tại Chũ là 1333 cm, cường suất trung bình là 32,5 cm Cường suất lớn nhất là 98 cm/h Sức tàn phá của trận lũ lụt này rất lớn
Trang 30Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
3 Đánh giá hậu quả, nguyên nhân và các giải pháp phòng tránh
3.1 Hậu quả của lũ lụt qua các năm 2005 - 2008
- Diễn biến thất thường của lũ lụt đã gây ra hậu quả rất lớn đối với sản xuất cũng như tính mạng của nhân dân trong vùng
- Năm 2005: Lũ lụt kèm theo trận lốc làm 5 người bị thương, đổ 3 nhà, tốc mái
500 ngôi nhà, bật gốc 2600 cây ăn quả… trên huyện Sơn Động và Lục Ngạn Lũ lớn làm tràn bối khu vực xã Trí Yên với chiều dài là 200 m, mất trắng 697 ha lúa và hoa màu… sạt lở bờ sông Lục Nam tại huyện Lục Ngạn cách quốc lộ 31 khoảng 11 m…
- Năm 2006: tuy lũ nhỏ nhưng về nhanh, gây nên lũ quét làm vỡ một số đập nhỏ, sạt 3km đường giao thông, sập nhà gây chết 2 người, ngập úng 1000 ha lúa và hoa màu…
- Năm 2007: mưa làm ngập gần 1370 ha lúa mới cấy Mưa đá, lốc xoáy làm tốc mái 306 nhà, chết 1 người… Thiệt hại ước tính khoảng 3 tỉ đồng
- Năm 2008: Do ảnh hưởng của trận lũ lịch sử tháng 9/2008 thiệt hại rất lớn Theo ước tính của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh Bắc Giang, trận lũ này làm chết 9 người, thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 800 tỉ đồng…
3.2 Nguyên nhân gây ra lũ lụt trên lưu vực sông Lục Nam
- Do mưa lớn trên diện rộng và cường độ mưa lớn, tập trung tập trung trong một thời gian ngắn
- Do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đến khu vực, trung bình mỗi năm
có khoảng 4 - 5 cơn bão ảnh hưởng đến lưu vực
- Sông Lục Nam dốc, thượng nguồn sông hẹp, chảy trên một vùng địa hình khá cao trên 200m
- Rừng đầu nguồn bị tàn phá, xói mòn ở đầu nguồn diễn ra khá mạnh mẽ
- Điều kiện mặt đệm chủ yếu là sa thạnh phiến sét ít thấm nước lũ xảy ra ác liệt
- Ngoài ra, còn do sự nóng lên của trái đất, mực nước biển dâng cao, hiện tượng ElNino và LaNina…
3.3 Một số giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra trên lưu vực sông Lục Nam
- Biện pháp phi công trình: tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, nâng cao trình độ chuyên môn cho công tác dự báo và phòng tránh bão, lũ…Tuyên truyền giáo dục ý thức cho nhân dân trong vùng về lũ lụt và cách phòng chống
- Cảnh báo bão, lũ, lũ quét
- Quản lý và sử dụng đất hợp lý
- Bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn
- Có giải pháp bố trí hợp lí các điểm dân cư ra khỏi vùng trọng điểm lũ lụt
- Tăng cường hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nước tưới tiêu trong vùng
Trang 31Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
KẾT LUẬN
Lưu vực sông Lục Nam có điều kiện tự nhiên đa dạng, đại hình phức tạp, tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, môi trường rất nhạy cảm và biến động mạnh Lưu vực có những đặc trưng riêng về vị trí địa lý, địa chất và địa hình, khí hậu… làm cho lũ lụt xảy ra ngày càng nghiêm trọng và phức tạp Trên cơ sở đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến lũ lụt sông Lục Nam, đề tài đã phân tích được diễn biến của các mùa lũ từ năm 2001 đến 2008 từ đó đã đưa ra những nguyên nhân và giải pháp nhằm giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt gây ra
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Thị Mai Nghiên cứu lũ lụt trên lưu vực sông Ba và đề xuất biện pháp giảm nhẹ thiệt hại Luận văn Thạc sĩ ĐHSPHN, năm 2001
[2] Trần Tuất, Trần Thanh Xuân, Nguyễn Đức Nhật Địa lý thuỷ văn sông ngòi Việt Nam (phần 1) Nxb Khoa học kĩ thuật Hà nội, năm 1987
[3] Báo cáo tổng kết công tác phòng chống lụt bão tỉnh Bắc Giang năm 2005, 2006,
2007 Sở NNPTNT tỉnh Bắc Giang, 2008
[4] Số liệu thuỷ văn các trạm trên sông Lục Nam giai đoạn từ năm 2001 - 2008, 2009
Trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Giang
[5] Trần Thanh Xuân Lũ lụt và cách phòng chống Nxb Khoa học kĩ thuật Hà Nội, 2000
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
TẠI MỘT SỐ LÀNG NGHỀ TỈNH HÀ NAM
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hằng, K57A
Nguyễn Thị Nhàn, K57A Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Hồng Mai
ĐẶT VẤN ĐỀ
Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã được hình thành và phát triển lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt, đặc thù có giá trị văn hoá lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề cha truyền con nối hoặc gia đình, dòng tộc
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội các làng nghề làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng phát triển Tuy nhiên do tính chất của các làng nghề là sản xuất quy mô nhỏ, manh mún, kinh tế hộ gia đình…với sự kém hiểu biết về bảo vệ môi trường và thói quen tuỳ tiện đổ rác, xả rác ra xung quanh làm ảnh hưởng không những tới môi trường mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ đời sống cộng đồng dân cư Hà Nam là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là một tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng: dệt lụa Nha Xá - Duy Tiên, làng trống Đọi Tam - Duy Tiên…
Trang 32Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Môi trường nước của Hà Nam và các làng nghề đang bị đe doạ ô nhiễm trầm trọng, nước bốc mùi hôi tanh Đề tài đã tìm hiểu và giải quyết một số vấn đề: hiện trạng môi trường nước tại một số làng nghề, nguyên nhân ô nhiễm, đánh giá mức độ ô nhiễm
và ảnh hưởng của ô nhiễm cũng như đưa ra các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường sản xuất trong lành
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Khái quát khu vực nghiên cứu
Hà Nam có toạ độ địa lý: 20020’B đến 20042’B, 105045’ Đ đến 106010’ Đ Là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi Mật độ và độ sâu chia cắt địa hình so với các vùng núi khác trong cả nước hầu như không đáng kể Điều kiện khí hậu, thuỷ văn của Hà Nam mang đặc điểm chung của đồng bằng Bắc Bộ, có sự phân mùa rõ rệt trong chế độ mưa, lũ Những nhân
tố này có ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của các làng nghề
Hà Nam nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Sự phát triển với tốc độ nhanh của các ngành kinh tế đã làm gia tăng ngày càng lớn lượng nước dùng cho sản xuất và tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước bởi phế thải, hoá chất độc hại phát sinh trong
và sau quá trình sản xuất
Theo số liệu của sở công nghiệp Hà Nam, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 51 làng nghề, trong đó: 16 làng nghề thủ công, 14 làng nghề thủ công mỹ nghệ, 6 làng nghề công nghiệp, 12 làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, 2 làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu Việc phát triển các làng nghề đã góp phần không nhỏ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và cải thiện đời sống của nhân dân vùng nông thôn nhưng nó cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ô nhiễm môi trường nước Đặc biệt là các làng nghề như: dệt nhuộm ở Nha Xá - Duy Tiên, Hoà Hậu - Lý Nhân, và các làng nghề ở Nhật Tân - Kim Bảng…
2 Hiện trạng và nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước tại một số làng nghề
ở các làng nghề ô nhiễm khá trầm trọng đáng báo động
- Chất lượng nước mặt: Hầu hết các thông số về chất lượng nước mặt của các
Trang 33Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
đến 3 lần so với TCCP Những thông số trên đặc biệt cao ở một số làng nghề như: dệt nhuộm, ươm tơ, …
2.2 Nguyên nhân
- Do điều kiện tự nhiên: thực tế cho thấy những khu vực làng nghề và phát triển là những vùng có mật độ dân cư đông đúc, đất thổ cư chật chội, đất canh tác ít nên thiếu mặt bằng sản xuất, các nhà xưởng nằm xen lẫn trong khu dân cư, trong nhà hoặc vườn của các
hộ, không đủ mặt bằng để bố trí khu chứa và xử lý chất thải
- Do ý thức của cơ sở: do nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường còn thấp kém, xuất phát từ nền sản xuất nhỏ đơn lẻ nên ý thức của người dân về giữ gìn vệ sinh bảo vệ môi trường còn thấp, khi sản xuất được mở rộng thì thói quen đó khó sửa và
ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng
- Công nghệ và quy trình sản xuất thô sơ lạc hậu
- Thiếu quy hoạch và quản lý các làng nghề
3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường và các giải pháp
3.1 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường
- Ảnh hưởng tới môi trường nước: Nước thải của các làng nghề thải ra không được xử lý mà trực tiếp đổ vào cống rãnh, ao hồ, hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải lớn vượt khả năng phân huỷ, hầu hết các ao hồ phú dưỡng, gây bồi lắng các
ao hồ, ảnh hưởng tới môi trường sống của các loài động thực vật thủy sinh và nguồn nước cấp cho sinh hoạt
- Ảnh hưởng tới môi trường không khí: sự ô nhiễm mùi xảy ra tại các làng nghề cũng khác nhau về chủng loại và mức độ, phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm sản xuất của các làng nghề Vì thế việc ô nhiễm mùi hiện nay tại một số khu vực làng nghề và khu vực nông thôn rất khó xử lý và giải quyết
- Ảnh hưởng tới môi trường đất: môi trường đất sẽ chịu tác động của ba nguồn thải: nước thải, khí thải, chất thải rắn Do đó nước thải càng chứa chất ô nhiễm thì môi trường đất
bị ô nhiễm theo Các chất ô nhiễm từ các làng nghề thải vào môi trường đất đã làm thay đổi thành phần hoá, lý của đất, gây ra năng suất vật nuôi cây trồng giảm
- Ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng: trong quá trình phát triển, sản xuất các làng nghề người lao động phải tiếp xúc với các yếu tố nguy hại của từng nghề ở mức độ khác nhau: hoá học, vật lý, lý hoá Do đó ở các làng nghề khác nhau thì các bệnh nghề nghiệp cũng như tỷ lệ người mắc bệnh cũng khác nhau
3.2 Giải pháp
- Giải pháp chung:
+ Giải pháp kỹ thuật công nghệ: Các cơ sở sản xuất phải đầu tư lắp đặt công nghệ
xử lý chất thải rắn, lỏng, khí đến mức cần thiết trước khi thải ra môi trường Xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt của tỉnh làm cơ sở cho việc quản lý và xử lý
+ Giải pháp về tổ chức quản lý: Thực hiện theo nguyên tắc: “Người gây ô nhiễm
Trang 34Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
môi trường phải chịu trách nhiệm cho việc giải quyết ô nhiễm đó” đã được nêu trong luật bảo vệ môi trường của Nhà nước ban hành 1993
+ Giải pháp xã hội: Giáo dục tuyên truyền qua các thông tin đại chúng Cần khen thưởng khuyến khích các cá nhân, tập thể phát hiện ra các nguồn gây ô nhiễm, các
sự cố môi trường thông báo với các cơ quan chức năng để kịp thời xử lý, hạn chế những hậu quả môi trường xảy ra
- Giải pháp riêng:
+ Trong quá trình quy hoạch phát triển các làng nghề cần phải chú ý đến phương
án từng bước di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư
+ Giáo dục con người có ý thức bảo vệ môi trường nước và nhận thức được rằng môi trường làm việc và môi trường xung quanh cần phải được bảo vệ trước hết vì sức khoẻ bản thân chính người lao động trực tiếp sau đó đến cộng đồng dân cư
+ Xây dựng hương ước làng nghề vì hương ước là công cụ quản lý môi trường hữu hiệu ở nông thôn do thích hợp với cộng đồng tại từng khu vực và dễ hiểu, dễ tiếp thu gắn bó với thực tế
KẾT LUẬN
Trên cơ sở các nguồn tài liệu thu thập được vào năm 2007, đề tài đã bước đầu phân tích tìm hiểu được các nhân tố ảnh hưởng, những nguồn gốc và thành phần gây ô nhiễm môi trường nước cũng như hiện trạng chất lượng môi trường nước và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước Hà Nam bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, sử dụng bản đồ
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, đề tài vẫn còn có những hạn chế lớn: thiếu tính đồng bộ, chưa đánh giá được một cách toàn diện môi trường nước của tỉnh Hà Nam Đó là số liệu thực tế và số lượng mẫu phân tích nước quá ít chỉ tập trung vào những khu vực đã và sắp có vấn đề về môi trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đặng Kim Chi Hoá học môi trường
[2] Lê Thị Thuý Hiền Nghiên cứu chất lượng môi trường không khí và nước tỉnh Thanh Hoá Luận văn thạc sĩ ĐHSPHN - 2005
[3] Lê Văn Khoa Môi trường và ô nhiễm NXB Giáo dục - 1995
[4] Nguyễn Thị Tuyến Nghiên cứu chất lượng môi trường nước và không khí tại một số làng nghề tỉnh Hưng Yên Luận văn thạc sĩ Địa lý ĐHSPHN – 2007
[5] Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Hà Nam Báo cáo hiện trạng môi trường các làng nghề tỉnh Hà Nam
Trang 35Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TỈNH HÀ NAM (2000 - 2008)
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hằng, K57A
Nguyễn Thị Nhàn, K57A Giáo viên hướng dẫn: TS Lương Hồng Hược
là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới hiện nay, với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nền kinh tế chuyển đổi theo
cơ chế thị trường thì hầu hết các ngành nghề và lĩnh vực sản xuất đời sống xã hội đều có nhu cầu sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên vô giá này Như vậy, trước thực trạng sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng cần phải được rà soát đánh giá để đưa đến giải pháp hợp lý về vấn đề đất nông nghiệp
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiện trạng sử dụng đất
1.1 Điều kiện tự nhiên
Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, với diện tích tự nhiên
là 851,7 km2 có toạ độ địa lý: 20022’B đến 20042’B, 105045’Đ đến 106010’Đ Phía bắc giáp với Hà Nội, phía tây giáp với Hoà Bình, phía nam giáp với Nam Định, Ninh Bình, phía đông giáp với Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình Địa hình của tỉnh phân ra làm hai vùng rõ rệt là vùng đồi núi phía tây và vùng đồng bằng, vùng đồi núi chủ yếu là các loại đất: đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất nâu đỏ và mùn đỏ vàng trên đá macma bazơ và trung tính, đất đỏ nâu trên đá vôi Đất phù sa glây lại phổ biến ở vùng đồng bằng Điều kiện khí hậu, thuỷ văn của Hà Nam mang đặc điểm chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ rất thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Dân số Hà Nam năm 2006 là 827630 người, mật độ dân số trung bình là 967người/ km2, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,05%/năm Lực lượng lao động là
473828 người trong đó độ tuổi lao động chiếm 58,2% dân số, trong đó chủ yếu là làm trong ngành nông nghiệp, có trình độ thâm canh cao
Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp – thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng trọng ngành nông nghiệp
Tất cả những yếu tố trên đều ảnh hưởng đến hiện trạng sử dụng đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng và phương hướng quy hoạch nó trong tương lai
Trang 36Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
2 Hiện trạng sử dụng đất
Dưới tác động của sự phát triển kinh tế, cơ cấu sử dụng đất đai, trong đó đất nông nghiệp đã có nhiều thay đổi trong tổng quỹ đất: năm 2006 diện tích đất nông nghiệp của toàn tỉnh là 51357 ha, chiếm 59,7% tổng diện tích của toàn tỉnh (85955 ha), đất chuyên dùng chiếm 14,6% Số còn lại là đất dùng vào lâm nghiệp, đất khu dân cư và đất chưa sử dụng Nhìn chung trong cơ cấu sử dụng đất của tỉnh năm 2006 thì diện tích đất nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo
Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Hà Nam năm 2006
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Diện tích cây hàng năm 82,8%
Diện tích cây lâu năm 6,04%
Diện tích đất trồng cỏ 1,59%
Diện tích đất mặt nước dùng vào nông nghiệp
9,57%
3 Biến động sử dụng đất
Nhìn chung trong giai đoạn 2000 - 2006, các loại đất sử dụng theo mục đích sử dụng của tỉnh Hà Nam có những biến động khá rõ nét Những biến động này được thể hiện như sau: Đất nông nghiệp, đất dùng vào lâm nghiệp, đất chưa sử dụng có những biến động mạnh với xu thế giảm dần diện tích Chỉ riêng hai loại đất là đất chuyên dùng
và đất khu dân cư ngày càng biến động với xu hướng tăng dần diện tích
Trang 37Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
Với tiềm năng đất nông nghiệp phong phú, kết hợp với sự đầu tư và quy hoạch của tỉnh nên 8 năm trở lại đây từ năm 2000 - 2008, tình hình sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Hà Nam có nhiều biến động
Bảng 1.Biến động sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 2000 - 2008
Biến động diện tích (ha) Tỷ lệ biến động (%) Hạng mục
2000 -2004 2004- 2008 2000- 2008 2000 -2004 2004- 2008 2000- 2008
- Cây hàng năm -317 -1466,94 -1783,94 -0,71 -3,35 -4,04
+ Cây lâu năm khác -8 3670,58 3662,58 -25,8 15959 11814,7
- Đất mặt nước
dùng vào nông
nghiệp
Nguồn (Phòng đất đai - Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam)
Những biến động trên nhìn chung biến động theo cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực Sự gia tăng diện tích đất chuyên dùng và đất khu dân cư là một minh chứng cho sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng tích cực song sự mở rộng này chủ yếu tập trung vào diện tích đất nông nghiệp lại là vấn đề cần xem xét lại
Bảng 2 Qui hoạch sử dụng đất tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005 - 2010
Diện tích hiện trạng năm 2005
Diện tích quy hoạch đến năm 2010
Diện tích tăng (+), giảm (-) trong kỳ
Nguồn (Phòng quy hoạch và kỹ thuật - Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam )
Trong những năm tới với nhu cầu đất ở và chuyên dùng tiếp tục tăng lên đe doạ
sự thu hẹp của đất nông nghiệp vì vậy sự mở rộng quỹ đất này chỉ trông chờ vào việc cải tạo và đưa vào sử dụng diện tích đất bỏ hoang chưa sử dụng.Với xu hướng thu hẹp dần diện đất nông nghiệp nói chung và diện tích cây hàng năm nói riêng, trong những
Trang 38Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
năm tới diện tích trồng cây hàng năm có thể ổn định ở mức trên dưới 36000 ha, trong đó diện tích đất lúa khoảng 34000 ha Nhìn chung quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là một bộ phận quan trọng trong quy hoạch kinh tế xã hội để đưa ra những định hướng vào thực tiễn sản xuất cần có sự phối hợp thực hiện nhiều biện pháp tổng hợp cả về kinh tế,
cơ sở vật chất tổ chức sản xuất cũng như chính sách đường lối
KẾT LUẬN
Đề tài đã bước đầu phân tích được những đặc điểm cơ bản để thấy được tính đa dạng và phức tạp của đất nông nghiệp tỉnh Hà Nam Đồng thời cũng phác hoạ những nét có tính định hướng cho quá trình sử dụng đất nông nghiệp của địa phương trong tương lai
Trong quá trình tiến hành đề tài, tác giả đã có gắng bám sát những yêu cầu của đề tài và cố gắng hoàn thành những nhiệm vụ chính đặt ra Tuy vậy do còn nhiều hạn chế về mặt thời gian, nguồn tư liệu và năng lực của bản thân nên đề tài còn nhiều mặt tồn tại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Thị Kim Chương, 2007 Địa lý tự nhiên đại cương tập 3 NXB ĐHSPHN [2] Lê Năm, 2004 Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ định hướng sử dụng đất đai nông -lâm nghiệp vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế NXB ĐHSPHN
[3] Bùi Thị Thanh Hương Nghiên cứu biến động hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1995 - 2005 Luận văn thạc sĩ - 2006 ĐHSPHN
[4] Lê Thị Ngọc Khánh, 2002 Đánh giá tổng hợp môi trường tự nhiên phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Lai Châu NXB ĐHSPHN
[5] Đặng Đình Quang, 2002 Đổi mới ở vùng đồi núi: Chuyển đổi sử dụng đất và chiến lược sản xuất của nông dân tỉnh Bắc Cạn, Việt Nam NXB Nông nghiệp
ĐÁ RUBI Ở ĐỚI ĐỨT GÃY SÔNG HỒNG
Sinh viên thực hiện: Tạ Thị Thu Hằng, K57A Giáo viên hướng dẫn: TS Lương Hồng Hược
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoáng sản là một loại tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời sống bởi vậy từ lâu con người đã biết khai thác và sử dụng chúng phục vụ những nhu cầu của mình Họ nghiên cứu khảo sát thực tế nhằm tìm ra các quy luật hình thành những loại khoáng sản
đó phục vụ cho công tác thăm dò tìm kiếm đặc biệt với những khoáng sản có giá trị kinh
tế cao Rubi là một loại khoáng sản như vậy Đá rubi từ lâu được nhiều nhà khoa học nghiên cứu cho ra đời nhiều đề tài có liên quan như đặc điểm, sự phân bố, nguồn gốc, thành phần hóa học … Tuy nhiên đề tài nghiên cứu sâu mang tính chất tổng hợp còn
Trang 39Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1.Đặc điểm của đá rubi
1.1.Đặc điểm tinh thể , khoáng vật học và ngọc học
Hình dạng tinh thể: Thông số ô mạng xác định được cho rubi Lục Yên như sau:
a = 4,753Ao; c = 12,990Ao; và c = 12,996Ao; c/a = 2,733-2,734
Đặc điểm hình thái tinh thể: Đá rubi trong đá hoa mỏ Lục Yên có hình dạng tinh
thể khá đa dạng Ta có thể bắt gặp các tinh thể dạng lưỡng tháp sáu phương, dạng lăng trụ sáu phương với sự phát triển của các mặt “thoi”, tạo nên các tinh thể dạng “con suốt”
và dạng “thùng rượu” rất phổ biến
Màu sắc: Rubi Lục Yên khá nhiều màu và có thể gặp với các sắc thái khác nhau, từ
đậm đến nhạt, hoặc là màu trung gian giữa các màu, thường có màu đỏ tía , đỏ hồng
Tỷ trọng: Đá rubi ở Lục Yên có tỉ trọng thấp dao động trong khoảng 3,83- 4,01, ít
mẫu có tỉ trọng đạt đến 4,05
Tính phát quang: Rubi Lục Yên thuộc loại phát quang rõ Những viên màu đỏ, tía,
hồng, đều phát quang màu đỏ khi chiếu tia cực tím sóng dài (365nm), phát quang yếu hơn khi chiếu tia cực tím sóng ngắn (254nm) Loại màu đỏ phát quang mạnh hơn loại màu hồng và tím
Hiệu ứng sao trong rubi: Hiệu ứng sao trong rubi cơ bản do các bao thể rutil (TiO2 ) gây ra Tùy theo cách sắp xếp các bao thể và kiểu chế tác tạo ra các hiệu ứng sao 6 cánh
và sao 12 cánh Hiệu ứng mắt mèo xuất hiện khi các bao thể rutil xếp xít nhau thành dỉ
và chế tác theo kiểu mặt khum mặt đáy phải song song với trục C của tinh thể học, với hiệu ứng sao thì mặt đáy viên đá phải vuông góc với trục C
Đường sinh trưởng: ở rubi Lục Yên thường là đường simh trưởng thẳng góc hoặc
gấp khúc kiểu hình nêm và các đường sinh trưởng dạng “xoắn” Nó phản ánh sự thay đổi đột ngột điều kiện môi trường kết tinh, làm cho tinh thể phát triển các mặt không đều hoặc dẫn đến sự không đồng nhất về mặt quang học
Song tinh: Ở Lục Yên song tinh tương đối phát triển bao gồm các dạng song tinh
dạng tấm và song tinh đa hợp
Tính phân đới màu: Cấu trúc của đới màu là các dải, đốm lớn nhỏ khác nhau, phân
bố dọc theo mặt sinh trưởng Ta thường thấy các đới màu có dạng lục giác đồng tâm Đặc điểm bao thể: Tổ hợp bao thể đã gặp trong rubi Lục Yên bao gồm: anatas,
apatit, calcit, corindon, graphit, magarit, monarit, muscovit, phlogopit, pyrit, rutil, spinel, zicon, bao thể lỏng, hematit, hercynit, pyrotin, tourmalin Các nhà khoa học chia bao thể rubi thành: lỏng, khí, bao thể “rắn” và “hỗn hợp” Các bao thể này có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà nghiên cứu trong việc xác dịnh quá trình thành tạo của rubi thuộc đới đứt gãy sông Hồng
1.2.Đặc điểm vật lí và thành phân hóa học của đá rubi
Đặc điểm vật lí:
- Cát khai: Ruby không có cát khai, nhưng có thể tách theo một số hướng nhất định -Vết vỡ: vỏ sò
Trang 40Hội nghị sinh viên NCKH khoa Địa lí năm học 2008-2009
- Độ cứng: Ruby, có độ cứng tương đối là 9 (theo thang Mohs), chỉ đứng sau kim cương Độ cứng của ruby cũng biến đổi theo các hướng khác nhau
- Màu vết vạch: trắng
Đặc điểm thành phần hóa học:
Vùng mỏ Lục Yên giúp phát hiện được một tổ hợp nguyên tố phụ rất phong phú, bao gồm crom, sắt, silic, titan, vanađi, mangan, magnesi, calci, gali, germani, scanđi và kẽm Trên vùng mỏ thì các oxit tạo màu chính và có hàm lượng trội hơn cả là Cr2O3,
Fe2O3 và TiO2
Bảng 1 Hàm lượng trung bình của rubi và saphir trong sa khoáng ở một số mỏ
thuộc đới đứt hãy sông Hồng
2.Nguồn gốc và quá trình thành tạo rubi ở đới đứt gãy sông Hồng
2.1.Nguồn gốc và điều kiện thành tạo
Nguồn gốc: Về nguồn gốc thành tạo của rubi đã được nhiều tác giả nghiên cứu và
có nhiều ý kiến khác nhau Sự hoạt động của đới trượt cắt này đóng vai trò kênh dẫn sâu làm tái nóng chảy cục bộ tạo điều kiện biến chất trao đổi giữa đá giàu nhôm và đá basic với sự hỗ trợ của dung dịch sâu, khử silic của đá cacbonat và do biến chất khu vực
Điều kiện thành tạo:
Nguồn nhôm: nguồn nhôm có thể có ngay trong trầm tích carbonat
Nguồn nhiệt và áp suất: quá trình dịch trượt của các mảng đã làm tăng áp suất, nhiệt độ dẫn tới sự biến chất của các đá Bằng phương pháp đồng vị cacbon nhiệt độ thành tạo ruby từ 650o C đến 850oC