Ở Việt Nam, dân tộc Giáy có trên 25000 người. Đồng bào cư trú tập trung tại các huyện Bát Xát, Mường Khương, Bảo Yên (Hoàng Liên Sơn), Yên Minh, Đồng Văn (Hà Tuyên), Mường Tè, Phong Thổ ( Lai Châu), Bảo Lạc( Cao Lạng) cũng có người Giáy.
Trang 1DÂN TỘC GIÁY
I, Giới thiệu chung về dân tộc Giáy
1, Dân số, địa bàn cư trú
Ở Việt Nam, dân tộc Giáy có trên 25000 người Đồng bào cư trú tậptrung tại các huyện Bát Xát, Mường Khương, Bảo Yên (Hoàng Liên Sơn),Yên Minh, Đồng Văn (Hà Tuyên), Mường Tè, Phong Thổ ( Lai Châu), BảoLạc( Cao Lạng) cũng có người Giáy
Dựa vào thổ âm khác nhau, đồng bào Giáy ở tỉnh Hà Tuyên, CaoLạng và các xã Bản Phiệt, Bản Cầm, Thái Niên (Hoàng Liên Sơn) gọi bộphận của dân tộc mình là Giáy Nắm
Giáy là tên tự gọi Ở Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Người Tày, Tháigọi người Giáy là Giẳng Người Việt gọi là Nhắng; nhưng tên gọi này khôngquen thuộc trong dân tộc Giáy Hiện nay đồng bào có nguyện vọng gọi theotên tự , gọi là Giáy
Hiện tượng sống hoà vào nhau đang diễn ra ở nhiều địa phương: ởcác huyện Bảo Thắng, Bắc Hà, Bát Xát, Bảo Lạc, Yên Minh, dân tộc Giáyvới dân tộc Tày; ở các huyện Bảo Yên, Mường Khương, dân tộc Giáy vớidân tộc Thái Ở những nơi đó, đồng bào Giáy, hoặc giữ được những tập quánsinh hoạt dân tộc nhưng sử dụng ngôn ngữ dân tộc khác, hoặc giữ được ngônngữ Giáy nhưng tiếp thu tập quán sinh hoạt của dân tộc khác Cũng có nơinhư Bản Giẳng( Mường Tè),Nặm Cáy, Tả Chải ( Bắc Hà) người Giáy chỉgiữ được cách cúng tổ tiên là hiện tượng duy nhất để nhận ra là dân tộc Giáy.Một số nơi như Bản Lầu( Mường Khương), Phong Niên( Bảo Thắng) người
ta khó phân biệt ngôn ngữ, sinh hoạt của hai dân tộc Giáy và Nùng
Sự giống nhau này không phải là quá trình giao lưu văn hoá mà làquá trình thống nhất của các nhóm người vốn chung nguồn gốc lịch sử, ngônngữ và những đặc điểm văn hoá khác
Trang 22, Kinh tế truyền thống
Đồng bào Giáy sống chủ yếu về làm ruộng Trước đây, sau ngày lễ “roóng poọc” ( như hội xuống đồng của người Tày) mọi người bắt đầu côngviệc đồng áng Công cụ, cách thức làm ruộng cũng giống vùng người Tày_Nùng Người Giáy trồng nhiều lúa tẻ hơn lúa nếp Lúa gặt rồi được đánhđống trên những nơi khô ráo, khi nào rỗi mới đập đem về nhà
Nhiều gia đình phát thêm rẫy để trồng ngô, các loại rau bí, khoai, sắn
Họ cũng làm nhà phụ ở rẫy để các cụ già trông nom hoa màu, chăn nuôi gà,vịt, lợn Cách cư trú phụ này khá phổ biến ở vùng người Giáy vì chăn nuôi
xa làng, gia súc ít bị lây dịch bệnh
Người Giáy ít nghề thủ công Một vài nơi có người biết đan trần để đậplúa; họ cũng thường đem trần bán hoặc đổi lấy thóc Tuy nhiên nghề nàythường là những người già yếu làm Các nghề đúc lưỡi cày, làm trang sứcbằng bạc cũng chỉ có ít người làm ở một vài địa phương
Người Giáy chăn nuôi nhiều trâu, ngựa, lợn, gà, vịt Ngựa dùng để thồ,
để cưỡi, là con vật có giá trị hơn trâu, lợn, nên được chăn dắt chu đáo Cácgia súc khác thường thả rông, chỉ cho ăn bữa sớm và bữa tối Ở mỗi làng cómột khu rừng rộng, rào kín để lúa trâu cả làng vào đó, gọi là “lùng vái”, trâuthả vào đó gọi là “cái xuồng lùng” Vài ba ngày người làng rủ nhau tới thămmột lần Khi cần kéo cày kéo gỗ người ta bắt riêng những con trâu kéo vềchăn dắt, xong việc lại thả vào “lùng vái” Ngày nay, tình trạng thả rông giasúc đã chấm dứt, trâu, lợn có chuồng, vịt nhốt trong ao, suối rào kín, hạn chếđược chết dịch
II, Văn hoá vật thể:
1, Nhà cửa
Đồng bào Giáy thường dựng làng ở nơi có nguồn nước, gần ruộng, vennúi tương đối bằng Họ sống tập trung thành làng gồm nhiều nhà, ở gần
Trang 3nhau Ở Bát Xát có nhiều làng đóng tới trăm nóc như làng Pẳn, Quang Kim,Bản Qua,v.v… Mỗi khi có người nơi khác đến ở, bà con làng sở tại thường
rủ nhau đi đón, chuyển hộ nhà cửa, đồ dùng và giúp đỡ mọi thứ cho ngườimới đến mau chóng ổn định nơi ở, việc làm
Nhóm Giáy vùng Hà Giang, Cao Bằng ở nhà sàn Nhóm Giáy vùng LàoCai, Lai Châu ở nhà đất Nhưng qua tài liệu văn học dân gian thì người Giáyvốn ở nhà sàn Hiện nay đồng bào ở nhà đất vẫn còn dựng một sàn trước cửa
để sử dụng Nhà sàn hay nhà đất, gian giữa đều là nơi trang nghiêm: đặt bànthờ tổ tiên, tiếp khách Buồng các cặp vợ chồng trong gia đình quây ở cácgian bên Phụ nữ không nằm gian giữa Bếp thường đặt ở gian bên; nay cónhiều nơi đã làm nhà để đun nấu riêng
Một vài kiêng cữ và nghi lễ liên quan đến nhà cửa
Lấy gỗ làm nhà: Thời gian kiếm gỗ để làm nhà phải từ 15 tháng 7 đếntháng 8 là tốt nhất vì người ta cho rằng gỗ được lấy vào tháng này không bịmọt.Chọn tháng còn phải chọn ngày, kị nhất ngày 20, 21 và 30 trong tháng.Những cây gỗ tự đổ hoặc cụt ngọn nhất thiết không được dùng để làm nhà.Mỗi lần đi kiếm gỗ gia chủ phải báo cho bà con dân bản biết đến giúp và đócũng là nghĩa vụ của dân bản
Chọn đất và hướng nhà: Đây là công việc phải nhờ đến thầy mo Khichọn được nơi nào ưng ý, củ nhà phát quang một bãi đất, đào một cái lỗ nhỏrồi bỏ vào đó ba hạt thóc, xếp theo hình tam giác: Một hạt ở phía tây tượngtrưng cho bàn thờ và sinh mệnh con người trong gia đình, một hạt ở phía bắcchăn nuôi, một hạt ở phía nam trồng trọt Úp bát lại rồi thầy mo khấn thổthần hỏi xem có ở được không Sáng hôm sau ra xem nếu ba hạt thóc cònnguyên vị trí cũ là được Nhà thường hướng đông bắc hoặc đông nam
Dựng và lợp nhà: Phải nhờ thầy mo chọn ngày giờ tốt Được ngày giờ,trước hết phải dựng hai cột có vách để treo bàn thờ, sau đó đến hai cột cái
Trang 4tượng cho gia chủ Dựng đươc hàng cột nào luồn xà ngang đến đó Sau khiluồn xà ngang và xà dọc, lắp các trụ ngắn hình quả bí xong mới đưa đòndòng lên Đòn dòng đựơc coi như là linh hồn của ngôi nhà và sự thịnhvượng của gia chủ Dưới dạ thượng lương thường để một số chữ hán:Thượng lương vạn đại, vạn sự như ý, làm ăn sung túc…dựng xong thượnglương thì bà chủ nhà mang đến một thước vải đỏ hai đầu buộc sáu bông lúa (mỗi đầu ba bông) treo vào giữa cây thượng lương, sau đó đốt pháo chàomừng nhà mới.
Khi lợp mái, những người buộc các phên tranh, miệng không đượcngậm lạt, sợ sau này trên mái có chuột cắn hết tranh
Vào nhà mới, chọn được ngày nếu chưa kịp che vách hoặc làm tườngthì nhất thiết phải che vách nơi treo bàn thờ, gia chủ mới được vào ở
Khi vào nhà mới, trước tiên là bà chủ nhà, một tay xách nước, một taycầm cum thóc nếp mang vào nhà và đốt lửa nơi định đặt bếp Sau đó lần lượtnhững người đàn bà khác vào nhà chuẩn bị cỗ cúng thổ thần
Trong lễ lên nhà mới, người ta thường giết gà, lợn hoặc trâu ( tuỳ vàohoàn cảnh kinh tế của gia chủ) mời mọi người đã làm giúp đến liên hoan.Trong tiệc người ta thường hát bài: “ vương páo ỷ” (hát chúc nhà mới).(Xintrích một đoạn):
… “ Nhà bố rộng và rộng
Nhà bố rộng và to
Cửa to và cửa nhỏ
Hai lối tha hồ đi
Mái lợp như ngói hoa
Từng vần in trên mái
Nhà bố đắp thành tường
Như nhà xây quét vôi
Trang 5_ Nam giới Giáy mặc áo dài chấm gối, xẻ nách, vấn khăn; quần lá toạ;ống tay áo, ống quần rộng Có nhiều người nuôi tóc dài để búi.
_ Phụ nữ Giáy mặc áo che kín mông, xẻ nách, tay rộng, ở hò và cổ tay
áo đắp những miếng vải khác màu Váy che kín gối, xoè tương đối rộng.Nhóm Giáy vùng Lào Cai, Lai Châu mặc quần, nhưng nhiều tài liệu sáng tácdân gian lại nói đến mặc váy Phải chăng xa xưa người Giáy đều mặc váy?Cách phổ biến làm tôn vẻ đẹp của thiếu nữ là dùng sợi len hoặc sợi màu đỏ,màu hồng độn với tóc vấn, gọi là piêm mào và đeo chiêc túi vải hình chữnhật rộng 25-30 cm, dài 35-40 cm Dây túi dệt bằng chỉ màu luồn vào miệngtúi theo kiểu dây rút Hai đáy được thêu hình răng chó (hẻo ma) uốn trênđường chỉ màu xoè ra như hai cái quạt hoa nhỏ Đây là hoa văn phổ biến
Trang 6trong nghệ thuật trang trí người Giáy, còn được dùng thuê ở hai đầu chiếcgối, ở rèm vải cửa buồng đôi vợ chồng mới cưới hay ở mũ trẻ em.
Phụ nữ người Giáy cũng biết dệt thổ cẩm làm mặt chăn, mặt địu, nhưngkhông phổ biến
Hiện nay y phục người Giáy có một số thay đổi Phụ nữ mặc áo ngắnhơn, gấu áo nhỏ; lớp trẻ viền áo vòng ra phía sau thành vòng tròn, trước kiachỉ viền phía ngực Nam giới mặc áo xẻ ngực Do ít thêu thùa nên ngườiGiáy không tốn nhiều thời gian để may mặc Hầu hết đồng bào mua vải vềmay nên đa số phụ nữ có thêm nhiều thời gian chăm lo công việc khác
III, Văn hóa phi vật thể.:
1,Ngôn ngữ : thuộc hệ ngôn ngữ Tày-Thái
Đối với các dân tộc Tày-Nùng-Thái dân tộc Giáy có quan hệ vềnhiều mặt.Hiện tượng sống hòa vào nhau đang diễn ra ở nhiều địa phương:ởcác huyện Bảo Thắng,Bắc Hà,Bát Xát,Bảo Lạc,Yên Minh,dân tộc Giáy vớidân tộc Tày;ở các huyện Bảo yên,Mường Khương,dân tộ c Giáy với dân tộcNùng;ở các huyện Mường Tè,Phong thổ,dân tộc Giáy với dân tộc Thái.Ởnhững nơi đó đồng bào Giáy hoặc giữ được tập quán sinh hoạt dân tộcnhưng sử dụng ngôn ngữ dân tộc khác,hoặc giữ được ngôn ngữ Giáy nhưngtiếp thu tập quán sinh hoạt của dân tộc khác.Cũng có nơi như bản Giằng(Mường Tè),Năm Cáy,Tả Chải(Bắc Hà) người Giáy chỉ giữ được cách cúng
tổ tiên là hiên tượng duy nhất để nhận ra là dân tộc giáy.Một số nơi như BảnLầu(Mường Khương),Phong Niên(Bảo Thắng) người ta khó phân biệt ngônngữ sinh hoạt của 2 dân tộc Giáy và Nùng
Trang 72,tổ chức xã hội:
Nhìn chung quá trình phân hóa giai cấp trong dân tộc Giáy khá rõràng,nhưng bộ phận người Giáy ở Lào Cai diễn ra nhanh hơn,sâu sắc hơncác vùng khác
Dưới chế độ phong kiến,các thành phần xã hội và quan hệ ruộng đấtvùng Giáy Lào Cai đại thể như sau:
Để gây thế lực cho mình,các quan đều tổ chức lính dõng hoặc dânthường luân phiên canh gác nhà ở của chúng.Chúng cũng thường cho ngườianh em họ hàng làm các chức phó lý,binh thầu v.v…để thâu tóm quyền lực
về mình.Quan bắt mỗi làng trong đơn vị hành chính của chúng phải phụcdịch cho chúng 1 việc như làng chuyên trồng thảo quả,làng chuyên lo việccưới,việc tang,làng chuyên làm ruộng…có quan còn lập cả đội gái xòe đểmua vui khi tiệc yến,hầu hạ bọn quan trên đến
Trang 82,Phó lý(pỏ).Tùy theo số dân ít hay nhiều mà quy định số pỏ.Pỏ được 1suất ruộng công gọi là ná pỏ bẳng 1 “co ná”,có nơi được 2 “co ná”.Dân phảilàm không công cho pỏ các việc:cày bừa vỡ,nhổ mạ,cấy,gặt.
3,Chủ coi hai,ba thôn,có nơi có hàng trăm hộ.chủ dưới quyền phólý.Chủ được chiếm 1 “co ná” như phó lý
4,Pinh thầu(ping):chức này coi các việc hành chính trong các xómnhỏ,có nơi chỉ 5-7 hộ.Pinh được chiếm 1 “co ná”,tự làm lấy
5,Xíp ná,cũng gọi là mù láo.Người này không nhất thiết phải nhiều tuổinhư mù láo của dân tộc Mèo,chỉ cần tháo vát,giúp pinh thu thuế,đốc phu.Xíp
ná được 1 “co ná” lấy trong số ruộng thuế của làng,tự làm lấy,được miễnphu
6,Xã đoàn,tổng đoàn,châu đoàn không được phần ruộng như như chứcdịch hành chính,chỉ được suất ruộng cầm súng như các loại lính khác.Họđược mỗi năm chừng 2 tấn thóc,lấy từ thóc thuế do lý trưởng thu
7,Lính dõng,cầm súng nhà nước giao nhưng không thoát ly giađình.Người đi lính được 1”co ná”,miễn phu,miễn thuế,dưới điều khiển củachức dịch từ Pinh trở lên.Tuy nhiên lính dõng vẫn có hệ thống tổ chức riêngnhư xã đoàn,tổng đoàn,châu đoan coi nhiều xã đoàn,tất cả đặt dưới quyềnchỉ huy của viên đồn trưởng người Pháp
8,Các loại lính ăn lương nhà nước(khố đỏ,khố xanh,lính cơ)cậy làngười nhà vua nên có quyền thế,dân và chức dịch trong làng phải nhường nểchúng.Mỗi người đi lích chiếm 1 “co ná” ruộng công,tự làm lấy,không điphu,không nộp thuế,phải góp thóc,nuôi trả và các cúng lễ chung củalàng.Chúng được chọn ruộng đất tốt nhất nên dân có câu:”Ruộng tốt tìmlính”.Khi hết hạn lính,họ vẫn được chiếm lấy “co ná”ấy làm cho đến khichết,theo chế độ”cưu lào”như quan.Trường hợp đào ngũ hoặc bị đuổi thìphải trả ngay ruộng cho làng cũng như nộp súng cho quan.Đối với lính dõng
Trang 9cũng như vậy nên nhiều người phải đút lót chức dịch và quan lại để được giữsúng lâu năm.
Các chức dịch lúc đầu do dân bầu nhưng sau đã nảy sinh tranhchấp.Trước khi bầu,người tranh cử thường đem tiền của đút lót quan sởtại,mổ lợn,mổ trâu mời dân ăn uống,hứa cho dân quyền lợi nếu dân bầu
B,Nhân dân lao động và các thành phần khác:
1,Nhân dân lao động ở làng nào thì phải phục dịch bọn chức dịch ởlàng đó.Nhà nào không giữ phần ruộng công của làng thì không nộpthuế,không đi phu,nhưng hầu hết họ phảo gắn với ruộng công của làng.Ai có
1 suất ruộng công thì chịu phu,chịu thuế và không bị làng coi rẻ
2,Những người làm nghề mê tín gồm mo,tảo,chỉm(then)và thầybói.Mo và tào thường có từng tốp từ 3 đến 7,8 người,nhân dân gọi là “chaumo”(phường tảo,phường mo).Tảo và mo nổi tiếng không nhiều lắm như cảhuyện Bát Xát khoảng 1 vạn người Giáy mới có 1 mo ở Bản Pẳn,1 tảo ởhuyện Tòng Sành và 1 “chiêu”(then) ở Bản Náng.Thầy bói không làm molàm tảo được.Hầu hết họ không trúng vào các chức dịch xã.Trong chừngmực nào đó chức dịch cũng phải được kính nể họ.Họ không được miễnphu,thuế,tạp dịch.Họ cũng trực tiếp lao động sản xuất.Thực tế họ gần gũi vàđược nhân dân quý mến hơn bọn chức dịch
3,Những người làm nghề thủ công,bao gồm thợ làm đồ vàng bạc,thợđúc lưỡi cày,nồi,chảo gang và thợ làm nhiều đồ gia dụng khác loại nàykhông có nhiều,có khi cả 1 vùng rộng lớn mới có 1,hai người.Họ được nhândân quý mến
4,Nhà đàn bà góa(ran da mai),nếu nhà này chưa có con trai lớn hoặckhông có con trai thì dân làng chỉ coi là nửa hộ,mọi đóng góp chỉ chịu 1 nửasuất.Và phần ruộng công cũng dễ dàng bị làng đòi lại nếu không cáng đáng
Trang 10được phu,thuế.Họ không được bàn bạc công việc chung với làng xóm,kể cảcúng lễ,làng phân bổ sao chịu vậy.
5 Người liên lạc thông tin tức trong làng (gọi là trả) Mỗi làng có mộttrả phụ thuộc vào pinh Trước đây trong làng luân phiên nhau mỗi năm mộtngười làm trả Nhưng cũng có nhà không đảm nhiệm được vi góa bụa,vì quáneo đơn,nên sau làng dành cho một người làm, người đó được miễnphu,miễn thuế Rất ít người muốn làm việc này vì địa vị xã hội rất thấp kém.Trả không có phần ruộng nhưng được trả công bằng thóc chừng 1 tấn đến1,6 tấn hàng năm Trả đến đâu gặp bữa được ăn tự nhiên,dân làng coi đó lànghĩa vụ nuôi trả
6.Các con trai đi ở gọi là bảo ná Công việ chính là làm ruộng.Loạinày được nhà chủ đối xử khá.”bảo ná” mặc cả với chủ về công xá: thườngmỗi năm hai bộ quần áo,một đoi giày,một cái mũ,từ 200 đến 300 kg thóc.Cuối năm chủ phải trả sòng phẳng nếu không thì làng xóm chê bai gia chủ
và “bảo ná” kiện lén chức dịch “Bảo ná” muôn thôi việc lúc nào cũngđược,chủ không được ép buộc Chủ nhà thường phải chiều chuộng “bảo ná”
để được việc,có người làm lâu năm.Nhưng “bảo ná” cần cù, nết na thườngđược chủ nhà gả con gái cho
7.Đầy tớ “hỏi” Người đi làm ở đầy tớ thường là con mồ côi, con nhàrất nghèo.Đến ở với ai, “hỏi” phải lao động cực nhọc cho nhà chủ Có ngườichọn đời làm “hỏi”
8.Người trong nhà(hún rán đâu) là người được miễn phu thuế đểchuyên trồng thảo quả,làm ruộng,phục dịch nhà quan
Hầu hết các làng còn có ruộng công dùng vào việc thờ cúng,gọi là “naxía”,”ná cáu” tức ruộng thần,ruộng cầu.Phần ruộng này mỗi năm thu chừng300-400kg thóc.Ai làm ruộng này phải thắp hương rừng thần vào ngày 29tháng giêng hàng năm và chịu 1 gà,1 vịt,để sửa lễ cúng thần,không đi
Trang 11phu,không nộp thuế.Ruộng thổ thần(ná tú tí) từ 1 đến 2”co ná”cũng dùngvào việc cầu cúng cho làng.Ai làm ruộng này năm đầu chịu cho làng 1 nửacon trâu cúng,năm sau đóng góp và đi phu như mọi người.
Những người sống bằng nương rẫy không phải đi phu,đóng thuế vì xãhội coi họ là những người có địa vị thấp kém hơn người làm ruộng công Khi có Đảng lãnh đạo tinh thần yêu nước của đồng bào Giáy đượcphát huy mạnh mẽ,luôn sát cánh cungg nhân dân các dân tộc trong cả nướclao động chiến đấu xây dựng bảo vệ đất nước
*Trong gia đình : theo chế độ phụ hệ, Người chồng, người cha có vịthế nổi bật trong gia đình Con cái lấy họ cha Nhà trai chủ động việc cướixin
IV,Phong tục tập quán
*Người phụ nữ khi thai nghén phải kiêng nhiều thứ như khi đunbếp không được cho ngọn cây củi đốt trước,sợ đẻ ngược,không được đến cácđám tang hoặc nơi thờ cúng thần,sợ bị bắt vía v.v…cốt để luc sinh được mẹtròn con vuông.Gần tháng đẻ người ta làm cúng”mè pang”(mẹ mụ)để chínhthức đặt mụ cho đứa trẻ.Ở các nhà khá giả thi con đầu lòng cúng”mè pang”rất to,có khi mổ lợn 70-80kg.Những lần sau cũng cúng nhưng lễ vật chỉ cần
1 gà,1 vịt
Người Giáy quan niệm có con là do đầu thai.Vì vậy có trường hợp đẻnhiều lần không nuôi được mà đều là trai hoặc gái cả thì khi trẻ sơ sinh chếtngười ta khía tai làm dấu để khỏi đầu thai.Trẻ đầy tháng,gia đình sửa lễ báo
tổ tiên biết để được phù hộ và sau lễ này mới bế đứa trẻ ra gian giữa,đi lạichơi bời.Nếu là con đầu thì ngày đây tháng được gia đình làm cỗ mừng longtrọng để đặt tên.Tên,ngày tháng năm sinh đứa trẻ được thầy cúng viết bằng