I.Khái quát chung. Lịch sử hình thành Địa bàn phân bố Dân số Ngôn ngữ ,tiếng nói và chữ viết II.Hoạt động kinh tế III.Văn hóa vật thể. 1.Nhà cửa 2. Trang phục 3.ẩm thực 4.Phương tiện vận chuyển . IV.Văn hóa tinh thần . Tôn giáo tín ngưỡng Lễ hội Văn học dân gian Văn nghệ V.Văn hóa xã hội. 1.Tổ chức cộng đồng 2.Hình thức xã hội 3.Các yếu tố xã hội trong chu kì đời người VI. Phong tục tập quán . Cưới xin Tang ma VII. Xu hướng phát triển hiện nay . Tổng kết .
Trang 1Môn : Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng
Nam Bộ
Đề bài: Tìm Hiểu Về Dân Tộc Xtiêng
Trang 24.Phương tiện vận chuyển
IV.Văn hóa tinh thần
5 Tôn giáo tín ngưỡng
3.Các yếu tố xã hội trong chu kì đời người
VI Phong tục tập quán
Trang 3I Khái quát chung
-Dân tộc Xtiêng có tên gọi khác là Xa Điêng hay Bu Lơ ,Bu đíp ,Bu Đêh, Bu lanh,Ray ,Tà mun ,Buli
-Có người phân chia cộng đồng Xtiêng thành 4 nhóm : Bu đíp , Bu Đêh, Bu lanh, Bu Lơ
1.Lịch sử hình thành
-Đến nay tộc người Xtiêng chưa được giải thích có nghĩa là gì có người liên tưởng đến một nhân vật ,anh hùng văn hóa nào đó hoặc huyền thoại về thủy tổ của người Xtiêng có tên là Điêng Đó là nhân vật thông minh ,tài giỏi dạy dân làm ruộng,rèn sắt ,đan lát làm nhà
-Các truyền thuyết trên đã gợi cho khoa học những phán đoán về cộng đồng Xtiêng vốn là cư dân bản địa trong khu vực tiếp giáp giữa rừng và biển là hướng di chuyển của cộng đồng Môn khmer đi từ lục địa ra biển ,là cư dân biết làm ruộng nước và ruộng cạn
Trang 42.Phân bố
-Dân tộc Xtiêng cư trú rất lâu đời tại các tỉnh ở Đông Nam Bộ
-Địa bàn cư trú phía Nam giáp với người Việt ;phía Bắc giáp với người
Mnông,Mạ;phía Đông giáp với người Chăm và Khmer , còn phía Tây tiếp xúc với Campuchia vốn ở đây cũng có tộc người Xtiêng cư trú
-Dân tộc Xtiêng phân bố ở chủ yếu ở các tỉnh : Bình Phước, Bình Dương,Tây Ninh, Đồng Nai , Bà rịa-Vũng tàu ,Thành phố HCM
-Bình Phước là địa bàn sinh sống tập trung của người Xtiêng dân số chiếm 8,7% dân số toàn tỉnh và 95,4% dân số Xtiêng cả nước
4 Ngôn ngữ ,tiếng nói ,chữ viết .
-Tiếng nói của đồng bào Xtiêng thuộc nhóm Môn khơmer ngữ hệ Nam Á
-Hiện tượng song ngữ Việt – Xtiêng khá phổ biến nhiều người Xtiêng biết được tiếng Mnông, Mạ…
-Người Xtiêng hình thành chữ viết trước năm 1975 theo mẫu hệ La tinh nhưng sau đó
đã dần bị biến mất và đến nay họ không có chữ viết riêng
Trang 5II.Hoạt động kinh tế
1 Nông nghiệp
-Hoạt động kinh tế của người X tiêng chủ yếu
là làm rẫy trồng lúa Cuối mùa khô, vào
khoảng tháng 2 âm lịch các hộ gia đình tự
chọn đất làm rẫy.
+Quy trình làm rẫy: tìm đất rẫy -> phát rẫy ->
dọn rẫy -> tra hạt Khi tra hạt nam đi trước,
hai tay cầm hai chày trỉa, chọc lỗ, nữ mang gùi
lúa giống đi sau, hai tay bỏ hạt vào lỗ, chân vùi
đất lấp hạt.
+Thu hoạch:
• Bu Lơ thu hoạch bằng tay tuốt.
• Bu Đênh thu hoạch bằng lưỡi hái.
-Họ làm Rẫy canh tác từ 2 đến 3 năm rồi bỏ
Một đám rẫy, ngoài lúa đồng bào còn trồng
xen các loại cây: ngô, sắn, khoai lang.
- Các loại cây trồng chủ yếu: bầu, chuối , trầu
không, ớt và một số loại cây ăn quả khác.
2 Thủ công nghiệp
-Nghề thủ công nghiệp không phát triển, không mang tính chất sản xuất hàng hóa
+ Đan lát : Người đàn ông được học từ bé, phổ biến như đan gùi, nong nia để đựng thóc mang củi , đựng đồ đạc
+Làm gốm :ít người biết đến, chủ yếu sử dụng phương pháp bàn đập hòn kê
+ Nghề mộc chưa được hình thành, nhưng việc đó đã trở nên quen thuộc với người đàn ông Họ sử lí các công việc liên quan đến sửa nhà, làm nhà
+ Dệt vải: phụ nữ Xtiêng biết dệt vải và rất khéo tay Nhưng họ ít dệt vải mà chủ yếu
là trao đổi
*Chăn nuôi: mang tính chất hỗ trợ Họ nuôi gà , vịt Trâu nuôi để làm vật
ngang gía ăn tết, phục vụ lễ đâm trâu chứ không phải để cày bừa.
Trang 6• 3 Trao đổi
• Trao đổi được tiến hành theo 2
cách: tại nhà và tại nơi có nguồn
hàng
-Tại nhà: do người buôn bán mang tới
đổi sản phẩm theo phương thức
hàng đổi hàng hoặc theo giá trị tiền
-Tại nơi có nguồn hàng: họ mang đi bán
và mua những thứ cần thiết như:
chiêng, ché, quần áo, vũ khí trâu là
loài vật quan trọng
4 Chiếm đoạt tự nhiên
+Bắt cá, đi săn, hái lượm mang tínchất
là một nền kinh tế phụ trong đời sống có tác dụng thiết thực vào mùa giáp hạt
+ Các phương thức bắt cá như: ngăn đê, tát nước, dùng đơm, đó, dùng cây độc để bắt cá Trẻ em, người lớn,
cả đàn ông và phụ nữ đều làm những công việc này
+ Đi săn là công việc của đàn ông Họ chủ yếu dùng nỏ
+Hái lượm: thường do phụ nữ đảm nhiệm trong việc bẻ măng, hái nấm
Trang 7-Kết cấu nhà được chia 2 phần theo chiều dọc của toàn bộ ngôi nhà.
+ Phần dùng làm chỗ ngủ gọi là Vang Bích là khu sàn được làm bằng gỗ hoặc tre kê cao hơn ngăn ra theo từng hộ gia đình
+phần còn lại là lối đi là khu sinh
hoạt,phần quan trọng nhất là nơi cất giữ lương thực gọi là Vang Jang kế bên là nơi ngủ của đàn ông và cũng là nơi tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng
Trang 82 Trang phục
a Y phục
-Nam giới thường đóng khố ,cởi trần về mùa lạnh thường mặc thêm áo chui đầu khoác thêm chiếc ciếc mềm đắp
-Nữ :váy ,ở trần đối với những nhà nghèo phụ nữ thường đống khố -Vào dịp lễ hội,hoặc khi đi xa đàn ông ,đàn bà mặc thêm tấm áo chui đầu ngắn và quàng 1 tấm chăn bên ngoài.
Trang 9
-B Đồ trang sức
-Đàn ông Xtiêng để tóc dài bới tóc thành bối,trang điểm thành những búp màu và cài lông chim có màu sắc rực rỡ
-Đồng bào thích dùng lược bằng ngà voi,họ đeo vòng cổ ,vòng tay bằng bạc ,đồng nhôm có người đeo vòng bằng dây đồng cuốn hoặc ống đồng lên tận cùi tay ,trẻ thường đeo lục lạc
ở cổ chân
-Người khá giả còn mang trên
tay,chân những vòng đồng cuộn liền thành một ống dài ,cổ đeo các vòng đồng chuỗi hạt cườm -họ xăm mình : cánh tay ,ngực
Trang 103 Ẩm Thực
-Ăn :: Người Xtiêng trước đây ăn cơm
tẻ ,cơm nếp ,nấu bằng nồi đất ống tre (cơm lam).chủ yếu các loại rau ,tôm ,cá
+Trước đây Người Xtiêng ăn thịt voi rừng khi săn được ,nhưng thịt voi nhà chết thì đem chôn
+Món ăn yêu thích nhất của người Xtiêng là các thứ thịt tươi săn bắn và nuôi được như cá,kiến non bọc trong bẹ chuối hay lá tươi nướng trên than hồng
-Thức uống :: Người Xtiêng thức uống của
họ là nước lã và rượu cần do đồng bào tự chế tạo
-Người Xtiêng thích nhai trầu ,hút thuốc lá trong chiếc tẩu dài Tất cả mọi người từ già trẻ trai gái cũng đều biết hút thuốc
4 Phương tiện vận chuyển
-Người Xtiêng phổ biến vận chuyển bằng gùi ngoài ra còn phổ biến vận chuyển bằng loại xe gỗ 2 bánh to,đôi bò kéo
Trang 11IV Văn hóa tinh thần
1 Tôn giáo tín ngưỡng
+ Trong các thần được tôn thờ và quan
trọng nhất là thần Yang Liêng,Thần
khai sáng của các vùng đất của người
Xtiêng,sau đó là thần lúa (Tut Ba) có
nơi còn gọi là mẹ lúa
+Tín ngưỡng “vạn vật hữu linh ”mọi thứ
xung quanh từ con người ,động vật,cây
cỏ,hiện tượng tự nhiên đến đồ vật đều
có linh hồn
“thần linh” có rất nhiều như: sấm sét ,thần
mặt trời ,thần núi ,thần lửa…
Vật hiến tế là rượu các vật hiến sinh
thường là màu trắng như lợn ,gà,
trâu,bò……
+ Tín ngưỡng nông nghiệp liên quan đến
các lễ cúng chọn đất làm rẫy vào tháng
giêng ,lễ cầu mưa (Broh ba) được tổ
chức ngay khi thu hoạch gùi lúa đầu
tiên
Lễ cầu mưa (Broh ba)
Trang 12+Người Xtiêng còn có tín ngưỡng
“cấm làng” khi lập làng quan niện cầu mong sự no đủ ,khỏe
mạnh,hạnh phúc
Người Xtiêng có tục kiêng kị như : những gia đình nuôi con nhỏ
không được ăn thịt lươn, phụ nữ
có chửa không được ăn cá quả
to vì sợ con to khó đẻ
+Họ có tục cà răng căng tai.tục
căng tai thể hiện cái đẹp tính cách của những người căng tai và mong ước của họ
Trang 132.Lễ hội
Các lễ hội có quy mô tộc người gắn với
đời sống tín ngưỡng nông nghiệp
như:cầu mùa trước khi gieo trồng ,lễ
cúng cơm mới ,cúng hồn lúa , … bày tỏ
lòng biết ơn đối với trời đất ,thần linh
và cầu mong tiếp tục phù hộ cho đời
sống mùa màng thuận lợi
-Trong các tín ngưỡng nghi lễ của
người Xtiêng phải kể đến 2 ngi lễ quan
trọng có ảnh hưởng đến tình cảm đời
sống văn hóa tâm linh của cộng đồng
người Xtiêng
+Lễ cúng cơm mới (pabakhiêu) là thể
hiện tấm lòng tôn kính thần lúa đã đem
lại cuộc sống ấm no cho người Xtiêng.
Lễ cúng cơm mới (pabakhiêu)
Trang 14+ Lễ cúng cơm mới được tổ chức
vào dịp thu hoạch mùa màng bội thu,
người Xtiêng thường có tục hiến sinh
(giết gà, heo, trâu) để tế thần.
+Quan trọng nhất đối với họ là tục
đâm trâu đây là 1 lễ hội lớn mang ỹ
nghĩa cho cộng đồng với mục đích
để mừng chiến thắng ,mừng được
mùa và cầu mong làm ăn phát tài
(Đầu trâu được buộc lên cây nêu tế thần linh.)
Trang 153 Văn học dân gian
Đây là vốn tri thức văn hóa bảo tồn qua truyền khẩu do tộc người này chưa có chữ viết
-Người Xtiêng có số lượng truyện khá phong phú 131 truyện vừa đa dạng về thể loại như: thần thoại (8 truyện);truyền thuyết(14 truyện); truyện cổ tích loài vật (12 truyện);truyện cổ tích thần kì (64 truyện) ;truyện cổ tích thế tục (19
truyện);truyện cười (14 truyện)
+Truyện thần thoại phản ánh khá đầy đủ nhận thức của cộng đồng thời
nguyên thủy về thiên nhiên,vũ trụ ,loài người ngoài ra còn có truyền thuyết về địa danh,những người anh hùng dân tộc …
+Một số truyện kể dân gian như :
Truyện về thần Djêng dạy người Xtiêng biết rèn công cụ lao động,biết làm rẫy ,đan dệt Hay sự tích người Xtiêng không ăn thịt cà héc ;thợ săn bà chúa rừng;Người tù trưởng Xtiêng trẻ tuổi ;Con gà thần và hai chị em …
-Người Xtiêng còn lưu truyền nhiều về các gồ tắm voi ,các tòa nhà hình tròn của dân tộc ,mối quan hệ với các “nước”có tên là Bà Li,Thu Nại ,Xích Thổ…
Trang 164 Văn nghệ
•Âm Nhạc
-Người Xtiêng yêu âm nhạc ,nhạc cụ quan
trọng nhất đồng thời là một trong số gia tài quý
ở xã hội truyền thống là cồng và chiêng
-Biết chế tác và sử dụng nhiều nhạc cụ
như :kèn M’buốt ,Sáo Tơ lết ,Sáo Pia …và một
số loại trống
-Nhạc Xtiêng là những bản ngắn gọn ,đơn giản
thường thể hiện mô phỏng tiếng suối, tiếng
gió, tiếng con chim ,sóc
-Người Xtiêng cũng có thú chơi diều vào mùa
khô ,chơi quay.đặc biệt là những thú này cuốn
hút nhiều thanh thiếu niên
•Nghệ thuật múa:
-Người Xtiêng có điệu múa trong lễ hiến sinh
và có các điệu múa như: Múa dâng lễ (bà
bóng dâng lễ) hay còn gọi là lễ Mê Vra Ri;Múa
quanh cây nêu ,múa đuổi ma……
- Múa tín ngưỡng của người Xtiêng phần lớn
do bà bóng thực hiện, bà bóng được xem như
người có nhiều phép thuật có khả năng sai
khiến âm binh, trừ ác quỷ, chữa bệnh cho
người
(Múa Lễ tạ ơn)
Trang 17V Văn hóa xã hội
1 Tổ chức cộng đồng
-Xã hội của người Xtiêng được tổ chức theo các pah(làng) có nơi lại gọi theo sóc của người (Khơmer ) hay buôn của người Mnông.
-Đứng đầu làng là một già làng là người có uy tín vói cộng đồng
-Mỗi làng có trên dưới 30 gia đình ,mỗi gia đình có nhiều hộ và điều hành theo nếp sống phụ hệ
-Những người đứng đầu các gia đình hợp lai thành một tổ chức ,một hội đồng để quản lí công việc của Pah
-Hội đồng này lại bầu ra 1 người đứng đầu không có quyền hành ,không mang tính cai trị mà chủ yếu mà điều phối giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống của dân làng
-Xã hội Xtiêng đã có sự phân hóa sâu sắc nhưng không có thủ lĩnh ,tinh thần dân chủ và bình đẳng cao(không có sự phân biệt).
-Quyền sở hữu của người Xtiêng đã đạt đến mức độ phát triển tương đối cao Đất đai làm rẫy là quyền thuộc sở hữu của cả làng
-Các hộ trong làng có quyền sở hữu các loại vũ khí đồ dùng những hiện vật có giá trị thuộc quyền sở hữu của đàn ông như cồng chiêng,vũ khí ….
-Quan niệm sống bình đẳng được hình thành từ lâu đời ,theo quan niệm của đồng bào đó là lối sống bằng nhau
Trang 182.Hình Thái cơ cấu gia đình
-Hình thái và cơ cấu của người Xtiêng thuộc loại gia đình phụ
hệ, Người đàn ông có vai trò quan trọng trong cuộc sống gia đình -Luật tục cho phép về sự hơn hẳn của người đàn ông so với dàn bà song cuộc sống hàng ngày quan niệm người phụ nữ vẫn được đề cao
3.Các yếu tố xã hội trong chu kì đời người.
Chu kì đời người hay vòng đời của con người thông qua các
mốc cơ bản:sinh nở và trưởng thành ,xây dựng gia đình ,về già và chết trong đời con người
•Sinh nở
-trẻ em sinh ra nếu là con gái thì cho bú còn đối với con trai thì sau 2 đến 3 ngày mới cho bú
-Họ không sinh con trong nhà mà sinh con ở ngoài rừng
-Nếu đứa con đầu lòng sinh chẳng may chết non thì gia đình kiêng ăn thịt mển và chim cu 1 thời gian Gia đình nào nuôi con thì không
được ăn thịt hươu ,phụ nữ sinh đẻ thì không được ăn cá lóc to.
Trang 19• Chết
-Cái chết của người Xtiêng chia làm 2 loại :
+Chết thiêng tức là chết không bình thường mà do tai nạn hoặc hồ vồ…
+ Chết thường tức là chết do già cả ,ốm đau.Với những người chết thiêng phải làm lễ cúng lớn hơn bình thường phải kiêng kị nhiều
VI Phong tục tập quán
1 Cưới xin.
A Đám hỏi
-Đôi trai gái sau khi tìm hiểu nhau được hai bên gia đình đồng ý quyết định lấy nhau bên nhà trai cử 1 người làm mai sang nhà gái gửi cưới cô gái (người làm mai là già làng)
-Sau khi biết ngày làm đám cưới hai ông mai lại tiếp tục sang nhà cô gái thông báo ngày cưới và lúc này có tục “bẻ cây” hay còn gọi là kích
năng.
Trang 20
-Đến ngày cưới nhà gái chuẩn bị 3 tố rượu và con heo ,khi nhà trai mang đồ vật sang nhà gái
-Bà con dòng họ đôi trai gái và ông mai cùng 2 người ngồi trước số rượu để cúng thần linh và người nhà làm thịt heo ,thịt gà để đãi khách sau đó lần lượt mời 2 ông mai ,ông sui gia ,con rể,con gái cùng bà con dòng họ cùng hàng xóm vui vẻ ăn uống
-Sau khi uống rượu xong 2 vị chủ hôn mời 2 vợ chồng vào phòng ngủ
-Trên sạp tre người ta đặt sắn 1 ché rượu ,1 con gà nướng đặt trên lá ,hai ngọn nến được đốt sáng.
+nến cháy đều 2 vợ chồng cầu khấn thần linh ,phù hộ cho họ được sống bên nhau 100 mùa rẫy
Trang 21-Khi 2 vợ chồng cúi xuống người chủ hôn cầm khăn trùm nhanh lên đầu 2 vợ
chồng,lập tức đôi vợ chồng lật khăn lên và thổi tắt nến
-sau khi mọi người ăn uống vui chơi thì cô dâu và chú rể thực hiện một nghi thức đó là:cùng bước vào nhà dưới sự chứng kiến của những người phụ nữ trong dòng
họ.Chờ lúc cô dâu chú rể vào hẳn trong thì thì 3 người phụ nữ giã cối ,tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực
-Quan niệm về người chết của người XtiênGđược phân thành 2 loại :
+Chết thông thường :là chết già
+Chết thiêng
• Chết thông thường
+ đồng bào hạ 1 cây to ,nửa khoét làm hòm ,nửa làm nắp Người chết không cần khâm liệm ,rửa ráy được đặt vào ngay ngắn ,có khi đổ thêm ít gạo ,thuốc lá ở phía đầu rồi đựng nắp hòm lại khênh lên vai rồi đi chon xa nhà
Trang 22•Chết thiêng
+ làm 1 cái quán để quản quan tài và làm ma ở ngoài nhà Nếu làm
ma trong nhà gia đình phải gỡ ván sàn rồi đưa thi hài từ dưới gầm sàn lên mà không biết đường về nhà ,gây phiền nhiễu cho người sống -Những kiêng kị khi trong làng có người chết
+ Làng có người chết không qua các làng khác
+ Một năm mà có 2- 3 người chết làng đó bỏ đi 2 -3 lần
+ Có người chết cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong vòng
10 ngày trường hợp chết bất bình thường cũng tốn kém hơn ,kiêng cữ nhiều hơn lễ thức làm ngoài khu dân cư của làng và không được vào bãi mộ của làng
+ Sau khi chôn người chết về tắm lá ngải và máu gà vì người ta quan niệm hồn người chết vẫn còn theo người sống
Trang 23Tỉ lệ người biết nói tiếng việt Tần số Tỉ lệ
Gía trị Dưới 25% thành viên biết tiếng việt 2 0,6
Từ 25% -dưới 50% thành viên biết tiếng việt 17 4,7
Từ 50%-dưới 70%thành viên biết tiếng việt 124 34,3
Từ 75%-99%thành viên biết tiếng việt 78 21,6 Toàn bộ thành viên trong gia đình biết tiếng việt 135 37,4
VII.Các xu hướng phát triển hiện nay
1.Một số biến đổi văn hóa của người Xtiêng
a Trong lĩnh vực ngôn ngữ
-Ngôn ngữ của người Xtiêng đã có nhiều biến đổi Sự ảnh hưởng của tiếng việt đối với người Xtiêng thể hiện qua tỉ lệ người Xtiêng biết nói tiếng việt và việc đặt tên tiếng việt cho con cái
(Bảng Tỉ Lệ người Xtiêng biết nói tiếng Việt )
+ Tỉ lệ người Xtiêng biết nói tiếng việt khá cao có 5,3%số hộ gia đình có dưới 1 nửa thành viên không biết nói tiếng việt ;34,3;% có hơn 1 nửa đến 2/3 số thành viên trong gia đình biết tiếng việt