1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về dân tộc Si La ở Bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên (1973 – 2008)

90 999 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 597,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dântộc Si La với số dân dưới 1000 người, cũng có những đặc trưng, bản sắc nhấtđịnh và với nền văn hoỏ đú họ đã làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc.Hơn nữa, là một cộng đồng dân cư quỏ

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam ngày nay là một dải bán đảo chạy dài theo bờcong khúc khuỷu từ Bắc xuống Nam - uốn mình ven biển Đông Phía Tây vàphía Bắc gồm những vùng biên giới núi non trùng điệp, phía Đông và TâyNam sóng vỗ quanh năm Ngay từ thiên kỷ trước công nguyên, trước cảkhi có nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, vùng lãnh thổ này đã là nơi gặp gỡgiữa các luồng di dân từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, từ lục địa rahải đảo và ngược lại Vì vậy mà nơi đõy đó diễn ra sự một sự giao thoa vănhoá và tộc người rất phức tạp Câu ca dao xưa của người Việt:

“Bầu ơi thương lấy bớ cựng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

đã soi tỏ dấu ấn về sự giao thoa này trong buổi bình minh của lịch sử Và trênnền cảnh ấy, đất nước ta ngày nay là nơi phân bố của gần 60 dõn tộc anh em– bao gồm trên 170 nhóm địa phương Tất cả có chung một cách mưu sinh làlàm nông nghiệp trồng lúa và chung một huyền thoại về “Quả bầu mẹ” hay

“Bọc trăm trứng” Mỗi dân tộc đều mang trong mình những bản sắc văn hoá,những hình thái kinh tế riêng hoà vào nhau để tạo thành khối thống nhất Dântộc Si La với số dân dưới 1000 người, cũng có những đặc trưng, bản sắc nhấtđịnh và với nền văn hoỏ đú họ đã làm phong phú thêm nền văn hoá dân tộc.Hơn nữa, là một cộng đồng dân cư quỏ ớt người lại mang trong mình nhiềugiai thoại huyền bí, việc tìm hiểu về người Si La là điều rất đáng quan tâm.Nhất là hiện nay, xu hướng hoà đồng giữa các nhóm dân tộc quỏ ớt người vớinhững nhóm tương đối đông hơn ở xung quanh

Vấn đề dân tộc thiểu số là vấn đề được Đảng và nhà nước rất quantâm Bởi trong khi cuộc sống của nhõn dõn vùng đồng bằng, ven biển hiệnnay đã có những bước chuyển lớn, đời sống được cải thiện với mức thu nhậpcao thì đồng bào thiểu số cũn rất khó khăn, đặc biệt là đồng bào dân tộc

Trang 2

vùng sõu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Chớnh vì thế nghiên cứu về cáctộc người để tỡm ra giải pháp, kiến nghị nhằm nõng cao mức sống, pháttriển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số có thể tiến kịp với miềnxuôi được các cấp lónh đạo cũng như các nhà sử học, dân tộc học… quantõm

Chính vì vậy để hiểu hơn về dân tộc Si La, góp phần vào quá trình

phát triển dân tộc này, tôi quyết định chọn đề tài "Bước đầu tỡm hiểu về dân tộc Si La ở Bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biờn (1973 – 2008)"

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong nhiều năm qua, các ngành đã giành nhiều thời gian, công sức

để nghiên cứu lĩnh vực các dân tộc thiểu số, nhiều công trình khoa học đã rađời Nhưng đối với người Si La đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách

có hệ thống Một vài công trình ít nhiều đã nghiên cứu về người Si La như:

Trước hết có thể kể đến cuốn: “Các dân tộc ít người ở Việt Nam các tỉnh phía Bắc”, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1975 Nội dung cuốn sách đề cập

đến một số vấn đề về lịch sử tộc người, đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội,ngôn ngữ của các dân tộc ít người trờn vựng đất phía bắc Việt Nam trong đó

Trang 3

Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn với “Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí minh, 2003 đã nêu lên một

số vấn đề cơ bản về các dân tộc trên đất nước Việt Nam trong đó có mộtphần nhỏ đề cập đến người Si La

Bên cạnh các tác phẩm, tác giả nói trên thì có lẽ cuốn Văn hoá và nếp sống Hà Nhì – Lụ Lụ của Nguyễn Văn Huy là tư liệu khá quan trọng vì đã

đề cập đến khá nhiều khía cạnh của người Si La như văn hoá vật chất, vănhoá tinh thần với góc độ là một tộc người riêng biệt thuộc nhóm ngôn ngữTạng - Miến Đó là nguồn tư liệu đáng trân trọng và hết sức quý báu trongviệc tìm hiểu về người Si La

Nhưng quan trọng hơn cả là cuốn ôVăn hoá Si Laằ của Ma Ngọc

Dung là nguồn tài liệu không thể thiếu khi tỡm hiểu về dân tộc Si La Tácgiả đã đề cập đến những nét chung nhất về văn hoá của dân tộc Si La, đặcbiệt là đời sống tinh thần của dân tộc Si La nói chung Trên cơ sở đó khi tỡmhiểu về dân tộc Si La ở bản Nậm Sin sẽ dễ dàng hơn

Những công trình nghiên cứu kể trên mới chỉ đề cập một phần riêng lẻhoặc rất chung chung sơ lược tổng quát về người Si La trong một giai đoạnlịch sử nhất định Những công trình của người đi trước đó có những đóng góprất quý giá trong việc nghiên cứu tộc người Si La Đó là một trong nhữngnguồn tư liệu, tài liệu tham khảo sinh động góp sức cho người đi sau Trên cơ

sở nghiên cứu của những người đi trước về tộc người Si La Trong bản khoáluận của tôi, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả, là cơ sở để hệthống hoá vấn đề nghiên cứu và bổ sung thêm tư liệu mới của tộc người SiLa

3 Đóng góp của khóa luận

1 Khôi phục sự chuyển biến trong đời sống kinh tế - xã hội của người

Si La dưới tác động của chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước, đặcbiệt trong thời kì đổi mới Qua đó đóng góp vào quá trình nghiên cứu các

Trang 4

2 Nghiên cứu về người Si La ở một địa phương cụ thể còn nhằm mụcđích tìm hiểu thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu sốvùng cao Để cung cấp một cơ sở thực tiễn cụ thể giúp cho các nhà lónh đạo,quản lí hoạch định chớnh sách góp phần vào việc tìm ra giải pháp thúc đẩy

sự phát triển kinh tế xã hội vùng cao Điện Biên nói chung, vùng người Si La

ở Mường Nhé nói riêng

3 Việc tìm hiểu về người Si La còn nhằm bổ sung tư liệu, góp phầnvào công tác nghiên cứu tộc người Si La và tạo cơ sở cho việc nghiên cứu

và giảng dạy lịch sử địa phương, ở trường phổ thông (cung cấp tài liệu đểxõy dựng chương trình giảng dạy các tiết lịch sử địa phương ở Điện Biên)

4 Đóng góp vào quá trình giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá củangười Si La ở Mường Nhé nói riêng, các giá trị văn hoá của các dân tộcthiểu số ở Điện Biờn nói chung Góp phần làm cho các dân tộc thêm hiểubiết về nhau, gần gũi và đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương đất nước

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Nghiên cứu về người Si La là công việc hết sức khó khăn vì nguồn tưliệu khan hiếm, là một dân tộc thiểu số nên địa bàn cư trú phân tán, giao tiếpngôn ngữ bất đồng gây nhiều cản trở trong công tác điều tra, điền dã Đểhoàn thành khoá luận, tôi dựa vào các nguồn tư liệu chủ yếu:

1 Tài liệu điền dã, điều tra xã hội học

2 Tài liệu lưu trữ

3 Các văn kiện của Đảng và Nhà nước

4 Các sách báo chuyên khảo có đề cập đến dân tộc Si La

4.2 Phương pháp nghiên cứu.

Quan điểm nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài, tôi bám sátquan điểm phương pháp luận sử học Macxớt và tư tưởng sử học Hồ ChíMinh để đánh giá chân thực, khách quan về đời sống của người Si La

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu: sử dụng các phương pháp lịch sử, phươngpháp logic đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp liên ngành nhưphương pháp so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu có liên quan đến đề tài, để

từ đó rút ra những kết luận nhận xét khoa học

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Khoá luận nghiên cứu về đời sống kinh tế - xã hội của người Si La

- Không gian: Khoá luận nghiên cứu về dân tộc Si La trong phạm vimột bản là bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh ĐiệnBiên

- Thời gian: Khoá luận nghiên cứu về người Si La từ khi tới sinh sống

ở huyện Mường Nhé từ năm 1973 đến năm 2008

6 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Một vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội của bản Nậm

Sin, huyện Mường Nhé

Chương 2: Những hoạt động kinh tế chính của người Si La ở bản

Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé

Chương 3: Những nét cơ bản về đời sống xã hội của người Si La ở

bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé

Trang 6

B NỘI DUNG

Chương 1

MỘT VÀI NẫT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIấN - XÃ HỘI

CỦA XÃ CHUNG CHẢI - BẢN NẬM SIN

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên

1.1.1 Về vị trí địa lý

Huyện Mường Nhé được thành lập theo quyết định số:

08/2002/NĐ-CP ngày 14/01/2002 của chính phủ, về việc điều chỉnh địa giới hành chínhhuyện Mường Tè, huyện Mường Lay, gồm 6 xã Trong đó 4 xã thuộc huyệnMường Tè (Mường Toong, Mường Nhé, Chung Chải, Sớn Thầu) và 2 xãthuộc huyện Mường Lay (Chà Cang, Nà Hỳ)

Xã Chung Chải có diện tích tự nhiên là 39.020 ha, dân số là 1.873khẩu Xã gồm có bốn bản: bản Nậm Khum, bản Nậm Vì B, Nậm Vì A, bảnĐoàn Kết, bản Nậm Sin Xã Chung Chải được giới hạn bởi:

Phớa Tây Bắc giỏp xó Sớn Thầu

Phớa Bắc giỏp xó Tà Tổng của huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu).Phớa Nam giỏp xó Mường Nhé

Phớa Tây giỏp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Xó có diện tích tự nhiên là 39.020 ha, dân số xã là 1.873 khẩu

Bản Nậm Sin hầu hết là người Si La sinh sống, nằm về phía Đông – Namcủa xã Chung Chải Là một bản khó khăn nhất trong xã:

Phớa Tõy - Bắc giáp với bản Nậm Khum (dân tộc Hà Nhì)

Phớa Đông - Bắc giỏp xó Tà Tổng huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu.Phớa Đông - Nam giáp bản Nậm Vì B

Phớa Nam giỏp xó Mường Nhé Huyện Mường Nhé

Địa bàn cư trú của người Si La nằm ở khu vực khó khăn nhất của tỉnhĐiện Biên, bản Nậm Sin gần như cách biệt với xung quanh, cách xa trungtâm xã trên 15 km, cách trung tâm huyện Mường Nhé 40km, cách thành phố

Trang 7

Điện Biên Phủ 250 km Trước năm 2007 thì không có đường giao thông vàobản, người dân đi lại chủ yếu bằng đường mòn dân sinh và đi bộ, không cóbất kỳ loại phương tiện giao thông nào Nhưng từ cuối năm 2007 với việchoàn thành giai đoạn 1 của “Dự án phát triển dân tộc Si La” thì hiện nay đã

có đường vào đến bản tuy nhiên nó mới đang ở giai đoạn đầu nên đường xá

đi lại vẫn khó khăn Điều này đã gõy khó khăn rất lớn cho người dõn trongviệc phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn

Bản Nậm Sin có khí hậu đặc trưng của miền núi cao (khí hậu nhiệtđới gió mùa vùng cao) và được chia làm hai mùa rừ rệt đó là mùa đông vàmùa hè Mựa đông lạnh, mưa ít, thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước đếntháng 4 năm sau Mựa hố núng ẩm, mưa nhiều, thường bắt đầu từ tháng 4đến tháng 10

- Lượng mưa :

+ Lượng mưa cao nhất 2.739 mm/năm

+ Lượng mưa bình quân 2439 mm/năm

+ Lượng mưa thấp nhất 1.673 mm/năm

Mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mưa lớn tập trung vào tháng 5đến tháng 9 Nhìn chung lượng mưa phong phú nhưng phõn bố không đều

- Chế độ gió: Chế độ gió mùa có sự tương phản rõ rệt, do nằm sâutrong lục địa nên ảnh hưởng của bão trong mùa hè và của gió mùa Đông Bắctrong mùa đông ít hơn các nơi khác thuộc vùng Đông Bắc và đồng bằngsông Hồng, nhưng lại chịu ảnh hưởng của gió Tây khô và nóng Mùa hè cógió mùa Tây Nam hoạt động kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, đầu hố cú sựxuất hiện của gió Tây (gió Lào) khụ núng, gây trở ngại cho đời sống Ngoài

ra còn có gió Đông và gió Nam, đôi khi gõy giụng, lốc xoáy, mưa đá, thờitiết ẩm và mưa nhiều

- Chế độ bức xạ nhiệt: Chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời nội

Trang 8

lớn Trung bình mỗi năm ở Nậm Sin, có khoảng 120 – 140 ngày nắng, vớitổng số giờ nắng khoảng từ 1500 – 1800 giờ.

+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 38oC

+ Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 30C

+ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 220C

+ Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 29 - 300C (tháng 6)

+ Nhiệt độ thấp nhất trung bình từ 14 - 150C (tháng 10)

Tháng lạnh nhất là tháng 10, sương muối thường xảy ra vào tháng 11

và 12 Bởi vậy trong tỉnh xuất hiện một số loại cây rụng lá, nửa rụng lá như

Bồ Đề, Mỡ, Xoan…

- Độ ẩm: độ ẩm không khí trung bình hàng năm của Nậm Sin là từ80% – 85% Cỏc thỏng mùa hè có mưa nhiều nên độ ẩm không khí tăng cao,lên tới 87 – 92%, đây là thời điểm có độ ẩm không khí trung bình cao nhấttrong năm, độ ẩm không khí trung bình thấp nhất vào cỏc thỏng 1,2,3

Như vậy, bản Nậm Sin có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao, vớimột mùa đông lạnh Có độ ẩm quanh năm cao hơn 80% đã tạo điều kiệnthuận lợi cho nhiều loại cõy trồng và cõy rừng Với khí hậu như vậy nếu ápdụng được đầy đủ các tiến bộ khoa học kĩ thuật, lựa chọn giống cõy, mùa vụthích hợp có thể phát triển một nền sản xuất thõm canh toàn diện các loạicõy trồng như: các loại cõy trồng nhiệt đới, ôn đới, cõy công nghiệp, cõy ănquả, cõy lương thực, cõy thuốc, lõm nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm

Túm lại, với tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao là đưalại những điều kiện thuận lợi và khó khăn sau:

- Thuận lợi:

1 Tạo điều kiện thuận lợi Cho quá trình phong hóa đất, phân huỷ cácchất khoáng, các chất hữu cơ để tạo thành đất Do vậy ở những nơi địa hìnhbằng phẳng, thoai thoải thường có tầng đất dày, phù hợp trồng nhiều loại cây

2 Lượng mưa lớn và tập trung (80% tổng lượng mưa/năm tập trungvào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10) trong điều kiện đồi núi thoát nước đã

Trang 9

làm cho các chất khoáng, chất kiềm và kiềm thổ dễ bị hoà tan và trôi đikhiến đất bị chua Nhưng các hợp chất sắt, nhôm được tích luỹ dần ở trongđất tạo nên quá trình Feralit hoá Quá trình này đã tạo nên các loại đất màukhác nhau, tạo điều kiện đất nào cõy ấy để đa dạng hoá cõy trồng.

3.Với tác động của điều kiện khí hậu thuỷ văn đã tạo ra các kiểu thảmthực vật khác nhau như rừng kín, rừng thưa… các kiểu thảm thực vật đó là

cơ sở cho việc hình thành những đặc điểm của đất đai như lượng mùn, cácthành phần kháng chất độ chua, độ ẩm phục vụ cho nông nghiệp

4 Bản Nậm Sin nằm trong khu vực suối Nậm Sin với địa hình chiacắt có nhiều khe nhỏ Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cáccông trình thuỷ điện nhỏ và xây dựng các công trình thuỷ lợi phục vụ chokhai hoang phát triển sản xuất

- Khó khăn:

1 Ở đây mùa đông lạnh, có những ngày nhiệt độ xuống đến 20C cộngvới sương muối khiến cho nhiều loại cõy trồng (lúa, chuối ) vật nuôi (trõu,lợn, gà, vịt) bị bệnh, bị chết

2 Vào mùa hè lượng mưa lớn lại mưa tập trung dễ gây ra lũ lụt, sạt lởđường, gây khó khăn cho đời sống, sản xuất, sinh hoạt Các yếu tố khí hậu,thời tiết đang một phần gõy khó khăn làm cho sản xuất nông nghiệp chưathể chủ động được Có năm được mùa, có năm mất mùa Những yếu tố trởngại chớnh là: úng, hạn, rét và khí hậu ẩm, mưa ít, nóng thích hợp cho nhiềuloại sõu bệnh phát sinh thành dịch Vụ đông xuõn chưa thật ổn định do rét

và hạn trong mùa đông

1.1.3 Đất đai, địa hình

Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên của bản khoảng 10.000 ha.Trong đó đất rừng là chủ yếu 99,6% gồm các loại rừng: rừng kín, rừngthưa, rừng nguyên sinh, rừng kinh tế [27; 4] Trong rừng có nhiều loại gỗquý như: pơmu, tỏu, lim, nghiến… và rất phong phú về số lượng tre nứa,

Trang 10

PHÂN LOẠI HỘ THEO DIỆN TÍCH ĐẤT RỪNG

Phân loại hộ Địa chỉ người trả lời phỏng vấn

Thứ hai là đất nông nghiệp gồm: đất ruộng nước 8ha (0,08%) và đấtnương rẫy 13ha (0,27%), bình quõn 3,11 sào/người

Mặc dù sinh sống trên một phạm vi địa lý rộng lớn nhưng tồn tại mộtthực tế là diện tích đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp còn rất hạn chế.Theo điều tra thực tế cú trờn 90% số hộ gia đình có diện tích đất đai trồnglúa dưới 0,5ha

PHÂN LOẠI HỘ THEO DIỆN TÍCH ĐẤT LÚA

Phân nhóm hộ Địa chỉ người trả lời phỏng vấn

Hộ có diện tích đất lúa từ 0,5ha đến 1ha 1

Bản nằm trên bờ suối Nậm Sin, do đó đất có độ nghiờng từ cao xuốngthấp đến ven bờ suối Nậm Sin Đất ở bản Nậm Sin chủ yếu là đất đỏ vàngtrờn đỏ sột và biến chất (Fs) Đõy là loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khá,tầng đất dày trên 50cm, chiếm diện tích đa số

Trang 11

+ Loại đất này phân bố ở độ dốc < 80 rất thích hợp cho phát triển hoamàu, cây lương thực.

+ Đất ở độ dốc từ 80 – 150 thích hợp phát triển các loại cây lâu nămnhư cây ăn quả và cõy cụng nghiệp

+ Đất ở độ dốc từ 150 - 250 thích hợp cho mô hình nông lâm kết hợp + Đất ở độ dốc trên 250 bố trí khoanh nuôi, phục hồi rừng

Diện tích đất tự nhiên tương đối lớn, thuận lợi cho phát triển nghềrừng, trồng cây ăn quả (cam, chanh, xoài, dứa ); trồng cõy dược liệu (sanhõn, thảo quả ) và chăn nuôi gia súc, gia cầm

Bản Nậm Sin có 4 nhúm đất chớnh:

+ Đất Feralit mùn trên núi cao: Đất này thường phát triển ở các đaicao thuộc vùng núi thấp Đất này có hàm lượng mùn khá, tầng mùn tươngđối dầy, đất chủ yếu được sử dụng vào mục đích lõm nghiệp và trồng cõycông nghiệp và cõy ăn quả lõu năm Đõy là loại đất chủ yếu của bản

+ Đất Feralit được hình thành trên các loại đá phiến sa thạch và đágralit: Đất này được phõn bố chủ yếu ở vùng đồi núi Đất có tỉ lệ dinhdưỡng khá cao Thích hợp trồng cõy công nghiệp ngắn và dài ngày, cõy ănquả

+ Đất phù sa: tập trung chủ yếu ở thung lũng suối, rạch Đất này thíchhợp trồng lúa, hoa màu

+ Đất biến đổi do con người trồng trọt: Đõy cũng là loại đất feralitphát triển trên các đá trầm tích, nhưng được biến đổi do được trồng lúa vàhoa màu

Địa hình: Bản Nậm Sin định cư bên bờ suối Nậm Sin ở độ cao trungbình 350 m – 450 m so với mực nước biển, có độ nghiêng dần từ Đông Namsang Tõy Bắc, địa hình dốc, hẹp chia cắt phức tạp bởi các khe lạch từ sườnnúi đá phớa sau bản chảy ra Với địa hình và khí hậu như vậy dễ xảy ra cácthiên tai, đặc biệt là lũ quét, tác động không nhỏ đến đời sống sinh hoạt và

Trang 12

sản xuất kinh tế của người dõn Bên cạnh đó, việc mở mang để xây dựng vàgiao lưu với bên ngoài gặp nhiều khó khăn.

Túm lại, do địa hình miền núi mấp mô độ dốc lớn, nên trước đõy thuỷlợi của bản chủ yếu dựa vào nước chảy từ trên đồi núi xuống Người ta tạo

ra các mương nước tự chảy từ cao xuống thấp vào các ruộng bậc thang, nêncông tác thuỷ lợi thường phụ thuộc vào thời tiết Cũng do địa hình gồm cảdiện tích rừng và diện tích ruộng nên bản có thể phát triển cả kinh tế rừng vàkinh tế ruộng Nhưng do ở đõy trình độ cũn thấp nên cả hai loại hình kinh tếnày chưa phát huy được hết tiềm năng

Dân tộc Si La có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Hơn 200năm trước đây, do điều kiện thiên nhiên và chiến tranh xẩy ra giữa các dântộc ở khu vực biên giới Trung Quốc, để trỏnh cỏc cuộc chiến tranh và bảotồn dân tộc, người Si La đã di cư xuống phía Nam, đến các nước: Lào, TháiLan, Myanma, Phi Líp Pin Người Si La cư trú tại hai bản Seo Hai và SìThao Chải thuộc xã Can Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu là một bộphận người Si La đã di cư từ tỉnh Vân Nam – Trung Quốc sang Lào Dođiều kiện sinh sống gặp nhiều khó khăn người Si La đã di cư về sinh sống

Trang 13

bên bờ sông Đà của xã Can Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu từ đầu thế

Sống trên một địa bàn nhỏ bé thuộc vùng phía Tây Bắc Bộ, người Si

La là một trong những cộng đồng dân tộc ít người ở nước ta Trong quátrình lịch sử phát triển, người Si La ở Việt Nam mang trong mình biết baotruyền thuyết mang tính huyền thoại mà lớp con cháu của họ ngày nay vẫncòn nhớ nguyên như những bài thuộc lòng do cha ông truyền lại Thêm vào

đó, nhiều dân tộc anh em láng giềng khác như người Thái, người Khơ Mú,người Cống, người Hà Nhì cũng có mối quan hệ với họ và cũng có nhiềugiai thoại, nhiều truyền thuyết cùng với những quan niệm khác nhau về

người Si La Người Hà Nhì gọi Si La là “Puy Nạ” (tức là đen) [19; 47] Ở

nước Lào, người Si La có tên gọi khác là Si Đa, Khơ, Lào, Xủng [18; 40].Còn người Thái gọi họ là Khả Pộ (tức là người mặc váy ngược) thể hiệnmột mối quan hệ nhất định giữa cộng đồng các dân tộc này

Ở Việt Nam, người Si La tự gọi là Cú Dề Tsừ, nhưng tên này đến naychưa rõ nghĩa Ngoài ra họ còn tự gọi là Khờ Puớ, có nghĩa là người chỉ chongười khác đồ vật để đút vào túi Si La là tên tự gọi hiện nay, được nhà nướcchính thức công nhận và sử dụng trong các văn bản Tuy nhiên, thế hệnhững người Si La hiện nay cũng không giải nghĩa được tên gọi này của dântộc mình [26; 30]

1.2.2 Dân số và phân bố dân cư

Trang 14

Dân tộc Si La là một trong 5 dân tộc thiểu số có số dân dưới 1000người ở Việt Nam hiện nay Theo kết quả điều tra, người dân tộc Si La hiệnchỉ cư trú trong phạm vi địa lí giới hạn tại hai bản Seo Hai và Sì Thao Chải(bên bờ sông Đà), tại xã Can Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và mộtbản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Trước khichia tách và điều chỉnh địa giới hành chính 3 bản trên đều thuộc huyệnMường Tè tỉnh Lai Châu cũ.

Tổng số hộ của bản Nậm Sin xã Chung Chải là 39 hộ, trong đó có 29

hộ dân tộc Si La với 179 nhân khẩu (73%) (có 60 nữ) và có 10 hộ dân tộc

Hà Nhì Ở bản Nậm Sin dân tộc Si La chiếm đa số [27; 44]

Trong đó các độ tuổi như sau:

- Độ tuổi dưới 5: 27 người

- Độ tuổi từ 51 – 60 tuổi: 6 người

- Độ tuổi từ 61 – 70 tuổi: 5 người

- Độ tuổi 71 – 80 tuổi: 3 người

Như vậy có thể thấy Nậm Sin là bản có cơ cấu dõn số trẻ, trong đó sốngười chưa đến tuổi lao động chiếm 44,1%, số người ở độ tuổi lao động là54,5% , số người già mất sức là 4,4%

Qua việc tỡm hiểu trên có thể thấy, bản Nậm Sin có vị trí địa lý, địahình và tiềm năng về đất đai, thực vật, động vật rất thuận lợi cho việc pháttriển kinh tế tiếp thu khoa học kĩ thuật nông nghiệp toàn diện Với nhữngđiều kiện như vậy bản Nậm Sin có khả năng thõm canh tăng vụ, luõn canhcác loại cõy trồng vật nuôi Với các loại cõy lương thực chủ yếu như lúa,

Trang 15

cõy màu (ngô, sắn, khoai)… chăn nuôi gia súc, gia cầm Tuy nhiên, nó cũng

có rất nhiều những khó khăn như bản ở một khu vực gần như biệt lập vớixung quanh lại xa trung tõm, gõy khó khăn cho việc giao lưu học hỏi cáctiến bộ kĩ thuật để nõng cao năng suất cõy trồng, vật nuôi Hơn nữa khí hậu

ở đõy cũng có phần khắc nghiệt, thường xuyên bị đe doạ bởi những thiên tainhư lũ lụt hoặc dịch bệnh

Trang 16

Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đõy có rất nhiều chớnh sáchcủa Đảng và nhà nước trong thời gian qua đã tập trung đầu tư cho địa bàn códân tộc Si La sinh sống, trong đó phải kể đến: chớnh sách hỗ trợ hộ dân tộcthiểu số đặc biệt khó khăn, chớnh sách giao đất và khoanh nuôi bảo vệ rừngđến từng hộ gia đình; chớnh sách đầu tư cơ sở hạ tầng thuộc Chương trình135; chớnh sách hỗ trợ tấm lợp thuộc Chương trình 186; chớnh sách cho vaygiải quyết việc làm thuộc chương trình 120 của chớnh phủ; dự án hỗ trợ pháttriển kinh tế hộ gia đình thuộc chương trình dự án phát triển dân tộc thiểu sốbằng nguồn vốn vay của ngõn hàng phục vụ người nghèo; chương trình hỗtrợ khai hoang của tỉnh; trợ cước, trợ giá các mặt hàng chớnh sách như:muối iốt, dầu hoả, giống Những chương trình dự án này đã góp phần làmthay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bướcxoá đói giảm nghèo, làm thay đổi tư duy trong sản xuất, trong sinh hoạtcộng đồng.

Một trong số những dự án đem lại hiệu quả cao là "Dự án phát triểndõn tộc Si La, bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh ĐiệnBiên giai đoạn 2004 – 2010" Với mục tiêu tổng quát là:

- Về kinh tế: Tập trung xõy dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu hỗ trợphát triển sản xuất và đời sống, phấn đấu đến năm 2010 không cũn hộ đói,

hộ nghèo, xoá bỏ nhà tạm, 100% số hộ được thắp sáng bằng điện, 100% số

hộ được sử dụng nước sạch và có công trình vệ sinh

Trang 17

- Về văn hoá: Xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, phát huy gìn giữ nhữngphong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.

- Về xã hội: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, tập trung đầu

tư cho giáo dục, nõng cao dõn trí làm thay đổi nhận thức và tập quán sảnxuất, nõng cao chất lượng dịch vụ y tế làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻcho người dõn Si La

Dự án được thực hiện trong 6 năm chia làm hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1 (2005 – 2007): Tập trung xõy dựng cơ sở hạ tầng

- Giai đoạn 2 (2008 – 2010): Tiếp tục xõy dựng cơ sở hạ tầng Hỗ trợđời sống và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống

Cuối năm 2007 với việc hoàn thành giai đoạn 1 của dự án thì cơ sở hạtầng đã được xõy dựng về cơ bản với tổng số vốn là 27.265 triệu đồng (ngõnsách nhà nước) trong đó:

- Mở được đường giao thông loại A từ bản Đoàn Kết (trung tâm xãChung Chải) đến bản Nậm Sin với chiều dài 18 km, vốn đầu tư 18.000triệu đồng (đường giao thông từ huyện đến trung tâm xã do chương trình

186 thực hiện)

- Xõy dựng và nõng cấp hai công trình thuỷ lợi, phục vụ tưới cho hơn

20 ha, vốn đầu tư 3000 triệu đồng

- Xõy dựng hệ thống nước sinh hoạt, phục vụ cho 172 người, vốn đầu

tư 300 triệu đồng

- Xõy dựng nhà lớp học bao gồm:

+ Nhà lớp học 5 phòng: 1 tầng, vốn đầu tư 1.500 triệu đồng

+ Công trình phụ trợ (nhà ở giáo viên, bếp, bể nước, sõn trường, hàngrào, vốn 400 triệu đồng

Bên cạnh đó cũn hỗ trợ sản xuất: 253 triệu đồng

- Hỗ trợ dụng cụ sản xuất (mua cầy, cuốc, xẻng…) 0,5 triệu đồng/hộ,

Trang 18

- Hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi: 5 triệu đồng/hộ, vốn đầu tư 230 triệu đồng.

Ngoài ra, cũn hỗ trợ đời sống: 526,8 triệu đồng

- Hỗ trợ làm nhà cho 39 hộ, 10 triệu đồng/ hộ, vốn đầu tư 460 triệuđồng (nhà nước hỗ trợ tấm lợp cũn nguyên vật liệu làm nhà như tre, gỗ, sannền, công dựng nhà… do dõn tự làm)

- Hỗ trợ máy xay xát: 2 cái vốn đầu tư 20 triệu đồng

- Hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lõm 0,5 triệu đồng/tháng trongthời gian 6 năm, kinh phí hỗ trợ 36 triệu đồng [28; 16]

Năm 2008 dự án bắt đầu bước vào giai đoạn hai tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc biệt là phải xây dựng xong tuyến điện quốc giavào đến bản

Như vậy, sau 10 năm nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nướcdân tộc Si La đã có nhiều thay đổi Đồng bào từng bước ổn định sản xuất, từngbước ứng dụng những thành tựu kỹ thuật vào sản xuất có sự chuyển đổi cơ cấucác loại cây trồng vật nuôi, thay thế hoàn toàn sự ảnh hưởng của lúa nươngtrong nguồn thu lương thực, tiến hành thâm canh tăng vụ, tận dụng tối đa quỹđất sản xuất tạo điều kiện tăng thêm thu nhập Trong mấy năm đó cú sự thayđổi trong cơ cấu cây trồng Mặc dù đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệtrong lĩnh vực kinh tế nhưng trong sản xuất vẫn mang tính tự cấp tự túc chưaphát triển mạnh để tạo tiền đề cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế mangtính hàng hoỏ Chớnh vỡ những lẽ đó cuộc sống của đồng bào mới chỉ dừng lại

ở mức độ thoỏt đúi chưa giảm được nghèo và vươn lên làm giàu

Trang 19

Người dân cũng có nhận biết về chính sách vì họ cảm nhận được sựtác động của chính sách đối với cuộc sống của họ Mức độ nhận biết vềchính sách của người dân Si La khá cao.

Trang 20

2.2 Các hình thái kinh tế của người Si La ở bản Nậm Sin

Hoạt động kinh tế của người Si La tương đối phong phú với cácloại hình: trồng trọt, chăn nuôi, khai thác các nguồn lợi tự nhiên, cácnghề thủ công

2.2.1 Trồng trọt

Trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ đạo, nguồn sống chính của người

Si La Trong mấy thập kỷ qua, kỹ thuật canh tác của họ đó cú những thayđổi đáng kể Từ chỗ chỉ biết làm nương chọc lỗ, ngày nay họ đã biết dùngcuốc, cày và bừa có súc vật kéo Ngoài lúa là cây trồng chính họ còn biếttrồng ngô, sắn, khoai sọ và các loại cây rau, đậu, bí

Đối với người Si La họ canh tác theo hai hình thức chính: Nương rẫy

và ruộng nước

2.2.1.1 Nương rẫy ( Giá cố)

Khi đến Việt Nam, người Si La chỉ biết canh tác nương rẫy Với vùngnúi cao bạt ngàn đất đai màu mỡ, là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việccanh tác nương rẫy Hầu hết các cư dân miền núi đều lấy hình thức canh tácnày là chủ yếu trong sinh hoạt kinh tế Trồng trọt nương rẫy của người Si La

có nhiều công đoạn:

1 Chọn rẫy: Cũng như các dân tộc khác canh tác nương rẫy, người Si

La ở Nậm Sin cũng thường chọn những cánh rừng già để phát nương, bởi vìnơi đó đất tốt, có nhiều mùn, cho phép gieo trồng nhiều năm Hiện nay,phần vì diện tích rừng già ngày càng bị thu hẹp, phần vì Nhà nước quản lýchặt chẽ, nên hầu như họ chỉ phát nương trờn cỏc cỏnh rừng tái sinh hay

Trang 21

trờn cỏc vạt cỏ, tuy công việc đỡ vất vả nhưng năng suất cây trồng khôngcao.

2 Phát nương: Khi đã chọn được đất gia đình thường tổ chức phát

nương (Za gồ mè) vào đầu tháng 2 dương lịch Dụng cụ chính gồm dao quắm (so tọ) và rìu (the zụ) Trong việc phát nương, nam giới là lực lượng

chớnh; cũn phụ nữ, người già, trẻ em đóng vai trò hỗ trợ Khi phát nươngngười ta làm từ chân đồi lên đến đỉnh đồi; cỏc cõy cổ thụ được để lại Đây làđiều quy định trong tập tục của người Si La, vì theo họ, cỏc cõy đó vừa đểlấy bóng mát, vừa có thể khai thác gỗ sau này; mặt khác khi bỏ hoá (khônglàm nương) thì rừng sẽ nhanh tái sinh hơn

3 Đốt nương: Nương phát thường được để từ 20 ngày tới 1 tháng, khi

cây cỏ đó khụ, họ bắt đầu đốt (mì phưa) Thời gian đốt nương của người Si

La thường vào cuối tháng 2, đầu tháng 3 dương lịch Người ta không đốt

nương vào ngày con rồng (sị nhô) vì quan niệm đó là ngày nước, đốt có thể

sẽ gây ra hạn hán Khi đốt, cần tính toán thời gian sao cho trước khi trời tối

là công việc phải cơ bản hoàn thành, để mọi người có thể yên tâm quay vềbản Nương đốt xong, chờ cho than nguội hẳn, người ta mới bắt tay vào thudọn Công việc chính khi thu dọn là thu cành củi, san đều tro trên mặtnương Những cây que cháy chưa hết thì tập trung thành đống rồi đốt tiếp,hoặc mang ra mép nương để sau này rào giậu

4 Canh tác: Đối với những loại cây trồng khác nhau, kỹ thuật phát,đốt và chuẩn bị đất canh tác của người Si La về cơ bản là thống nhất; chỉkhác nhau ở thời điểm và các biện pháp kỹ thuật đối với từng loại cây cụthể Ví dụ, nương trồng ngô bao giờ cũng chuẩn bị sớm hơn nương trồnglúa, hay nương cuốc phát sớm hơn nương chọc lỗ… Nương mới làm nămđầu, người ta thường trồng lúa, sau một – hai năm mới chuyển sang trồngngô và sắn Sau khi trồng ngô và sắn được một vài năm, người ta bỏ hoákhoảng 5 – 10 năm thì mới canh tác trở lại, hoặc bỏ hẳn

Trang 22

Lúa là cây lương thực chính mà người Si La trồng trên nương (lúanương khoảng 13 ha) [28; 4] Lúa được trồng vào khoảng tháng 3 – 4 âm lịch.

Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Từ xưa, họ đó cú những giống lúa tương đối thuần chủng với cả hai

loại, tẻ (co sị) và nếp (co nhò) Lúa tẻ gồm có: lúa sớm (co sẹ), thường trồng

ít để làm lễ cơm mới (ồ mí khe) và lúa muộn (co cử), trồng đại trà và nhiều.

Người Si La còn phân biệt lúa tẻ theo màu sắc vỏ ngoài như: lúa tẻ hạt trắng

(cò tchỡ), lúa tẻ hạt đen (cò mà), lúa tẻ hạt đỏ (hồ cù) Lỳa nếp thỡ cú cỏc giống: nếp thơm (co nhò ly la), nếp hạt đen (co nhò na) là những giống lúa

ngon nhưng năng suất thấp nờn ớt được trồng; các loại khác như nếp hạt đỏ

(co nhò lơ lơ), nếp hạt vàng (co nhò hư lư) cho năng suất cao, nên được

trồng nhiều hơn Nhìn chung, các giống lúa nếp phong phú hơn so với giốnglúa tẻ Có thể là xưa kia lúa nếp là loại cây lương thực chính; sau này, vìnhiều lý do, người ta mới chuyển sang trồng lúa tẻ Đây cũng là hiện tượngkhá phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số Ngày nay, lúa nếp vẫn được trồngtrên nương và dưới ruộng nhưng tỷ trọng không lớn so với lúa tẻ

Trước kia, hạt giống được gieo trồng bằng hai hình thức áp dụng đốivới hai loại nương khác nhau Đối với nương dốc gieo bằng cách chọc lỗ trahạt Khi chọc lỗ tra hạt cứ một cặp 2 người thì được một nhúm, bất kể lànam hay nữ Họ bắt đầu gieo từ chõn nương lên đến đỉnh Cõy chọc lỗ đượclàm bằng gỗ thành ngạnh rất cứng và nặng, là một thõn gỗ trũn, chiều dàikhoảng 2,5m, có tiết diện khoảng 5 – 6cm, đầu đẽo nhọn rồi hơ qua lửa chođanh lại Một người cầm chiếc gậy chọc xuống đất theo hàng lối có khoảngcách 15 m- 20cm Người đi sau cầm giỏ đựng hạt giống tra vào lỗ, mỗi lỗgieo từ 4 – 6 hạt lúa hoặc hơn, tuỳ theo từng loại lúa khác nhau Sau khigieo vào mỗi lỗ, người ta dùng chõn gạt một lớp đất mỏng lấp để tránhchim, thú đến phá hoại Đối với loại nương tương đối bằng phẳng, hoặc bóicuốc, bói cày thì hạt giống được gieo thẳng bằng cách vãi hạt Có 2 cỏch vói

Trang 23

hạt như sau: vãi đều trên mặt đất và vãi theo hàng có lấp đất Nhìn chung dựcỏch gieo trồng như thế nào thì năng suất lúa của nương ở đây vẫn phụ thuộcnhiều vào thiên nhiên mưa, nắng Hiện nay, do tiếp thu được một số kĩ thuật

từ bên ngoài, công cụ lao động chủ yếu là cầy, cuốc nên người ta đã bỏ cáchgieo trồng chọc lỗ tra hạt và chủ yếu dựng cỏch thứ 2 Để bảo vệ mùa màngkhông bị chim, thú phá hoại, đồng bào đã có nhiều biện pháp như cắm bùnhìn, cắm cành cây để doạ đuổi hoặc cài đặt bẫy hoặc săn bắn để tiêu diệtchúng

Bên cạnh lúa, người Si La còn trồng còn trồng ngô (8 ha)

Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Nguồn: [27; 17]

Và có nhiều loại như: ngô tẻ hạt vàng (po chị hư hơ), ngô tẻ hạt trắng (po chị phu lu), ngô nếp hạt vàng (po nhò hư hơ), ngô nếp hạt trắng (po nhò phu lu)… Các giống ngô nếp ăn ngon, thơm và dẻo, nhưng năng suất thấp, hay

bị sâu bệnh, chịu hạn kộm nờn không được trồng nhiều bằng ngô tẻ, vốn là cácgiống cho năng suất cao, chịu được hạn, ít bị sâu bệnh, phù hợp với thời tiếtkhắc nghiệt Ngô được gieo vào khoảng tháng 1 – 2 và thu hoạch khoảng tháng

5 – 6 hoặc tháng 8 – 9 âm lịch, tuỳ theo loại giống sớm hay muộn [28; 5]

Trong các loại cây lương thực truyền thống của người Si La, cũn cú cao

lương (bo tsợ) - một giống cây thuộc họ kê, được trồng nhiều ở Tây Bắc Cao lương của dân tộc Si La có hai giống chính là cao lương đen (à nà lạ bo tsợ) và cao lương trắng (à phu lu bo tsợ) Giống cao lương trắng hạt nhỏ, không thơm;

còn cao lương đen hạt to, có mùi thơm, thường được giã lấy bột làm bánh hoặctrộn với gạo nếp để đồ xôi Cao lương được trồng trên những mảnh nương nhỏhoặc gieo xung quanh nương lúa, sản lượng hàng năm không nhiều

Bên cạnh các loại cây lương thực truyền thống, thì vào khoảng nhữngnăm 90 người Si La còn tiếp nhận thêm một loại cây lương thực mới là cây

sắn (mừ chư) (6 ha).

Trang 24

Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Nguồn : [27 ;17]

Nhờ thích nghi tốt và cho năng suất cao, cây sắn (củ mì) nhanh chóng

được trồng phổ biến và khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồngcủa người Si La

Ngoài cây lương thực, người Si La ở Nậm Sin còn trồng xen các loại

rau củ quả như: bí đỏ (ma hờ), bí xanh (thờ khờ), vừng (nè hơ), gừng (chò sự), đậu đen (lo gờ), đậu đũa (no khư), khoai lang (màm phờ lơ), khoai sọ (bố có), mía (phù chi), đu đủ (ma côi), hành (củ mo), tỏi (củ phlồ), chuối (nga sừ), rau cải (cù tsỡ), ớt (mà bị)…

Thông thường trừ loại nương mới phát để trồng lúa cũn lại hầu hếtcác nương cũ đều xen canh nhiều loại mầu Ví dụ ngô xen với đỗ, khoai xenvới bí đỏ, thậm trí ngô xen với lúa Việc gieo trổng xen canh có thể tận dụngđược ưu thế của các loại đất, tận dụng được diện tích và thời vụ phát triểnkhác nhau của mỗi loại cõy trồng Đõy là một đặc trưng của nền sản xuấtnhỏ, tự cung tự cấp của nhiều dõn tộc ở miền núi Sau ngày gieo trồng 15 –

20 ngày, khi lúa đã mọc cao 20 cm hoặc ngô đã có 4 – 5 lá thì làm cỏ Việclàm cỏ cho lúa ngô là một hình thức chăm sóc, làm cho cõy trồng phát triểntốt hơn ở giai đoạn trưởng thành Người Si La thường làm cỏ 2 lần cho lúa

1 lần cho đỗ, ngô, khoai, sắn Đối với lúa lần đầu làm cỏ để lúa vươn rễ,thúc cho cõy phát triển, chóng ra đòng, lần 2 làm cỏ khi lúa bắt đầu ra đòng,trổ bông, thúc cho cõy lúa kết bông, mẩy hạt và một phần kiểm tra, xử lýcho lúa Đối với nương gieo vói, người ta nhổ cỏ bằng tay Cách nhổ cỏ nàyhiệu quả thấp, không sạch hết, không xới được đất, không vun được gốc,làm cho hiệu suất không cao Do vậy nhổ cỏ bằng tay chỉ áp dụng đối vớinương mới, đất cũn mầu mỡ, tơi xốp, đối với nương cầy, cuốc, gieo thẳnghàng thì làm cỏ bằng cào sắt hoặc cuốc Biện pháp này mới phổ biến trong

Trang 25

đồng bào Si La, cào cỏ vun xới có tác dụng làm tăng độ xốp, tăng độ màucho đất, làm sạch cỏ hơn, do vậy năng suất cõy trồng cao hơn.

5 Thu hoạch: Mùa thu hoạch nương của người Si La ở Nậm Sin bắtđầu vào tháng 5, tháng 6 âm lịch, khởi đầu với việc thu hỏi cỏc loại đậu vàngô sớm Lúc này, ngô chủ yếu dùng để ăn tươi, chống đói trong tình trạngthiếu lương thực vốn thường xuyên diễn ra sau Tết nguyên đỏn Ngô muộnthường được thu vào khoảng cuối tháng 8, đầu tháng 9 âm lịch Đây là vụngụ chớnh, sản lượng nhiều, chủ yếu để phơi khô ăn dần Muốn để giànhngô người ta để cả bẹ, phơi khô rồi treo lên giàn bếp hoặc để trên sàn gáctrong nhà, khi nào cần ăn mới tẽ hạt

Cũng trong thời gian này, các trà lúa sớm đã bắt đầu chín và có thểgặt được Trước khi bắt tay vào thu lúa đại trà, người ta thường gặt một ítlúa sớm về để cúng cơm mới Người Si La trước kia tuốt lúa bằng tay, naychủ yếu cắt bằng liềm Lúa sau khi tuốt được phơi khô và để trong góc nhàhoặc quây một chỗ nào đó trong nhà để đựng Người Si La không dùng néo

mà trải bụng lỳa lờn một tấm cót (a chạ) rồi dùng gậy đập cho hạt rụng.

Nương rẫy của người Si La có độ dốc lớn, diện tích nhỏ hơn so vớinương của người Thái, tuỳ theo từng vụ, từng loại đất mà có thể trồng cácloại cây khác nhau

Người Si La có hệ thống nông lịch nương rẫy tương đối ổn định, phảnánh những tri thức bản địa của họ về chu kỳ thời tiết và đặc tính sinh học của

các giống cây trồng Theo kinh nghiệm, khi cây dẻ (bờ vẹ), cây me (hà vè) bắt đầu ra hoa và chim đa đa (chí ti ti) bắt đầu hót rộ thỡ chớnh là lúc tốt nhất để

gieo lúa nương; còn khi ve kêu báo hiệu mùa hè thì mọi việc gieo trồng trênnương phải được hoàn tất Khi quan sát tự nhiên đồng bào có kinh nghiệm là:

nếu thấy cây ớt (mà bò a bố) hay cõy dõu gia đất (xứ bớ lớ à xừ) sai quả, thỡ

lỳa năm ấy sẽ được mùa v.v… Những tri thức đó được đúc kết trong cỏc cõutục ngữ - ca dao, dễ nhớ, và được truyền từ đời này qua đời khác

Trang 26

“Nắng 3 tháng không mất tiền Mưa 3 thỏng khụng mất giống thúc”

BẢNG SO SÁNH NễNG LỊCH CỦA NGƯỜI SI LA VÀ NGƯỜI THÁI

7 8 Thu hoạch lúa nương Làm cỏ nương, thu hoạch ngô

9 10 Phát nương mới Nghỉ hoặc thu hoạch lúa sớm

11 12 Nghỉ, dọn nương Tiếp tục thu hoạch lúa ruộng

12 1 Làm việc phụ, nghỉ Nghỉ

1 2 Làm việc phụ Phát nương, gieo ngô sớm

2 3 Đốt nương, dọn nương Đốt nương, gieo lúa, ngô

3 4 Gieo trồng lúa Thu lúa nương, làm cỏ ngô sớm

5 6 Làm cỏ lúa lần 2 Làm cỏ lúa, ngô nương

Lịch nông nghiệp của người Si La khác với lịch của người Thái từcách thức gieo trồng, chăm sóc cõy, cách thu hoạch cho đến các lễ thứcnông nghiệp gắn với từng thời kỳ vụ mùa cũng có nhiều điểm khác cơ bản…

Quá trình canh tác của người Si La còn lệ thuộc vào khá nhiều nhữngtín ngưỡng nguyên thuỷ liên quan đến nông nghiệp Như khi tìm đất làmnương, họ không đi vào ngày giỗ của cha, mẹ hoặc ứng vào ngày trước đâychôn cất cha, mẹ Trên đường đi, nếu vô tình nhìn thấy xác chết của bất kỳcon vật nào cũng phải quay về, không được đi tiếp Trước ngày trỉa hạt, cácgia đình Si La đều phải làm lễ gieo hạt tượng trưng

Sáng sớm vào ngày đã định, chủ nhà mang theo lễ vật gồm một con

gà, hai con cá khô, một con dỳi khụ, một quả trứng gà, một giỏ cơm nếp,một vỏ trái bầu khô đựng nước, một cục than, và các loại giống (lỳa, ngụ,khoai sọ, bầu, bớ…) lờn nương Đến nơi, sau khi khấn cầu các loại ma phù

Trang 27

hộ cho mùa màng tươi tốt, chủ nhà sẽ làm nghi thức trồng hạt lúa giốngtrước, rồi tiếp đó trồng các loại giống bầu, bí, khoai sọ… Trồng mỗi loạitrên một mảnh đất Người Si La quan niệm, mỗi mảnh nương đều có mộtloại ma trông coi lúa ngô, không cho muông thú phá hoại Do vậy, họ phảidựng ở đấy một mái lều nhỏ cho ma nương trú ngụ Trong những ngày trỉahạt tới bữa cơm trưa, chủ nhà phải dâng cơm, đốt bếp cho ma nương, vàmang phần cơm của mình tới ăn bên cạnh lều ma.

Thời gian lúa ngô sinh trưởng các nghi lễ tập trung vào việc cầu mongcho lúa không bị chết do sâu bệnh, không bị chim chuột phá, không bị khô

hạn… sau khi làm cỏ đợt một người Si La có lễ “co mường” nhằm cầu mong

cho cây lúa nhanh lớn, nhanh trổ bông, nhiều hạt Lề này được tổ chức ngaytrên nương, vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5 âm lịch Sau khi thu hoạch,

có lễ cúng hồn lúa, cầu mong lúa năm sau nhiều bông, chắc hạt

Thông qua các hoạt động, lao động sản xuất, nhất là các lễ thức nôngnghiệp, chúng ta có thể thấy nền văn hoá đặc trưng của cư dõn nông nghiệp

Ở người Si La cũng như các tộc người ở miền núi cao, trước hết nền kinh tếcủa họ phản ánh sự gắn bó mật thiết và sự phụ thuộc nặng nề của con ngườivào thiên nhiên Với phương thức sản xuất giản đơn, manh mỳn, mang tớnh

tự nhiên, nặng về cầu xin thông qua các lễ thức thì yếu tố trời đất, thầnthánh, ma quỷ luôn luôn tác động vào đời sống của họ Đối với họ bất kỳ cái

gì cũng có hồn, đều có thể giúp đỡ hoặc có thể làm hại cho con người Vớiđiều này, nó đã thể hiện một trình độ kinh tế - xã hội thấp

2.2.1.2 Ruộng nước (ruộng bậc thang).

Trong toàn bộ diện tích đất canh tác của người Si La, ruộng nướcchiếm tỷ lệ không nhiều (8 ha) [28; 4]

Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 28

8 18 14,4

Cộng đồng người Si La ở đây tiếp thu khá nhanh kỹ thuật canh tác lúanước, đặc biệt là kỹ thuật làm thuỷ lợi nhỏ và sử dụng sức kéo của trâu bòtrong khâu làm đất Để dẫn nước vào ruộng, họ đã kết hợp một cách sángtạo những kinh nghiệm này của người Thái với người Hà Nhì Họ vừa đàomương (như người Thái) để dẫn nước vào vùng sa bồi thấp, vừa bắc cácđường máng (như người Hà Nhì) để lấy nước từ các khe trên cao xuống choruộng bậc thang

Ruộng nước của đồng bào Si La thường được làm ven các con suối,hay có các khe nước nhỏ, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy nướclên đồng Do đặc thù của khí hậu và địa hình (dốc, hẹp mưa tập trung trongthời gian ngắn và lượng mưa lớn) nên ruộng ở đõy chủ yếu được kết cấutheo kiểu bậc thang để giữ nước, chống xói mũn đất và thích ứng với điềukiện không bằng phẳng của địa hình Ruộng có khoảng 10 - 15 bậc nối tiếpnhau Theo kinh nghiệm của người dõn, khi khai phá ruộng người ta bao giờcũng bắt đầu công việc từ trên dốc, nơi gần nguồn nước tự chảy vì đất ở đó

ẩm thường xuyên nên rất thuận lợi khi thao tác bằng cuốc Để đảm bảo thoátnước, chiều rộng của bề mặt ruộng phải đạt tối thiểu từ 3 - 5m Nếu địa hìnhcho phép, mảnh ruộng trên đỉnh có riện tích càng rộng càng tốt, vì có thểchứa được nhiều nước và điều hoà dòng chảy xuống các thửa ruộng dưới.Giữa các thửa ruộng có hệ thống bờ nhằm giữ nước lõu hơn và tránh xói lở

Bờ ruộng phải được đắp kỹ, cao khoảng 30 - 50cm, được kè đá hoặc gia cốbằng tre nứa, nhằm đảm bảo việc giữ nước, điều phối nước và chống sạt lởgiữa chõn ruộng trên và chõn ruộng dưới Để đảm bảo tiêu nước, mỗi thửa

có từ một đến hai cửa thoát nước Do đặc trưng là ruộng bậc thang nênnhững gia đình có ruộng trên sẽ làm cửa thoát nước bằng đất đá hoặc ốngtre, nứa vừa để thoát nước vừa để chia sẻ với các ruộng dưới

Trang 29

Nếu ở giai đoạn đầu khi người Si La mới định canh định cư, thì ruộngnước ban đầu chỉ làm một vụ và năng suất chưa cao Nhưng đến nay, các kỹthuật cày, bừa, cuốc, làm ải qua đông được tiếp thu và được đồng bào tựnguyện làm theo Lúa đã được gieo trồng qua hai vụ.

Bộ công cụ làm đất ruộng của họ gồm có cầy (lì) và bừa (tê kha).

Cấu tạo chiếc cầy giống hệt chiếc cày của người Hà Nhì Đó là dạng cày bắpcong, phổ biến trong các dân tộc làm ruộng bậc thang và nương định canh ởcác tỉnh miền núi phía Bắc nước ta Chiếc bừa của họ được làm hoàn toànbằng gỗ theo kiểu chữ nhi Hệ thống thuật ngữ mà họ dùng để chỉ các bộphận của cày, bừa là sự kết hợp giữa tiếng Quan Hoả, tiếng Hà Nhì với tiếng

Si La: lưỡi cày: lì hoa (tiếng Quan Hoả), tay cày: ờ khơ chưa, bắp cày: ơ khơ, cá cày: de (tiếng Si La), bừa: tê kha (tiếng Hà Nhì), tay cầm và khung bừa: a ru, răng bừa (bằng gỗ): a xề, thừng hoặc chão: bồ nà khè (tiếng Si La)

Người Si La cũng sử dụng một số giống lúa ruộng của người Thái,

trong đó chủ yếu là khẩu đo, một giống lúa ngắn ngày cho năng suất ổn

định Gần đây, một số giống mới như 203, KV10, lúa lai Trung Quốc đãđược du nhập Nhờ vậy, ở cỏc chõn ruộng sa bồi gần sông, người ta đã cóthể cấy được 2 vụ: chiờm xuõn và vụ mùa Vụ chiờm xuân cấy chủ yếu cácgiống 203 và KV10, mạ được gieo vào tháng 11 – 12, sang giêng bắt đầucấy và đến tháng 4 – tháng 5 âm lịch, là có thể thu hoạch Vụ mùa là vụchính, cấy vào tháng 5 - 6, thu hoạch vào tháng 9 – 10 âm lịch Giống lúachủ yếulà do người dõn tự để lại sau mỗi đợt thu hoạch So với chiờm xuõn,việc canh tác lúa mùa có nhiều thuận lợi, vì thời gian này là mùa mưa Cùngvới việc du nhập giống lúa mới như vậy thì năm 2007 đã hoàn thành 2 côngtrình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu, nhờ vậy mà sản xuất của người dân đượcđảm bảo hơn

Trang 30

Người Si La trong lao động sản xuất còn mang tính thủ công rất lớn, cókhõu dựa vào tự nhiên (thuỷ lợi), hay trong khõu vận chuyển, gieo trồng,chăm sóc, thu hoạch đều dùng sức người là chính Do gặt hái tiến hành bằngliềm là chớnh nờn mất nhiều thời gian và công sức Tuy nhiên, trong đócũng có bước tiến mới, trước kia dân tộc Si La chủ yếu dùng cối giã gạobằng gỗ với sức lao động chân tay nhưng hiện nay ở bản Nậm Sin đó cúmáy xay xát theo sự trợ cấp của chính phủ, nhờ đó người dân xay xát thuậnlợi giải phóng được sức lao động và không mất thời gian.

Tuy nhiên, việc canh tác của người dân nơi đõy cũn lạc hậu chưa có

sự tham gia của máy móc, phõn bún và thuốc bảo vệ thực vật Do đó, đòihỏi phải áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng caonăng suất là rất cần thiết Song do lực lượng cán bộ khuyến nông, khuyếnlõm cũn mỏng, kinh phí hạn hẹp, chưa có chính sách khuyến khích thíchđáng, mặt khác do địa bàn xã đi lại khó khăn nên ít có cán bộ đến tận bảnvới đồng bào

2.2.2 Chăn nuôi

Thời kỳ du canh du cư trước cách mạng tháng 8 đồng bào ít chú ý tớichăn nuôi đại gia súc vỡ trõu, bũ gắn với điều kiện canh tác ruộng nướchoặc thâm canh Với hoàn cảnh nay đây mai đó, đồng bào chỉ chăn nuôi giacầm như gà, ngan, gia súc như lợn và một số gia đình nuụi dê, chủ yếu là đểthịt Cỏch nuụi gia cầm ở đây là tự nhiên ít được chăm sóc Lợn gà đều thảrông, một phần cho ăn thêm sắn, ngụ, bớ, thân cây chuối, lá rừng Vì vậykhông đáp ứng được nhu cầu của đời sống

Từ năm 1973 về định cư hẳn ở bản Nậm Sin người Si La đã học tậpthêm được nhiều phương pháp chăn nuôi mới Tuy nhiên hoạt động chănnuôi còn mang đậm dấu ấn tự túc tự cấp Các hộ gia đình chăn thả trõu bòlàm sức kéo trong sản xuất nông nghiệp là chính, lợn và gia cầm chỉ để phục

vụ nhu cầu thực phẩm trong bữa ăn và các dịp lễ hội Phương thức chăn

Trang 31

nuôi còn nhiều vấn đề quan tâm như việc chăn thả tự nhiên là chủ yếu, sốlượng gia súc gia cầm vẫn còn hạn chế: tổng số trâu ở bản Nậm Sin có 21con (trong đó nhà nước đầu tư 6 con), tổng số bò là 20 con, đàn lợn 25 con,

dê 4 con, gia cầm 400 con [28; 4] Số lượng gia súc, gia cầm như vậy là quá

ít, không tương xứng với tiềm năng đất đai của bản

TÌNH HÌNH CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI

Địa chỉ người trả lời phỏng vấn

2.2.3 Khai thác các nguồn lợi tự nhiên

Sống trong môi trường tự nhiên hoàn toàn là núi rừng, sông suối, nơitồn tại của nhiều chủng loại động thực vật hoang dã, ít người đặt chân đến

Đó là một nguồn tài sản tự nhiên cho dõn tộc Si La Cũng như các dân tộc

Trang 32

khác ở tỉnh Điện Biên người Si La rất thông thạo trong việc thu hái, đào bới,săn bắn và đánh bắt cá Trước cách mạng tháng 8, đời sống thiếu thốn bấpbênh do tình trạng du canh du cư gõy lờn thỡ kinh tế tự nhiên là nguồn sinhsống hết sức quan trọng, thậm chí cú lỳc quyết định đối với người Si La Từngày định canh định cư tới nay tuy sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định,đời sống vật chất chủ yếu dựa vào sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi,nhưng người Si La vẫn chưa thoát khỏi hình thái kinh tế nguyên thuỷ này,đặc biệt là vào dịp giáp hạt (tháng 3, 4 âm lịch) do đó khai thác các nguồnlợi tự nhiên vẫn là một hình thái kinh tế quan trọng trong đời sống vật chấtcủa người Si La.

2.2.3.1 Hái lượm

Đây là hình thức cơ bản của kinh tế tự nhiên dựa vào sản vật sẵn cótrong tự nhiên, con người chỉ cần phát hiện thu hái đem về ăn, đối tượng háilượm bao gồm các loại thực phẩm như:

- Về rau rừng có:

+ Rau dớn: Thuộc loại dương xỉ, mọc thành bụi men theo khe suối, bờruộng Cõy rau dớn mọc quanh năm nhưng phát triển mạnh nhất vào mùamưa Bà con thường luộc hoặc xào làm thức ăn

+ Rau bát: là loại cõy dõy leo mọc ở khe suối có vị ngọt, dùng để nấucanh + Hoa chuối: có nhiều loại khác nhau, có vị chát, mát và lành, có thểthu hoạch quanh năm nhưng phát triển vào mùa mưa

Ngoài ra cũn rất nhiều loại rau như: rau đắng, rau dền dại, lá tàu bay,các loại măng, các loại nấm (nấm con cầy, mộc nhĩ, nấm hương…)

- Về củ gồm có:

+ Củ mài: là loại củ mọc sõu dưới đất Thõn cõy thuộc loại dõy leo

Củ mài có màu trắng, vị ngọt, mát có nhiều bột Có thể luộc ăn thay cơmhoặc nấu canh

Trang 33

+ Củ nõu: thõn cõy thuộc loại dõy leo cứng Củ mọc dưới đất có vịđắng chát, màu nõu sẫm Thông thường người ta làm nguyên liệu để dệt vải,nhưng cũn có thể nạo mịn ra, ngâm cho bớt đắng rồi nấu độn với cơm

Bên cạnh là các loại động vật nhỏ như ốc, cua, ếch nhái, các loại ong,các loại nhộng cây, trứng chim… mỗi một loại có đặc điểm sinh sản pháttriển và trưởng thành theo từng thời gian khác nhau Chính vì vậy góp phầnvào phục vụ đời sống cho người Si La Người Si La có rất nhiều kinhnghiệm tính toán thời gian trưởng thành của các loại động thực vật

Ví dụ, cỏc thỏng 5, 6, 7 là mùa măng, mùa nấm, hoa quả; tháng 8 làmùa ong mật; dịp trăng tròn là ốc đẻ trứng, mưa rào thì ếch nhái ăn đờm…mặt khác họ cũng rất giỏi trong việc tạo ra các loại công cụ để hái lượm nhưvợt bắt châu chấu đan bằng vỏ cây sắn rừng, thuổng để đào củ, đào măng,ống trích mật ong Việc hái lượm cũng như săn bắn, đánh bắt đều có quyđịnh nghiêm ngặt về thời gian và không gian Nếu hái lượm mang tính thời

vụ thì có thể thu nhặt bất cứ thứ gì trước thời hạn cho phép Vào thời vụ loạinào bản tổ chức đi kiểm tra trước, nếu đã đến độ thu hoạch người ta thôngbáo cho nhau biết Từ đó cả bản tổ chức đi hái lượm thức ăn, nếu kẻ nào viphạm quy định, tự hái lượm thức ăn một mình sẽ bị phạt vạ tịch thu sản vật,thậm chí bị cấm không được đi thu hái trong vụ đó Trờn khoảng rừng đóchỉ những người có chủ quyền mới được khai thác lõm thổ sản Bên cạnh đómột số những quy ước về quyền chiếm hữu cũng được tôn trọng một cách tựgiác Ví dụ, khi phát hiện một tổ ong người ta có thể đánh dấu khẳng địnhquyền sở hữu bằng cách cắm một cõy nêu nhỏ có gắn mũi tên hướng vềphớa tổ ong đó hoặc khắc các dấu nhõn (X) lên thõn cõy có tổ ong

Hái lượm là công việc nhẹ nhàng và là việc làm thường xuyên củamọi gia đình Vì thế không phân biệt lứa tuổi, nam - nữ tất cả đều có thểthực hiện tuỳ theo khả năng sức khoẻ, sở trường và tính tự giác của mỗithành viên trong những dịp hái lượm cá nhân, nếu ai phát hiện và thu được

Trang 34

những sản vật quý thì người gặp may mắn ấy phải tự giác chia sản vật cho

cả bản hoặc ít nhất cũng phải đem biếu nhà trưởng họ một phần gọi là để tạ

ơn trời đất

Ngoài một số loại rau quả, nấm, củ như trên, người Si La cũn háilượm nhiều lõm thổ sản khác nhằm phục vụ bữa ăn Với cách chế biến, khaithác và những tập tục, quy ước riêng, các đồ ăn từ việc hái lượm cũng gópphần phản ánh một mảng văn hoá ẩm thực của người Si La

Đặc biệt người Si La cũn hái các loại dược liệu như: sa nhõn, tam thấtrừng, cõy rễ vàng và nhiều lá rễ cõy thuốc nam để sử dụng và đôi khi đembán Hoặc là khai thác gỗ, tre, nứa, mõy phục vụ cho việc xõy dựng nhà cửacũng như tạo ra các đồ sinh hoạt trong gia đình, nhiều khi cũn để trao đổi

2.2.3.2 Săn bắn

Sau hái lượm, săn bắn và bẫy thú là một hoạt động quan trọng trongnền kinh tế chiếm đoạt của đồng bào Hoạt động săn bắn có hai mục đíchchớnh: bổ xung vào nguồn thực phẩm và bảo vệ mùa màng Đó là một việctương đối vất vả, nặng nhọc nhưng kém phần hiệu quả hơn so với hái lượm.Người đảm nhận công việc này là đàn ông có sức khoẻ, có tài năng và lòngkiên trì, dũng cảm Dụng cụ săn bắn của người Si La chủ yếu là chiếc cung

(lù pịa), còn bẫy thú chủ yếu bằng cạm, dây bắt các loại thú nhỏ như: chuột,

sóc, gà rừng Ngày nay đồng bào đã biết sử dụng một số loại súng của dântộc khác hoặc súng quốc phòng

Có hai hình thức đi săn đó là săn cá nhân và săn tập thể:

Săn cá nhân do một người tự tổ chức với một loại vũ khí hoặc mộtloại bẫy, có thể kèm theo một con chó giỏi luồn rừng để hỗ trợ cho chủ,người đi săn vào rừng, luồn khe, tìm dấu vết hoặc đặt bẫy, đặt mồi Thợ sănngười Si La rất thạo các loại mồi mà từng đối tượng hay đến và giờ chúnghay đến

Trang 35

Ví dụ: các loại quả ngọt là mồi của sóc, của cầy, măng là mồi của lợnrừng, mật ong là mồi của gấu, quả trám là mồi của hươu nai… vì thế ngồirình dưới gốc cây là hình thức săn có hiệu quả tương đối cao Có khi thợ săncòn ngồi rình ở các nương ngụ, lỳa, sắn, đậu là đối tượng phá hoại của cácloại lợn rừng, hươu, hoẵng, khỉ… về thời gian hầu hết các loại thú đói ănvào lúc nửa đêm hay chạng vạng sáng Cũng có khi người Si La săn vàobuổi chiều, buổi sáng hay ban ngày, tuỳ theo từng loại thú Song hầu hết sănban ngày thường được các loại thú nhỏ Những cuộc săn như vậy thườngmất cả đêm hoặc vài ba đêm mới gặp thú.

Khi thợ săn có thú rừng đem về, nếu là thú nhỏ mà ớt thỡ gia đình sửdụng hết, nếu là thú lớn thì hàng xóm có trách nhiệm đến chuyển giúp vềbản, thui, mổ và chia cho dân bản Trong đó, gia đình trưởng họ của ngườisăn được hưởng một đùi hay thủ, cũn dõn bản giúp được hưởng đều cácphần thịt, chủ nhân được hưởng một nửa con thú và bộ lòng Cũng giốngnhư chia sản vật hái lượm, chia thịt thú rừng là một biểu hiện tính cộng đồngcủa hầu hết các dân tộc ít người ở miền núi

Hình thức thứ hai là săn tập thể Đó là một cuộc săn có quy mô lớn, có

tổ chức ít nhất từ 2 – 3 người trở lên Có hai trường hợp dẫn đến săn tập thể:

Trường hợp thứ nhất: do phát hiện ở đâu đú cú bầy hoặc con thú,người ta nhanh chóng báo tin cho các thợ săn chuẩn bị vũ khí và cùng đisăn

Trường hợp thứ hai: có biểu hiện phá hoại nương rẫy hoặc làng bảnvới quy mô lớn, họ lập tức gừ mừ báo động, thông tin cho các tay súng đisăn Song đối với người Si La, các cuộc đi săn tập thể ít huyên náo so vớicác dân tộc khác Họ lặng lẽ bao vây các khu vực có thú rừng hoặc ngồi rình

ở các địa điểm mà khả năng thú sẽ đi qua Trong các cuộc săn tập thể nhưvậy, các thợ săn phải thống nhất một số tín hiệu để báo cho nhau biết như:

cú thỳ xuất hiện, đi theo hường này, ở đây có người và báo hiệu ra về

Trang 36

Ngày nay, do một phần thú rừng đã cạn kiệt, một phần do chính sáchcấm tiêu diệt thú rừng của nhà nước, bà con Si La nói riêng, đồng bào ởvùng cao nói chung đã hạn chế việc săn bắn thú rừng bừa bãi, chỉ còn tồn tạimột vài hình thức săn bắn thú nhỏ.

2.2.3.3 Đánh bắt cá

Trước đây do lối sống du canh du cư trên núi, người Si La rất ít khiđánh bắt cá Từ ngày định cư ven suối Nậm Sin, do giao tiếp với một số dântộc lân cận, việc đánh bắt cá mới phát triển Ngày nay việc đánh bắt cá vensông suối cùng với một số nghề phụ khỏc đó trở thành quen thuộc trong hoạtđộng kinh tế của đồng bào Họ biết làm thuyền độc mộc như của người Thái,người Cống, biết đóng mảng, đan lưới, đan nơm, đan úp, đan giỏ để bẫy và bắt

cá bằng tay Hiện đại hơn họ còn sắm chài lưới, cần câu để bắt các loại cá to

Việc đánh bắt chủ yếu do nam giới đảm nhiệm và thực hiện vàonhững lúc nhàn dỗi Họ có thể đi lẻ cá nhân hoặc 2 - 3 người trên thuyềnhoặc đánh chài lưới, cũng có khi tổ chức một đoàn người đi đánh tập thể

Do không phải là một nghề cổ truyền từ lâu đời, bà con phải vừa làmvừa học hỏi cả về kỹ thuật đánh bắt và công cụ Trong đó người Si La chưa

có quy định cụ thể về việc đánh bắt cá Tuy nhiên qua thời gian lâu dài,nhiều người cũng đó tớch luỹ được nhiều kinh nghiệm, đánh bắt được nhiều

cá, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện bữa ăn cho gia đình Và hơn thếnữa nó có ý nghĩa là đã tạo nên một hoạt động kinh tế mới cho chính bảnthân họ Trước đây, người Si La coi cá là một sản vật quý hiếm, đặc biệt làthời kỳ du canh du cư, cá được xếp vào loại đặc sản dùng để thờ cúng trongcác dịp lễ, tết hoặc trong các lễ ăn hỏi, cưới xin Có lẽ đây cũng là một đặcđiểm chung của nhiều dân tộc ở vùng núi Tây Bắc và Lào

Ngày nay, bên cạnh việc đánh bắt cá tự nhiên như vậy thì với việctiếp thu kĩ thuật từ bên ngoài, người Si La đã bắt đầu biết đào ao thả cá với

Trang 37

những giống như: trắm, chép, cá mè, rô phi làm cho đời sống của họ ngàymột cải thiện.

Như vậy có thể thấy: kinh tế khai thác các nguồn lợi tự nhiên đối vớingười Si La cũng như các dân tộc sống ở vùng núi cao đóng vai trò hết sức

to lớn Bởi lẽ trong nền kinh tế trồng trọt còn đang manh mún, mất ổn định

và phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên, không bảo đảm lương thực, thựcphẩm thì kinh tế chiếm đoạt đem lại hiệu quả cao, bù đắp những thiếu hụtvật chất cho con người Do vậy các hoạt động săn bắt, hái lượm luôn diễn ra

và diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi công việc có cách thứcriêng, thời điểm riêng, đối tượng riêng và những lệ tục bản, thủ tục tínngưỡng riêng Thông qua những hoạt động ấy nền kinh tế chiếm đoạt đãbiểu hiện những yếu tố văn hoá khác biệt của cư dân ở đây Đó là tính cộngđồng đơn điệu hay vị kỷ dân tộc, địa phương chủ nghĩa; tớnh nguyờn thuỷcủa nền kinh tế tự cung tự cấp; tính du canh du cư; tính độc đáo của nền vănhoá ẩm thực và đặc biệt là thể hiện những sắc thái tín ngưỡng khu vực

2.2.4 Các nghề thủ công.

Nói “nghề thủ cụng” của người Si La là chưa thật chính xác bởi lẽ laođộng thủ công, tạo ra một sản phẩm gia dụng chỉ là những công việc hết sứcđơn giản Thủ công nghiệp gia đình là một hoạt động kinh tế phụ, hỗ trợ chocác ngành kinh tế khác nhằm thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.Người Si La không còn biết dệt vải, nên nghề thủ công gia đình của họ chủyếu tập trung vào đan lát mây tre Một vài người trong các bản còn biết rèn

và làm các đồ vật đơn giản

Mây tre dùng làm nguyên liệu đan lát thường được khai thác vàotháng 10 – 11 hàng năm đây là thời gian khô hanh, lượng nước ở trongkhông khí ớt, nờn chỳng không bị mọt Sản phẩm đan lát của người Si Lacũng khá phong phú, gồm nhiều chủng loại với các chức năng khác nhau

Trang 38

Vào những ngày tháng, buổi tối nhàn rỗi thì phụ nữ thường ngồiđan lát các đồ gia dụng loại nhỏ như đồ bắt cua, tỳi hỏi rau rừng, chiếumây, giần, sàng, rương đựng quần áo… Rương đựng quần áo là sản phẩmkhá đặc biệt không thể thiếu trong các gia đình Si La Ngoài ra mỗi giađình cũn cú một chiếc rương để thờ Đây là chiếc rương cất giữ các loại

đồ gia bảo quý hiếm, thường để dưới gầm bàn thờ, ngay trên đầu giườngcủa chủ nhà Bình thường, ngoài chủ nhà không ai được mở chiếc rươngnày, chỉ khi chủ nhà qua đời người con trai trưởng mới có quyền thừa kế

và sử dụng Nếu ai vi phạm điều kiêng kỵ này sẽ bị phạt 2 hào bạc trắng

và một chai rượu để làm lễ tạ tội với tổ tiên

Cũn những việc đan lát lớn (gùi, túi đeo, đệm phơi thóc) do đàn ôngđan vào bất cứ lúc nào muốn, trong các nghề đan lát, đáng chú ý nhất là đan

túi đeo (khờ dơ và hạ dơ) Nguyên liệu đan là một loại dây rừng được thu

lượm về, tước hết phần vỏ, dùng dao cạo sạch phần giác mềm, để nguyênphần xơ sợi trắng, có độ bền Từ xơ vỏ ấy, đem phơi khô rồi se thành thừngnhỏ để đan Việc se sợi có thể là đàn ông, đàn bà hay trẻ em đều có thể làmđược Từ vỏ cây tước nhỏ gồm 3 sợi, đặt song song ngang trờn đựi, một taygiữ chung một đầu của 3 sợi, một tay xoố rộng ỏp lờn 3 sợi dây siết mạnhcho soắn lại và vuốt ngược vào nhau tạo thành sợi thừng nhỏ Sợi dây này

được cuốn vào một chiếc thoi (lạ ba) để đan túi có hình mắt lưới.

Cách đan túi với loại nguyên liệu này phổ biến ở nhiều dân tộc trongvùng như người Cống, Mảng, Khỏng, thỏi, Hà Nhỡ… Hiện nay do học hỏiđược nhiều cách đan lát, đồng bào còn biết đan bằng mây, ghế mây và một

Trang 39

chiếc bem, trong mỗi chiếc bem đựng một thứ, có trọng lượng nặng nhẹkhác nhau và bảo mọi người hãy nhấc một cái mà mình muốn Nếu trongchiếc bem đựng thứ gỡ thỡ người đó sẽ biết làm ra nó Mọi người cùng nhấcbem Người Si La chọn cho mình chiếc bem nhẹ nhất, mở ra toàn dây sắnrừng, cũn cỏc dân tộc khác đều lấy được bem đựng bông Thế là các dân tộcđều biết dệt vải chỉ có người Si La không biết dệt mà chỉ biết đan nhữngchiếc túi lưới xinh xắn từ dây sắn rừng.

Trước kia, người Si La hầu như không biết đến nghề rèn nhưng gầnđây, ở bản đã xuất hiện một lò rèn với chức năng chính là sửa chữa nhữngcông cụ sản xuất như rựa, dao quắm, liềm… trước mỗi mùa vụ Nghề mộccủa họ cũng kém phát triển Công cụ chính được dùng trong chế tác đồ gỗ chỉ

là con rựa, cái rìu, gần đây cú thờm cái cưa, cái đục và cái bào Sản phẩmmộc chủ yếu của họ thường là ghế đòn, cày, bừa, cối giã gạo, chõ đồ xụi…

2.2.5 Trao đổi, buôn bán

Các hoạt động kinh tế của người Si La mang nặng tính tự cấp tự túc,hơn nữa quan hệ xã hội của họ cũng tương đối khép kín, nên vì thế mà kinh

tế hàng hoá ở đây chưa phát triển được Họ không có chợ riêng, việc trao đổibuôn bán chủ yếu diễn ra trong nội bộ cộng đồng, thỉnh thoảng mới có sựtrao đổi với các bản người dân tộc khác sống lân cận

Ngày nay, kinh tế thị trường phát triển mạnh đã tác động mạnh đếnđời sống người Si La Ngoài việc sản xuất, hái lượm, săn bắt… để phục vụcuộc sống hằng ngày, họ đã tích cực chăn nuôi cấy trồng, tìm kiếm các sảnvật quý trong rừng để trao đổi Những mặt hàng hiện nay người Si Lathường mang ra trao đổi là các sản phẩm đan lát như hòm mây, chiếu mây,gựi… và nhất là các sản vật quý của rừng như mật ong, sa nhân, huyết linh,tam thất, nấm, mộc nhĩ và cây rễ vàng Đôi khi họ có mang cả sản phẩmchăn nuôi như trõu, bò đổi lấy những mặt hàng khác nhưng rất hạn chế

Trang 40

Sau khi bán được sản phẩm của mình, đồng bào thường mua về nhiềumặt hàng cần thiết phục vụ cho đời sống hàng ngày như: quần áo, vải, muối,sách vở, thuốc chữa bệnh, chăn màn, nụng cụ…Đú là những mặt hàng tốicần thiết của đồng bào Sang năm 2007, với việc hoàn thành đường giaothông từ huyện vào đã khiến cho việc giao lưu buôn bán với bên ngoài đượcdiễn ra nhiều hơn và thuận lợi hơn.

Như đã nêu ở trên, các hoạt động kinh tế chủ đạo của người Si La lànông nghiệp và mang đậm dấu ấn tự túc, tự cấp nhưng chớnh bản thõn thựctrạng tự túc tự cấp đó cũng chưa hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu của các hộgia đình nếu không muốn nói là tỷ lệ đáp ứng nhu cầu cũn quá thấp

Trong phát triển kinh tế gặp một số khó khăn chớnh như

CÁC KHÓ KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Địa chỉ người trả lời phỏng vấn

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Điện Biên Phủ, (1/2008), Bán nguyệt san Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Điện Biên Phủ, "(1/2008)
2. Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, tập 1 – 2, (1999), Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, tập 1 –2
Tác giả: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, tập 1 – 2
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999
3. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, (1959), Nxb Văn hoá, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1959
4. Các dân tộc ít người ở Việt Nam, (1978), Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam
Tác giả: Các dân tộc ít người ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
5. Chính sách dân tộc, những vấn đề lý luận và thực tiễn, (1990), Nxb Sự thật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc, những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Chính sách dân tộc, những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Sựthật
Năm: 1990
6. Phan Hữu Dật, (1973), Cơ sở dân tộc học, Nxb Dân tộc học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở dân tộc học
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Dân tộc học
Năm: 1973
7. Ma Ngọc Dung, (2000), Văn hoá Si La, Nxb Văn hoỏ dõn tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Si La
Tác giả: Ma Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb Văn hoỏ dõn tộc
Năm: 2000
8. Khổng Diễn, (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miềnnúi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Bế Viết Đẳng, (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tếxã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Bựi Đình, (1950), Tìm hiểu đồng bào miền núi Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đồng bào miền núi Việt Nam
Tác giả: Bựi Đình
Năm: 1950
11. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1998), Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ năm, Ban chấphành Trung ương Đảng khoá VIII (1998)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 7, khoá IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ 7
13. Giữ gìn và bảo vệ bản sắc các dân tộc thiểu số Việt Nam , (1997), Nxb Văn hoỏ dõn tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và bảo vệ bản sắc các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Giữ gìn và bảo vệ bản sắc các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: NxbVăn hoỏ dõn tộc
Năm: 1997
14. Diệp Đình Hoa, Người Si La ở Mường Tè – Lai Châu, (2000), Nghiên cứu lịch sử, số 6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Si La ở Mường Tè – Lai Châu
Tác giả: Diệp Đình Hoa, Người Si La ở Mường Tè – Lai Châu
Năm: 2000
15. Nguyễn Văn Huy, (1985), Văn hoá và nếp sống Hà Nhì – Lụ Lụ, Nxb Văn hoá, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và nếp sống Hà Nhì – Lụ Lụ
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: NxbVăn hoá
Năm: 1985
16. Nguyễn Chớ Huyên, Hoàng Hoa Toàn, (1996), Nguồn gốc lịch sử tộc người ở cùng biên giới phía Bắc Việt Nam, Nxb Đại học Thỏi Nguyờn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc lịch sử tộcngười ở cùng biên giới phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chớ Huyên, Hoàng Hoa Toàn
Nhà XB: Nxb Đại học Thỏi Nguyờn
Năm: 1996
17. Vũ Ngọc Khánh, (1995), Sơ lược truyền thống văn hoỏ cỏc dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược truyền thống văn hoỏ cỏc dân tộcthiểu số Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
18. Hoàng Lương, Giáo trình chuyên đề “cỏc dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề “cỏc dân tộc thuộc nhóm ngônngữ Tạng - Miến ở Việt Nam
19. Một số vấn đề về phát triển văn hoỏ cỏc dân tộc thiểu số , (1978), Nxb Văn hoỏ dõn tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát triển văn hoỏ cỏc dân tộc thiểu số
Tác giả: Một số vấn đề về phát triển văn hoỏ cỏc dân tộc thiểu số
Nhà XB: NxbVăn hoỏ dõn tộc
Năm: 1978
20. Tố Oanh, (1992), Lễ phục các dân tộc Việt Nam, Dân tộc học, số 3/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ phục các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Tố Oanh
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SO SÁNH NễNG LỊCH CỦA NGƯỜI SI LA VÀ NGƯỜI THÁI - Bước đầu tìm hiểu về dân tộc Si La ở Bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên (1973 – 2008)
BẢNG SO SÁNH NễNG LỊCH CỦA NGƯỜI SI LA VÀ NGƯỜI THÁI (Trang 26)
BẢNG SO SÁNH DềNG HỌ CỦA CÁC DÂN TỘC NHểM NGễN NGỮ TẠNG - MIẾN - Bước đầu tìm hiểu về dân tộc Si La ở Bản Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên (1973 – 2008)
BẢNG SO SÁNH DềNG HỌ CỦA CÁC DÂN TỘC NHểM NGễN NGỮ TẠNG - MIẾN (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w