- Cảnh nhân dân các dân tộc miền núi ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn dọn về làng sau chiến thắng Biên giới (1950) được tác giả thể hiện rất sinh động dưới hai hình thức: Lời của người c[r]
Trang 1Văn 12 nâng cao
(Những bước lên lớp của một giáo án chưa thiết kế)
Bài 1:
TÁC GIẢ NGUYỄN ÁI QUỐC- HỒ CHÍ MINH
Hoạt động của T-H Nội dung kiến thức cơ bản
Những nét chính về tiểu sử
NAQ- HCM?
Quan điểm sáng tác của
Nguyễn Ái Quốc- Hồ CHí
Minh?
I-Vài nét về tiểu sử:
- ( sinh 19/5/ 1890- mất 2/9/ 1969)
- Quê: Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
- Thuở thiếu thời có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung, đến khi tham gia hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc
- Cha: cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, mẹ: Hoàng Thị Loan
- Lúc nhỏ: người học chữ Hán ở nhà, sau đó học tỊ TRƯỜNG QuỐC học Huế và có thời gian dạy học ở trường Dục Thanh
- Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước
- Từ 1919 đến 1945, Người hoạt động ở nhiều nước: Liên
Xô, Trung Quốc, Thái Lan…
- Ngày 2-9-1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập
khai sinnh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
- Từ tháng 1/ 1946 đến khi qua đời, Người giữ cương vị
- Người coi văn nghệ là vũ khí chiến đấu lợi hại phục vụ
có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng Nhà văn là chiến
sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng góp phần đấu tranh và phát triển xã hội
- Người luôn chú trọng đến tính chân thật và tính dân tộc
Người căn dặn nhà văn “miêu tả cho hay, cho chân thật
Trang 2và cho hung hồn” hiện thực phong phú của đời sống cách mạng” và nên “chú ý phát huy cốt cách của dân tộc” và “giữ gìn sự trong sang của tiếng Việt”
- Người luôn chú ý đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn nghệ, Vì vậy, khi cầm bút, Người luôn đặt câu
hỏi “Viết cho ai?” (đối tượng), viết để làm gì? (Mục đích), viết cái gì (nội dung), viết thế nào? (hình thức)
Chính vì vậy những tác phẩm của Người thường có nội dung sâu sắc và nghệ thuật đa dạng
2- Di sản văn học
a- Văn chính luận:
- Người viết với mục đích đấu tranh chính trị tấn công vào tr\cj diện kẻ thù, thức tỉnh giác ngộ quần chúng thể hiện những nhiệm vụ cách mnagj qua những chặng đường lịch sử
- Những năm đầu của thế kỉ XX, với bút danh Nguyễn ÁiQuốc, Nười đã có nh\ngx áng văn chính luận sắc sảo in
trên: Báo người cùng khổ, Đời sống thợ thuyền…
- Tác phẩm tiêu biểu:
+ Bản án chế độ thực dân Pháp: Nói lên nỗi khổ của
Người bản xứ, tố cáo tội ác của thực dân Pháp, thức tỉnh người dân nô lệ chống áp bức bóc lột
c- Thơ ca:
- Là lĩnh vực tiêu biểu nhất trong di sản văn học của Người với các tác phẩm tiêu biểu như: Nhật kí trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài), Thơ chữ Hán (36 bài)
Trang 3Phong cahs nghệ thuật của
Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí
Minh?
- NKTT trước hết là tập thơ có giá trị hiện thực sâu sắc Nhiều bài thơ đã ghi lại một cách chân thực bộ mặt đen tối của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch cũng như xã hội
TQ năm 1942- 1943 (Lai Tân, Đánh bạc, Cháu bé trong nhà lao Tân Dương…).
- NKTT còn là bức chân dung tinh thần tự hoạ của người tù- thi sĩ- chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh:
+ Một tâm hồn yêu thương tha thiết, trân trọng những
kiếp người bị đày đoạ đau khổ (Một người tù cờ bạc vừa chế, người bạn tù thổi sáo, Phu Làm đường…).
+ Một tinh thần lạc quan kiên cường bất khuất (Bốn tháng rồi, Giải đi sớm…).
+ Một phong thái ung dung thoải mái, một tâm hồn mềm mại, tinh tế nhạy cảm mọi biến thái của thiên nhiên và
long người (Chiều tối, Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, ngắm trăng, Mới ra tù tập leo núi…).
+ Một tâm hồn luôn khát khao tự do, một tấm long yêu nước mãnh liệt luôn hướng về quê hương đất nước với
nỗi nhớ da diết và lo lắng bồn chồn (Không ngủ được, Nhớ bạn, Tức cảnh, Đêm thu…).
+ Một tầm nhìn xa trông rộng luôn hướng về tương lai
tươi sang (Trời hửng, Nghe tiếng giã gạo…).
*) Giá trị nghệ thuật:
NKTT là tập thơ giàu giá trị nghệ thuật, phong cách đa dạng, độc đáo với nhiều giọng điệu, nhiều bút pháp khác nhau
Nét nổi bật của NKTT là sự kết hợp hài hoà giữa chất
cổ điển và tinh thần hiện đại, là sự hoà quyện giữa tâm hồn thi sĩ và tư thế người chiến sĩ
3- Phong cách nghệ thuật:
- Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh độc đáo và đa dạng mà thống nhất có sự kết hợp hài hoà gi\ã truyền thống và hiện đại, giữa chính trị và văn chương, gi\ã tư tưởng và nghệ thuật
+ Văn chính luân: Ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận
chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng giàu sức thuyết phục, giàu tính chiến đấu, đa dạng về bút pháp
+ Truyện và kí:
Mang đậm chất trí tuệ, sáng tạo và hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng vừa sắc bén, vừa thâm thuý
+ Thơ ca: Thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh vừa cổ điển, vừa hiện đại, có sự hài hoà độc đáo giữa chất trữ tình và chất “thép”, gi\ã sự trong sáng
Trang 4với cảm hứng anh hung của thời đại (Tin thắng trận, Tặng Bùi Công, Cảnh khuya, Lên núi…).
- Điểm nổi bật trong thơ Bác là hình ảnh nhân vật trữ tình
“mang nặng nỗi nước nhà”, nhưng phong thái vẫn ung dung tự tại, tâm hồn luôn hoà hợp với thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng luôn làm chủ hoàn cảnh với niềm tin vào tương lai tất thắng của cách mạng dù trên bước đường còn nhiều gian nan thử thách
KẾT LUẬN
Thơ văn Hồ Chí Minh là một di sản tinh thần vô giá, làmột bộ phận gắn bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng của Người Văn thơ Hồ Chí Minh có tác dụng to lớn đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, hơn thế nó còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tinh thần dân tộc
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG
Trang 5TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
2- Bài viết “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”:
- Là một bài nghị luận văn học khá mẫu mực đặt ra và giải quyết vấn đề nhìn nhận và đánh giá một tác gia văn học
Bài viết được đăng trên tạp chí văn học tháng 7- 1963
- Mở đầu bài viết tác giả cho rằng ngôi sao sáng của Nguyễn
Đình Chiểu “đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này”.
=> “trong lúc này”:
- Năm 1963, miền nam dưới chính thể gia đình Ngô Đình Diệm, những người kháng chiến cũ bị đàn áp dã man Nhân dânmiền nam không thể ngồi yên chờ chết, đã nhất tề nổi dậy dành quyền làm chủ Sự việc mở đầu bằng phong trào đồng khởi Phong trào lan nhanh lan nhanh khắp các tỉnh miền Nam giành được nhiều thắng lợi và cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiếncủa nhân dân Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước diễn ra sôinổi ở cả hai miền Nam, bắc
- Để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân, dân miền Nam trong thời kì nước sôi lửa bỏng, nhân dân miền Bắc tổ chức kỉ niệm
75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn nhất được nhân dân Nam bộ ngưỡng mộ
Với nhãn quan chính trị sáng suốt, cùng với sự hiểu biết đầy
đủ về con người và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu,
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đặt ra vấn đề, xem xét lại những nhận định, đánh giá chưa thoả đáng về Nguyễn Đình Chiểu lâu nay
+ Ông phê phán những nhận định sai lệch về truyện “Lục Vân Tiên”.
+ Ông phân tích rõ về giá trị của thơ văn yêu nước của Nguyễn
Trang 6Mở đầu bài viết, tác
giả nêu ngay vấn đề
Cách diễn đạt theo lối
Đình Chiểu, đặc biệt ông đề cao tâm hồn trong sáng và cao quí của nhà thơ yêu nước này
3- Bố cục:
- Đây là một bài nghị luận văn học Bố cục gồm 3 phầm TB-KB
MB-* MB: từ đầu = > “cách đây một trăm năm”: nêu vấn đề: Ngôi
sao nguyễn Đình Chiểu đáng lẽ ra phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc
* TB: => “Núi sông còn gánh hai vai nặng nề”: làm sáng tỏ
vấn đề được nêu ở đề bài bằng 3 bộ phận:
- Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất hủ (nhận định tổng quát về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu)
- Giá trị to lớn của thơ văn yêu nước của Nguyeenc Đình Chiểu
- Giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện “Lục Vân Tiên”
* KB: Còn lại Khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ yêu nước, đời sống của ông là một tấm gương sáng
II- Đọc- hiểu chi tiết:
1- Phần nêu ra vấn đề:
* Cách nhìn nhận về nguyễn Đình Chiểu đáng có vấn đề:
- Tác giả nêu vấn đề một cách trực tiếp và thẳng thắn: còn có những ý kiến nhìn nhận, đánh giá về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chưa đúng với những gì ông đã có
=> Ý đó được diễn đạt một cách hình ảnh về ngôi sáng nguyễn
Đình Chiểu “đáng lẽ phải sảng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này”.
“Đáng lẽ phải”: có nghĩa là thực tế chúng ta đang nhìn nhận
chưa đúng về nguyễn Đình Chiểu
- Tác giả đã giải thích lí do của hiện tượng đó:
+ Lí do thứ nhất: chưa có một phương pháp luận đúng đắn
trong nhìn nhận về một tác gia văn học “trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy, và càng nhìn và càng thấy sáng, Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.”
= > Cách diễn đạt theo lối so sánh bằng hình ảnh đó khiến cho
ý trừu tượng trở nên dễ hiểu, nhẹ nhàng hơn (vì tác giả đang phê phán)
+ Chưa có sự hiểu biết đầy đủ về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu
“Có người chỉ biết nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên và hiểu văn Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và về văn, còn rất ít hiểu thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình
Chiểu.”.
Trang 7Nói đến thơ văn yêu
nước của Nguyễn
2- Phần thân bài:
a- Nhìn nhận tổng quát về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
- Cố Thủ tướng PVĐ đã nhận định về con người và cuộc đời
Nguyễn Đình Chiểu bằng những lời khẳng định mạnh mẽ “Một nhà thơ yêu nước’, “một tấm gương anh dung”; ‘một chiến sĩ
hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn”.
- Cố Thủ tướng đã nhận định thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu như sau:
+ “Tác phẩm là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống lại bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu chúng đặt chân lên xâm lược nước ta”;
+ “Những tác phẩm đó, ngoài giá trị văn nghệ, còn quí giá ở chỗ nó soi sáng tâm hồn trong sáng và cao quí lạ thường của tác giả và ghi lại lịch sử một thời khổ nhục nhưng vĩ đại”.
- Có thể nói, Cố Thủ tướng đã đánh giá rất cao con người và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Điều cần chú ý ở đây là Cố Thủ tướng đã có một cái nhìn, vừa có chiều sâu triết lí, vừa rất đôn hậu Đó là hoàn cảnh đất nước Nguyễn Đình Chiểu sống và hoàn cảnh riêng của bản thân nhà thơ
b- Phân tích giá trị thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu:
Nói đến thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã kể đến những sáng tá thuộc thể loại:
Văn tế và Thơ Đường luật.
Phần này được tác giả trình bày 3 ý:
- Đầu tiên là nhận định tổng quát về giá trị nội dung thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Tác giả cho rằng thơ văn yêu nước của cụ Đồ Chiểu đã làm sống lại phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ suốt 20 năm trời, từ sau năm 1680
- Tiếp đến là tác giả nêu giá trị những bài văn tế: đó là những bài ca ca ngợi những anh hung tận trung với nước và là những lời than khóc sót thương những liệt sĩ đã hi sinh vì dân vì nước.+ Những bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có giá trị nội dung
to lớn vì “đã diễn tả sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hung cứu nước”.
+ Cách nhìn mới mẻ của Phạm Văn Đồng về bài Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc: ông đem so sánh với tác phẩm Bình Ngô đại cáo
Trang 8Cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã phân
tích những mặt nào
của truyện Lục Vân
Tiên? Khi phân tích
những mặt đó, tác giả
đã có những kiến giải
mỡi mẻ như thế nào?
của Nguyễn Trãi để đề cao giá trị và cho rằng “Bài văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc là khúc ca của những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang”
- Sau đó, tác giả nói tới những bài thơ Đường luật của Nguyễn Đình Chiểu Phạm văn Đồng coi đó là “Những đoá hoa, những hòn ngọc rất đẹp”=> Bài Xúc cảnh là một ví dụ điển hình Những đoá hoa, những hòn ngọc rất đẹp đó cùng với những bông hoa của một thời buổi oanh liệt và đau thương của các
nhà thơ, nhà văn khác (Phan Văn trị, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa… T51) đã tạo nên dòng văn thơ yêu nước chống Pháp trong nền văn học Việt Nam
c- Kiến giải mới mẻ về tác phẩm Lục Vân Tiên:
- Tác phẩm Lục Vân Tiên là một tác phẩm văn học nổi tiếng
của Nguyễn Đình Chiểu Nói đến Nguyễn Đình Chiểu ta nhớ
ngay đến truyện Lục Vân Tiên.
Ở đầu bài viết, tác giả đã nêu ra hiện tượng có nhiều người đã
“hiểu LVT khá thiên lệc về nội dung và về văn”.
=> Phần này, tác giả đã phản bác lại cách hiêu thiên lệch đó bằng cách phân tích 3 mặt của tác phẩm: giá trị nội dung, giá trịnghệ thuật và sức hấp dẫn của tác phẩm
*) Về giá trị nôi dung của LVT:
+ Tác giả đã khẳng định đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quí ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa.
Tác giả đã kiến giải điều đó bằng quan niệm lịch sử rất sâu sắc
và chặt chẽ “Tất nhiên những giá trị luôn lí mà NĐC ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm chúng ta thì có phần lỗi thời”
=> Như vậy, tác giả đã thừa nhận sự “lỗi thời” của những giá trịluôn lí trong các tác phẩm và cho rằng đó là đương nhiên do hạn chế cảu lịch sử Nhưng đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử mà Nguyễn Đình Chiểu sống thì những bài học luôn lí được đề cao trong tác phẩm LVT là điều cần thiết và xứng đáng được trân trọng
+ Cố Thủ Tướng cho rằng những phẩm chất tốt đẹp của các nhân vật tích cực trong truyện LVT là những phẩm chất cần có
của con người ở bất cứ thời đại nào: “Nguyễn Đình Chiểu cũng như nhiều bậc hiền triết ngày xưa ở phương Tây hoặc phương Đông vẫn để lại cho đời sau những điều giáo huấn đáng quý trọng”.
+ Quan điểm đó được giải thích rõ ràng “Các nhân vật của LVT: Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu Đồng… là những người đáng kính, đáng yêu, trọng nghĩa, khinh tài, trước sau một long, mặc dầu khổ cực, gian nguy, quyết phấn đấu vì nghĩalớn Họ là những nhân vật của một thuở đã qua… nhưng họ là
Trang 9những con người có ruột gan, xương thịt Họ sống trong một xãhội cũng như biết bao xã hội từ xưa tới nay, có người tốt kẻ xấu, người ngay kẻ gian, có nhiều đau khổ, bất công, họ đã đấu tranh không khoan nhượng chống mọi gian dối, bất công và họ
đã thắng Họ là những tấm gương dũng cảm”
=> Cắt nghĩa và lí giải các nhân vật trong truyeenn như vậy đã thể hiện một cái nhìn mới mẻ và sâu sắc của tác giả PVĐ, một cái nhìn có chiều sâu triết học và tấm lòng nhân hậu
*) Về văn chương của “Lục Vân Tiên” cũng được Phạm Văn
Đòng cắt nghĩa lí giải mới mẻ và rất sâu sắc, thấu tình đạt lí Ông cho rằng LVT có đôi chỗ sai xót về văn chương là có thể thông cảm được, bởi 3 lẽ:
+ Thứ nhất; đây là chuyện ‘kể”, chuyện “nói”, tác giả cố ý viết
lối văn “nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian
+ Lẽ thứ hai: Phải nhớ rằng Nguyễn Đình Chiểu vì mù nên chỉ
đọc cho người khác viết, và như vậy thật khó sửa chữa và duyệtlại nguyên bản
+ Lẽ thứ ba: “Đến nay chẳng ai biết nguyên bản ấy là bản nào!
Và hiện nay mấy bản sao mà người ta căn cứ đều có chỗ khác nhau” Nói cách khác, truyện LVT là tác phẩm ở tình trạng
“tam sao thất bản’- theo cách nói dân gian và theo cách nói của các nhà nghiên cứu văn học là có vấn đề về văn bản học
Sau khi lí giải như trên, tác giả khẳng định “dẫu sao đôi chỗ sai xót về văn chương không thể làm giảm đi giá trị nghệ thuật của bản trường ca thật hấp dẫn từ đầu đến cuối
* Về sức hấp dẫn của truyện LVT, cố Thủ tướng không cần
dài dòng vì đó là sự thật hiển nhiên không ai không thừa nhận
Tác giả chỉ nói ngắn gọn“trong dân gian miền nam người ta thích truyện LVT, người ta say sưa kể LVT không chỉ về nội dung câu chuyện, còn vì văn hay của LVT”.
Có thể nói cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có cái nhìn mới
mẻ về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và ông đã trình bày bằng một lối cắt nghĩa lí giải sâu sắc, thấu tình đạt lí, bởi thế bài viết có tính chất thuyết phục rất lớn, giúp các thế hệ sau
có được hiểu biết đầy đủ về Nguyễn Đình chiểu để yêu mến và kính trọng ông hơn
Trang 10Mấy Ý NGHĨ VỀ THƠ Nguyễn Đình Thi
Hoạt động của T-H Nội dung kiến thức cơ bản
- Ông là một nghệ sĩ tài năng trên nhiều lĩnh vực: âm nhạc,sân khấu, văn học Riêng về văn học, Nguyễn Đình Thi vừa làm thơ, vừa viết tiểu thuyết, vừa viết kịch, vừa viết phê bình, nghiên cứu Lĩnh vực nào ông cũng có tác phẩm nổi tiếng
2- Bài tiểu luận “Mấy ý nghĩ về thơ”:
- Viết 1949 (Tiểu luận: là một bài không dài lắm bàn về
một vấn đề gì đó có tính chất thời sự)
Đây là một bài tham luận của nhà văn Nguyễn Đình Thi trình bày trước hội nghị tranh luận về văn nghệ được tổ chức tháng 9-1949 về quan niệm thơ của ông (nhân lúc hộinghị tranh luận về thơ không vần của Nguyễn Đình thi trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp) Đó là thời
kì mà nền văn nghệ mới của nước Việt Nam Dân chủ
Trang 11nào về thơ? Nguyễn Đình
Thi đã phản bác lại ra sao?
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi
đã có quan niệm về đặc
trưng của thơ như thế nào?
Cộng hoà đang tìm đường để phục vụ kháng chiến
- Ở bài tiểu luận này, NĐTđã bày tỏ suy nghĩ và quan niệm của ông về các khía cạnh sau đây của thơ:
+ Định nghĩa về thơ
+ Đầu mối của thơ
+ Hình ảnh của thơ
+ Chữ và tiếng trong thơ
+ Nhịp điệu của thơ
+ Đường đi của thơ
+ Vấn đề thơ tự do và thơ không vần
=> ta có thể xếp 7 khía cạnh trên thành 3 vấn đề sau đây của thơ:
- Đặc trưng về nội dung của thơ
- Đặc trưng về hình thức của thơ
- Vấn đề về thơ tự do và thơ không vần
II- Đọc- hiểu chi tiết:
1- Phản bác lại những quan niệm phiến diện về thơ:
- Vào những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp khi
mà nền văn nghệ mới bắt đầu xây dựng, đã có những quanđiểm phổ biến sau đây về thơ:
+ Thơ là những lời đẹp, những đề tài đẹp
+ Thơ khác với thể văn khác ở chỗ là thơ in sâu vào trí nhớ
=> Nguyễn Đình Thi cho rằng: Quan niệm thơ là những lời đẹp không chính xác
DC: Thơ Hồ Xuân Hương toàn là những lời “nôm na mach qué” được truyền tụng mãi, Nguyễn Du đã có những câu thơ đâu phải là lời đẹp “Thoắt trông lờn lợt màu da-
ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”.
- Còn có ý kiến cho rằng “Thơ khá với các thể văn khác ở chỗ in sâu vào trí nhớ”.
=> Nguyễn Đình Thi bác bỏ ý kiến đó bằng giọng văn có
màu sắc hài hước: “Nhưng những nhận xét tài tình trên đây của nhà phê bình vẫn chưa cắt nghĩa được vì sao thơ
có hiệu quả làm cho người ta nhớ Và có những cái ta rất nhớ, ví dụ như những công thứ toán học, nhưng lại không phải thơ” => Phản bác như vậy là rất sắc sảo.
2- Quan niệm về đặc trưng của thơ:
Thao Nguyễn Đình thi, nguồn gốc và nội dung đặc trưng của thơ là:
- Thơ bắt nguồn từ tâm hồn con người, khi con người có một sự rung chuyển khác thường, do một sự va chạm nào
đó với thế giới bên ngoài, lúc đó thơ ra đời
- Thơ chứa đựng cảm xúc và suy nghĩ của con người khi
Trang 12Theo Nguyễn Đình Thi,
nhà thơ đã giãi bày những
cảm xúc, tình cảm và tư
tưởng của mình bằng
những yếu tố nào của hình
thức nghệ thuật thơ?
Nguyễn Đình thi quan
niệm như thế nào về thơ tự
đụng chạm với cuộc sống Nói cách khác, nội dung của thơ là cảm xúc, tình cảm và tư tưởng Tư tưởng của thơ nằm trong cảm xúc, tình cảm, vì bất cứ cảm xúc, tình cảm nào của con người cũng dính liền với sự suy nghĩ
- Tác giả đã diễn đạt rất tài tinhg những ý nghĩ của mình bằng lối văn nghị luận giàu tính biểu cảm “toé lleen nhữngnơi giao nhau của tâm hồn với ngoại vật, trước hết là cảm xúc Cảm xúc là phần xương thịt hơn cả đời sống tâm hồn” (T56)
2- Quan niệm về đặc trưng hình thức của thơ:
- Trước hết “thơ không phải là phiên dịch ý tình bằng hình ảnh” Hình ảnh trong thơ không phải là những hình ảnh
cầu kì mà phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn ta trước một cảnh huống hay trạng thái nào đó
- Thực tế sáng tác thơ của Nguyễn Đình Thi ở thời kì kháng chiến chống pháp cũng như sau đó đã chứng tỏ qun niệm của ông về thơ là đúng đắn Thơ ông có những hình ảnh mới lạ đều lấy trong đời thực:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gia đâm nát trời chiều.
[…] Nước Việt Nam ta từ trong máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
(Đất nước- Nguyễn Đình Thi)
- Chữ và tiếng trong thơ là một yếu tố nữa của hình thức nghệ thuật Nguyễn Đình Thi đã chỉ ra những đặc trưng của chữ và tiếng trong thơ “ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọiđến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh khôngngờ, toả ra xung quanh nó một vùng sáng động đậy” =>
Và nó tạo nên sức mạnh cho thơ
- Nhịp điệu của thơ: Nhịp điệu của thơ là yếu tố hình thức
không thể thiếu ở thơ Nguyễn Đình Thi quan niệm “Nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuống trầm, mà còn là thứ “nhịp điệu bên trong nhịp điệu của hình ảnh, tình tứ, nói chung là tâm hồn”.
3- Vấn đề thơ tự do, thơ không vần:
Dạo ấy, 1949 khi thảo luận về thơ của Nguyễn Đình Thi
Trang 13do, thơ không vần?
Tại sao như vây?
Phần GV mở rộng
Ngày nay, quan niệm về
thơ của Nguyễn Đình Thi
- Ông đề nghị hướng giải quyết vấn đề như sau: “không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác Mà trước hết nên lo cho thơ phải nói lên được những tư tưởng, tình cảm của thời đại”.
Để cho ý kiến của mình khỏi bị hiểu lầm, ông đã lật lại
vấn đề cho kín kẽ: “Vượt khỏi tất cả mọi luật lệ, không phải thơ trở nên buồn thả, bừa bãi” Ông kêu gọi: “Bỏ những luật lệ máy móc bên ngoài, những luật lệ bản thân của nghệ thuật, những luật lệ từ bên trong mà ra, chỉ càng quan trong hơn”.
*) TL: Phần cuối của tiểu luận là một đoạn văn nghị luận
chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, so sánh bằng hình ảnh rất sát hợp, bởi thế đoạn văn có tính thuyết phục cao
4- Trao đổi vầ giá trị ‘Mấy ý nghĩ về thơ” (Mở rộng):
Tiểu luận này, Nguyễn Đình thi viết năm 1949, tính đến nay đã lùi xa hơn 60 năm Vậy mà những ý nghĩ của ông vẫn giữ nguyên giá trị
Bởi vì như ông viết: “không có lí luận nào bằng thử thách của tương lai” Thành tự về thơ ở thời kì kháng
chiến chống Pháp đến thời kì kháng chiến chống Mĩ, rồi đến thời kì đổi mới đã chứng minh quan niệm thơ của
Nguyễn Đình Thi là đúng đắn và sâu sắc: “Một thời đại mới của nghệ thuật thường bao giờ cũng tạo ra một hình thức mới”.
4- Củng cố:
5- Hướng dẫn về nhà:
Chuẩn bị Đô-xtôi-ép-xki
Trang 14Xvai-gơHoạt động của T-H Nội dung kiến thức cơ bản
“trong một thế giới đối với
ông là xa lạ”, gia đình
Đô-I- Đọc-hiểu khái quát 1- Tác giả Xvai-gơ:
- Xvai-gơ là nhà văn Áo, sống ở TK XX (1881- 1942)
- Là nhà văn, nhà thơ nổi tiếng bởi những công trình nghiên cứu về những nhà văn bậc thầy của thế giới Do cách viết tài hoa nên các bài viết của ông về chân dung cácnhà văn lớn của thế giới rất nổi tiếng ở châu Âu và thế giới
Bài viết về đại thi hào Đô-xtôi-ép-xki là một trong các bài
viết đó
- Trong bài ngày, Vai-gơ đã dựng lên rất sinh động chân dung của đại thi hào Nga Đô-xtôi-ép-xki sống ở thế kỉ 19 Bài viết đã khắc hoạ rất rõ nét và hấp dẫn về 2 thái cực trong số phận của đại thi hào Đô-xtôi-ép-xki: nghèo túng suốt đời và vinh quang tột đỉnh:
+ “Kẻ bị đoạ đày của những đường phố xa lạ”
+ “Người đã vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm vinh quang đời đời”
=> cách diễn đạt rất tài hoa về 2 nội dung trên
2- Giới thiệu sơ lược về đại văn hào Nga xki:
Đô-xtôi-ép Là đại văn hào Nga ở Tk 19 (1821Đô-xtôi-ép 1881)/
- Ông là tác giả của những tiểu thuyết được dịch ra tiếng
Việt như: “Tội ác và trừng phạt”, “Thằng ngốc”, “Những người quỉ ám”, “Con bạc”, “Anh em nhà Ka-ra-ma- dốp”…
=> những tiểu thuyết ấy được viết một cách riêng biệt, được gọi là “tiểu thuyết đa thanh” 9theo cách gọi của nhà phê bình văn học lỗi lạc Nga là Ba-khơ-tin)
II- Đọc- hiểu chi tiết:
Chân dung của Đô-xtôi-ép-xki được thể hiện:
1- “Kẻ bị đoạ đày ở những đường phố xa lạ”:
* Hoàn cảnh gia đình-xtôi-ép-xki sống trong cảnh bần hàn:
- Nhà văn vĩ đại Đô-xtôi-ép-xki sống dưới thời Nga Hoàng, ông là một người mang tư tưởng tự do Dân chủ
mê mâu thuẫn gay gắt với chế độ Nga Hoàng Ni-cô- lai I
Trang 15xtôi-ép-xki sống trong cảnh
bần hàn như thế nào?
Nhưng những tác phẩm của
Đô-xtôi-ép-xki ra đời trong
cảnh nghèo túng ấy Điều
đó đã nói rõ những gì về
con người nhà văn?
Ông từng bị kết án tử hình, sau đó được giảm án xuống lưu đày biệt xứ ở Xi-bia-ri
- Tiếp đó để kiếm sống và trả nợ, vợ chồng ông trốn sang Châu Âu nhiều năm
Xvai-gơ nói điều đó bằng lời văn chứa chất lòng thương
cảm “trái tim ông chỉ đạp vì nước Nga còn than thể ông sống leo lét trong một thế giới đối với ông là xa lạ Không một nhà văn Đức, Pháp hoặc I-ta-li-a nhớ lại là đã gặp ông, đã nói với ông”.
- Như vậy, có nghĩa là Đô-xtôi-ép-xki đã dống vô danh ở rất nhiều nơi, trong cảnh nghèo đói, bệnh tật với bao điều
nhục nhã: “Ông chỉ được biết đến ở ngân hang […] đứng chờ ngày lại ngày tờ séc của ông cuối cùng đã đến chứa [,,,] vì chúng […] ông đã bao nhiêu lần quì gối trước những người xa lạ và thấp hèn Các nhân viên ra mặt chế nhạo lão điên nghèo […] Ông cũng là người khách
chuyên cần ở hiệu cầm đồ: ông đã cầm cố ở đó tất cả, một lần đến cả cái quần đùi cuối cùng để đánh một cái điện về Xanh-pê-téc- bua”.
- Vợ chồng ông không chỉ sống trong cảnh bần hàn mà
còn sống và viết trong cảnh bệnh tật, đớn đau: “Suốt đêm ông làm việc trong khi ở phòng bên vợ ông rên rỉ những cơn đau đẻ Cơn động kinh chộp họng ông, chủ nhà không được trả tiền đe doạ gọi cảnh sát; bà đỡ đòi tiền nợ”.
* Những tác phẩm của Đô-xtôi-ép-xki ra đời trong cảnh nghèo túng:
- Những chi tiết cụ thể, sinh động kể ra ở trên, chứng tỏ tác giả đã có một sự nghiên cứu kĩ lưỡng về đại thi hào Nga:
+ Lời văn chứa đầy sự thương cảm của tác giả đối với nhà văn Không những thế, tác giả còn biểu lộ sự khâm phục
nghị lực phi thường của nhà văn: “Ông ngày càng bị thu hút vào các tác phẩm của mình Đó là rượu ngọt làm ông ngay ngất, đó là niềm hoan lạc lớn nhất đối với ông”.
+ Tác giả còn hiểu rõ tâm tư, lòng yêu nước Nga khi ông
phải sống xa tổ quốc: “Nước Nga! Nước Nga! Đó là tiếng gọi vĩnh cửu của niềm tuyệt vọng của ông”.
- Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể và những lời lẽ gợi cảm về nỗi khổ ải khốn cùng và nghị lực phi thường của Đo-xtôi-ép-xki, tác giả đưa chúng ta đến những lời kết
luận thật gợi cảm “Ông phải vẫn là người không tên, kẻ bị đoạ đày của những đường phố xa lạ, đau khổ một mình
mà không than vãn Ông tiếp tục sống giữa giống người chấy rận trước khi vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm
Trang 16Năm bao nhiêu tuổi ông
mới trở về tổ quốc? Và
“giây phút tuyệt đỉnh” mà
ông giành được là gì?
vinh quang đời đời Những thiếu thốn đã uốn còng lưng ông, những quả truỳ của bệnh tật càng giáng thường xuyên hơn xuống não cầu của ông”
- Phần đầu đoạn trích, bằng một lối viết tài hoa, Xvaigơ đãđem đến cho người đọc ấn tượng sâu đâm về Đô-xtôi-ép-xki:
+Sống lưu vong trong cảnh nghèo túng, bệnh tật
+ Nghị lực phi thường và lòng yêu nước Nga sâu sắc
*) TL: Đô-xtôi-ép-xki là một con người mang đậm tính
cách Nga và là một nhà văn giàu sức sáng tạo Phác thảo chân dung nhà văn, Xvai-gơ đã không dung phương thức nghị luận khô khan mà ông dung lối kể chuyện với nhưng chi tiết chọn lọc làm nổi lên hồn cốt của nhân vật
2- Người “vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm vinh quang đời đời”:
- “Năm mươi hai tuổi, ông được quyền trở về Tổ Quốc”
Đó là bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời ông
+ Vì sao vây? – Vì sự kiện đó xảy ra “vào thời điểm của
sự tuyệt vọng lớn nhất, số phận phán bảo thế là kết thúc”
Sự kiện đó được tác giả ví như sự kiện trong kinh thánh
“Đức Chúa trời quay nhìn về phía Giốp” (Theo kinh Cựu ước của Thiên Chúa giáo, giốp là người đạo đức, chịu
nhiều bất hạnh nhưng vẫn tin vào chúa Cuối cùng Chúa
đã ban phước lành để Giốp trường tho, hạnh phúc)
+ Ông trở về Tổ quốc khi ông đã là tác giả của những cuốn
tiểu thuyết lừng danh ở châu Âu: Tội ác và trừng phạt, Thằng ngốc, Lũ người quỉ ám, Con bạc, Anh rm nhà Ka- ra-ma-dốp.
+ Tên tuổi của ông đã làm cho các tên tuổi lúc đó bị lu
mờ: Tuốc-ghê-nhi-ép, Tôn-xtôi “Nước nga chỉ còn đổ dồn mắt vào ông”, “Các sách của ông đã biện hộ cho sự nghiệp của ông”
Nước Nga đón ông như đón “sứ giả của xứ sở mình” trở
về
– Những vinh quang mà ông có được không dừng lại
ở đó, giây phút hạnh phúc tuyệt đỉnh đã ban cho ông khi ông đọc diễn văn tưởng niệm về Pu-skin, nhân kỉ niệm
100 năm của văn hào
- Đô-xtôi đã đọc diễn văn:
“Trong niềm ngây ngất của quỉ dữ, ông vung lời như sấm sét.Với một sự thành kính xuất thần, bằng giọng nói trầm, khan, ông báo trước sứ mệnh thiêng liêng của sự tổng hoà giải của nước Nga”
- Diễn văn của Đô-xtôi-ép-xki tác động đến người nghe:
Trang 17Đô-xtôi-ép-xki đã đọc diễn
văn như thế nào?
Diễn văn của
Đô-xtôi-ép-xki tác động đến người
nghe ra sao?
Sự kiện đại văn hào
Đô-xtôi-ép-xki qua đời đã làm
chấn động nước Nga như
thế nào? Nhân dân Nga đã
bày tỏ sự ngưỡng mộ và
thương tiếc nhà văn ra sao?
“Như bị hạ gục, đám đồng quì xuống, căn phòng rung lên như sự bùng nổ của hoan hỉ, các bà hôn bàn tay của ông, một sinh viên ngất xỉu dưới bàn chân ông Tất cả các diễn giả khác từ chối không nói nữa Sự hứng khởi thật không giới hạn, một vòng hào quang chói lọi bao quanh cái đầu bị hành khổ này”
=> Có lẽ không cần một lời bình nào về cách phác hoạ chân dung của nhà văn Xvai-gơ Những lời văn của ông vừa theo lối vừa tả, vừa kể, vừa nhận định đã làm sống dậy
“giây phút tuyệt đỉnh” mà đại văn hào Đô-xtôi-ép-xki đã
giành được trong lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của
pu-skin- nhà thơ lỗi lạc của nhân dân Nga 1799- 1837)
(Chỗ này, do Xvai-gơ nhầm hay người dịch nhầm, Pu-skinsinh năm 1799 kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông phải là
1899, trong lúc đó Đô-xtôi-ép-xki mấy năm 1881)
* Sự kiện Đô-xtô-ép-xki qua đời:
- Xvai-gơ viết “Đô-xtôi-ép-xki qua đời ngày 10 tháng 2 năm 1881 Một con tim run rẩy lay động toàn nước Nga”.
+ Nhân dân Nga đã biểu hiện lòng thương tiếc đại văn hào: các đoàn đại biểu khắp nơi trong cả nước kéo đến viếng ông làm giấy lên một làn song yêu thương cuồng nhiệt Phố thợ rèn nơi quàn linh cữu ông đen nghịt người Hàng ngàn người đi sau linh cữu của ông Dưới một rừng
cờ và cờ hiệu phấp phới trước gió, các vị vương tôn trẻ, các pháp trưởng ăn mặc lộng lẫy, công nhân, sinh viên, sĩ quan, người hầu và người hành khất đi bên nhau khóc thương ông
=> Quả là đám tang của đại văn hào… được Xvai- gơ kể
lại rất sinh động Ông đã làm sống lại “làn sóng yêu thương cuống nhiệt” của nhân dân Nga, đủ các thành phần
gia cấp từ nghèo đến quí tộc đối với người con lỗi lạc của họ
- Sự ra đi vào cõi vĩnh hằng của Đô-xtôi-ép-xki đã đem đến cho nước Nga vào thời điểm ấy:
+ Theo vai-gơ sự ra đi của Đô-xtôi-ép-xki đã đem đến
“cho đất nước ông một sự hoà giải chốc lát”, “Tất cả các đảng phái đoàn kết lại trong một lời nguyền yêu thương
và cảm phục”.
+ Và sau đó “dông bão”: “Ba tuần sau, Nga Hoàng bị ám sát, tiếng sấm của sự nổi dậy rền vang Những tia chớp báo thù rạch dọc ngang khắp đất nước, cũng như Bết-thô- ven, Đô-xtôi-ép-xki qua đời giữa dông bão, giữa các nguyên tố bị kích động dữ dội”.
=> Những lời văn đấy hình ảnh của Xvai-gơ đã đem đến
Trang 18Sự ra đi vào cõi vĩnh hằng
của Đô-xtôi-ép-xki đã đem
đến cho nước Nga điều gì
vào thời điểm đó?
cho các thế hệ người đọc về sau ấn tượng sâu sắc về ý nghĩa cái chết của một nhà văn lỗi lạc nước Nga vĩ đại
4- Củng cố:
5- Hướng dẫn về nhà
TÂY TIẾN (Quang Dũng) Hoạt động của T-H Nội dung kiến thức cơ bản
I- Đọc- hiểu khái quát:
1- Tác giả và hoàn cảnh ra đới bài thơ
- Tác giả(1921-1988
- Hoàn cảnh ra đời bài thơ…
2- Thể loại và kết cấu bài thơ:
Bài thơ thuộc loại trữ tình Nhà thơ ghi lại nỗi nhớ của mình theo dòng hồi tưởng về đoàn quân Tây Tiến;
+ Đoạn 1: Nhớ cuộc hành quân qua miền Tây Bắc
+ Đoạn 2; Nhớ những đêm lien hoan Châu mộc và chiều sương Tây Bắc
Trang 19+ Đoạn 3: nhớ về đoàn quân Tây Tiến một thời gian nan,
hi sinh, mất mát với những người lính lãng mạn, hào hoa.+ Đoạn kết; Ai đã từng lên Tây Tiến vào mùa xuân ấy thì không thể nào quên được chí nguyện của một thời
II- Đọc- hiểu chi tiết:
1- Nhớ về cuộc hành quân Tây Bắc:
a- Miền đất và đoàn quân của một thời không thể nào quên:
- Mở đầu bài thơ là sự bộc bạch nỗi nhớ:
+ Nỗi nhớ nôn nao, ám ảnh đến nỗi phải cất lên tiếng gọi
“Tây Tiến ơi” => Tiếng gọi ấy như tiếng gọi người thân
yêu cùng bao lưu luyến với những gì vừa trải qua “Sông
Mã xa rồi” Đây là nỗi nhớ bồi hồi, da diết
+ “ Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ bang khuâng của một người
đang mang tâm trạng trống vắng, hụt hẫng…
- Những hình ảnh đã ùa về trong kí ức nhà thơ:
+ Trước hết, đó là hình ảnh về núi rừng miền Tây với những địa danh lạ lẫm và cảnh sắc thiên nhiên vừa hoang
dã, vừa thơ mộng;Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch với oai linh thác gầm thét và đêm đêm cọp
Cuộc hành quân gian nan hết lên dốc lại xuống, dốc nối dốc, đèo núi đèo… Thử thách ghê gớm, đáng sợ
Cuộc hành quân gian khổ đến nỗi có người đã phải “Anh bạn … không bước nữa- Gục lên….”: Nhà thơ không giấu giếm sự trần trụi khắc nghiệt (đã có 2 cách hiểu: Có người chiến sĩ hi sinh trên đường hành quân; những người chiến
sĩ chỉ mệt mỏi quá sức)
Trang 20Tác giả đã có cảm nhận và
ấn tượng như thế nào
Về miền đất miền Tây Bắc
và cuộc hành quân qua
miền Tây?
Những sáng tạo độc đáo về
nghệ thuật của tác giả trong
đoạn thơ đầu?
+ Trên con đường hành quân gian nan ấy, các chiến sĩ TâyTiến đã có lúc bắt gặp giữa núi rừng hoang vu cảnh thiên nhiên thơ mộng:
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
+ Có khi bắt gặp những bản làng đầy ắp tình quân dân với những cô gái xinh đẹp miền sơn cước:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu…
=> Cuộc sống thanh bình trên đường hành quân cùng với bát xôi nóng hổi, thơ mùi nếp mới được nhận từ tay các côgái Mai Châu làm làm ấm lòng các chiến sĩ thành một kỉ niệm khó phai mờ trong kí ức của nhà thơ
b- Dấu ấn tác giả và tài thơ Quang Dũng:
- Cảm nhận và ấn tượng về miền đất Tây Bắc và cuộc hành quân qua miền Tây ấy được thể hiện trong bài thơ là cảm nhận và ấn tượng của tác giả, một chàng trai tri thức
có tâm hồn lãng mạn
+Khi được đến miền đất lạ, anh tỏ ra thích thú với những cảnh sắc vừa hiểm trở, vừa thơ mộng của núi vùng “Rừng thiêng nước độc”
+Đây có lẽ là dấu ấn đầu tiên anh trải qua thử thách bằng cuộc hành quân gian nan cho nên anh có ấn tượng sâu về
con đường “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm- Heo hút….”.
Ba từ “sung ngửi trời” hàm chứa một chút ngang tàng,
tinh nghịch của người lính Hà Thành
- Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo:
+ Quang Dũng đã có những câu thơ tả cảnh rất tài ba, bởi
sự dụng công trong sự sắp xếp hình ảnh và âm thanh Tác giả đã đặt những câu thơ gồm toàn thanh trắc bên cạnh những câu thơ gồm toàn thanh bằng => để vừa dựng cảnh, vừa thể hiện cảm xúc rất đặc sắc:
Dốc lên khúc kuur dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây sung ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Tạo nên những câu thơ có cấu trúc đặc biệt:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói- Mai Châu mùa em…”
=> Lối cấu trúc tài hoa đó của câu thơ vừa có tác dụng tạo hình (làn khỏi bốc lên trên chõ xôi vừa chín), vừa thể hiện nỗi nhớ bâng khuâng, ngọt ngào… của nhà thơ về những bản làng ấm cúng và những cô gái xinh đẹp, dịu dàng, tìnhtứ,
Trang 21Trong cuộc đời gian nan,
người lính Tây Tiến có
những giờ phút nào đẹp đẽ
không thể nào quên?
Qua đoạn thơ viết về kỉ
niệm đẹp nơi đóng quân,
anh (chị) thấy được những
gì về dấu ấn và tài thơ
Quang Dũng?
2- Nhớ về kỉ niệm đẹp nơi đóng quân:
a- Những kỉ niệm đẹp trong cuộc đời người lính ấy:
- Trong cuộc đời gian nan, người lính Tây Tiến có những
kỉ niệm không thể nào quên:
+ Những đêm lửa trại: bộ đội và nhân dân quay quần bên đống lửa trại để cùng nhau hát múa
Thời kì kháng chiến chống Pháp, những đêm liên hoan văn nghệ thường được tổ chức để thắt chặt tình quân dân Đêm liên hoan ấy được sống trong kí ức của tác giả Đối với những chàng trai đất Hà Thành thì những đêm liên
hoan ấy trở thành “đêm hội đuốc hoa” Đống củi to được
đốt giữa vùng đất rộng làm bừng sáng cả núi rừng, các cô giái duyên dáng tình tứ trong những làn điệu quen thuộc của núi rừng, các anh bộ đội ngây ngất trong tiếng nhạc , tâm hồn mơ tưởng đến ngày chiến thắng
“Doanh trại bừng lên…… xây hồn thơ”
+ Rồi cả những chiều sương Châu Mộc: Cảnh sắc sao mà thơ mộng! Chiều sương buông xuống, sương phủ trắng xoá núi rừng, bên bờ bến nước là những ngọn lau phất phơđang vẫy gọi, những bông hoa đung đưa trên dòng suối vào mùa nước lũ (Cảnh hung vĩ mà thơ mộng, cảnh như cóhồn trông gió trong cây, rất thiêng liêng và hoang dã, con người với tư thế hoành tráng, hiên ngang…là cô gái hay chàng trai? => Những nét đẹp đặc trưng của cảnh và con người miền Tây Bắc
b- Dấu ấn và tài thơ của Quang Dũng:
- Đoạn thơ thực sự thể hiện rõ nét lãng mạn và hào hoa của nhà thơ Quang Dũng
+ Nhà thơ đâu chỉ tái hiện mà còn bộc lộ cả sự thích thú
rất trẻ trung và tình tứ: “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” => đó
là lời chào, một sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của các thiếu
nữ vùng sơn cước
“Kìa em”: tiếng gọi thật tình tứ, sự ngỡ ngàng của các cô
gái như đã hút hồn các chàng trai Tây Tiến
+ “Kèn lên man điệu nàng e ấp ”: khi tiếng khèn với
những giai điệu quen thuộc là thân hình các cô gái chuyển động uyển chuyển, mềm mại cùng với sự e lệ, thẹn thùng, rất tình tứ…
- Quang Dũng cũng thật lãng mạn, tài hoa khi đứng trước những bông lau phất phơ bên bờ các bến nước, hoặc trước
“dáng người trên cong thuyền độc mộc- trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” => Phải yêu mến cảnh, mến người đến say
mê mới có cách cảm nhận tinh tế và nhớ nhung đến sâu sắc như vậy
Trang 22Nhà thơ đã nhớ về cuộc
hành quân gian nan, thử
thách, nhớ những đêm lửa
trại tưng bững Đến đây,
dòng chảy chuyển sang
thơ, với hai nét hằn sâu: bi thương và hào hùng.
- Bi thương: được thể hiện rõ sự gian khổ, mất mát, hi
sinh
+ Các chàng trai Tây Tiến đất kinh kì xuất thân từ mái trường, góc phố phải sống chiến đấu nơi rừng sâu núi thắm, ăn đói, mặc rét, ốm đau không thuốc men, da xanh
xao tóc rụng: “Tây Tiến đoàn binh…Quân xanh…”.
+ Nhiều chàng trai Tây Tiến đã nằm lại nơi xứ người Những nấm mồ rải rác nơi biên cương… Dòng sông Mã tấu lên đất trời khúc bi tráng để tiễn đưa những người con
về với đất mẹ… => Nhà thơ không hề né tránh sự thật trầntrụi đó
- Sự hào hùng: thể hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu:
+”Mắt trừng gửi mộng”: Ý chí quyết tâm giết giặc.
+ Với cái đích của đoàn quân Tây Tiến là phối hợp với quân đội Lào đánh giặc để giải phóng miền Tấy Bắc và đấtnước lào, vì thế mà các chiến sĩ Tây Tiến đã quyết chí
“Chiến trường đi chẳng tiếc đới xanh” => Họ tự nguyện
hiến dân tuổi thanh xuân của mình cho Tổ Quốc
+ Những chiến sĩ là những chàng trai trẻ, vì thế những gian khổ, đói rét… không làm mất đi chất lãng mạn vốn cótrong tâm hồn của họ Những chàng trai ấy ra đi vẫn mang theo trong trái tim mình những dáng vẻ yêu kiều của các
thiếu nữ đất Hà Thành “Đêm mớ Nà Nội dáng kiều thơm”
Và chính điều đó đã tiếp thêm sức mạnh để vượt qua gian lao
b- Dấu ấn và tài năng nghệ thuật của tác giả:
Đoạn thơ tràn đầy chất bi tráng: tác giả đã nói nhiều về hisinh mất mát nhưng không bi luỵ
+ Nói đến cái chết không giấu nổi sự xót xa nhưng vẫn rắn
rỏi: “Áo bào thay chiếu anh về đất”
=> Tác giả đã dung cách nói giảm “anh về đất’ thay cho
từ “chết”: giảm bớt sự đau thương, mất mát đồng thời khẳng định sự bất tử đó “Anh về đất”: sự hi sinh đó đã
hoá thân vào lòng đất, các anh sẽ mãi mãi là người con ưu
tú của đất mẹ…
+ Đoạn kết:
Tây tiến người đi không hẹn ước
Trang 23Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
= > Đoàn quân Tây Tiến đã đi là không hẹn ngày về, tự nguyện dẫn thân, chấp nhận gian khổ, hi sinh cho Tổ quốc
(giống lời thề, lời bài hát “Đoàn vệ quốc quân…” Đó
cũng chính là cuộc sống và tâm hồn của nhà thơ Quang Dũng
* TL: Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang
Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ,
dữ dội và mĩ lệ Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn sức hấp dẫn lâu dàiđối với người đọc
TỐ HỮU
Hoạt động của T-H Nội dung kiến thức cơ bản
Anh (chị) hãy cho biết tố
Hữu có tên khai sinh là gì?
Ông sinh năm nào? Gia
- Cuộc đời Tố Hữu có nhiều may mắn: Bước vào tuổi thanh niên đã có may mắn gặp gặp được lí tưởng cách mạng, từ đó ông nguyện hiến dân cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, trở thành người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi
- cuộc đời Tố Hữu cũng gặp bao gian nan, thử thách: Năm
1939, thực dân pháp bắt giam vào nhà lao Thừa Thiên và lần lượt giam giữ trong nhiều nhà tù khác ở miền Trung vàTây Nguyên
+ Năm 1922, trốn khỏi trại giam Con Tun, vượt hàng trăm
Trang 24Con đường thơ của Tố Hữu
có đặc điểm gì riêng biệt?
Con đường đó gồm những
chặng đường nào? Giới
thiệu sơ lược các tập thơ
- Đầu kháng chiến chống Pháp, làm bí thư tỉnh uỷ Thanh Hoá
- Sau đó, ông ra Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng đặc trách về văn hoá, văn nghệ
- Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chođến 1986, Tố Hữu luôn giữ cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước (Uỷ viên Bộ chính trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)
- Năm 1996 được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
2- Con đường thơ:
Con đường thơ của Tố Hữu có đặc điểm là gắn bó mật thiết với con đường cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta Các chặng đường thơ của Tố hữu luôn gắn bó song hành với các giai đoạn đấu tranh cách mạng, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ
* Tập thơ “Từ ấy” (1937- 1946): là tập thơ đầu tay của
+ Nhà thơ trẻ ngây ngất trong niềm vui bất tuyệt của
“Huế tháng tám”, trong những ngày đầu tiên của nhân dân
+ Thơ ông thể hiện rõ nét những con người kháng chiến:
Anh vệ quốc quân (Cá nước), những bà mẹ kháng chiến (Bà bủ, Bầm ơi), em bé liên lạc (Lượm), chị phụ nữ (Phá đường), Bác Hồ (Sáng tháng năm)….
+ Thơ ông còn ghi lại những sự kiện lịch sử trọng đại ở
cuối cuộc kháng chiến : chiến thắng Điện Biên Phủ (Hoan
Trang 25Phong cách là những đặc
điểm có tính chất hệ thống
về tư tưởng và nghệ thuật,
biểu hiện trong sáng tác
* Tập thơ “Gió lộng) ( từ 1955- 1961): Là tập thơ thứ 3
+ Phản ánh công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào miền Nam đang sống dưới chính quyền Ngô Đình Diệm
+ Đây là tập thơ mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Cuộc sống của nhân dân miềm Bắc lúc bấy giờ đã có ít nhiều đổi thay, nhưng vẫn không ít nghèo đói, gian khổ Vậy mà voà thơ Tố hữu chỉ thấy tràn ngập niềm vui
* Tập thơ “Ra trận” (1962- 1971) và tập “Máu và hoa” (1972- 1977): là chặng đường thơ thứ tư của Tố Hữu.
+ Hai tập thơ viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta từ những ngày đầu giặc Mĩ ném bom xuống miền Bắc 91964) cho đến ngày chiến thắng (30-4-1975)
+ Ở hai tập thơ có mấy bài thơ đặc sắc: Bác ơi! Theo chân Bác, Nước non ngàn dặm.
* Hai tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999): Đây là chặng cuối cùng của con đường thơ Tố
Hữu
Là tiếng lòng của nhà thơ khi trở về cuộc sống đời thường Với những chiêm nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời
3- Phong cách thơ Tố Hữu:
* Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị:
- Tố Hữu là một thi sĩ- chiến sĩ, làm thơ trước hết phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho lí tưởng của Đảng
- Tố Hữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, của tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng và con người cách mạng Thơ
Tố Hữu không đi vào cuộc sống và tình cảm riêng tư
* Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi và cảm hhứng lãng mạn:
- Ông luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân
- Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc, thậm chí mang tầm vóc lịch sử
và thời đại
- Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn (Luôn hướng về tương lai, khơi gợi niềm vui, lòng tintưởng ở con đường cách mạng…)
* Thơ tố Hữu có giọng điệu riêng- giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, tha thiết:
Giọng điệu ấy có phần do thừa hưởng từ điệu tâm hồn con
Trang 26người xứ Huế…, có phần do quan niệm nhà thơ: “Thơ là chuyện đồng điệu…thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”.
* Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc:
- Về thể thơ; Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ
truyền thống của dân tộc: lục bát, thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ
- Về ngôn ngữ: thơ Tố Hữu thường sử dụng cách diễn đạt
trong thơ ca dân gian đã trở nên rất quen thuộc với tâm hồn người Việt
- Về nhạc điệu: thơ Tố Hữu phong phú về vần và sự phối
âm trầm bổng, nhịp nhàng nên dễ ngâm, dễ thộc
VIỆT BẮC (trích)
(Tố Hữu)
Hoạt động của T-H Nội dung kiến thức cơ bản
Hoàn cảnh ra đời bài thơ?
I- Đọc- hiểu khái quát:
1- Hoàn cảnh ra đời bài thơ:
- Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài trong 9 năm (1946-1954) Trong 9 năm đó, Bác Hồ và trung ương Đảng đóng ở chiến khu Việt Bắc
+ Lúc bấy giờ chiến khu Việt Bắc gồm 6 tỉnh: Cao Bằng,Bắc Cạn, lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên
Quang
+Trước Cách mạng tháng Tám 1945, từ khi Bác Hồ từ nước ngoài trở về nước để lãnh đạo cách mạng (1941), núirừng Việt Bắc đã trở thành căn cứ địa cách mạng
+Tháng 7-1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ đất nước ta tạm chia làm hai miền, miền Bắc được giải phóng, miền Nam dưới chính thể của Ngô Đình Diệm
- Tháng 10-1954, các cơ quant rung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội Nhà thơ
Tố Hữu cũng chia tay mảnh đất mà mình đã từng gắn bó với bao nhiêu năm nghĩa tình để về Hà Nội Nỗi nhớ da
Trang 27Kết cấu của đoạn trích?
Mở đầu bài thơ là cuộc
chia tay giữa người đi và
người ở lai Tâm trạng cảu
hai người “trong buổi phân
li” ấy ra sao? Nhà thơ sáng
tạo ra cảnh đối đáp giữa hai
người ‘trong buổi phân li”
ấy với mục đích gì?
Mở đầu mạch cảm xúc
diết cảnh sắc và con người Việt Bắc đã thôi thúc nhà thơ
viết bài thơ “Việt Bắc”
- Bài thơ được viết tháng 10-1954, tác giả chia thành 20 khổ thơ dài ngắn khác nhau Tên bài thơ này được lấy đặt tên cho cả tập thơ- Tập thơ Việt Bắc bao gồm tất cả nhữngbài viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp (1946- 1954)
- “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và là một bài xuất
sắc trong thơ ca kháng chiến chống Pháp
2- Đoạn trích: phần một của bài thơ.
- Nhớ buổi phân li (8 câu đầu)
- Nhớ Việt bắc thuở còn Việt Minh (=> Tân Trào, Hồng Thái mái đình, cây đa).
- Nhớ Việt bắc trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp(còn lại):
+ Nhớ cảnh thiên nhiên Việt Bắc
+ Nhớ nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc
+ Nhớ cuộc kháng chiến gian lao và hào hùng
+ Nhớ Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến
II- Đọc- hiểu chi tiết:
1- Nhớ buổi phân li:
- Bài thơ mở đầu bằng cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa những người áo chàm (đồng bào dân tộc ít người ở Việt Bắc) với người cán bộ kháng chiến đã từng gắn bó sâu nặng Cuộc chia tay giống như cuộc chia tay của đối trai gái trong ca dao
+ Người ở lại hỏi người ra đi bằng những câu hỏi ngọt ngào:
Mình về mình có nhớ ta => Nhìn cây nhớ núi….
= > Vậy là người ở lại đã nhắc tới thời gian hai người đã
gắn bó “mười lăm năm ấy”, không gian gắn bó trên mảnh
= > Những câu thơ lục bát có nhịp đều đặn, nhịp nhàng
cùng với những từ gợi tả (thiết tha mặn nồng, bang khuâng, bồn chồn) đã diễn tả rất sinh động tâm trạng hai
người lúc chia tay
Rõ rang đối đáp ở đây chỉ là một thủ pháp nghệ thuật để nhà thơ bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của mình
2- Nhớ Việt Bắc “thuở còn Việt Minh”
- Dòng hồi tưởng của nhà thơ về Việt Bắc được mở đầu