1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích chi tiết " Đây thôn Vĩ Dạ"

10 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 96,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích chi tiết tác phẩm "Đây thôn Vĩ Dạ" của tác giả Hàn Mặc Tử. Nguồn : https://www.youtube.com/watch?v=sSu3x7Ra99U&t=1460s ; https://www.youtube.com/watch?v=eEjD5IIlCSU; sưu tầm

Trang 1

Đây Thôn Vĩ Dạ

Hàn Mặc Tử

-I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả:

• 1912 – 1940, quê ở Quảng Bình

• Hoài Thanh nhận xét: “Một nguồn thơ dào dạt và lạ lùng” của phong trào thơ mới

• Nỗi đớn đau vì bệnh tật và khát vọng sống làm hồn thơ HMT có hai trạng thái đối cực: điên loạn và hồn nhiên trong sáng

2 Tác phẩm:

• Trích: “ Thơ Điên” - 1937

• Hoàn cảnh sáng tác: tác giả từ Sài Gòn về Quy Nhơn, biết bản thân mắc bệnh hiểm nghèo, sau khi nhận được lá thư cùng tấm ảnh phong cảnh sông nước xứ Huế của Hoàng Cúc – người thiếu nữ ông yêu thầm

• Cảm xúc chủ đạo: + Phong cảnh: Bức tranh xứ Huế

+ Tâm cảnh: Thiết tha gắn bó với đời, với người mà giờ bệnh tật sắp chia lìa ông với tất cả

• Bố cục: + Khổ 1: Mở ra ý vui tươi trong trẻo của hình ảnh Vĩ Dạ

+ Khổ 2: Cảnh như mộng ảo – dự cảm chia ly + Khổ 3: Hi vọng – hoài nghi vào tình đời tình người

• Nhan đề: trước đó là “ Ở đây thôn Vĩ Dạ” : tiếng reo vui – như ngay trước mắt ( trong tấm bưu thiếp) mà xa thế ( không thể về vì bệnh tật)

II ĐỌC HIỂU

1 Khổ 1:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Trang 2

• Câu 1:

+ Tác giả sử dụng từ “chơi” để thể hiện sắc thái thân mật gần gũi của người xa quê, không phải từ “thăm” vì từ nó thể hiện sự khách sáo, xa xôi

+ Mang nhiều sắc thái khác nhau qua “ ?” + “ sao”, “chơi” : câu hỏi, lời mời tha thiết, lời trách nhẹ nhàng

 Tình cảm giữa người thôn Vĩ và người được hỏi thật gần gũi, thân thiết; người

bị trách hẳn thấy hạnh phúc : bệnh tật của tác giả như một hố sâu ngăn cách ông với cuộc đời, nay lại có người hỏi thăm chân thành nên hình ảnh thôn Vĩ xa xưa bỗng hiện về, bừng sáng, sống động, đầy ý nghĩa

 Có thể là câu hỏi, lời mời của cô gái thôn Vĩ, cũng có thể là sự phân thân của thi sĩ đang tự hỏi lòng mình Với tác giả, thôn Vĩ không chỉ là tên một mảnh đất,

đó là mảnh đất đầy kỷ niệm, mảnh đời tuổi hoa niên (ông sống 2 năm ở Huế, không ít lần về thôn Vĩ), mảnh tình đầy cảm xúc, nơi ấy có người con gái mà Hàn Mặc Tử thầm thương trộm nhớ  Tác giả khát khao trở về với những kỉ niệm bừng sáng của tuổi hoa niên

- Từ những câu hỏi, lời trách, lời mời tha thiết dịu ngọt ấy, thôn Vĩ hiện lên với vẻ đẹp ba tầng

• Câu 2:

+ Điệp từ “ nắng”: nhấn mạnh nắng hàng cau là nắng mới lên, nắng mới tinh khôi, thanh khiết dịu nhẹ; là thứ nắng của tuổi trẻ, tuổi xuân, của một chàng thi sĩ chưa vướng bận nỗi đau cuộc đời, không phải ánh nắng chói chang như trong bài “ Mùa xuân đến”:

 “ – Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”

+ Hình ảnh “hàng cau”: Cây cau là cây cao nhất trong vườn, là loài cây đầu tiên đón ánh nắng ban mai của ngày mới  Mở ra không gian tràn ngập ánh nắng, khoáng đạt, dịu nhẹ

Trang 3

+ Tác giả nhìn thôn Vĩ bằng cặp mắt xanh non của tuổi trẻ, của một nhà thi

sĩ vẫn đang xây mộng thanh xuân

• Câu 3: như một tiếng reo vui trầm trồ đến từ sắc xanh của khu vườn

+ “ Xanh mướt”:vào buổi bình minh trên thân lá cây còn ướt sương đêm được ánh nắng ban mai tinh khôi tưới tắm làm sáng lên sức sống mỡ màng, non tơ, thanh tân của cây lá, khác với “xanh rì” của Xuân Diệu: màu xanh đậm, xanh ngăn ngắt

+ So sánh “xanh như ngọc”: trong, sáng, quý phái: ánh nhìn ngước lên, ánh nắng chiếu xuyên qua những phiến lá làm chúng sáng lên như những phiến ngọc Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc không chỉ rời rợi sắc xanh mà còn tỏa vào ban mai những ánh xanh nữa Thiếu đi những ánh sáng ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị này khó hiện ra vẻ thanh tú cao sang Tác giả muốn tuyệt đối hóa, tột cùng hóa vẻ đẹp đẽ, quý giá, cao sang của đối tượng, ta có thể gặp lại trong bài “ Điềm lạ”:

 “ Đức tin thơm hơn ngọc

Thơ bay rồi thơ bay…”

Xuân Diệu – “Thơ Duyên”: “ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”

+ “ Vườn ai – quá”: tiếng reo vui: Khu vườn thôn Vĩ hiện lên đặc biệt với sắc xanh tuyệt đẹp mà thi sĩ phải thốt lên tiếng reo vui trầm trồ, than phục ấy Tác giả như đang đi dạo trong khu vườn thần tiên, đó là khu vườn chứa đầy sắc nắng, khu vườn của tuổi thanh xuân xinh xắn “như một bài thơ”, khu vườn của tuổi trẻ với những niềm vui, sắc xanh của sự sống, của xứ Huế Đó là màu xanh của tuổi trẻ, ký ức xưa kia lại ùa về

 Chàng thi sĩ trẻ trung, thiết tha gắn bó với cuộc đời, chưa vướng chút mặc cảm bệnh tật nên thôn Vĩ hiện lên thật rực sáng, long lanh như thế

• Câu 4: Hình ảnh con người xuất hiện:

+ “ Lá trúc”: mềm mại, thanh cao, mang sắc xanh bắt từ câu thơ trước

Trang 4

+ “ Mặt chữ điền”: vẻ vuông vức, phúc hậu, hiền hòa, ngay thẳng, đôn hậu; thần thái, vẻ đẹp con người xứ Huế

+ Sử dụng từ “chen ngang” không phải “ chen nghiêng”: diễn tả cánh tượng thấp thoáng khuôn mặt phúc hậu của con người

 Vẻ đẹp có sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người, mang nét duyên dáng, kín đáo, thủy chung, nhẹ nhàng rất riêng của Huế mà dường như mỗi ai đến đều có ấn tượng như vậy về con người và mảnh đất này

Ca dao xứ Huế: “ Mặt em vuông tựa chữ điền

Da em thì trắng áo đen mặc ngoài Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung”

=>Sau mỗi hình ảnh đẹp về cảnh, về người là nỗi đau mà tác giả nén lại để cố

gắng bám lấy sự sống tươi đẹp khiến ta càng trân trọng, yêu quý, xót thương người thi sĩ tài hoa bạc mệnh

=> Hình ảnh bình minh sáng trong, nắng mới rực rõ, sắc xanh tươi trẻ, làm bừng sáng kỷ niệm, sống lại thủa tâm hồn yêu đời, hồn nhiên và chưa hề có mặc cảm hoạn nạn đau thương

 Hoài niệm về cảnh cũ người xưa

2 Khổ 2:

Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?

- Câu 5, 6: nhịp thơ 4 /3

+ Hình ảnh: “ gió”, “mây”, “ dòng nước”, “hoa bắp”: cảnh thực quen thuộc gần gũi ở dòng sông Hương xứ Huế, nhịp chảy khoan thai nhẹ nhàng, mây trời

Trang 5

sông nước mênh mông, gió nhẹ khẽ lay hoa bắp ở Cồn Hến Đó là thần thái, vẻ đẹp riêng của Vĩ Dạ, của sông Hương xứ Huế - đẹp nhưng buồn

+ Điệp – đối : “ Gió – gió”; “mây – mây”

+ Tương phản: “ Tĩnh – lay”: hoa bắp khẽ lay động

+ Nhân hóa: “ Buồn thiu” – dòng nước tĩnh lặng

 Hai câu thơ dường như vỡ tách thành nghìn mảnh, thành bốn thế giới hoàn toàn không có sự giao hòa, gắn kết: Bình thường là “ Gió thổi mây bay thì giờ” >< Gió đóng khung trong thế giới của gió ( Gió theo lối gió ), mây đóng khung trong thế giới của mây ( Mây đường mây) Nỗi buồn đìu hiu lan tỏa từ bầu trời tới mặt nước : Dòng nước tĩnh lặng, buồn thẳm; Hoa khẽ lay sầu bi theo gió thổi

Xuân Diệu: “ Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây.”

 Hình ảnh được quan sát bằng thị giác và tâm tưởng ; nhuốm màu cảm xúc của con người; cái buồn của cảnh vật hòa vào cái buồn xa vắng của lòng người khi hoài niệm về những năm tháng cũ

 Sự im lặng vĩnh hằng khi dự cảm chia ly, khi thi sĩ đã nhận ra bệnh tình, hoàn cảnh đau thương của mình Dường như có hai thế giới song song cách biệt nhau: thế giới của chính tác giả - đau thương, bệnh tật và thế giới bên ngoài kia – nơi tác giả trăn trở rằng “ ngoài kia xuân đã thắm hay chưa” Đối với Hàn Mặc Tử, quỹ thời gian của ông vô cùng ngắn ngủi

 Tràng giang – Huy Cận: sông nước mênh mông, tĩnh lặng, không một bóng người, không có sự giao hòa nào

“Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”

Trang 6

Sông nước trong “Đây thôn Vĩ Dạ” vỡ tách ra thành nhiều hình ảnh, thế giới

không có sự gắn kết nào

- Câu 6,7: thời gian dần thay đổi ( buổi hoàng hôn chiều muộn – lúc đêm tối)

+ Cảnh thực: dòng sông Hương: Dưới ánh trăng mặt nước phẳng lặng, ánh trăng dịu nhẹ như dát vàng mặt nước Dưới sông của sông nước, dòng sông của ánh sáng tuôn chảy khắp vũ trụ

 Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“ Dòng sông Hương xứ Huế có một nhịp chảy chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh”

+ Trăng: một trong đề tài quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử ngoại trừ hồn và màu.Trăng vốn là người bạn tri âm gắn bó của Hàn Mặc Tử, biết khóc, biết cười, biết tình tứ lả lơi.Trong nỗi tuyệt vọng, thi sĩ tìm đến bạn trăng tri kỷ - người bạn muôn thủa đã chia sẻ biết bao nỗi niềm

“ Bẽn lẽn” – Hàn Mặc Tử:

“ Trăng nằm sóng soài bên cảnh liễu Đợi gió đông về để lả lơi”

- Câu thơ cuối: Câu hỏi nhiều sắc thái:

+ từ “kịp”: thể hiện khao khát mãnh liệt, hối hả, vội vàng, tha thiết với cuộc sống

+ “Ai đó có thể chở trăng về với mình”: chất chứa niềm hy vọng, niềm khắc khoải thiết tha rằng trăng có về kịp với thi sĩ trong khoảnh khắc cô đơn

và nỗi buồn này không? Liệu trăng có về kịp để chia sẻ tâm hồn đau thương của thi sĩ được an ủi, xoa dịu không?

+ Chứa mầm tuyệt vọng: điều gì đó gấp gáp, vội vã, nhất định phải là

“ tối nay” vì quỹ thời gian của thi sĩ đang cạn dần, sự chia ly của tác giả với cuộc đời có thể đến bất cứ lúc nào

Trang 7

 Đằng sau câu hỏi tưởng như vô vọng, hư vô không có âm vọng hồi đáp nhưng cho thấy khát khao giao cảm, cho thấy một tiếng kêu chất chứa đầy hi vọng của một thi sĩ hoạn nạn nơi trần thế Câu thơ cuối là câu hỏi trong khoảnh khắc thi sĩ buồn, cô đơn nhất, tìm đến trăng – sự khát khao giao cảm với cuộc đời, mong muốn được người đời, tình đời thấu hiểu chia sẻ

NT: Dạng liên kết vừa đứt đoạn vừa nhất quán của mạch thơ và lối tạo hình giản

dị mà tài hoa của thi phẩm

Nỗi cô đơn tuyệt vọng khát khao giao cảm

3 Khổ 3:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

- Câu 9,10: Vang lên với một tiếng kêu:

+ “ Mơ” : mơ mộng, giấc mơ, mong ngóng

+ Điệp từ: “ khách đường xa” hai lần – khắc khoải xót xa, có thể là bà

Hoàng Thị Kim Cúc khi tác giả xem ảnh, nhớ lại thôn Vĩ

 Với người thôn Vĩ, với cả cuộc đời, thi sĩ chỉ là một vị khách đường xa, chợt đến rồi chợt chia lìa Một vị khách trong mơ không có thực, khát khao trở về Vĩ

Dạ ngắm nhìn khung cảnh đất cũ người xưa, gần mà lại xa xôi, mờ ảo

 Với tác giả, ông mong ngóng có một vị khách đến thăm, dù chỉ là khách đường

xa, thể hiện khát khao, hi vọng được giao cảm, chia sẻ nhưng dường như thật mong manh, hư ảo

+ “Đường xa”: khoảng cách xa xôi

+ “ Áo em trắng quá” : màu áo trắng lóa, hình ảnh cô gái trong bức ảnh + “ Sương khói”: làn sương mờ ảo

Trang 8

 “ Nhìn không ra” sắc áo hay sắc lòng: cái nhìn thị giác và cái nhìn tâm tưởng Sắc áo và sắc lòng có mối quan hệ gắn bó với nhau.: sắc áo là biểu thị của sắc lòng

Sắc áo chàm : sắc áo màu vàng giản dị, tấm lòng con người Việt Bắc

 Cuộc chia ly màu đỏ - Nguyễn Mỹ:

“Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa Chồng của cô sắp sửa đi xa

Cùng đi với nhiều đồng chí nữa”

 Sắc áo đỏ cô gái tiễn đưa chồng trong nắng, thể hiện tình cảm đôi lứa

 Sắc áo trắng là máu trắng tinh khôi, thanh khiết, là câu hỏi trăn trở, nghi hoặc

về tình đời tình người, sự quan tâm kia, là chân thành hay là sự xót thương cho một linh hồn đang đau thương

- Câu 11,12:

+ Điệp từ “Ai”: đại từ phiếm chỉ thi sĩ / người thôn Vĩ, cũng là lời hỏi, lời khẳng định

+ “ tình ai”, “đậm đà”: tình người thôn Vĩ, tình đời

 Liệu tình người thôn Vĩ có đậm đà, tình người đời có chân thành, mặn mà hay chóng tan như màn sương khói đang làm mờ nhân ảnh( thi nhân) hay không?

Thể hiện sự trăn trở của tác giả: liệu người thôn Vĩ, người đời có thấu chăng lòng thi sĩ rất thiết tha với cảnh, với người, với tình xứ Huế, dù sương khói kia đang làm mờ nhân ảnh nhưng tác giả vẫn một lòng tha thiết với cuộc đời: Tôi không hiểu tình đời - Người có hiểu tình tôi

 “ Những giọt lệ” – Hàn Mặc Tử: vì được viết gần như đồng thời với “ Đây thôn Vĩ Dạ”, ta nghe đâu đây những câu chữ kia tiếng dội của những giọt lệ đau thương, như hoài nghi, như hi vọng, như tuyệt vọng:

Trang 9

“ Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?

Bao giờ tôi hết được yêu vì, Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tựa si?”

 Câu thơ vang lên như một nỗi hoài nghi lẫn với niềm thiết tha gắn bó với Đời

và Người

=> Khổ thơ là một nỗi cô đơn trống vắng trong một hồn thơ đau thương nhưng khát khao được giao cảm, được sống trong tình yêu thương

 Hướng về đồng loại, hướng về người xứ Huế để hi vọng được thấu hiểu, sẻ chia của một hồn thơ đau thương

III TỔNG KẾT

1 Nội dung:

- Bức tranh toàn bích về cảnh vật và con người thôn Vĩ, xứ Huế mộng mơ

- Bộc lộ tình yêu đời, yêu người, niềm ham sống mãnh liệt đầy uẩn khúc của nhà thơ cùng khát khao gắn bó với cuộc đời dù hoàn cảnh đau thương

2 Nghệ thuật:

- Thi tứ được gợi từ lời của người thôn Vĩ – hệ thống hình ảnh thơ sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo

- Nghệ thuật liên tưởng, so sánh, nhân hóa cùng các câu hỏi tu từ

- Thi pháp Hàn Mặc Tử: Kết hợp đôi nét tả thực với tượng tưng, lãng mạn, giữa thực và siêu thực

- “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ điển hình thi pháp HMT: chủ nghĩa cổ điển tới trượng trưng siêu thực

Ngày đăng: 28/05/2021, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w