1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích "Tràng giang " chi tiết nhất

13 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 32,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tác phẩm " Tràng giang" của tác giả Huy Cận một cách chi tiết nhất. MIỄN PHÍ. Nguồn: sưu tầm, https://www.youtube.com/watch?v=3-ZodiRt7vQ&t=1398s, https://www.youtube.com/watch?v=vRBOD0jOXPo

Trang 1

Tràng Giang

Huy Cận

-I TÌM HIỂU CHUNG

1 Tác giả:

 1919 -2005, quê Hà Tĩnh

 Nhiều cống hiến trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giữ những chức vụ quan trọng của Đảng và chính phủ VN

 Một nhà thơ lớn, một trong những đỉnh cao của phong trào Thơ mới

 Phong cách nghệ thuật: Trước CMT8,hồn thơ Huy Cận mang đậm nỗi sầu nhân thế, nỗi sầu vũ trụ

 Nét đặc sắc nghệ thuật: màu sắc cổ điển và lãng mạn hiện đại, hàm súc, giàu suy tưởng

 Các tác phẩm chính: Lửa thiêng ( 1940); Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958); Đất

nở hoa (1960)…

 Được Hoài Thanh gọi là “ người đã gọi dậy cái hồn buồn Đông Á “, “ người

đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”

2 Tác phẩm:

 Xuất xứ : in trong Lửa thiêng (1940), tập thơ đầu tay của Huy Cận; Xuân Diệu gọi Lửa Thiêng là một bản ngậm ngùi dài

 Hoàn cảnh sáng tác: chiều mùa thu 1939, ngắm cảnh sông Hồng mênh

mông, vắng lặng gợi cảm hứng tác giả viết bài thơ

 Nhan đề : “Tràng giang” – sông dài, sông lớn, gợi sự trang trọng, mênh mang sóng nước, cổ kính xa xăm của một con sông của lịch sử, của văn hóa, con sông từng chảy qua bao áng cổ thi “ Tràng giang” là một từ Hán Việt cổ điển kín đáo, gợi hình ảnh con sông cổ kính, lâu đời Dòng tràng

Trang 2

giang vì vậy không chỉ có chiều dài rộng địa lý mà còn có chiều sâu của hàng nghìn năm lịch sử, hàng nghìn năm văn hóa và dường như đã trải qua bao áng cổ thi muôn đời bất hủ, như câu thơ của Lý Bạch:

“ Duy chiến trường giang thiên tế lưu”

 Bố cục: Khổ 1 – Khổ 2 – Khổ 3 – Khổ 4 : Bức tranh sông nước và tâm trạng nhà thơ

II ĐỌC HIỂU

1 Khổ 1:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

- Không gian sông nước:

+ “ Sóng gợn tràng giang”:

 Động từ “gợn” : gợi hình ảnh những con sóng gợn nhẹ khẽ loang ra, lan ra,

xô đuổi nối tiếp nhau chạy đến chân trời; gợi sự tĩnh lặng của dòng sông

 “Tràng giang” : gợi cảm nhận dòng sông bao la rộng lớn, mênh mang sóng nước

+ Từ láy “điệp điệp” trong “buồn điệp điệp” : vô biên những con sóng điệp trùng, thể hiện sự miên man, nuối tiếc không dứt làm vô vàn nỗi buồn trong lòng người trỗi dậy Khi đọc câu thơ, người ta hình dung trên mặt nước có bao nhiêu cơn sóng thì trong lòng người cũng có bấy nhiêu nỗi buồn đang trào dâng, ẩn dụ cho tâm trạng tác giả, những nỗi buồn xao xuyến, bâng khuâng của thi nhân

 Câu thơ thấp thoáng âm hưởng Đường Thi Đỗ Phủ viết trong “Đăng Cao”:

Trang 3

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ Bất tận trường giang cổn cổn lai ( Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc Dòng sông dằng dạc nước cuồn cuộn trôi)

- Con thuyền: trên nền không gian bao la rộng lớn, nét bút HC tô đậm hình ảnh con thuyền Đó là dấu hiệu sự sống con người nhưng không làm khung cảnh trang giang bớt hiu quạnh mà tô đậm hơn ấn tượng về không gian trống vắng, u buồn

+ “Xuôi mái”: buông xuôi, vô định theo dòng nước + từ láy “song song” trong “ nước song song”: rong ruổi mãi về cuối trời, thể hiện sự rời rạc, không gắn kết, sự xa cách chia lìa không giao cảm

+”Thuyền về / nước lại”: ngắt nhịp 2/2, chuyển động ngược chiều nhau: đáng lẽ là “ nước chảy thuyền trôi” , ở đây gợi sự tan tác chia lìa

 Nỗi sầu ly biệt không chỉ trên những con sóng của tràng giang mà đã bao phủ cả đất trời (sầu trăm ngả) tưởng như nhìn về mọi nèo đường đều là các nẻo sầu dặm tụi

+ Tương phản: hình ảnh con thuyền bé nhỏ buông xuôi >< không gian với những hình ảnh “ nước song song”, “ trăm ngả” gợi sự bao la vô tận  không gian tĩnh vắng, mênh mông đến tuyệt đối Con thuyền chỉ hiện ra trong thoáng chốc rồi nép mình vào bờ bãi, mất hút trên sông nước, chỉ còn nỗi sầu trăm ngả

 Nghệ thuật: nét vẽ hài hòa đăng đối quen thuộc của văn học phương Đông, thể hiện cái ung dung tự tại và cái buồn ảo não của thi nhân

- Cảnh củi:

Trang 4

+ Nghệ thuật đảo ngữ “ Củi một cành khô” :

 nhấn mạnh cái lẻ loi, cái đơn chiếc của một cành củi đã rời khỏi cây, xơ xác, cạn kiệt sự sống

 nhấn mạnh chất hiện thực: các nhà thơ cổ điển phương Đông khi muốn diễn tả thân phận bé nhỏ, chìm nổi của kiếp người (hoa trôi, bèo nổi, mây dạt) Nhưng tác giả ném vào dòng chảy mọt cành củi khô chưa từng xuất hiện trong thơ ca truyền thống

+ NT tương phản: “ củi một cành khô” : cành củi khô đơn độc bé nhỏ > <

“lạc mấy dòng”: những dòng chảy cuộn xoáy dữ dội của tràng giang

 Nó bị giằng xé, xoay đảo lênh đênh giữa mấy dòng tràng giang, gợi cảm nhận

về kiếp người giữa dòng nhân thế

 Kquát: Nhà thơ dựng lên hai không gian đối lập nhau: nghệ thuật tương phản giữa

không gian tràng giang (trăm ngả, mấy dòng) và cõi nhân gian (thuyền, củi)

Ta cảm nhận bức tranh thiên nhiên sông nước mênh mang, vắng lặng ; tâm trạng con người lạc long, lẻ loi; bốn câu mở đầu hàm súc trọn vẹn như một bài thơ tứ tuyệt mang màu sắc cổ điển và lãng mạng hiện đại

 Từ những ẩn dụ tinh tế trong hình ảnh sóng nước con thuyền và cảnh củi lạc loài trên sông cùng phép đối trong ngôn từ, nhịp điệu toát ra một phong vị cổ kính trầm mặc Huy Cận không chỉ phác họa bức tranh thiên nhiên mênh mông hoang vắng, thiếu hơi ấm của

sự sống con người mà còn bộc lộ sâu sắc nỗi buồn cùng cảm giác đơn độc, vô nghĩa của thân phận con người khi đối diện với dòng đời vô định, ngổn ngang Sắc thái cổ điển hàm chứa tâm thế lãng mạng thể hiện vẻ đẹp buồn của cảm hứng lãng mạng trong thơ mới mà càng làm nên một phong cách riêng của hồn thơ Huy Cận

Trang 5

2 Khổ 2:.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

- Hình ảnh “cồn nhỏ” :

+ Đảo ngữ “ lơ thơ” : sự lẻ loi, thưa thớt, tiêu điều, bé nhỏ của những cồn cát, gò đất nhô lên giữa dòng sông mênh mang

+ Từ láy gió “ đìu hiu”: gợi buồn, xóa mờ ấn tượng về sự sống, gợi không gian u buồn hoang vắng làm người đọc có cảm giác dường như ở đó chỉ có cỏ dại, lau lách và những ngọn gió lặng lẽ lướt qua; tác giả mượn từ:

“ Non Kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi, đìu hiu mấy gò”

( Chinh phụ ngâm)

- Âm thanh “ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”: cảm giác về không gian vắng vẻ quạnh hiu càng tăng thêm khi tác giả lắng nghe âm thanh một buổi chợ chiều đang tàn.Do tính hàm súc của ngôn từ, câu thơ có nhiều cách hiểu:

+ Khẳng định đâu đây có tiếng chợ chiều từ xa vọng lại: những âm thanh mơ

hồ, gợi sự im vắng, tĩnh lặng của đất trời trong khoảnh khắc hoàng hôn, sử dụng bút pháp lấy động tả tĩnh – bút pháp quen thuộc của thơ Đường

+ Phủ định đâu có tiếng chợ chiều :không có dấu vết sự sống con người, là một sự trống vắng tuyệt đối, có thể thấy trong các khổ thơ tiếp theo: “ không một chuyến đò” , “không cầu” , “ không khói”

Trang 6

- Không gian mở rộng đến vô cùng, vô tận : sự vắng vẻ, quạnh hiu tăng thêm.

+ Từ ngữ đối lập: hệ thống động từ, tính từ “ lên- xuống”, “ dài – rộng”, “ cao – sâu”  khắc họa hông gian nhiều chiều kích đó được mở rộng đến tận cùng, không giới hạn

+ Kết hợp sáng tạo “ sâu chót vót”: từ láy độc quyền chỉ chiều cao, ở đây khiến người đọc cảm thấy bầu trời cao rộng, sâu hút, không có điểm dừng  sự mới lạ trong ngôn từ bắt nguồn từ sự mới lạ trong cách nhìn, trong cảm giác, cái nhìn của nhà thơ như muốn nhìn sâu vào đáy của vũ trụ

+ Tương phản: “ sông dài, trời rộng” ( hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ) - vô cùng, vô tận >< điểm dừng nhỏ nhoi : bến cô liêu ( nơi con người gặp gỡ, gắn bó, nương náu, yêu thương) – hữu hạn, bé nhỏ, cô đơn, bơ vơ  Bút pháp họa vân hiển nguyệt ( vẽ mây nẩy trăng), cấu tứ đối lập quen thuộc trong thơ Đường; khắc họa vũ trụ bao la vô tận nhưng muốn ta hiểu được cảm giác cô đơn bé nhỏ của con người

 Kquát: Tác giả sử dụng cấu tứ tương phản chứa đựng nhiều lớp nghĩa hàm súc, tạo

dựng sự tương phản giữ vũ trụ vô cùng với hình ảnh cõi nhân gian mơ hồ bé nhỏ để khắc

họa bức tranh trời nước bao la, hoang vắng, rợn ngợp; tâm trạng con người trống trải, cô

đơn qua đó thể hiện khao khát gắn bó với cuộc đời; phong vị Đường thi in đậm trong hồn thơ lãng mạn, hiện đại

3 Khổ 3:

Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Trang 7

- Thi liệu cổ điển: hình ảnh cánh bèo lênh đênh trên mặt nước- hình ảnh quen thuộc của thơ ca Phương Đông, gợi thân phận nhỏ nhoi, nổi chìm

 Nguyễn Du – “Truyện Kiều”:

Nghĩ mình mặt nước cánh bèo

Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân

+ Động từ : “dạt” – bị xô đẩy phũ phàng, không thể cưỡng lại

+ Câu hỏi tu từ : “ Về đâu” – thể hiện tình cảnh vô định, không phương hướng; nỗi xót xa, bàng hoàng, thảng thốt của con người

+ Điệp từ “ Hàng nối hàng”: Thơ xưa thường miêu tả những cánh bèo đơn lẻ, tác giả nhấn mạnh số lượng nhiều không kể xiết; muốn ta liên tưởng tới thân phẩn nổi chìm,

bơ vơ, lạc long của ngàn vạn kiếp người trên dòng nhân thế

 Khắc họa nỗi sầu thời thế: nỗi buồn của tác giả, của một thế hệ thanh niên trí thức nghệ sĩ lúc bấy giờ chưa tìm được lẽ sống cho mình Tố Hữu cũng có lúc như vậy:

“ Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước Chọn dòng nào hay để nước trôi?”

( Dậy lên thanh niên)

- Đảo ngữ “ mênh mông” : Từ cảm giác bơ vơ lạc lõng ấy, con người càng thêm rợn ngợp khi đối mặt với sông nước hoang vu, mênh mông không một chuyến đò ngang, nhấn mạnh không gian sông nước vời vợi, xa hút đến vô cùng, dường như trước mắt nhà thơ là ngàn vạn lớp sóng điệp trùng nối tiếp nhau trải dài vô tận

- Điệp từ phủ định: “không” – “một chuyến đò” ; “ không” - “ cầu”

 “đò”, “cầu” : Nơi con người gặp gỡ, giao hòa gắn kết

Trang 8

 Phủ định mang sắc thái mạnh mẽ: hóa ra trước mắt con người chỉ là trời nước mênh mông hoang vắng còn cõi nhân gian đứt gãy, không có sự sống con người,

do đó nhà thơ khao khát hơi ấm tình người

- Bờ bãi bên sông: Khi ngoái trở về không gian mặt đất, con người cũng chỉ thấy

bờ bãi bên sông vắng vẻ quạnh hiu, lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng:

+ Đảo ngữ” lặng lẽ” nhấn mạnh ấn tượng không gian im lìm, hoang vu + Tính từ chỉ màu sắc bờ“ xanh”, bãi “vàng”: không gợi màu mỡ phì nhiêu của đất, sức sống của cây lá vì đảo ngữ “lặng lẽ” đứng đầu câu thơ, khiến người đọc hình dung những bờ bãi nối tiếp nhau trải dài vô tận, ánh mắt nhà thơ đã thu trọn không gian bát ngát, quạnh hiu

 Kquát: Tác giả sử dụng biện pháp tương phản đối lập: khắc họa những cái nhìn

thấy “bèo dạt”,” mênh mông”, “ bờ xanh”,” “ bãi vàng” – hiện tại , một bên là những cái không nhìn thấy “không một chuyến đò”, “ không cầu” – những điều tác giả khao khát, thực tế trước mắt lại hoang vắng chia lìa Đặc sắc nghệ thuật: màu sắc cổ điển ở cấu tứ đối lập và thi liệu quen thuộc – khắc họa thiên nhiên hoang vắng, không dấu vết của con người, những hình ảnh như cây cầu, chuyến đò xuất hiện trong ánh mắt của nhà thơ vì tâm mong cầu nên mắt đã kiếm tìm, trái tim đã định hướng cho đôi mắt, dẫu không có trong hiện thực thì “cây cầu”, “con đò” vẫn thể hiện niềm mong muốn thiết tha gắn bó với cõi đời, đó chính là giá trị sâu sắc của bài thơ : điều con người cần nhất là cần con người, chúng ta luôn mong muốn được chia sẻ những buồn vui, hạnh phúc, khổ đau Đó là nhu cầu mạnh mẽ của con người nên giữa chốn hoang vu, chúng ta cần đôi khi dẫu chỉ là người lạ, giữa người

lạ ta lại cân người quen, giữa những người quen ta lại cần một người yêu, giữa những người yêu ta lại cần một người hiểu, giữa những người hiểu ta lại cần một người tin.Giá trị nhân văn của bài thơ: con người được thiết kế để gần nhau

Trang 9

4 Khổ 4:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc;

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

- Hình ảnh bầu trời : “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” : Trong hai câu đầu, đoạn thơ được

mở ra bằng khung cảnh một buổi hoàng hôn

+ Đảo ngữ “ lớp lớp mây cao”: những đám mây chất chồng lên cao mãi tạo thành núi, vẻ đẹp của bầu trời hùng vĩ, khoáng đạt, hình ảnh mây trời cũng được Quang Dũng

sử dụng trong “Tây Tiến”:

“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời”.

+ Động từ “ đùn núi bạc”: những đụn mây khổng lồ đang vận động, nối tiếp nhau điệp trùng, huy hoàng như dát bạc bởi ánh nắng mặt trời Cái mới của Huy Cận là diễn tả hình ảnh thơ sinh động, đang vận động

 Chỉ bằng một nét phác họa, nhà thơ đã khắc họa không gian bao la, hùng vĩ, tráng lệ của trời chiều.Trên nền không gian ấy, tác giả chấm phá hình ảnh một cánh chim chiều:

- Cánh chim: “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”: hình ảnh quen thuộc, cánh chim

bé nhỏ giữa trời chiều; nhà thơ đã vẽ ra không gian sống động, nắm bắt, tái hiện những chuyển động vô hình của vũ trụ; cách miêu tả của ông khiến ta cảm giác dường như đúng lúc cánh chim khẽ chao nghiêng là lúc cả bầu trời, cả hoàng hôn đột ngột rơi xuống Tưởng như cánh chim bé nhỏ kia phải chở cả trời chiều Thi liệu cổ điện quen thuộc, cái

Trang 10

nhìn hiện đại mới mẻ của một nhà thơ mới, ẩn dụ cho cái tôi cá nhân, cô đơn của cảm hứng lãng mạn

Hồ Chí Minh – “ Chiều Tối”: “ Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”

 Bà Huyện Thanh Quan – “ Chiều hôm nhớ nhà”:

“ Chiều mai gió cuốn chim bay mỏi”

=> Bút pháp đối lập tương phản: Bầu trời ( bao la, hùng vĩ ,vô hạn) >< Cánh chim (đơn chiếc, lẻ loi, hữu hạn) Đặc sắc nghệ thuật: kết hợp hài hòa vẻ đẹp cổ điển (thi liệu quen thuộc ,cấu tứ đối lập của Thơ Đường) và vẻ đẹp hiện đại (cái nhìn của nhà thơ lãng mạn)

Trần Tử Ngang - “ Đăng U Châu đài ca”

Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả

Dịch - Trần Trọng Kim:

Trước chẳng thấy người xưa Sau chẳng thấy ai cả

Đỗ Phủ - “Thu hứng”: “ Lưng trời sóng gợn lòng sâu thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.”

+ 2 câu cuối : Nỗi nhớ nhà:

- Lòng quê ( hương tâm): tấm lòng đối với quê hương

- Từ “ vời”: là ánh mắt nhìn về phương xa, mải miết dõi theo những con sóng nhấp nhô, gối đầu lên nhau, miên man  Thể hiện niềm khao khát giao cảm, tình đời, tình người, diễn tả sự vô vọng trong niềm khao khát ấy

Trang 11

- Từ láy “dợn dợn”: gợn lên liên tục, nỗi nhớ quê hương lan tỏa theo những con sóng tràng giang Nếu trong khổ đầu, sóng chỉ “gợn” thì ở khổ này, từ “dợn dợn” gợi tả trạng thái những cơn sóng dập dềnh khi nổi khi chìm ( con nước), diễn tả nỗi rợn ngợp trong lòng người giữa sóng nước tràng giang

 Thôi Hiệu – “ Hoàng Hạc lâu”:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

- Tản Đà dịch -

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”

Bóng chiều, khói sóng đã khơi dậy nỗi nhớ quê hương trong Hoàng Hạc Lâu, Huy Cận sử dụng nghệ thuật đối lập: Không ( không khói hoàng hôn) >< Có ( nhớ nhà), phủ định ngoại cảnh, khẳng định tâm cảnh

 “ Tống Biệt Hành” – Thâm Tâm:

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

 Nghệ thuật đối lập giữa cái không và có làm ta cảm nhận nỗi nhớ quê hương tha thiết sâu lặng của nhà thơ, không cần ngoại cảnh, khói sóng trên không từ trong lòng tác giả tỏa vào không gian

Trang 12

=> Huy Cận nhớ về quê ông, Hà Tĩnh khi đứng trước sông Hồng ; “ quê nhà” cũng

là đất nước, quê hương ; “Tràng giang” là bài thơ dọn đường cho lòng yêu quê hương đất nước Hai tiếng nhớ nhà cuối bài thơ làm ấm cả không gian, cả lòng người Như gạch núi gắn liền các khoảng cách đứt gãy chia lìa, đủ sức thay thế cây cầu, con đò để đưa tâm hồn con người trở về nương náu trong tình quê, tình đời ám

áp

III TỔNG KẾT

1 Nội dung:

- Qua bài thơ, nhà thơ khắc họa không gian trời nước mênh mông vô tận hoang vắng, qua đó thể hiện trọn vẹn sâu sắc nỗi cô đơn, nỗi sầu nhân thế của con người; ấn tượng nhất là tình yêu của nhà thơ với tạo vật, quê hương Tình yêu đó tuy thầm kín mà tha thiết

2 Nghệ thuật:

- Thể thiện rõ phong cách của Huy Cận:

+ Thể thơ thất ngôn kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại

+ Ngôn từ hình ảnh trong sáng tinh tế

+ Các biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả: đảo ngữ, đối lập…

+ Vẻ đẹp đặc trưng bài thơ cùng phong cách thơ : màu sắc cổ điển hài hòa với vẻ đẹp hiện đại lãng mạng

Hoài Thanh:“Huy Cận đã lượm lặt những chút buồn rơi rác rồi để sáng tạo nên những vần thơ ảo não Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi bình thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc”

Ngày đăng: 28/05/2021, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w