1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

De cuong Luat hinh su 2

9 38 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 63,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trong nhóm tội phạm về chức vụ, các hành vi phạm tội ở đây đều có chung khách thể loại là những QHXH xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặ[r]

Trang 1

LUẬT HÌNH SỰ 2 Câu 1: So sánh tội giết người (Điều 93) với tội giết người trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh (Điều 95).

* Tội giết người (Điều 93): Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt (bỏ) tính mạng của

người khác một cách trái pháp luật

- Dấu hiệu pháp lý:

Khách thể của tội phạm: Xâm phạm đến quyền sống của con người

Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm: Là hành vi tước bỏ tính mạng của người khác

mộtcách trái pháp luật

* Về hình thức của hành vi khách quan của tội giết người: Có thể được thực hiện

bằnghành động hoặc không hành động

+ Dạng hành động giết người mang tính chất phổ biến hơn và được thực hiện bằng hànhvi

dùng vũ lực như dùng súng, dao, gậy, thuốc độc, sức mạnh về thể chất để bắn chém, đầuđộc,

đấm đá, bóp cổ

+ Dạng không hành động giết người ví dụ như bác sĩ đang khi trực, có một ca cấp

cứu,nhưng đã không cấp cứu nạn nhân làm nạn nhân chết

Ví dụ A đẩy B ra giữa sông sâu, B chấp chới giữa sông, A bỏ về, B chết Hành vi phạm

tội của A, về hình thức của hành vi có thể là 2 khả năng sau: Nếu ý địnhtước bỏ tính mạng của B

xuất hiện trước khi A đẩy B xuống sông thì hành vi phạm tội của Athực hiện bằng hành động

(thuộc trường hợp phạm tội giết người Điều 93), còn nếu ý địnhtước bỏ tính mạng của B hình

thành sau khi đẩy B xuống sông thì hành vi phạm tội của Athực hiện bằng không hành động (A

phạm tội cố ý không cứu giúp người khác đang trong tìnhtrạng nguy hiểm đến tính mạng Điều

102)

* Về tính chất của hành vi khách quan: Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác phải

là trái pháp luật, tức là ngoài những trường hợp tước bỏ tính mạng của người khác mà pháp luật

cho phép như phòng vệ chính đáng, thi hành hình phạt tử hình, và giết địch trongchiến đấu

+ Hậu quả của tội phạm: Nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc Như vậy, tôi giết người làtội

có cấu thành vật chất, tội phạm hoàn thành khi nạn nhân chết

+ Giữa hành vi và hậu quả phải có mối quan hệ nhân quả - là một dấu hiệu bắt buộctrong

CTTP của tội giết người Giữa hành vi khách quan và hậu quả được coi là có mối quanhệ nhân

quả khi chúng thoả mãn đầy đủ 3 điều kiện:

@ Nạn nhân chết xẩy ra sau khi khi thực hiện hành vi khách quan

@ Hành vi khách quan trên phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quảnạn

nhân chết

@ Nạn nhân chết hoàn toàn do hành vi khách quan của tội phạm gây ra (nó phản ánhsự

hiện thực hoá khả năng làm phát sinh hậu quả)

+ Đối tượng tác động của tội phạm: Nạn nhân phải là con người còn sống Con

ngườiđược tính từ khi bắt đầu sinh ra cho đến khi chết Người chết là người mà tim ngừng đập,

thần kinh ngừng hoạt động

Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý (có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp)

Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực TNHS

- Hình phạt: Tội giết người tại Điều 93 quy định 2 khung hình phạt

Khoản 2: (CTTP cơ bản) Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm giết người trong trường hợpthông

thường

Khoản 1:(CTTP tăng nặng) Phạt tù từ 12 năm đến tử hình nếu thuộc một trong cáctrường

hợp sau:

1 Giết nhiều người: Là trường hợp giết từ 2 người trở lên Để áp dụng tình tiết này chỉcần

xác định ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn giết từ 2 người trở lên, không phụ

thuộc vào số người chết trên thực tế

2 Giết phụ nữ mà biết là có thai: Trường hợp này phải thoả mãn 2 điều kiện:

Về khách quan: Nạn nhân là phụ nữ đang mang thai, không kể thai nhi đang ở tháng

thứmấy, để xác định điều kiện này phải dựa trên cơ sở kết luận giám định

Về ý thức chủ quan của can phạm: Phải biết được người phụ nữ đó đang mang thai (cóthể

can phạm tự nhận biết hoặc nghe thông tin qua người khác) Để xác định điều kiện này phải xem

xét, đánh giá các tình tiết sau:

@ Mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân

@ Thời điểm thực hiện tội phạm là ban ngày hay ban đêm, mùa đông hay mùa hè

@ Tình trạng thai nhi đã lớn hay còn nhỏ

* Chú ý: Nếu nạn nhân đang mang thai là người tình của người phạm tội thì thuộctrường

hợp giết người vì động cơ đê hèn Tình tiết này được hướng dẫn tại NQ 04/86/HĐTPTATC

3 Giết trẻ em: Nạn nhân là trẻ em là người dưới 16 tuổi

4 Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân: Nạn nhân

làngười đã hoặc sẽ thi hành công vụ thuộc trường hợp giết người vì lý do công vụ của nạn

nhân(tức là giết nạn nhân trước hoặc trong hoặc sau khi thi hành công vụ) Giữa công vụ của

nạnnhân và việc thực hiện tội phạm giết người có mối liên quan với nhau

Ví dụ: A là thẩm phán được giao nhiệm vụ xét xử một vụ án hình sự mà B là bị cáo,trong

lúc xét xử hoặc sau khi xét xử xong, B cho rằng A xử mình như vậy là quá nặng nên đãgiết

A.Đối với trường hợp giết nạn nhân trước hoặc trong khi thi hành công vụ thường nhằmcản trở

việc thi hành công vụ của nạn nhân, còn giết nạn nhân sau khi thi hành công vụthường có động

cơ là trả thù nạn nhân

5 Giết ông bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy, cô giáo của mình: Nạn nhân là ông bà,

cha mẹ có thể là ông bà nội ngoại, đẻ hoặc nuôi; bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi (phải được pháp luật

thừa nhận) Nạn nhân là người nuôi dưỡng là người chăm sóc, quản lý giáo dục người phạm

tộinhư vai trò của bố mẹ người phạm tội Nạn nhân là thầy giáo, cô giáo của mình là người đã,

hoặc đang làm công tác giảngdạy tại cơ sở có chức năng giáo dục, đào tạo dạy nghề được Nhà

nước cho phép đã hoặc đangtrực tiếp giảng dạy người phạm tội không kể thời gian dài hay ngắn

Đồng thời, việc gâythương tích cho nạn nhân là vì lý do thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo

của họ đối với bịcáo Hay nói cách khác, động cơ của việc phạm tội có phải liên quan đến nhiệm

vụ giảng dạy,đào tạo

6 Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc

tội đặc biệt nghiêm trọng: Là trường hợp bị cáo phạm 2 tội trong đó có một tội giếtngười, giữa 2

tội này phải thoả mãn các điều kiện sau:

@ Tội thực hiện trước hoặc sau tội giết người phải là tội rất nghiêm trọng hoặc tội

đặc biệt nghiêm trọng (là loại tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên

7năm tù)

@ Khoảng cách giữa 2 tội không có sự gián đoạn về mặt thời gian

@ Giữa 2 tội không có mối liên quan với nhau

Ví dụ: A vừa dùng súng uy hiếp B để lấy tài sản, sau khi lấy được tài sản, A thấy M đi

qua vốncó mâu thuẫn sâu sắc trong chuyện làm ăn trong xã hội đen với nhau, A đã dùng súng

bắn Mchết

7 Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác: Là trường hợp bị cáo phạm 2 tội trongđó có

tội giết người, giữa 2 tội này phải thoả mãn các điều kiện sau:

@ Khoảng cách thời gian giữa 2 tội có thể liên tục có thể ngắt quãng về mặt thời gian

@ Tội phạm khác có thể là bất kỳ loại tội nào (tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng,tội rất

nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng)

@ Giữa tội giết người và tội phạm khác có mối liên quan với nhau Việc thực hiện tội phạm khác là động cơ thực hiện tội phạm giết người - nghĩa là can phạm cho rằng nạn nhânsẽ là người cản trở gây khó khăn cho việc thực hiện tội phạm khác nên đã giết nạn nhân đểthực hiện tội phạm khác, hoặc nạn nhân sẽ là người tố cáo can phạm về tội đã thực hiệnnên

đã giết nạn nhân để che giấu tội phạm đã thực hiện.Ví dụ: A hiếp dâm B xong, A sợ B tố cáo mình nên đã giết chết B ngay sau khi hiếpdâm

8 Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: Như lấy tim, gan, thận dù với bất kỳ mục đíchnào như để nghiên cứu khoa học hoặc để cứu sống người khác

9 Thực hiện tội phạm một cách man rợ: Là trường hợp giết người bằng phương phápnguyên thuỷ gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho nạn nhân cũng như thân nhân của nạnnhântrước khi nạn nhân chết như móc mắt, moi gan, xẻo tai, chặt từng bộ phận của nạn nhâncho đến khi nạn nhân chết.(Nếu hành vi trên thực hiện sau khi nạn nhân chết thì không phải là trường hợp giết người mộtcách man rợ)

10 Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp: Là trường hợp người phạm tội đã sử dụng khảnăng chuyên môn, nghiệp vụ của mình để dễ dàng thực hiện việc giết người và dễ dàng chegiấu tội phạm.Ví dụ: Bác sĩ giết bệnh nhân rồi lập hồ hơ bệnh án là bệnh nhân chết do bệnh hiểm nghèo;người lái đò giả làm đò đắm để giết nạn nhân; thợ điện dùng dây điện dí vào nạn nhân nhưnglàm cho mọi người tin rằng nạn nhân bị điện giật chết

11 Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: Tình tiết này phải thoả mãncác điều kiện sau:

@ Can phạm phải sử dụng các loại công cụ, phương tiện có khả năng gây ra cái chếtcho nhiều người trong cùng một thời gian như dùng súng, mìn, lựu đạn, thuốc độc

@ Phải đặt trong một hoàn cảnh cụ thể như: nổ súng nơi có đông người, đầu độc thứcăn,

đồ uống có nhiều người dùng (thả thuốc độc vào giếng nước)

@ Ý thức chủ quan của người phạm tội chỉ mong muốn giết 1 người Còn nếu ý thứcchủ quan của người phạm tội mong muốn giết chết từ 2 người trở lên thì thuộc trường hợpgiết nhiều người Hậu quả trên thực tế không nhất thiết phải có nhiều người chết

12 Thuê giết người hoặc giết người thuê: Là trường hợp can phạm không trực tiếphành động, mà giấu mặt, dùng lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần (hứa gả con gái) để ngườikhác thực hiện hành vi phạm tội giết người

13 Có tính chất côn đồ: Là trường hợp giết người có tính hung hãn cao, coi thườngtính mạng của người khác, giết người vì những nguyên cớ nhỏ nhặt Đâm đánh người dã mankhông run tay

14 Có tổ chức: Là trường hợp có từ 2 người trở lên thực hiện tội phạm giết người cósự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ

15 Tội phạm nguy hiểm: Là trường hợp một người đã bị kết án về tội rất nghiêm trọnghoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý chưa được xoá án tích; hoặc một người đã tái phạmchưa được xoá án tích mà lại phạm tội giết người

16 Vì động cơ đê hèn: Là trường hợp giết người có tính ích kỷ cao, phản trắc, bội bạcvới những người thân như: giết người để cướp vợ hoặc cướp chồng của nạn nhân; giết người tình đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm, giết người đã cho vay, mượn tài sản

để trốntránh trả nợ (tức là giết ân nhân của mình)

* Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95):

Khách thể, mặt chủ quan của tội phạm: Giống Điều 93

Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên, có NLTNHS trong trạng tháitinh thần bị kích động mạnh

Mặt khách quan của tội phạm: Đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm: Là hành vi tước bỏ tính mạng của người khác(luôn thực hiện bằng hành động mà biểu hiện cụ thể về tính chất là hành vi dùng vũ lực)

+ Hậu quả: Nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc (chỉ cấu thành tội phạm khi có hậu quảnạn nhân chết xẩy ra trên thực tế)

+ Hoàn cảnh phạm tội: Người phạm tội ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnhdo hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối vớingười thân thích của người phạm tội Người thân thích của người phạm tội có thể là người có quan

hệ huyết thống gần gũivới người phạm tội, hoặc bạn bè thân thiết, thầy cô giáo của người phạm tội.Để xác định trạng thái tinh thần của người phạm tội phải căn cứ vào 2 điều kiện sau: (@ Phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là nguyên nhân Hành vitrái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân bao hàm cả hành vi trái đạo đức có thể cấu thành tội phạm có thể không nhưng phải có tính chất nghiêm trọng@ Từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là nguyên nhân phát sinh hậuquả làm cho trạng thái tinh thần của người phạm tội bị kích động mạnh (là trường hợp người phạm tội không kiềm chế, không làm chủ được hành vi của mình) Để đánh giá về trạng tháitinh thần của bị cáo hiện nay có 2 quan điểm khác nhau về vấn đề này:

Một là: Phải căn cứ vào kết quả giám định về trạng thái tinh thần của bị cáo tại thờiđiểm thực hiện tội phạm Quan điểm này chưa có tính khả thi vì trình độ y học của chúng tahiện nay chưa cao nên kết quả giám định về trạng thái tinh thần không chính xác; hơn nữatrạng thái tinh thần của bị cáo tại thời điểm thực hiện tội phạm khác với trạng thái tinh thần tạithời điểm giám định

Hai là: Phải xem xét một cách toàn diện tính chất của hành vi trái pháp luật củanạn nhân, mối quan hệ giữa nạn nhân - người phạm tội, nhân thân người phạm tội, hoàncảnh, thời điểm, sự việc xảy ra Đây là quan điểm được áp dụng trên thực tế

Câu 2: So sánh tội giết người (Điều 93) với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96).

* Tội giết người (Điều 93): Xem câu 1.

* Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96).

Khách thể, mặt chủ quan của tội phạm: Giống Điều 93

Chủ thể của tội phạm: Là người từ đủ 16 tuổi trở lên, thực hiện hành vi phòng vệ Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hoàn cảnh phạm tội: Nạn nhân có hành vi tấn công đang hiện tại

+ Hành vi khách quan; Là hành vi tước bỏ tính mạng của người khác do việc thực hiệnhành vi phòng vệ để chống trả lại người đang có hành vi tấn công nhưng vượt quá giới hạncần thiết (tức là hành vi chống trả không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi xâm hại)

+ Hậu quả: Nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc

* Động cơ phạm tội trong mặt chủ quan: Là nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi tấn công,hạn chế thiệt hại của hành vi tấn công có thể gây ra

Ví dụ 1: A xúc phạm B bằng cách chửi bới, nhiếc móc, làm nhục B ở nơi đông người.B cầm dao đâm chết A trong trạng thái tâm lý căng thẳng, bức xúc, không kiềm chế được

A phạm vào Điều 95Ví dụ 2: B đi học về tới nhà thì nghe tin mọi người báo là mẹ của B đã bị

A đâm chết ở ngoài rẫy, B lấy dao chạy sang nhà A tìm A, đâm chết A A phạm tội thuộc Điều 95

Chú ý: Điều 95 và Điều 96 khác nhau cơ bản ở hoàn cảnh phạm tội

Đối với Điều 95, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể là hànhvi tấn công nhưng hành vi tấn công phải đã kết thúc; hoặc là hành vi VPPLkhác (không phải là hành

vi tấn công) có thể ở bất kỳ thời điểm nào

Đối với Điều 96 nạn nhân cũng có hành vi trái pháp luật nhưng chỉ là hành vi tấn côngvà phải đang hiện tại

Trang 2

Câu 3: So sánh tội giết người (Điều 93) với tội không cứu giúp người đang ở trong

tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102).

* Tội giết người (Điều 93): Xem câu 1.

* Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

(Đ102) Khách thể, mặt chủ quan của tội phạm: Giống Điều 93.

Chủ thể của tội phạm: Là người từ đủ 16 buổi trở lên, có NLTNHS, và phải là người

cókhả năng cứu giúp nạn nhân đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Mặt khách quan của tội phạm: Được thể hiện ở một số các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan: Là hành vi không cứu người khác (tức là tội phạm luôn thựchiện

bằng không hành động).Ví dụ: Người lái đò biết bơi thấy 1 người sắp chết đuối kêu cứu nhưng

bỏ mặc dẫn đếnhọ bị chết

+ Hoàn cảnh phạm tội: Nạn nhân đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

-làngười đang gặp rủi ro như sắp bị chết đuối hoặc bị tai nạn giao thông, tai nạn lao động,

tínhmạng đang trực tiếp bị đe doạ, nếu không kịp thời cứu chữa sẽ bị chết.Tình trạng nguy hiểm

này có thể do khách quan, có thể do người phạm tội gây ra

+ Hậu quả của tội phạm: Nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc (chỉ CTTP nếu nạn

nhânchết- tức là không có giai đoạn phạm tội chưa đạt)

Ví dụ 1: A là bác sĩ đang trên đường đến bệnh viện gặp B bị tai nạn xe máy đang nằmtrên

đường, A có đủ phương tiện để cấp cứu cho B nhưng A không cứu chữa, B chết

Ví dụ 2: A là cảnh sát Phòng cháy chữa cháy đang trên đường đi làm về, thấy có 2

nạnnhân trong vụ hoả hoạn nhưng không cứu nên nạn nhân chết.Trong cả 2 ví dụ trên, nếu tình

huống đó xây ra trong thời gian Bác sĩ hoặc Cảnh sátPCCC đang làm nhiệm vụ thì bị xử lý theo

Điều 93 về tôi giết người Vì lúc này phát sinhnghĩa vụ pháp lý bắt buộc theo công vụ, chứ

không phải là cứu giúp như Điều 102

Câu 4: So sánh tội giết người (Điều 93) với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết

người (Khoản 3, Điều 104).

* Tội giết người (Điều 93): Xem câu 1.

* Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (Khoản 3, Điều 104).

a Các dấu hiệu pháp lý: Các dấu hiệu pháp lý của tội này về khách thể, chủ thể, mặt chủ

quan, mặt khách quangiống Điều 93 Chỉ khác Điều 93 ở dấu hiệu hậu quả trong cấu thành tội

phạmHậu quả trong CTTP của Điều 93 là nạn nhân chết, còn hậu quả của Điều l04 thể hiệnở 2

dạng:

+ Gây thương tích: Là những tổn thương gây ra trên cơ thể của người khác mà tổnthương

này có thể xác định được thông qua thị giác Ví dụ: A dùng dao đâm 1 nhát vào cánh tay phải

của B

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ: Là những tổn thương gây ra trên cơ thể của người khác,

đểxác định các tổn thương này phải thông qua phương tiện khoa học kỹ thuật Ví dụ: A dùng

gậy đập vào lưng của B, B bị gãy xương bả vai

Chú ý: Để xác định tỷ lệ thương tật của nạn nhân phải căn cứ vào Thông tư số 12,thông tư

liên bộ Bộ Y tế- Bộ Lao động Thương binh Xã hội ban hành ngày 26/7/95 Dù hậuquả của tội

phạm ở dạng nào thì cũng đều xác định trên cơ sở tỷ lệ thương tật - là tỷ lệ % mấtsức lao động

của nạn nhân do tội phạm gây ra, làm cơ sở xác định TNHS đối với người phạmtội

b Hình phạt Khoản 3:

Phạt tù từ 5 năm đến 15 năm trong những trường hợp sau:

1 Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 61% trở lên

2 Tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 31 % đến 60% nhưng thuộc 1 trong 10 trường hợpnêu

ở khoản 1

3 Gây thương tích dẫn đến chết người: Là trường hợp phạm tội mà can phạm chỉ cố ývới

hậu quả thương tích mà vô ý với hậu quả chết người (ở đây có 2 dạng hậu quả là thươngtích và

chết người với 2 hình thức lỗi khác nhau) Theo hướng dẫn của Nghị quyết

01/89/HĐTPTANDTC ngày 19/04/89 tình tiết này phải thoả mãn 3 điều kiện sau:

* Phải có thương tích nặng là thương tích có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên Ví dụ:Tổn

thương động mạch, tĩnh mạch, não, cột sống, các bộ phận nội tạng trong cơ thể nạn nhân

* Phải có hậu quả chết người xây ra trên thực tế.*

Giữa hậu quả thương tích nặng và hậu quả chết người phải có mối quan hệ nhân quảvới

nhau Cũng coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trong trường hợp không phảilà

thương tích nặng nhưng vì nạn nhân là người quá già yếu (là người từ 70 tuổi trở lênhoặc từ 60

tuổi trở lên mà thường xuyên đau ốm- Công văn số 102/2001/KHXX ngày20/08/2001 của

TANDTC), người có bệnh nặng, việc gây thương tích làm cho nạn nhân bịchết sớm hơn quy

luật tự nhiên, nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết

Câu 5: So sánh tội cướp tài sản (Điều 133) với tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135).

- Đ133 BLHS Cướp TS

+ Dùng vũ lực: Dùng sức vật chất hoặc k vật chất để chủ động tấn công ai đó

Hành vi có khả năng gây phương hại đến tính mạng, sức khỏe nguuwfoi bị tấncông ->

mất khả năng chống cự ( người bị đe dọa k đủ thời gian suy nghĩ rơivào tình trạng k thể chống

cự )

Hai phương thức:

Bí mật: đánh sau gáy, bắn lén

Công khai: để người bị tấn công biết

+ Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc

Nếu người bị tấn công ở trên k bị khuất phục

Giơ sung dọa bắn

Rút dao dọa chem

- Đ135 BLHS Cưỡng đoạt TS

+ Đe dọa dùng vũ lực

Đe dọa dùng sức mạnh vật chất ( trực tiếp hoặc gián tiếp )

Có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẳ của người khác

Đe dọa sẽ dùng trong tương lai ( k phải tức thì ) -> Người bị đe dọa có thờigian suy nghĩ

Dùng thủ đoạn khác:

Gây thiệt hại về TS - danh dự - uy tín ng khác nếu ng đó k thỏa mãn yêu cầuchiếm đoạt

Đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc vi phạm đạo đức của ng bị đe dọa( về đời tư )

* Tội cướp tài sản (Điều 133).

a Khái niệm: Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc

hoặc cóhành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được

nhằmchiếm đoạt tài sản

b Các dấu hiệu pháp lý:

Khách thể của tội phạm: Tội cướp tài sản trực tiếp xâm hại đến 2 QHXH sau:

@ Quan hệ nhân thân, đó là quan hệ về tính mạng, sức khoẻ con người

@ Quan hệ tài sản

Mặt khách quan của tội phạm: Chỉ đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan Hành

vikhách quan của tội cướp tài sản được thực hiện bằng 1 trong 3 hành vi sau:

@ Hành vi dùng vũ lực: Dùng sức mạnh về vật chất, thể chất tác động lên người khácnhư

xô ngã, chặn xe, đánh, chém

@ Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc: Có lời nói, cử chỉ khống chế tác độnglên tư

tưởng của người khác để người này tin rằng nếu không đưa tài sản cho can phạm thìviệc dùng

vũ lực sẽ xảy ra ngay không tránh khỏi Cụm từ “ngay tức khắc” chỉ:

+ Sự mãnh liệt của hành vi đe doạ

+ Khoảng cách thời gian không có sự gián đoạn giữa hành vi đe doạ và hành vi dùngvũ lực

Ví dụ: Đ giơ súng doạ bắn, rút dao doạ chém, doạ đâm Để đánh giá hành vi đe doạ dùng vũ lực có phải “ngay tức khắc” hay không phải căn cứ vào:

- Thái độ, cử chỉ, tính chất hành vi đe doạ

- Công cụ, phương tiện người phạm tội sử dụng

- Không gian, thời gian, hoàn cảnh, địa điểm sự việc xảy ra

* Hành vi khác: Cho nạn nhân uống thuốc ngủ, dùng ê te, các loại thuốc hướng thầnkhác

Tội cướp hoàn thành khi can phạm thực hiện một trong ba hành vi nên trên Đặc điểmcủa các hành vi này phải làm tê liệt ý chí (làm nạn nhân không nhận thức, không biết sự việcđang xảy ra) hoặc làm tê liệt khả năng chống cự (biết sự việc xảy ra nhưng không có khả năng phản kháng) của nạn nhân Việc lấy tài sản hay không là do người phạm tội quyết định Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hìnhsự Mặt chủ quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Lỗi cố ý trực tiếp + Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc Mục đích chiếm đoạt tài sản luôn phải xuất hiện trước hoặc muộn nhất là đồng thời với thời điểm thực hiện hành vi khách quan

c Hình phạt: Hình phạt của tội cướp quy định 4 khung:

Khoản 1: Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm trong trường hợp thông thường (trường hợpkhông có tình tiết định khung tăng nặng)

Khoản 2: Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

1 Có tổ chức: Băng cướp có nhiều người tham gia, có sự câu kết chặt chẽ giữa nhữngngười phạm tội

2 Có tính chất chuyên nghiệp: Là trường hợp can phạm lấy việc cướp là nghề sốngchính, tài sản cướp được là nguồn thu nhập chính

3 Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêmtrọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã tái phạm chưa được xoá án tích lại phạm tộicướp tài sản

4 Sử dụng vũ khí, phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác là cách thức thực hiện tội phạm nguy cơ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác Ví dụ nhét giẻ vàomiệng thời gian dài, dùng gậy ngáng xe khi đang chạy với tốc độ lớn

Ngoài 4 tình tiết định khung này tội cướp tài sản còn quy định 3 loại tình tiết định khungkhác trong 3 khoản chúng đều phản ánh là hậu quả của tội cướp, giữa chúng chỉ khác

này có thể thể hiện trong mối tương quan như sau:

1 Gây thương tích làm chếtngười

- Đặc điểm của tình tiết này làlỗi vô ý và

là hậu quả trựctiếp

Tỷ lệ thương tậttừ 11 - 30%

Tỷ lệ thương tật từ31 - 60%

Tỷ lệ thương tậttrên 60% hoặc làmchết người

2 Chiếm đoạt tài sản Lỗi cố ý- hậu quả trực tiếp

Tài sản bị chiếmđoạt từ 50 triệuđến dưới 200triệu đồng

Tài sản bị chiếmđoạt từ 200 triệuđến dưới 500 triệuđồng

Tài sản bị chiếmđoạt từ 500 triệuđồng trở lên

3 Gây hậu quả khác Lỗi vô ý- hậu quả gián tiếp

- Chết người

- Gây thương tích

tỷ lệ thươngtật mỗi người từ trên 61%

- Thiệt hại về tài sản:

quảnghiệm trọng- 1 người- 1 hoặc 2 người Từ 50 -500triệu đồng

Gây hậu quả rấtnghiêm trọng- 2 người- 3 hoặc 4 người Từ 500 -1.500triệu đồng

Gây hậu quả đặc biệtnghiêm

trọng-Từ 3 người trở

Từ 5 người trở

lên-Từ 1.500 triệuđồng trở lên

* Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135).

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, các tình tiết định khung giống Điều133 tội cướp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm: Chỉ đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan Hành vikhách quan của Điều 135 được thực hiện bằng một trong hai loại hành vi:

* Hành vi đe doạ dùng vũ lực Can phạm có lời nói khống chế về tinh thần người quảnlý tài sản nếu không đưa tài sản cho can phạm thì can phạm sẽ dùng vũ lực gây thiệt hại đếntính mạng, sức khoẻ của nạn nhân Hành vi đe doạ dùng vũ lực ít mãnh liệt, khoảng cách giữahành

vi đe doạ với hành vi dùng vũ lực có sự gián đoạn về mặt thời gian

Ví dụ: A giơ kim tiêm về phía B nói có SiDa nếu không đưa cho A 500.000 đồng, Achích kim tiêm vào người B

* Hành vi khác uy hiếp về mặt tinh thần người quản lý tài sản Doạ tố cáo về hành

vi phạm pháp hoặc tố cáo về vấn đề đời tư.Đặc điểm của hành vi trên chỉ khống chế một phần

về tư tưởng của nạn nhân Việcgiao tài sản cho can phạm hay không là do nạn nhân quyết định trong sự miễn cưỡng

Ví dụ: A buôn hàng cấm, B khống chế A đưa cho B 1.000.000 đồng nếu không sẽ báoCông an bắt giữ A.Tội phạm hoàn thành khi can phạm thực hiện một trong hai hành vi trên

Câu 6: So sánh tội cướp giật tài sản (Điều 136) với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137).

* Tội cướp giật tài sản (Điều 136).

Khách thể của tội phạm: Là sự xâm phạm quan hệ sở hữu

Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai có NLTNHS

Mặt chủ quan của tội phạm: Là lỗi cố ý trực tiếp

Mặt khách quan của tội phạm: Chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan là hành vi chiếmđoạt tài sản.Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản của tội cướp giật tài sản là mang tính công khai và nhanh chóng

Tính chất nhanh chóng của hành vi chiếm đoạt của tội cướp giật thể hiện ở cả ba giaiđoạn trong quá trình chiếm đoạt tài sản, đó là:

@ Nhanh chóng tiếp cận tài sản

@ Nhanh chóng chiếm đoạt tài sản

@ Nhanh chóng tẩu thoát tài sản Ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản ra can phạm không

có bất kỳ thủ đoạn nào để tiếpcận với tài sản.Để thoả mãn đặc điểm này tài sản chiếm đoạt phải là vật gọn, nhỏ dễ lấy, dễ mang đi như dây chuyền, bông tai, túi xách Thời điểm chuyển giao tài sản là do người phạm tội giật lấy

* Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137).

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm: Giống Điều 136

Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

Trang 3

+ Hành vi khách quan: Là hành vi chiếm đoạt tài sản Hành vi này có đặc điểm là mang

tính công khai và ngang nhiên

Tính chất ngang nhiên của hành vi chiếm đoạt tài sản của tội phạm thể hiện ở các

điềukiện sau:

* Từ thời điểm hình thành ý định phạm tội cho đến khi lấy được tài sản can phạmkhông

có bất kỳ một thủ đoạn nào, không có ý thức đối phó, đương đầu với người quản lý tàisản,

không có ý thức chạy trốn hay nhanh chóng tẩu thoát

* Tội phạm xảy ra trong hoàn cảnh người quản lý tài sản biết người phạm tội đangchiếm

đoạt tài sản của mình nhưng không có điều kiện và khả năng ngăn cản việc thực hiệnhành vi

chiếm đoạt

Ví dụ: B biết được A đang đứng tầng 5 nhìn xuống đất coi chiếc xe máy của mình đểdưới

sân, B mở khoá lấy đi

+ Đối tượng tác động của tội phạm: Tài sản chiếm đoạt phải trị giá từ 500.000 đồngtrở

lên, nếu dưới 500.000 đồng thì phải thoả mãn 1 trong 3 điều kiện

1 Gây hậu quả nghiêm trọng

2 Đã bị xử lý hành chính về một trong những hành vi chiếm đoạt

3 Đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt nhưng chưa được xoá án tích.(Các điều

kiện này sẽ được giải thích trong Tội trộm cắp tài sản)

Câu 7: So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) với tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản (Điều 140).

-Đ139 BLHS – tội lừa đảo chiếm đoạt TS.

Có hành vi gian dối đê nhận được TS từ chủ sở hữu hoặc người quản lý TS

Chủ động thực hiện các thủ đoạn nhằm chiếm đoạt – k có sự bàn bạc giao kết giữa 2bên

Ý định chiếm đoạt từ trước khi bắt đầu hành vi gian dối

-Đ140 BLHS – tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt TS

Hành vi chiếm đoạt 1 phần hay toàn bộ TS

Có sự giao kết – thỏa thuận giữ chủ TS và người thực hiện hành vi chiếm đoạt

Thời điểm giao TS – hợp pháp , ngay thằng, người phạm tội chưa có hành vi gian dối

Ý định chiếm đoạt hình thành sau khi người phạm tội đã vi phạm ~ cam kết, nghĩavụ

Theo thỏa thuận

TP hoàn thành từ thời điểm ng phạm tội giữ lại TS hoặc k có khả năng trả lại TS

* Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139).

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, giá trị tài sản chiếm đoạt: Giống tội trộm

cắp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

@ Hành vi khách quan: Thể hiện ở 2 hành vi:

- Hành vi gian dối Là hành vi đưa ra những thông tin không đúng sự thật để ngườikhác

tin đó là sự thật Ví dụ A nói với bố mẹ B là B bị tai nạn đang cấp cứu ở bệnhviện, yêu cầu bố

mẹ B đưa cho A 5.000 000 đồng để chi phí chi việc điều trị cho Bsau đó đã chiếm đoạt số tiền

này

- Hành vi chiếm đoạt tài sản Hình thức chiếm đoạt tài sản được thể hiện ở hai dạng:

+ Giao nhầm: Nếu tài sản chiếm đoạt nằm trong tay người quản lý tài sản

+ Nhận nhầm: Nếu tài sản chiếm đoạt nằm trong tay người phạm tội.Đặc điểm việc

chuyển giao tài sản: Người quản lý tài sảndo bị lừa dối nên đã tự nguyện giao tài sản cho người

phạm tội

@ Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu được phản ánh trong CTTP Tội phạm hoàn thành

khi can phạm chiếm đoạt được tài sản

* Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140).

Khách thể, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm giống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan được thực hiện bằng một trong 3 loại hành vi sau:

Sau khi nhận được tài sản trên cơ sở của hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối đểchiếm

đoạt tài sản đó Ví dụ: A vận chuyển cho B một lô hàng điện tử, A tạo hiệntrường giả tàu bị đắm

để lấy lô hàng

Sau khi nhận được tài sản trên cơ sở của hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tàisản đó Ví

dụ: A tham gia dây hụi sau khi bốc hụi xong bỏ trốn không thực hiệnnghĩa vụ trả nợ cho các con

hụi khác

Sau khi nhận được tài sản trên cơ sở hợp đồng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp

pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Ví dụ: A mượn tiền của Bđánh bạc, mua bán ma

tuý bị bắt và tịch thu tài sản, tang vật

+ Đối tượng tác động của tội phạm: Về giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ 1 triệu đồngtrở

lên, nếu dưới 1 triệu đồng phải thoả mãn một trong ba điều kiện

1 Gây hậu quả nghiêm trọng

2 Đã bị xử lý hành chính về một trong những hành vi chiếm đoạt

3 Đã bị kết án về một trong các tội chiếm đoạt nhưng chưa được xoá án tích

(Các điều kiện này đã được giải thích trong Tội trộm cắp tài sản)

* Sự khác nhau giữa tội lừa đảo với tội lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thểhiện ở các

tiêu chí sau:

tínnhiệm giao tài sản

2 Mặt khách

quan

- Giá trị tài

sản bịchiếm đoạt

- Tài sản chiếm đoạt từ trên500.000 đồng 1triệu đồng- Tài sản chiếm đoạt từ trên

- Hành vi

khách quan gian dối,hành vi gian dối,- Luôn phải có hành vi

hành vi phảithực hiện trước thời điểmchuyển giao tài sản

- Có thể có hành vi gian dối, cóthể không, nếu có hành vi giandối luôn phải thực hiện sau thờiđiểm chuyển giao tài sản

- Đặc điểm

tài sản hiện hànhvi chiếm đoạt tài sản- Tại thời điểm thực

thuộc sở hữu bất hợp pháp của người phạm tội

- Tại thời điểm thực hiện hànhvi chiếm đoạt tài sản thuộc

sở hữu hợp pháp của người phạmtội

Câu 8: So sánh tội trộm cắp tài sản (Điều 138) với tội tham ô tài sản (Điều 278).

* Tội trộm cắp tài sản (Điều 138).

a Các dấu hiệu pháp lý:

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 137

Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan: Được thực hiện bởi hai hành vi:

* Hành vi lén lút: Là hành vi che giấu việc thực hiện hành vi phạm tội đối với ngườiquản

lý tài sản Ví dụ: Lợi dụng hoặc tạo ra sự sơ hở của người quản lý tài sản, dùng chìakhoá mở

cửa, cạy cửa

* Hành vi chiếm đoạt tài sản: Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tàisản

là tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt ý thức chủ quan của người phạm tội chorằng người quản lý tài sản không biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của mình

+ Đối tượng tác động của tội phạm: Là tài sản bị chiếm đoạt phải thoả mãn hai điềukiện:

@ Là tài sản đang do người khác quản lý, bao gồm các nhóm sau:

Những tài sản đang thuộc sự chiếm hữu về mặt thực tế của người quản lý tài sản.Ví dụ,

ví tiền có 30 triệu đồng bỏ trong túi quần

Những tài sản tuy thoát ly khỏi sự chiếm hữu về mặt thực tế của người quản lý tàisản nhưng nằm trong khu vực quản lý Ví dụ, tài sản bỏ trong phòng ở của kháchsạn

Những tài sản không nằm trong khu vực quản lý nhưng hình thành khu vực quảnlý riêng Ví dụ, nguyên vật liệu tập kích tại một địa điểm nơi công cộng

@ Tài sản chiếm đoạt phải trị giá từ 500.000 đồng trở lên Nếu dưới 500.000đồng phải thoả mãn một trong ba điều kiện sau:

Gây hậu quả nghiêm trọng: Là hậu quả gián tiếp của hành vi trộm cắp và hậu quảnày thực hiện với hình thức lỗi vô ý, có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tàisản hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an xã hội (như đã phântích ở tội cướp tài sản)

Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản.Can phạm đã thực hiện một trong các hành vi cướp, cướp giật, trộm cắp, lừa đảo đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà trongthời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính hoặc quyếtđịnh xử lý kỷ luật lại tiếp tục trộm cắp tài sản trị giá dưới 500.000 đồng

Đã bị kết án về một trong những tội chiếm đoạt chưa được xoá án tích

Vi phạm từ hai lần trở lên có tính liên tục, mỗi lần giá trị tài sản chiếm đoạt dưới500.000 đồng (trường hợp này mới được hướng dẫn trong Thông tư số 02/2001) + Hậu quả của tội phạm: Thời điểm phạm tội hoàn thành khi can phạm chiếm đoạtđược tài sản, hay nói cách khác trong CTTP của tội trộm cắp phải có dấu hiệu hậu quả Thờiđiểm tội phạm được coi là chiếm đoạt được tài sản tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại tàisản, thể hiện

cụ thể như sau:

@ Can phạm đã cất giữ tài sản trong người nếu tài sản chiếm đoạt là vật gọn, nhỏ

@ Can phạm đã mang ra khỏi khu vực quản lý nếu là tài sản cồng kềnh

@ Can phạm đã xê dịch tài sản khỏi vị trí ban đầu nếu là tài sản hình thành khu vựcquản

lý riêng

b Các tình tiết định khung: Tình tiết định khung của tội trộm cắp tài sản giống các tình tiết định khung của tộicướp tài sản và có thêm tình tiết hành hung để tẩu thoát

Về tình tiết định khung tăng nặng - Hành hung để tẩu thoát là tình tiết định khung tăngnặng của tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, và tội trộm cắp tài sản Tìnhtiết này phải thoả mãn các điều kiện:

Về nội dung của tình tiết hành hung để tẩu thoát: Can phạm thực hiện một trong bahành

vi trên nhưng trong quá trình thực hiện bị phát hiện can phạm đã có hành vi dùng vũ lựchoặc

đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực nhằm tẩu thoát về người hoặc tài sản

Về thời điểm hành hung: Nếu can phạm đã lấy được tài sản bị người khác phát hiệnmà tài sản đang nằm trong tay người phạm tội, người phạm tội có hành vi hành hung để giữ bằng được tài sản đã lấy

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện 1 trong 3 loại tội này mà can phạm có hành vi hànhhung sẽ chuyển hoá thành tội cướp tài sản nếu thuộc hai trường hợp sau:

@ Nếu can phạm thực hiện hành vi trộm cắp, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướpgiật tài sản chưa lấy được tài sản, bị phát hiện mà có hành vi hành hung để lấy tài sản

@ Đã lấy tài sản nhưng đã bị người khác lấy lại hoặc tài sản đang giành giật trên tayngười phạm tội mà can phạm có hành vi hành hung để lấy tài sản chỉ xử lý về Tội cướp tàisản

* Tội tham ô tài sản (Điều 278).

a Các dấu hiệu pháp lý:

Khách thể của tội phạm: Tội tham ô tài sản trực tiếp xâm hại 2 QHXH, đó là: + Xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội + Xâm phạm quan hệ sở hữu

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Thủ đoạn phạm tội: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn Tức là người phạm tội sử dụngquyền hạn được giao như là một phương tiện phạm tội để biến tài sản của Nhà nước thành tàisản của mình

+ Hành vi khách quan của tội phạm: Là hành vi chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạttài sản có thể thực hiện một cách công khai có thể bí mật Thông thường là để che giấu hànhvi chiếm đoạt can phạm thường có hành vi sửa chữa sổ sách, chứng từ, lập chứng từ giả, tạohiện trường giả, tiêu huỷ hoá đơn, chứng từ, đốt kho chứa tài sản

+ Đối tượng tác động của tội phạm phải thoả mãn 2 điều kiện, đó là:

@ Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý Được coi là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý tức là người phạm tội có quyềnchiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

@ Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải trị giá từ 500.000 đồng trở lên Nếu tài sản bị chiếmđoạt dưới 500.000 đồng phải thoả mãn 1 trong 3 điều kiện:

1 Gây hậu quả nghiêm trọng

2 Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm

3 Đã bị kết án về một trong các tội tham nhũng nhưng chưa được xoá án tích.Các điều kiện này đã được giải thích trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu

Chủ thể của tội phạm: Phải thoả mãn đầy đủ 2 điều kiện, đó là: Người phạm tội phải làngười có chức vụ quyền hạn và là người có trách nhiệm quản lý tài sản

Trên thực tế chủ thể của tội tham ô tài sản thuộc 3 nhóm sau:

* Nhóm 1: Là người có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý kinh tế.Ví dụ: Thủ trưởng cơ quan, chánh văn phòng, trưởng phòng tài vụ, kế toán

* Nhóm 2: Những người đảm nhiệm công tác nghiệp vụ quản lý kinh tế tài chính.Ví dụ:

Kế toán, thủ quỹ, thủ kho

* Nhóm 3: Những người đảm nhiệm những công việc mang tính độc lập nhưng có khảnăng trực tiếp tiếp cận với tài sản.Ví dụ: Người bảo vệ được quyền tiếp cận với tài sản, người lái xe chở hàng không cóngười áp tải

Mặt chủ quan của tội phạm: Là lỗi cố ý trực tiếp

Tình huống: A là cán bộ vật tư của một hợp tác xã nông nghiệp, được hợp tác xã giaocho 100 triệu đồng đi mua vật tư nông nghiệp Khi nhận được tiền, A đã dựng hiện trường giả bị mất trộm số tiền này Qua điều tra, A khai “Số tiền 100 triệu đồng đang chôn ở sau vườnnhà A” Hãy phân tích ví dụ trên trên cơ sở các dấu hiệu cấu thành tội tham ô tài sản

b Các tình tiết định khung của tội tham ô tài sản giống các tình tiết định khung củacác tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt

Câu 9: So sánh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Đ139) với tội buôn bán hàng giả (Đ156).

* Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm, giá trị tài sản chiếm đoạt: giống tộitrộm cắp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan thể hiện ở 2 hành vi:

Trang 4

Hành vi gian dối Là hành vi đưa ra những thông tin không đúng sự thật để ngườikhác tin

đó là sự thật VD A nói với bố mẹ B là B bị tai nạn đang cấp cứu ở bệnh viện, yêu cầu bố mẹ B

đưa cho A 5.000 000 đồng để chi phí chi việc điều trị cho Bsau đó đã chiếm đoạt số tiền này

Hành vi chiếm đoạt tài sản Hình thức chiếm đoạt tài sản được thể hiện ở hai dạng:

+ Giao nhầm: Nếu tài sản chiếm đoạt nằm trong tay người quản lý tài sản

+ Nhận nhầm: Nếu tài sản chiếm đoạt nằm trong tay người phạm tội.Đặc điểm việc

chuyển giao tài sản: Người quản lý tài sản do bị lừa dối nên đã tự nguyện giao tài sản cho người

phạm tội

+ Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu được phản ánh trong CTTP Tội phạm hoàn thành khi

can phạm chiếm đoạt được tài sản

* Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156)

Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có năng lực TNHS

Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp

Mặt khách quan của tội phạm đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan được thực hiện bằng 1 trong 2 loại hành vi:

@ Hành vi sản xuất hàng giả

@ Hành vi buôn bán hàng giả

+ Đối tượng tác động của tội phạm là hàng giả

Có 2 loại hàng giả là hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức

* Hàng giả về hình thức: Là loại hàng có đảm bảo về giá trị sử dụng nhưng nó mangnhãn

hiệu của 1 cơ sở sản xuất khác

Đối với người sản xuất buôn bán hàng giả về hình thức bị xử lý về Điều 171 Tội

xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

* Hàng giả về nội dung: Là loại hàng hoá mà mức chất lượng thực tế thấp hơn mức tối

thiểu mà Nhà nước quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, hoặc hàng hoá có giá trị sử

dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên của nó

Hàng giả về nội dung mới là đối tượng tác động của tội này

Văn bản hướng dẫn: Công văn số 36, ngày 2/5/91 TANDTC Thông tư số 10/2000ngày

25/4/2000 của Bộ thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Khoa học công nghệvà môi

trường Theo thông tư này thì răng giả, chân tay giả, đồ cổ giả, vàng bạc, tiền,ngoại tệ giả không

phải là hàng giả Đối tượng tác động của tội này

Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản với tội buôn bán hàng giả đượcthể hiện như

sau:

Tội buôn bán hàng giả Tội lừa đảo

1 ĐTTĐ

2 Hành vi gian dối

3 Mục đích

4 Người bị hại

5 Tính chất hành vi buôn

bán

- Chỉ là hàng hoá

- Có thể có, có thể không

- Trục lợi

- Nhằm vào bất kỳ người tiêu dùng nào

- Luôn thể hiện qua hành vi buôn bán

- Hàng hoá, ngoại tệ, tiền

- Bắt buộc có hành vi gian dối

- Chiếm đoạt

- Nhằm vào 1 người xác định

- Có thể có, có thể không có hànhvi mua bán

Ngoài ra giữa 2 tội này còn có điểm khác biệt đặc trưng đó là:

- Đối với tội lừa đảo: Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối như chào hàng bằnghàng

thật, bằng giấy tờ thật nhưng khi giao hàng thì là hàng giả, giấy tờ giả hoặc dùng thủđoạn gian

dối khác làm cho người mua tin tưởng và đồng ý mua hàng nhưng khi giao lại traohàng giả hoặc

lừa dối khi trả tiền thiếu cho người bán

- Đối với tội buôn bán hàng giả: Người mua có sự xem xét, trao đổi, mặc cả khi

muanhưng do bất cẩn mà mua phải hàng giả

* Chú ý: Nếu một người có hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả là lương thực,thực

phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì cấu thành Điều 157 tội sản xuất hoặc buôn bán

hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, và Điều 158 tội sản xuất

hoặc buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực

vật, giống cây trồng, vật nuôi với các mức hình phạt nặng hơn

Nếu sản xuất, buôn bán hàng giả là nguyên vật liệu xây dựng thì xử lý theo Điều

156 Nguyên tắc xử lý này là bất cập vì tính chất của đối tượng tác động hàng giả là nguyên

vậtliệu xây dựng có khả năng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Câu 10: So sánh tội phản bội Tổ quốc (Điều 78) với tội gián điệp (Điều 80).

* Tội phản bội Tổ quốc (Điều 78)

a Khái niệm: Tội phản bội Tổ quốc là hành vi của công dân Việt Nam cấu kết vớinước

ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc, lực

lượng quốc phòng, chế độ XHCN và Nhà nước CHXHCN Việt Nam

b Dấu hiệu pháp lý của tội phản bội Tổ quốc:

- Khách thể của tội phản bội Tổ quốc là sự xâm hại QHXH về ANQG

- Chủ thể của tội phạm chỉ có thể là công dân Việt Nam

- Mặt khách quan của tội phản bội Tổ quốc chỉ được đặc trưng bởi dấu hiệu hành vikhách

quan Hành vi khách quan của tội phản bội Tổ quốc là hành vi của công dân Việt Nam cấu

kết với nước ngoài (có thể là cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài hoặc Nhà nướcnước

ngoài)

Như vậy, hành vi khách quan của tội phản bội Tổ quốc luôn thể hiện mối quan hệ giữa2

bên đó là phía công dân Việt Nam và phía nước ngoài Tính chất của mối quan hệ này là cấukết

giữa 2 chủ thể đó với nhau Cấu kết được hiểu là hai bên có mối quan hệ qua lại chặt chẽvới

nhau, hai bên đều thể hiện ý chí của mình trong việc hướng tới thực hiện mưu đồ chínhtrị Thực

tế được thể hiện ở các dạng sau:

@ Có sự bàn bạc với nước ngoài về mưu đồ chính trị

@ Nhận sự giúp đỡ của nước ngoài như tiền bạc, vũ khí, phục vụ cho hoạt động nhằmlật

đổ chính quyền nhân dân

@ Trong quá trình hoạt động, dựa vào thế lực nước ngoài hoặc tiếp tay cho nước ngoài

hoạt động

Thời điểm tội phạm hoàn thành: Khi có hành vi cấu kết với nước ngoài (khi thực hiện1

trong 3 loại hành vi trên)

Mặt chủ quan của tội phạm được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Lỗi: Cố ý trực tiếp

+ Mục đích phạm tội: Nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

* Tội gián điệp (Điều 80)

Khách thể của tội phạm xâm phạm QHXH về ANQG

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai

Mặt chủ quan của tội phạm được đặc trưng bởi 2 dấu hiệu:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích phạm tội làm suy yếu chính quyền nhân dân là dấu hiệu bắt buộc

Mặt khách quan của tội phạm chỉ được đặc trưng bởi dấu hiệu hành vi khách quan.Hành

vi khách quan của tội hoạt động gián điệp được quy định căn cứ vào đặc điểm chủ thể

* Đối với người nước ngoài, người không quốc tịch đối với nhóm chủ thể này hành vikhách quan thể hiện dưới một trong các dạng:

1 Hành vi hoạt động tình báo: Là hoạt động điều tra, thu thập tin tức bằng cách trựctiếp như lấy cắp, vẽ sơ đồ, quay phim, chụp ảnh hay sử dụng các phương tiện kỹ thuật bí mậtthu thập tin tức thuộc hoặc không thuộc bí mật của Nhà nước để sử dụng chống lại Nhà nướcXHCN Việt Nam

2 Hành vi gây cơ sở để hoạt động tình báo phá hoại Ví dụ: Rủ rê, lôi kéo người khác,tìm người giúp đỡ, tìm nơi ẩn náu, tuyển lựa, thu hút người vào trong mạng lưới gián điệp củachúng để làm nhiệm vụ liên lạc chuyển tin

3 Hành vi hoạt động thám báo: Hoạt động của những tên gián điệp được các cơ quantình báo nước ngoài tung vào lãnh thổ Việt Nam thu thập tin tức, chiến thuật trong lĩnh vựcquân sự, có kèm theo hoạt động vũ trang Thể hiện bằng cách trực tiếp quan sát, chụp ảnh,

vẽ sơ đồ hoặc phục kích bắt cán bộ, bộ đội, nhân dân để khai thác tin tức phục vụ cho âm mưu gây chiến tranh, tập kích, bắn phá bằng máy bay

4 Hoạt động phá hoại: Là những hoạt động phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của Nhànước Việt Nam, phá hoại việc thực hiện chính sách kinh tế- xã hội, chính sách đoàn kết dântộc

* Đối với công dân VN hành vi khách quan được thể hiện ở một trong ba dạng sau:

1 Gây cơ sở hoạt động tình báo phá hoại Loại hành vi này giống hành vi của ngườinước ngoài

2 Hành vi hoạt động thám báo chỉ điểm chứa chấp, dẫn đường.(Chỉ điểm: Là việc dùng

ám hiệu báo cho người khác biết nơi cần hoạt động tình báo)

3 Hành vi cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp những tin tức tài liệu của Nhà nướcViệt Nam để nước ngoài sử dụng chống lại Nhà nước CHCN Việt Nam

Tính chất của hành vi phạm tội của công dân Việt Nam trong mối quan hệ với nướcngoài là bị động, bởi được thể hiện ở chỗ làm theo sự chỉ đạo của người nước ngoài Thời điểm tội phạm hoàn thành khi người phạm tội nhận làm gián điệp hoặc khi xâmnhập vào lãnh thổ Việt Nam nhằm hoạt động gián điệp

Câu 11: So sánh tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 84) với tội khủng bố (Điều 230a).

* Tội khủng bố (Điều 84)

Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 80 Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi giết người, gây thương tích hoặc hànhvi tước quyền tự do về thân thể của người khác (có thể có hành vi hoạt động vũ trang, có thể không)

Đặc điểm của hành vi hoạt động vũ trang của tội khủng bố là lén lút, qui mô nhỏ, thường mang tính rời rạc

+ Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc đó là hậu quả chết người, gây thươngtích, hoặc quyền tự do về thân thể của người khác bị tước hoặc bị hạn chế.Thời điểm tội phạm hoàn thành khi có hậu quả xẩy ra Hay nói cách khác, đây là tội cócấu thành vật chất

+ Đối tượng tác động của tội phạm phải là những cán bộ chủ chốt ở các địa phươnghoặc những công dân có nhiều thành tích trong chiến đấu

Câu 12: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b).

- Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm vào những quy định của nhà nước về

sử dụng thông tin trên mạng và trong máy tính, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của

cơ quan, tổ chức, cá nhân

- Mặt khách quan của tội phạm: Tội phạm thể hiện ở hành vi sử dụng mạng máy tính,

mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện một trong những hành vi sau đây; + Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nahwmf chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ

+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nằm chiếm đoạt tài sản

+ Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán

và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân + Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực

TNHS và đạt độ tuổi theo quy định

Câu 13: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về môi trường

* Khái niệm: Các tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được

quy định trong BLHS do người có TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại tới các QHXH về giữ gìn, bảo vệ môi trườn và sử dụng hợp lý những tài nguyên của nó nhằm đảm bảo an toàn môi trường cho con người và sinh vật.

* Dấu hiệu pháp lý của các tội phạm môi trường

Đặc điểm của các tội phạm môi trường được thể hiện qua các yếu tố cấu thành của các

tội phạm về môi trường - “Tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho tội phạm cụ thể được quy định trong Luật hình sự” Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội nhất định

đều có những nội dung biểu hiện riêng biệt ở cả bốn yếu tố: Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan Nó có ý nghĩa rất quan trọng là cơ sở pháp lý của TNHS; là căn cứ pháp lý để định tội và định khung hình phạt

a Khách thể của các tội phạm môi trường: Theo Luật BVMT 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” Ngoài ra, Luật BVMT tại khoản 1 Điều 2 còn chỉ ra những bộ phận cấu thành môi

trường đó là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác

Khách thể của tội phạm nói chung là những QHXH được luật hình sự bảo vệ và bị tội

phạm xâm hại Theo Luật Hình sự Việt Nam: khách thể của tội phạm môi trường là những QHXH về giữ gìn môi trường trong sạch, sử dụng hợp lý những tài nguyên và đảm bảo môi trường cho dân cư Như vậy nội dung của các QHXH là khách thể của tội phạm môi trường

không giới hạn trong một lĩnh vực cụ thể nào Đối với mỗi tội phạm môi trường cụ thể thì tương ứng với nó là một khách thể riêng Ví dụ: Điều 185 BLHS – Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt nam thì khách thể của tội phạm là các QHXH về việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nhập khẩu, đưa vào Việt Nam các chất thải như công nghệ, máy móc, hóa chất… gây ô nhiễm môi trường; Điều 188 BLHS – Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản thì khách thể của tội phạm này là các QHXH về bảo vệ và sử dụng hợp lý những nguồn lợi thuỷ sản, tức các quan

hệ về bảo vệ và sử dụng hợp lý sông, hồ, biển …

b Mặt khách quan của các tội phạm môi trường: Mặt khách quan của tội phạm nói

chung là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu

Trang 5

quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả cũng như những điều kiện bên

ngoài khác (công cụ, phương tiện, thời gian, thời điểm )

* Về hành vi phạm tội: Những hành vi phạm tội quy định trong Chương XVII – Các tội

phạm về môi trường theo BLHS là những hành vi xâm hại đến môi trường có tính nguy hiểm xã

hội cao Nó có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định

của pháp luật về sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và BVMT Các hành vi tội phạm

về môi trường rất đa dạng như hành vi làm lây lan dịch bệnh, hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ

Việt nam, hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải, hành vi làm lây lan cho người và động

vật…Những hành vi này trong mặt khách quan của tội phạm là sự cụ thể hóa trong Luật hình sự

những hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 29 Luật BVMT 2005:

- Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây huỷ hoại môi trường, làm mất

cân bằng sinh thái;

- Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá

giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;

- Thải dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác

động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước;

- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;

- Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý, hiếm trong danh mục quy định

của Chính phủ;

- Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; nhập khẩu, xuất

khẩu chất thải;

- Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai thác, đánh

bắt các nguồn động vật, thực vật

Để xác định hành vi nào là hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về BVMT và do vậy

có thể là hành vi phạm tội, căn cứ vào các quy định trong những văn bản pháp luật chuyên

ngành khác có liên quan, như Luật BVMT 2005, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004; Luật thủy

sản 2003…

* Về hậu quả: Hậu quả của các tội phạm này được quy định cũng rất đa dạng như gây

thiệt hại cho môi trường, gây thiệt hại cho tính mạng sức khỏe của con người, gây thiệt hại về

tài sản bao gồm cả thiệt hại thực tế và chi phí khắc phục hậu quả đã xảy ra Trong BLHS, các tội

phạm về môi trường được quy định như sau:

+ Tuyệt đại bộ phận tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất (Điều 182, 182a, 182b,

185; 186;187; 188; 189; 191,191a BLHS) Trong diễn biến về tình hình tội phạm môi trường

phức tạp và phổ biến hiện nay, việc xây dựng các tội phạm về môi trường với cấu thành vật chất

chưa phát huy hết được vai trò của mình đối với việc gìn giữ và BVMT vì hậu quả của các tội

phạm môi trường rất khó xác định Những hành vi tàn phá, huỷ hoại môi trường sống cần được

ngăn chặn ngay từ đầu và có những biện pháp chế tài kiên quyết Để xác định tội phạm môi

trường cũng cần xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả xảy ra

Trên cơ sở xác định hậu quả của các hành vi vi phạm, có thể xác định thời điểm hoàn thành của

tội phạm Những tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành kể từ khi

có những hậu quả tương ứng xảy ra

+ Tội phạm về môi trường với cấu thành hình thức Đó là Tội vi phạm các quy định về

bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190) Để

xác định tội phạm đã hoàn thành, không cần thiết phải có hậu quả xảy ra Thời điểm hoàn thành

tội phạm được tính từ thời điểm thực hiện các hành vi như: săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt,

buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc

vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó

+ Trong BLHS năm 1999 quy định dấu hiệu “ đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm”

là dấu hiệu bắt buộc để định tội các tội phạm môi trường thì nay tại các Điều 187, 188,189

BLHS chỉ quy định dấu hiệu “ gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc “ đã bị xử phạt hành chính”

Đây là một điểm khác so với những quy định trước đây của BLHS năm 1999 có vai trò quan

trọng trong việc xác định hình phạt đối với loại tội phạm này

c Chủ thể của tội phạm về môi trường: Chủ thể của các tội phạm là con người cụ thể có

năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định đã thực hiện hành vi phạm tội Chủ thể của tội phạm về

môi trường là những cá nhân đạt độ tuổi luật định và có năng lực TNHS Hầu như các tác giả

đều nhất trí chủ thể của các tội phạm về môi trường là cá nhân có các dấu hiệu nói trên

Trong một số tội phạm về môi trường có chủ thể đặc biệt Sự đặc biệt này thông thường

gắn với việc giữ chức vụ hoặc có quyền hạn của người vi phạm: Đó là các tội phạm được quy

định tại Điều 182a, 182b, 186, 187 BLHS

Nhìn chung xác định chủ thể của các tội phạm về môi trường theo pháp luật Việt Nam

như vậy là hợp lý Việc gìn giữ và BVMT là trách nhiệm của mọi người Để có được ý thức

đúng đắn về môi trường cần có sự giáo dục và tuyên truyền thường xuyên Những người chưa

thành niên khả năng nhận thức còn có hạn, nhất là đối với một vấn đề phức tạp như môi trường

Biện pháp hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn này chính là các biện pháp xã hội như: đưa vấn đề

giáo dục môi trường vào nhà trường, phát triển các hình thức tuyên truyền trong cộng đồng về

môi trường v.v

d Mặt chủ quan của tội phạm về môi trường: Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu

hiện tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Trong quy định tại

Chương XVII của BLHS sửa đổi, bổ sung không có một quy định trực tiếp nào khẳng định

người vi phạm phải chịu TNHS trong trường hợp có lỗi do vô ý hoặc cố ý Tuy nhiên căn cứ

vào cấu thành tội phạm cơ bản có thể nêu một số quy định của pháp luật về tội phạm môi trường

được thực hiện hoặc với lỗi vô ý hoặc cố ý hoặc có thể tội phạm được thực hiện trong điều luật

đó vừa có thể là vô ý hoặc cố ý là cố ý

Qua đó có thể thấy mặt chủ quan của các tội phạm môi trường có thể được thực hiện bằng

lỗi cố ý hoặc vô ý Đây là một trong những điểm mới của BLHS sửa đổi, bổ sung khi không chỉ

coi tội phạm môi trường được thực hiện hầu hết là lỗi cố ý như trong BLHS 1999

Trong mặt chủ quan của tội phạm về môi trường, mục đích và động cơ hầu như không có

ý nghĩa để định tội Tuy nhiên, cũng có tội có yêu cầu mục đích là dấu hiệu bắt buộc đối với một

vài hành vi riêng lẻ Ví dụ: Thực hiện tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Đ188 BLHS) bằng hành

vi sử dụng chất độc, chất nổ, các hoá chất khác, dòng điện hoặc các phương tiện, ngư cụ khác bị

cấm đòi hỏi phải có mục đích “khai thác thuỷ sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản”.

Câu 14: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy

- Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các

chất ma tuý

- Đối tượng tác động của các tội phạm trong nhóm này là các chất ma tuý hoặc các dụng

cụ, phương tiện dùng vào vật sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý

- Mặt khách quan của tội phạm: Cấu trúc của các tội phạm ma tuý đều có CTTP hình

thức Vì vậy, trong mặt khách quan của tội phạm chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan luôn thực

hiện bằng hành động

- Chủ thể của tội phạm là người có NLTNHS và đủ 16 tuổi trở lên (trừ Điều 201- chủ thể

là người có trách nhiệm trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân

phối, cấp phát, sử dụng các chất ma tuý)

- Mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp Động cơ và

mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của các tội này

Câu 15: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm tham nhũng

* Khách thể của tội phạm tham nhũng: Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính

giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của Luật Hình sự nói riêng khẳng định: "Khách thể của tội phạm gây thiệt hại là hệ thống những QHXH của chế đội có giai cấp được Luật Hình

sự của chế độ đó bảo vệ" Như vậy có thể hiểu khách thể của tội phạm là QHXH được Luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại

Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội phạm, xác định đúng khách thể của tội phạm cũng đồng nghĩa với việc xác định được tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội Ở đây, khách thể của tội phạm tham nhũng là những hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân Hoạt động đúng đắn của bộ máy Nhà nước, tổ chức xã hội là khái niệm rất chung để chỉ mỗi cơ quan tổ chức thực hiện đúng nhiệm vụ của mình của pháp luật quy định Tuỳ theo nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao phó mà hoạt động đúng đắn đó thể hiện ở một lĩnh vực khác nhau Để bảo vệ có hiệu quả hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Luật Hình sự chia chúng thành các nhóm QHXH khác nhau, ví dụ: nhóm các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV - BLHS 1999), nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII - BLHS 1999), nhóm các tội phạm về chức vụ thì được quy định tại Chương XXI, trong đó các tội phạm vềtham nhũng được quy định tại mục A

Tuy nhiên, khách thể của tội phạm tham nhũng còn bao gồm cả các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và uy tín của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội

* Mặt khách quan của tội phạm tham nhũng: Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên

ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể trực tiếp nhận biết được đó là:

- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Công cụ, phương tiên, phương pháp, thủ đoạn, thời gian địa điểm phạm tội)

Hành vi tham nhũng là một dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Nếu không có hành vi thực hiện tội phạm thì không có những dấu khác và cũng không có tội phạm Hành vi

ở đây có thể là hành động hoặc không hành động Nhưng nó được gắn chặt với người có chức

vụ quyền hạn và chỉ do người có chức vụ quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho

Hành vi phạm tội qua hành động là sự tác động trái pháp luật, gây thiệt hại đáng kể cho hoạt động đúng đắn của các cơ qua Nhà nước và tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được Luật Hình sự bảo vệ

Hành vi phạm tội không qua hành động là cách xử sự tiêu cực của người có chức vụ quyền hạn Họ không thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao hoặc có thực hiện nhưng không đầy đủ nên đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Dấu hiệu tiếp theo thuộc mặt khách quan của tội phạm tham nhũng là hậu quả của hành

vi lợi dụng chức vụ quyền hạn của những người có chức vụ quyền hạn để phạm tội Hậu quả

do tội tham nhũng gây ra có thể chia thành hai trường hợp:

+ Hậu quả vật chất: là sự hao hụt về tiền, hành hoá, vật tư… Thiệt hại này có thể được xác định bằng các đại lượng cụ thể, có thể nhìn thấy và tính toán được

+ Hậu quả phi vật chất: là những thiệt hại không thể đo đếm, xác định được bằng các đại lượng cụ thể, đó là sự suy giảm lòng tin của nhân dân, mất uy tín với nhân dân của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội

Một dấu hiệu bắt buộc khác trong mặt khách quan của tội phạm tham nhũng cũng có cấu thành vật chất là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội của người có chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và hậu quả do tội phạm đó gây ra Hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả, người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi xác định hậu quả xảy ra là hậu quả tất yếu phát sinh từ hành vi đó

* Chủ thể của tội phạm tham nhũng:

Như chúng ta đã biết, chủ thể của tội phạm tham nhũng là một loại chủ thể đặc biệt, đòi hỏi đó phải là những người có chức vụ, quyền hạn Ở đây, ngoài hai dấu hiệu thông thường là

độ tuổi và năng lực TNHS, bắt buộc phải có dấu hiệu thứ ba là người có chức vụ, quyền hạn Điều 277 - BLHS 1999 quy định: " Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ"

Có thể thấy người có chức vụ quyền hạn có một só đặc điểm như sau:

- Là người được giữ chức vụ thường xuyên hoặc tạm thời trong cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội Chức vụ này có thể do bổ nhiệm hoặc do bầu cử, hợp đồng hay hình thức khác (uỷ quyền, đại diện), có hưởng lương hoặc không hưởng lương của Nhà nước

- Là người thực hiện một trong các chức năng: đại diện quyền lực Nhà nước, tổ chức điều hành quản lý hành chính; hoặc chức năng tổ chức sản xuất kinh doanh theo công vụ đã được giao cho họ

- Là những người thực hiện trách nhiệm nhất định theo thẩm quyền chuyên môn mà họ đảm nhận

* Mặt chủ quan của tội phạm tham nhũng: Trong khoa học Luật Hình sự thì tội phạm là

thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm Vậy mặt chủ quan là: hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội và

nó luôn được gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm Nội dung của mặt chủ quan bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội

Trong các tội phạm tham nhũng, người có chức vụ quyền hạn đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho Nhà nước, cho xã hội, cho công dân của hành vi trái luật do mình gây ra

và thấy trước được hậu quả xảy ra Khi người có chức vụ quyền hạn nhận thức được hành vi của mình là trái với công vụ được giao thể hiện người đó đã vì lợi ích của riêng mình chứ không hoạt động vì lợi ích chung, chỉ biết đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, họ có thể làm bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau cốt sao mang lại những lợi ích mà họ mong muốn Như vậy, đương nhiên tội phạm tham nhũng luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi cố

ý trực tiếp, nhằm động cơ vụ lợi cá nhân

Câu 16: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

- Khách thể của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp:

Theo quy định tại Điều 292 BLHS hiện hành, thì khách thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được hiểu là sự xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp trong linh vực tố tụng

Hành vi xâm phạm hoạt động TP là những hành vi có khả năng làm cho các hoạt động của các cơ quan này trở nên không bình thường, không đúng đắn Tính đúng đắn ở đây được hiểu là hoạt động theo đúng PL, trên cơ sở PL và theo tinh thần của PL Như vậy khách thể của các tội xâm phạm hoạt động TP là hoạt động của các cơ quan TP trong lĩnh vực tố tụng theo đúng quy định của PL Khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm hoạt động TP còn có thể

là các quan hệ nhân thân được thể hiện dưới hình thức quyền và lợi ích chính đáng của con người hay quan hệ sở hữu

- Mặt khách quan của các tội xâm phạm hoạt động TP:

Về hành vi khách quan Các tội xâm phạm hoạt động TP có thể được thể hiện dưới hình thức vi phạm các quy định PL trong hoạt động TP Các quy định này nhằm đảm bảo cho cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoạt động một cách đúng đắn Đó có thể là các quy

Trang 6

định của PL về nội dung cũng như PL về hình thức trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự,

HN&GĐ, lao động, hành chính, đất đai…

Hành vi xâm phạm hoạt động TP có thể là hành động như trong trường hợp truy cứu

TNHS người không có tội, ép buộc nhân viên TP làm trái luật… Cũng có thể được thực hiện

bằng không hành động như trong trường hợp thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn không

thi hành bản án, không tố giác tội phạm

Xét về tính chất, hành vi xâm phạm hoạt động TP có thể là:

+ Hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn vi phạm quy định PL

+ Lợi dụng chức vụ quyền hạn ép buộc, mua chuộc để người khác vi phạm PL

+ Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các phán quyết của

cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án

+ Hành vi không thực hiện nghĩa vụ công dân giúp đỡ các cơ quan TP thực hiện nhiệm vụ

của mình

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà các tội xâm phạm hoạt động TP gây ra hoặc có thể gây

ra trước hết là thiệt hại cho hoạt động TP Thiệt hại này có thể được thể hiện dưới nhiều hình

thức khác nhau, như làm sai lệch tiến trình tố tụng, cản trở quá trình tố tụng

Bên cạnh các thiệt hại mà tội phạm xâm phạm hoạt động TP gây ra hoặc có thể gây ra cho

hoạt động bình thường của các cơ quan TP trong quá trình tố tụng, chúng còn gây ra những thiệt

hại khác như thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước

(VD như quyền bất khả xâm phạm về tự do thân thể, về chỗ ở, các quyền tự do, dân chủ của

công dân)

- Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động TP:

Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động TP có thể là chủ thể đặc biệt hoặc chủ thể

thường tùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể Có thể phân chia thành các nhóm sau:

+ Cán bộ nhân viên của cơ quan TP có nghĩa vụ thực hiện hoạt động tố tụng

+ Người của các cơ quan, tổ chức bổ trợ TP có trách nhiệm thực hiện các hoạt động bổ trợ

TP

+ Các cá nhân khác có chức vụ quyền hạn hoặc không có chức vụ quyền hạn

- Mặt chủ quan của các tội xâm phạm hoạt động TP:

Tất cả các tội xâm phạm hoạt động TP (trừ tội thiếu tinh thần trách nhiệm để người bị

giam giữ trốn - Đ 301 BLHS) đều được thực hiện do cố ý

Động cơ và mục đích của tội phạm không phải là dấu hiệu định tội trong tất cả các cấu

thành tội phạm xâm phạm hoạt động TP

Câu 17: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và

gia đình.

- Khách thể của tội phạm: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình xâm phạm các

QHXH hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, giữa những người có quan hệ huyết thống, trực hệ, giữa

những người có quan hệ tình cảm gắn bó về cấp dưỡng, về thuần phong mỹ tục

- Mặt khách quan của tội phạm: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình đều có

CTTP hình thức Vì vậy, trong mặt khách quan của tội phạm chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan

thực hiện bằng hành động

- Chủ thể của tội phạm: Là người có NLTNHS và đủ 16 tuổi trở lên và là người có quan

hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống đối với nạn nhân

- Mặt chủ quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp còn động cơ

và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của các tội này

Câu 19: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202)

* Các dấu hiệu pháp lý:

- Khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm vào những quy định của nhà nước về

ATGT đường bộ Tội phạm được đặt ra là để đấu tranh với những vi phạm các quy định về

ATGT vận tải, nhằm đảm bảo ATGT vận tải, đảm bảo cho hoạt động GTVT được tiến hành

bình thường, đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe của công dân, bảo vệ tài sản của nhà nước,

tập thể và tài sản của công dân

- Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ Như đi qua tốc độ, tránh, vượt trái phép, chở hàng hoá cồng kềnh, chở

quá trọng tải

+ Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc: Chỉ cấu thành tội phạm nếu hành vi vi phạm

quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng Hậu quả nghiêm trọng

trong CTTP của tội này được hướng dẫn trong Nghị quyết 02/2003 như sau:

- Làm chết một người

- Gây thương tích cho từ 1 đến 4 người mà tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên

- Gây thiệt hại về tài sản trị giá tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng

- Chủ thể của tội phạm: Là người trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông, đường bộ,

trong đó bao gồm cả người trực tiếp điều khiển các phương tiện thô sơ đường bộ

Tuy nhiên, qua công tác đấu tranh phòng, chống TNGT trong thời gian qua cho thấy,

chưa có trường hợp nào mà người điều khiển phương tiện thô sơ gây tai nạn lại bị truy cứu

TNHS theo Điều 202 Trên thực tế đã xảy ra những vụ tai nạn giao thông giữa xe máy với xe

đạp nhưng nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân chính lại do người xe đạp gây ra mà hậu quả là

người đi xe máy chết Trường hợp này nếu không xử lý hình sự với người đi xe đạp thì rõ ràng

là bỏ lọt tội Chính từ thực tế đó, dẫn đến trong xã hội, ngay cả với một số không nhiều người

tiến hành tố tụng quan niệm cho rằng, các trường hợp tai nạn giao thông xảy ra thì lỗi trước hết

là do người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới với phân khối lớn hơn, sau đó là người

điều khiển phương tiện thô sơ, cuối cùng mới là do người đi bộ Chính vì vậy, cần phải có

những biện pháp làm thay đổi nhận thức về vấn đề này của mọi công dân về TNHS đối với các

trường hợp người điều khiển xe thô sơ gây tai nạn Qua đó mới có thể góp phần nâng cao ý thức

chấp hành luật lệ giao thông khi tham gia giao thông đối với người điều khiển phương tiện thô

sơ và người sử dụng thiết bị chuyên dùng lưu thông trên đường bộ Đòng thời, mới đảm bảo

việc xử lý các vụ TNGT được khách quan, chính xác, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội, hoặc làm oan

người vô tội

- Mặt chủ quan của tội phạm: Được thực hiện với hình thức lỗi vô ý, có thể là vô ý vi

quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả

Lỗi vô ý vì cẩu thả của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ thường thể hiện ở những trư*ờng hợp như: Người điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ chưa được học tập, đào tạo về quy tắc ATGTĐB, hoặc trường hợp người phạm tội do sơ ý

không quan sát nên không thấy và đã không tuân theo tín hiệu giao thông; hoặc trường hợp lái

xe buổi đêm sáng trăng nên không chú ý bật đèn nên gây ra tai nạn

Lỗi vô ý vì quá tự tin của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ thường thể hiện thông thường là những trường hợp phóng nhanh vượt ẩu nhưng tin

vào kinh nghiệm trình độ lái xe của mình mà cho rằng không để xảy ra tai nạn Việc phán đoán,

đánh giá, tính toán cân nhắc này hoàn toàn không phù hợp với thực tế khách quan, hay nói cách

khác là nhận định chủ quan của người phạm tội là không có cơ sở thực tế nên hậu quả tai nạn đã

xảy ra trái với nhận thức, trái với ý muốn của họ

* Hình phạt: Điều 202 quy định 4 khung hình phạt như sau:

Khoản 1: Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm

hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng và không có tình tiết định khung tăng nặng

Khoản 2: Phạt tù từ 3 đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

1 Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định: Tức là trường hợp người phạm

tội không có bằng lái do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đó, hoặc có giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển, hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi bằng lái, hoặc trường hợp điều khiển phương tiện GTĐB trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển Qua thực tế áp dụng tình tiết này vẫn còn một vướng mắc

là đối với trường hợp người điều khiển vi phạm quy định về ATGTĐB bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ bằng lái trong một thời hạn nhất định thì trong thời hạn bị tạm giữ bằng lái người lái xe có được tiếp tục điều khiển phương tiện nữa hay không? Về vấn đề này chưa có văn bản pháp luật nào quy định nên trong thực tiễn áp dụng pháp luật có 2 quan điểm trái ngược nhau Để việc áp dụng pháp luật thống nhất cần có văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này Theo quan điểm của chúng tôi nên quy định trong thời hạn bị giam giữ bằng lái người lái xe không được điều khiển phương tiện Bởi vì, người bị tạm giữ bằng lái là người đã

có hành vi vi phạm quy định về ATGTĐB, nhưng vì nhiều lý do khách quan khác nhau mà người có thẩm quyền chưa có biện pháp xử lý ngay, nếu cứ cho phép họ tiếp tục điều khiển sẽ không đảm báo an toàn trong quá trình vận hành Mặt khác, điều này sẽ gây khó khăn cho việc thi hành công vụ của các trạm kiểm soát trong thời gian bằng lái của họ bị tạm giữ

2 Phạm tội trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác: Tại

khoản 7, 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định: "Cấm người lái xe sử dụng chất ma tuý Cấm người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80mg/100ml máu hoặc 40 mg/1ít khí thở hoặc các chất kích thích mạnh khác"

Như vậy, khi nồng độ cồn v*ượt quá 80 mg/100ml máu hoặc 40 mg/1ít khí thở thì bị coi

là phạm tội trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác Đây là một hướng dẫn mang tính định lượng cụ thể, đòi hỏi sự đánh giá phải chính xác bởi nó cho phép xác định ranh giới giữa trường hợp có tội hoặc không có tội, bị xử lý theo Khoản 1 hay Khoản

2, Điều 202 đối với người lái xe trong tình trạng say gây tai nạn

3 Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn: Là trường hợp người phạm tội sau khi gây tai nạn nghiêm trọng đã có ý thức bỏ mặc cho

sự đã rồi" hòng chạy trốn, lẩn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị hại mà lẽ

ra họ phải có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục đến mức thấp nhất thiệt hại do họ gây ra Tình trạng gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn hiện nay đã trở thành phổ biến, nhất là ở những đoạn đường vắng người, hoặc tai nạn xảy ra vào đêm khuya Trong nhiều trường hợp nếu người phạm tội sau khi gây ra tai nạn mà có hành vi cứu giúp người bị nạn thì hậu quả gây ra sẽ không ở mức độ nghiêm trọng Mặt khác, thực trạng này sẽ gây khó khăn rất lớn trong công tác điều tra, phát hiện tội phạm

4 Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông: Khoản 2, Điều 3 Luật giao thông đường bộ quy định: "Người làm nhiệm vụ điều

khiển hoặc hướng dẫn giao thông là cảnh sát giao thông (CSGT) hoặc người được giao nhiệm

vụ hướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông; ở bến phà, tại cầu đường bộ đi chung với đường sắt" Hành vi của người điều khiển phương tiện GTĐB không chấp hành hiệu lệnh của những người nói trên gây tai nạn nghiêm trọng thì áp dụng tình tiết này để truy tố

5 Gây hậu quả rất nghiêm trọng: Nghị quyết số 02/HĐTPTANDTC ngày 17/04/2003

của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1999, tại mục 4.2 quy định những trường hợp sau đây được coi là gây hậu quả rất nghiêm trọng thuộc Khoản 2 của các tội xâm phạm TTATGTĐB

+ Làm chết hai người

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ từ 3 đến 4 người với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của các nạn nhân

từ 101% đến 200%

+ Gây thiệt hại về tài sản trị giá từ 500 triệu đến dưới 1.500 triệu đồng

Khoản 3: Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Tại mục 4.3 của Nghị quyết trên quy định những trường hợp sau đây được coi là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thuộc Khoản 3 của các tội xâm phạm TTATGTĐB

+ Làm chết từ 3 người trở lên

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ từ 5 người trở lên với tỉ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỉ lệ thương tật của mỗi người d*ưới 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của các nạn nhân từ trên 200%

+ Gây thiệt hại về tài sản trị giá từ 1.500 triệu đồng trở lên

Khoản 4: Phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm

trong trường hợp vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chăn kịp thời

* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hậu quả tai nạn:

Trong một CTTP nếu hậu quả đã được phản ánh là một dấu hiệu trong mặt khách quan thì mối quan hệ nhân quả cũng sẽ là một dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của CTTP Như vậy, việc áp dụng những CTTP loại này nói chung và CTTP của các tội xâm phạm TTATGTĐB nói riêng không chỉ đòi hỏi phải xác định hậu quả nghiêm trọng cho xã hội mà còn phải xác định mối quan hệ nhân quả, giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho

xã hội Một người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu giữa hành vi khách quan đã thực hiện của họ và hậu quả nguy hiểm có mối quan hệ nhân quả với nhau, hay nói cách khác nếu.hậu quả nguy hiểm đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra Khi có một vụ TNGT xảy ra thường do một loạt các nguyên nhân và điều kiện tác động, gắn liền với nhau Chúng có thể là hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện giao thông, có thể do sự vô ý của người khác trong đó có người bị hại, hoặc do lỗi của cả 2 bên, thậm chí do lỗi của người thứ 3, tình trạng đường sá, thời tiết, thiết bị an toàn của phương tiện giao thông, hệ thống đèn, biển báo giao thông, do tình trạng sức khoẻ của nạn nhân và điều kiện cứu chữa nạn nhân Như vậy, trong từng trường hợp một, đặt trong hoàn cảnh cụ thể đó phải xác định được những nguyên nhân nào do ai gây ra, đâu là nguyên nhân trực tiếp, đâu là nguyên nhân gián tiếp Đây cũng chính là nội dung của việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của loại tội này

Trong thực tiễn, việc xác định mối quan hệ nhân quả đối với những trường hợp hậu quả

là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người nói chung rất phức tạp, thì việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm các quy định về ATGTĐB và hậu quả tai nạn về thực

tế còn phức tạp hơn nhiều Tính phức tạp của vấn đề do đặc thù của loại tội này quyết định Vì vậy, phải có sự đánh giá nội dung này một cách khoa học, có sức thuyết phục, đảm bảo cơ sở thực tế, đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), từ đó mới

có cơ sở đưa ra một mức chế tài hợp lý và mới có thể tránh tình trạng xử lý oan sai

Ví dụ: Nguyễn Quốc V điều khiển xe Super Dream (100 cm3) không có giấy phép lái xe trên đoạn đường Quốc lộ 1A từ thị trấn Tứ Hạ về thị trấn Phú Bài V đi đúng tốc độ cho phép, đúng phần đường Khi đến km số 720, thì B đi xe hon đa ngược chiều đã đâm vào xe V Hậu quả B chết tại chỗ, V bị thương nhẹ Nguyên nhân của vụ tai nạn xác định được do B lái xe

Trang 7

trong tình trạng say, chạy quá tốc độ cho phép 75%, và một phần do V không có bằng lái B và

V đều có lỗi đối với 3 nguyên nhân này

Song trong 3 nguyên nhân góp phần gây tai nạn trong trường hợp này thì việc chạy quá

tốc độ và lái xe trong tình trạng say của B là nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân có mối quan

hệ nhân quả với hậu quả vụ tai nạn) Còn V không có bằng lái là nguyên nhân gián tiếp (nguyên

nhân không có mối quan hệ nhân quả với hậu quả vụ tai nạn) Tình huống này, V không phải

chịu TNHS về hậu quả B chết mà V chỉ bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi điều khiển

phương tiện không có giấy phép theo quy định của pháp luật

Câu 20: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tôi gây rối tật tự công cộng ( Điều 245)

- Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm vào những nội quy, quy tắc, điều lệ…

về trật tự ở những nơi công cộng Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến trật tự chung, vi phạm nếp

sống văn minh, quy tắc của cuộc sống XHCN, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những

nơi công cộng

- Mặt khách quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện ở hành vi của người tham gia hoạt động ở những nơi công cộng

đã tỏ ra coi thường trật tự chung bằng lời nói, cử chỉ gây mất trật tự hoặc là những hành vi càn

quấy hành hung người khác như: hò hét, đuổi đánh nhau trên đường phố hoặc lôi kéo, bôi bẩn

áp phíc, tượng đài, kích động người khác cùng tham gia

Noi công cộng là những nơi tập trung đông người như công viên, rạp hát, nhà ga, bến xe,

trên đường phố… có nhiều người qua lại nơi công cộng cũng có thể là những nơi trao đổi hàng

hóa, nơi vui chơi giải trí của công dân…

Hành vi gây rối trật tự công cộng bị truy cứu TNHS về tội này khi thuộc một trong những

trường hợp sau:

+ Gây hậu quả nghiêm trọng (Mục 5-NQ 02/2003-HĐTP)

+ Đã bị xử lý hành chính về hành vi này

+ Đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Hành vi hành hung chống lại người duy trì trật tự công cộng, người đang thi hành công vụ

có thể người phạm tội phải chịu TNHS theo DD257 BLHS (Tội chống người thi hành công vụ)

Hành vi gây rối trật tự công cộng không gây thiệt hại cho tính mạng sức khỏe của người

khác mà chỉ gây đến trật tự chung

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực

TNHS và đạt độ tuổi theo luật định

Câu 22: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội rửa tiền (Điều 251)

- Khách thể của tội phạm: Hành vi tội xâm phạm vào trật tự QLNN đối với tài sản do

phạm tội hoặc do phạm pháp mà có Đối tượng tác động của tội phạm này là tiền, tài sản có

được do việc thực hiện tội phạm như do mau bán ma túy, do tham ô, do cướp, trộm cắp… mà

- Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có một trong các hành vi sau:

+ Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giáo dịch

khác có liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất

hợp pháp của tiền, tài sản đó

+ Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động KD

hoặc hoạt động kinh tế khác

+ Che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền

sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh những thông

tin đó

+ Thực hiện một trong 3 hành vi quy định nêu trên đối với tiền, tài sản biết rõ là có được

từ việc dịch chuyển, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có

Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội có một trong các hành vi nêu trên

mà không cần xác định hậu quả

Tài sản đó được sử dụng vào các hoạt động KD, dịch vụ, thành lập công ty, xây dựng

trường học, mua BĐS dưới các hình thức khác nhau để hợp pháp hóa, tài sản do phạm tội mà có

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực

TNHS và đạt độ tuổi theo luật định

Câu 23: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do

người khác phạm tội mà có (Điều 250)

- Khách thể, chủ thể: Tội phạm xâm phạm vào trật tự công cộng.

- Mặt khách quan của tội phạm: Tội phạm được thể hiện ở hành vi chứa chấp hoặc tiêu

thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

+ Hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có: Là do người khác để nhờ, cất

giấu tài sản do phạm tội mà có ở nhà mình hoặc nơi mình ở… hành vi này được thực hiện không

có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước đối với người phạm tội Người phạm tội cất giữ các đối tượng

này nhằm mục đích tiêu thụ Đây là dấu hiệu phân biệt với tội che giấu tội phạm (Đ313-BLHS)

+ Hành vi tiêu thụ do người khác phạm tội mà có là: Chuyển đổi những tài sản đó, mua

bán, trao đổi bằng hiện vật những tài sản đó

Tài sản nói trong điều luật là những tài sản có được do hoạt động phạm tội mà có như

cướp, trộm, lừa đảo, tham ô… mà có Như vậy người phạm tội không tham gia vào hoạt động

phạm tội mà chỉ chứa chấp, tiêu thụ tài sản hợp pháp do người khác phạm tội mà có

Để truy cứu TNHS về tội này cần phải có đủ hai điều kiện sau:

+ Người có hành vi chứa chấp tiêu thụ không có sự thỏa thuận trước với người có tài sản

phạm pháp

+ Người chứa chấp, tiêu thụ biết rõ tài sản này là tài sản có được do hoạt động phạm tội

nhưng không biết tội phạm đó xảy ra ở đâu, khi nào

Hành vi này phải thoả mãn điều kiện là phải không có sự hứa hẹn trước, nếu có sự hứa

hẹn trước sẽ trở thành đồng phạm về tội mà người có tài sản đã thực hiện

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực TNHS

đạt độ tuổi do luật định

Câu 24: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản ( Điều 278)

- Khách thể của tội phạm: Tội tham ô tài sản trực tiếp xâm hại 2 QHXH, đó là:

+ Xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội

+ Xâm phạm quan hệ sở hữu

- Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Thủ đoạn phạm tội: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn Tức là người phạm tội sử dụng

quyền hạn được giao như là một phương tiện phạm tội để biến tài sản của Nhà nước thành tài

sản của mình

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạt tài

sản có thể thực hiện một cách công khai có thể bí mật Thông thường là để che giấu hành vi

chiếm đoạt can phạm thường có hành vi sửa chữa sổ sách, chứng từ, lập chứng từ giả, tạo hiện

trường giả, tiêu huỷ hoá đơn, chứng từ, đốt kho chứa tài sản

+ Đối tượng tác động của tội phạm phải thoả mãn 2 điều kiện, đó là:

@ Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý.

Được coi là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý tức là người phạm tội có quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

@ Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên Nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng phải thoả mãn 1 trong 3 điều kiện:

1 Gây hậu quả nghiêm trọng

2 Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm

3 Đã bị kết án về một trong các tội tham nhũng nhưng chưa được xoá án tích Các điều kiện này đã được giải thích trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu

- Chủ thể của tội phạm: Phải thoả mãn đầy đủ 2 điều kiện, đó là: Người phạm tội phải là

người có chức vụ quyền hạn và là người có trách nhiệm quản lý tài sản

Trên thực tế chủ thể của tội tham ô tài sản thuộc 3 nhóm sau:

+ Nhóm 1: Là người có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý kinh tế

Ví dụ: Thủ trưởng cơ quan, chánh văn phòng, trưởng phòng tài vụ, kế toán

+ Nhóm 2: Những người đảm nhiệm công tác nghiệp vụ quản lý kinh tế tài chính

Ví dụ: Kế toán, thủ quỹ, thủ kho

+ Nhóm 3: Những người đảm nhiệm những công việc mang tính độc lập nhưng có khả năng trực tiếp tiếp cận với tài sản

Ví dụ: Người bảo vệ được quyền tiếp cận với tài sản, người lái xe chở hàng không có người áp tải

- Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp

Tình huống: A là cán bộ vật tư của một hợp tác xã nông nghiệp, được hợp tác xã giao cho 100 triệu đồng đi mua vật tư nông nghiệp Khi nhận được tiền, A đã dựng hiện trường giả

bị mất trộm số tiền này Qua điều tra, A khai “Số tiền 100 triệu đồng đang chôn ở sau vườn nhà A” Hãy phân tích ví dụ trên trên cơ sở các dấu hiệu cấu thành tội tham ô tài sản

Câu 26: So sánh tội hiếp dâm (Điều 111) với tội cưỡng dâm (Điều 113).

Hiếp: Trực tiếp dùng vũ lực hoặc uy hiếp dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn làm cho người khác không thể chống cự được để thực hiện hành vi giao cấu ngoài ý muốn của người khác Như vậy trường hợp dí dao, giơ nắm đấm dọa, hoặc đánh thuốc mê đều quy tội hiếp Cưỡng: Dùng thủ đoạn khiến người khác (lệ thuộc mình) phải miễn cưỡng giao cấu Hiếp dâm nhấn mạnh đến tính chống cự và làm tê liệt khả năng chống cự của nạn nhân Còn cưỡng thì không có chống cự nhưng thực hiện 1 cách miễn cưỡng vì bị lệ thuộc vào người phạm tội

Câu 29: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội đua xe trái phép ( Điều 207)

- Khách thể của tội phạm: Tội xâm phạm vào các quy định của nhà nước về ATGT

đường bộ Hành vi đua xe trái phép còn xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác và an toàn trật tự ở nơi công cộng

- Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi đua xe trái phép Hành vi đua xe trái phép chỉ cấu thành tội phạm nếu thoả mãn 1 trong 3 điều kiện:

1 Gây hậu quả nghiêm trọng, tức là gây tai nạn làm chết người hoặc gây thiệt hại về tài sản do việc đua xe trái phép

2 Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đua xe trái phép

3 Hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa xoá án tích

+ Về phương tiện phạm tội là những phương tiện giao thông đường bộ có gắn động cơ Như vậy, hành vi đua xe đạp trái phép không cấu thành tội phạm này

- Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai từ đủ 14 hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên có NLTNHS

trực tiếp điều khiển phương tiện tham gia cuộc đua Chú ý: Nếu có người ngồi sau xe tham gia đua xe thì người ngồi sau bị xử lý về tội này với vai trò là đồng phạm

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi cố ý trực tiếp.

Câu 30: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức đánh bạc ( Điều 249)

Tội phạm xét về bản chất chính trị xã hội, bản chất pháp lý là hiện tượng được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi và tính trái pháp luật hình sự, xét về cấu trúc thì

được hợp thành từ bốn yếu tố: chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và khách thể “Sự thống

nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện nội dung chính trị xã hội của tội phạm.” Nếu về mặt nội dung chính trị xã hội, hành vi có mức độ nguy hiểm khác nhau thì về

mặt hình thức cấu trúc, bốn yếu tố hợp thành cũng có nội dung biểu hiện khác nhau Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Trong thực tế, hành vi phạm tội của một loại tội phạm cụ thể với các trường hợp khác nhau luôn có những điểm khác nhau ở bốn yếu tố cấu thành tội phạm Tuy vậy, trong tất cả các trường hợp đó, chúng đều có những nội dung biểu hiện giống nhau mang tính đặc trưng và quyết định đến tính nguy hiểm của loại tội phạm cụ thể này Bằng cách khái quát hóa các nội dung biểu hiện giống nhau của bốn yếu tố đối với mỗi loại tội phạm thành các dấu hiệu đặc trưng, nhà làm luật đã thực hiện việc mô tả tội phạm và ghi nhận sự mô tả đó trong cấu thành tội phạm về loại tội tương ứng Hay nói cách khác, cấu thành tội phạm là hình thức phản ánh tội phạm trong luật qua các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố có tính chất đặc trưng, thể hiện được đầy đủ nội dung chính trị - xã hội của tội phạm Dưới đây, tôi đi vào nghiên cứu những dấu hiệu đặc trưng này (dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức đánh bạc ở lần lượt từng yếu tố cấu thành

- Khách thể của tội tổ chức đánh bạc

Con người khi thực hiện bất kỳ một hoạt động nào cũng luôn hướng tới một hay nhiều khách thể nhất định Tuy vậy, khách thể đó luôn nằm bên ngoài và tồn tại độc lập với ý thức của chính chủ thể thực hiện hoạt động Hành vi phạm tội nhằm tới khách thể là các QHXH được luật hình sự bảo vệ, nhưng, khác với những hoạt động bình thường của con người, chủ

thể tội phạm thực hiện hành vi phạm tội “không phải để cải biến mà gây thiệt hại hoặc đe dọa

gây thiệt hại”(12) cho những quan hệ này Trong phạm vi đề tài, dưới đây chúng ta chỉ xem xét tới khách thể của tội phạm (dưới đây viết tắt là khách thể)

Trong bốn yếu tố cấu thành, những QHXH bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, hay khách thể giữ một vị trí đặc biệt, gần như mang tính quyết định đối với nội dung tính nguy hiểm khách quan của tội phạm Việc nghiên cứu chúng có ý nghĩa quan trọng trong

cả công tác lập pháp và áp dụng trên thực tế: giúp chúng ta nhận thức một cách đầy đủ các nhiệm vụ của luật hình sự cũng như bản chất chống đối xã hội của tội phạm, phục vụ quá trình xây dựng các qui phạm hình sự, hệ thống hóa chúng, đặc biệt đối với các quy phạm trong phần các tội phạm (dựa vào khách thể, nhà làm luật sắp xếp các tội phạm có tính chất nguy hiểm tương đồng vào cùng một chương) Về mặt thực tiễn áp dụng, việc xác định TNHS trong nhiều loại tội bắt buộc phải chỉ rõ được khách thể bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại

Ở vào các mức độ khái quát khác nhau của các QHXH bị tội phạm xâm hại, khoa học luật hình sự phân biệt ba loại khách thể: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Khách thể chung là tổng hợp các QHXH được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của

tội phạm, được nhà làm luật xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS 1999: “độc lập, chủ quyền,

thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa ” Mọi hành vi phạm tội đều xâm

phạm tới một quan hệ trong các quan hệ kể trên, và do đó đều xâm hại tới khách thể chung

Trang 8

“Khách thể loại của tội phạm là nhóm QHXH cùng tính chất được nhóm các qui phạm

pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm.”(12) Khách thể loại chính là dấu hiệu mà

từ nó nhà làm luật nhận biết được các loại tội có tính chất và mức độ nguy hiểm gần giống nhau,

từ đó xếp chúng vào những nhóm tội và đặt trong các chương khác nhau trong phần các tội

phạm Trong BLHS 1999, có hai nhóm tội được xếp theo yếu tố chủ thể (các tội về nghĩa vụ và

các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân), tuy vậy, nhìn ở góc độ sâu hơn, chúng

ta có thể thấy, thực chất nhà làm luật vẫn dựa trên yếu tố khách thể loại của tội phạm để phân

các tội này theo nhóm Xét trong nhóm tội phạm về chức vụ, các hành vi phạm tội ở đây đều có

chung khách thể loại là những QHXH xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy

tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và chỉ

đối với các chủ thể mang đặc điểm nhất định về chức vụ (có chức vụ hoặc hành vi liên quan tới

chủ thể này) mới có thể xâm phạm tới các QHXH này Ta cũng thấy được điều này khi xem xét

nhóm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Khách thể loại của tội tổ chức đánh bạc là an toàn công cộng và trật tự công cộng An

toàn công cộng và trật tự công cộng ở đây được hiểu là các quy tắc trong xử sự phải tuân theo

nhằm đảm bảo an toàn xã hội, các lợi ích chung của xã hội Cùng các hành vi được mô tả trong

các tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đua xe trái phép,

truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy,… hành vi tổ chức đánh bạc về hình thức trái với các qui định

của pháp luật hình sự, về mặt nội dung đã xâm phạm tới các quy tắc trên, qua đó gây thiệt hại

hoặc đe dọa gây thiệt hại tới an toàn và trật tự chung của xã hội

Để xâm hại tới khách thể loại và khách thể chung, hành vi phạm tội phải gây thiệt hại

hoặc đe dọa gây thiệt hại cho QHXH cụ thể được luật hình sự bảo vệ QHXH cụ thể bị loại tội

phạm cụ thể trực tiếp xâm hại được gọi là khách thể trực tiếp Với tội tổ chức đánh bạc, QHXH

cụ thể bị hành vi khách quan xâm phạm là trật tự xã hội

Phân tích cụ thể hơn, trật tự xã hội bao gồm hai bộ phận: các thiết chế cấu thành và quan

hệ giữa các thiết chế này (thứ bậc, sự tác động qua lại giữa các thiết chế) Trạng thái ổn định của

xã hội có được dựa trên sự ổn định của các thiết chế xét cả về mặt biểu hiện vật chất của nó và

cả việc phải đặt chúng trong sự ổn định của các mối quan hệ Tuy vậy, xét cho tới cùng, việc

đảm bảo không bị tổn hại vật chất của các thiết chế cũng nhằm tới giữ cho chúng có thể hoạt

động bình thường, đảm bảo thực hiện được những chức năng cần thiết, hay nói cách khác chính

là hướng đến sự ổn định các mối quan hệ, bộ phận thứ hai mà ta vừa nói đến

Tóm lại, trật tự xã hội theo cách hiểu chung nhất là trạng thái mà ở đó xã hội được đảm

bảo ổn định tình trạng bình thường của cả các thiết chế cơ bản của xã hội và những mối quan hệ

giữa chúng

Hành vi tổ chức đánh bạc xâm hại tới trật tự xã hội thông qua phương thức thứ ba

Hành vi tổ chức đánh bạc đã cản trở hoạt động bình thường này của chủ thể Ở đây, chủ

thể của tội phạm bằng hành vi của mình đã làm “biến dạng” xử sự của một chủ thể khác (chủ thể

bị tác động) Theo đó, chủ thể bị tác động đã không lựa chọn xử sự đúng đắn, đáp ứng yêu cầu

của xã hội đáng ra họ sẽ lựa chọn, mà lại lựa chọn một hình thức xử sự khác, đi ngược lại những

yêu cầu này Và khi đó, những qui tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung của xã hội

không còn được đảm bảo, trật tự xã hội bị xâm phạm

- Mặt khách quan của tội tổ chức đánh bạc

Con người chỉ có thể trực tiếp nhận biết tội phạm qua các biểu hiện bên ngoài của nó

trong thế giới khách quan như hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, các công cụ,

phương tiện thực hiện,… Các biểu hiện này nằm cấu thành nên một chỉnh thể chung, được gọi là

mặt khách quan của tội phạm Ở đây chúng ta chỉ đi vào nghiên cứu các yếu tố đặc trưng của

chình thể này xét đối với tội tổ chức đánh bạc

+ Các hình thức hành vi khách quan của tội tổ chức đánh bạc

Không thể kết tội một người vì các tư tưởng của họ, chỉ có thể xác định TNHS cho một cá

nhân dựa trên những hành vi mà họ đã thực hiện, đây chính là nội dung của nguyên tắc hành vi

trong pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng và trong hệ thống pháp luật các nước xã hội chủ

nghĩa nói chung Theo đó, nếu không có hành vi khách quan tồn tại, các yếu tố khác như hậu

quả, thủ đoạn, công cụ phạm tội, lỗi, động cơ,… hoặc không tồn tại, hoặc việc xem xét chúng sẽ

không có ý nghĩa gì trong pháp lý hình sự Do đó mà hành vi khách quan được phản ánh trong

tất cả các cấu thành tội phạm, là dấu hiệu bắt buộc đối với mọi cấu thành tội phạm

Hành vi khách quan của tội tổ chức đánh bạc là hành vi chủ mưu, rủ rê, lôi kéo, kích động

người khác tham gia đánh bạc (dùng tiền hay các lợi ích vật chất khác để giải quyết việc được

thua trong các trò chơi) Do đặc trưng đòi hỏi tính tích cực, và chủ động cao của chủ thể thực

hiện, nên không thể có trường hợp một người bị cưỡng bức thân thể thực hiện các biểu hiện trên

Nói chính xác hơn tất cả các biểu hiện chủ mưu, rủ rê, kích động, lôi kéo người khác tham gia

đánh bạc đều được ý thức và ý chí của chủ thể thực hiện kiểm soát và điều khiển mặt thực tế của

nó, và do đó đều là hành vi trong luật hình sự Dưới đây chúng ta sẽ đi vào xem xét ở mức độ cụ

thể và chi tiết hơn các dạng hành vi này

Chúng ta cũng cần phân biệt giữa hành vi rủ rê, lôi kéo và hành vi kích động tuy rằng các

hành vi này đều trực tiếp mô tả hành vi tổ chức đánh bạc Đối với rủ rê, lôi kéo người phạm tội

hoàn toàn là tác giả tinh thần của hành vi đánh bạc mà chủ thể bị tác động thực hiện Trước khi

bị rủ rê, lôi kéo chủ thể bị tác động không hề có ý định tham gia đánh bạc, người phạm tội là

người đưa ra ý định đó và sử dụng các phương cách, lý lẽ nhằm thuyết phục đối tượng tham gia

Đối với kích động, chủ thể bị tác động có thể có hoặc không có ý định tham gia, nghĩa là người

phạm tội có thể là tác giả tinh thần của hành vi đánh bạc hoặc cũng có thể chỉ đóng vai trò thúc

đẩy đối tượng quyết định tham gia vụ đánh bạc Tuy cùng tác động tới yếu tố tinh thần, song

trong hai hành vi chúng ta nói đến đầu tiên, người phạm tội đều nhằm tới lí trí của người muốn

tác động, bằng cách sử dụng các lý lẽ thuyết phục làm cho đối tượng tin rằng đó là xử sự hợp lý

Còn đối với hành vi kích động, yếu tố mà người phạm tội hướng tới nhằm đạt được mục đích là

cảm xúc của đối tượng bị tác động

Trong khoa học pháp lý hình sự, chúng ta còn bắt gặp khái niệm đồng phạm có tổ chức

hay phạm tội có tổ chức với tư cách là tình tiết tăng nặng TNHS hoặc tình tiết tăng nặng định

khung hình phạt Khái niệm này và dấu hiệu tổ chức trong tội tổ chức đánh bạc mà ta đang xem

xét là hoàn toàn khác biệt

Phạm tội có tổ chức hay đồng phạm có tổ chức là là trường hợp nhiều người cùng cố ý

thực hiện tội phạm mà giữa họ có sự cấu kết chặt chẽ (khoản 3 Điều 17 BLHS) Dấu hiệu này

được qui định là tình tiết tăng nặng TNHS tại điểm a khoản 1 Điều 48, và là tình tiết định khung

tăng nặng trong một số loại tội Dấu hiệu có tổ chức trong đồng phạm có tổ chức phản ánh

phương thức thực hiện hành vi phạm tội, nghĩa là “hành vi phạm tội có thể được thực hiện theo

phương thức này hoặc không phải phương thức này” Trong khi đó, dấu hiệu tổ chức trong cấu

thành cơ bản tội tổ chức đánh bạc là dấu hiệu phản ánh chính đặc điểm bắt buộc của hành vi

khách quan Ở đây, dấu hiệu tổ chức là dấu hiệu định tội trong cấu thành cơ bản Và cũng xuất

phát từ nguyên nhân này mà trong thực tế xảy ra không ít trường hợp tội tổ chức đánh bạc được

thực hiện bằng phương thức đồng phạm có tổ chức Như vậy, trong trường hợp này dấu hiệu có

tổ chức thể hiện ở cả đặc điểm bắt buộc của hành vi phạm tội và ở cả phương thức thực hiện của

hành vi phạm tội

+ Quy mô hành vi khách quan của tội tổ chức đánh bạc

Một hành vi bên cạnh việc nằm trong các biểu hiện mà ta vừa xem xét ở trên, còn đòi hỏi

phải thỏa mãn một trong hai điều kiện Điều 249 qui định mới có thể được coi là hành vi phạm

tội tổ chức đánh bạc Đó là “với quy mô lớn” (thứ nhất) và “đã bị xử phạt hành chính về hành vi

qui định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này,

chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” (thứ hai) Trong hai điều kiện này, chỉ có điều kiện thứ

nhất là thuộc về mặt khách quan, điều kiện thứ hai do thuộc về yếu tố chủ thể tội phạm

Để đánh giá một tội phạm có mức độ nguy hiểm như thế nào cho xã hội xét về mặt khách quan có thể dựa vào nhiều yếu tố như: quy mô của hành vi, thủ đoạn phạm tội, thời gian

và hoàn cản phạm tội, hậu quả của tội phạm Trong tội tổ chức đánh bạc, nhà làm luật sử dụng yếu tố quy mô của hành vi để phân biệt tội phạm với các VPPL khác

Trong cách qui định tội phạm của luật hình sự Việt Nam, quy mô của hành vi có thể được thể hiện bằng một định lượng cụ thể (trong một số tội phạm về sở hữu: dấu hiệu 500.000 đồng) hoặc được thể hiện một cách khái quát, mà ở đây tội tổ chức đánh bạc là một ví dụ Nhà làm luật sử dụng cụm từ “quy mô lớn”, mà không định hình ra một số lượng cụ thể trong Điều luật Điều này đòi hỏi cần phải có sự giải thích, hướng dẫn cụ thể trong các văn bản dưới luật Cách qui định này cũng có thể gọi là định lượng tương đối và gián tiếp (không phải định tính) Theo Nghị quyết số 02/03/2003/NQ-HĐTP ngày 17.04.2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của BLHS, tổ chức đánh bạc được coi là

“với quy mô lớn” khi:

* Tổ chức đánh bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên

* Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc, có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc, khi đánh bạc có sự phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vât bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại,…để trợ giúp cho việc đánh bạc

* Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trong cùng một lúc có giá trị từ mười triệu đồng trở lên

Ở đây chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc” Cũng theo Nghị quyết trên, khái niệm này được giải thích gồm:

* Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc

* Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc

* Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc

sẽ được dùng để đánh bạc

+ Biểu hiện thực tế về mặt khách quan của tội tổ chức đánh bạc

Các qui định vốn sinh ra từ thực tiễn, tuy có khả năng vượt trước, mang tính dự báo nhưng nhất thiết phải được thực tiễn kiểm chứng, phải quay trở lại phục vụ cho thực tiễn Nghiên cứu tội tổ chức đánh bạc do vậy mà cần phải được xem xét một cách toàn diện và đầy

đủ những vấn đề trong cả qui định của nhà làm luật và từ thực tiễn tội phạm đó trong cuộc sống Tội phạm này trên thực tế đã và đang diễn ra với các biểu hiện của mặt khách quan hết sức đa dạng:

Hình thức tổ chức đánh bạc:

Tổ chức đánh bạc bằng xóc đĩa: đây là hình thức tổ chức đánh bạc cổ điển tập trung ở một số con bạc lớn tuổi, đối tượng đánh bạc chuyên nghiệp

Tổ chức đánh bạc bằng hình thức chơi ba cây, tá lả, chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen,… Hình thức này hoạt động mang tính công khai, trắng trợn ở những địa bàn tập trung đông dân cư, những nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông, trong các cơ quan xí nghiệp, ở các vùng nông thôn

Tổ chức đánh bạc lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết (lô đề): loai hình thức này diễn ra trên diện rộng, số lượng tham gia đông đảo, hoạt động tinh vi xảo quyệt, có nhiều thủ đoạn để che giấu các cơ quan chức năng

Tổ chức đánh bạc dưới dạng cá độ bóng đá: là hình thức tổ chức cho các con bạc chuyển giao tiền, các tài sản có giá trị khác theo thỏa thuận dựa vào tỉ số bàn thắng, bàn thua, thẻ vàng, thẻ đỏ, cầu thủ ghi bàn đầu tiên, đội bị phạt 11m,…

Về thời gian địa điểm xảy ra các vụ tổ chức đánh bạc:

Thời gian diễn ra tội phạm này rất đa dạng, phần lớn dựa vào hình thức đánh bạc, đối tượng tham gia đánh bạc

Đối với đối tượng nhàn rỗi về thời gian, không có công ăn việc làm hoặc các đối tượng

có nhiều tiền do hành vi phạm tội khác như buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, tham nhũng công quỹ của nhà nước,… chúng có thể thức thâu đêm suốt sáng để đánh bạc, có thể ngồi chiếu bạc từ ngày này sang ngày khác Đối với đối tượng đánh bạc chuyên nghiệp thì thời gian không giới hạn, miễn là có thời cơ, gặp dịp hoặc có sự bố trí là chúng thực hiện ngay Một số đối tượng tổ chức đánh bạc phạm tội theo quy luật riêng vào những thời điểm nhất định, trong những dịp lễ tết, ma chay, cưới xin,… hoặc vào những thời điểm trước giờ quay mở thưởng giải xổ số kiến thiết

Các đối tượng đánh bạc dưới hình thức cá cược bóng đá thì hoạt động phổ biến khi có các giải bóng đá diễn ra, đặc biệt là các giải bóng đá của những quốc gia có nền bóng đá phát triển như ngoại hạng Anh, vô địch quốc gia Tây Ban Nha, cúp C1, giải bóng đá thế giới,…

Về địa điểm, cũng hết sức đa dạng, có thể tại nơi ở trọ, khách sạn, nhà nghỉ, công sở, các quán café, internet hoặc cũng có thể ở các khu vực công cộng, vui chơi giải trí,… Đối với các đối tượng chuyên nghiệp, chúng luôn thay đổi địa điểm, Đối tượng tổ chức ở các vị trí cố định thì thường có sự bảo vệ, canh gác rất chặt chẽ, xây tường cao, rào dây thép gai, nuôi chó dữ,… nhằm lẩn tránh lực lượng công an

Về thủ đoạn tổ chức:

Trong giai đoạn chuẩn bị, các đối tượng tìm và lựa chọn địa điểm đảm bảo vừa thuận lợi cho hoạt động phạm tội, vừa đảm bảo bí mật, kín đáo, tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng và quần chúng nhân dân Các đối tượng chuyên nghiệp thường sửa chữa nơi ở trở nên kiên cố, có tường bao, dây thép gai, cửa sắt, chó dữ bảo vệ Nhiều đối tượng còn làm các thủ tục kinh doanh ngành nghề hợp pháp để tạo vỏ bọc che giấu, nhưng thực chất bên trong là các sòng bạc chuyên nghiệp, hoạt động phục vụ các con bạc thâu đêm suốt sáng Bọn chúng còn chuẩn bị các phương tiện kĩ thuật hiện đại phục vụ cho việc đánh bạc như ô tô, camera, bộ đàm, máy fax, internet,…

- Chủ thể của tội tổ chức đánh bạc

Tội phạm theo Điều 8 BLHS Việt Nam là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi này phải do con người cụ thể thực hiện, người này có thể được gọi là chủ thể của tội phạm Không phải mọi con người cụ thể đó đều trở thành chủ thể của tội phạm, điều này chỉ có thể đúng khi

họ có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Người có đủ điều kiện để có lỗi, để có trở thành chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực TNHS và đạt được độ tuổi theo luật định

Năng lực TNHS là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi thực hiện và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội (khả năng kiềm chế được hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện và khả năng lựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho xã hội)

Theo đó, nguời thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc được xác định là có năng lực TNHS tại thời điểm thực hiện hành vi nếu ở thời điểm đó họ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho

xã hội (tính xâm phạm đến trật tự xã hội) của hành vi mà họ thực hiện, đồng thời, có khả năng điều khiển được hành vi đó theo hướng phù hợp với đòi hỏi của xã hội (không thực hiện hành

vi cờ bạc)

Những trường hợp không thỏa mãn các dấu hiệu nêu trên được xác định là người không

có năng lực TNHS Đây là những trường hợp mà người thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác mà người thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc không nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi, hoặc tuy họ nhận thức được điều này nhưng không

có khả năng điều khiển hành vi của bản thân theo hướng đáp ứng các đòi hỏi của xã hội Trong

Trang 9

các trường hợp này, người có các biểu hiện hình thức của hành vi tô chức đánh bạc không được

coi là chủ thể của tội phạm này

Bên cạnh điều kiện này, chủ thể tội tổ chức đánh bạc còn phải đáp ứng được điều kiện về

độ tuổi luật định

Điều 12 BLHS 1999 qui định:

“1.Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất

nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Điều 249 qui định hành vi phạm tội tổ chức đánh bạc theo hai khoản Tại khoản một,

hành vi này có thể bị xử phạt với mức cao nhất của khung hình phạt là năm năm tù Hành vi

theo mô tả của khoản này (cấu thành cơ bản) là tội phạm nghiêm trọng, do đó độ tuổi chịu

TNHS là từ 16 tuổi trở lên Tại khoản hai, mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng là muời năm

tù, hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc khoản này (cấu thành tăng nặng) là tội phạm rất nghiêm

trọng, tuổi chịu TNHS là từ 14 tuổi trở lên Như vậy, ở tội tổ chức đánh bạc, độ tuổi chịu TNHS

đã được nhà làm luật qui định khác biệt ở các khung khác nhau, thể hiện tính phân hóa TNHS

cao, là một điểm tiến bộ so với BLHS 1985

Một yếu tố thuộc về chủ thể cần nhắc tới là dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính về các hành

vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hay gá bạc, hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được

xóa án tích mà còn vi phạm Nó nằm trong hai dấu hiệu mà hành vi tổ chức đánh bạc buộc phải

thỏa mãn một trong hai mới có thể được coi là tội phạm Dấu hiệu quy mô hành vi thuộc về mặt

khách quan, đã được trình bày ở trên, đối với dấu hiệu “đã bị xử phạt…” thuộc về yếu tố chủ thể

của tội phạm nên được chúng ta xem xét trong phần này

Hành vi tổ chức đánh bạc được phân biệt là vi phạm hành chính và là tội phạm, xét trong

phạm vi chủ thể của tội phạm dựa trên hai căn cứ:

Thứ nhất là căn cứ vài yếu tố đã bị kết án về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá

bạc nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Theo qui định của BLHS, một người đã bị

kết án, sau khi đã chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, nếu đã qua

thời hạn theo qui định mà không phạm tội mới thì được xóa án tích, tức là coi như chưa bị kết

án

Như vậy, một người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích sẽ bị xử lý nghiêm khắc

hơn so với người chưa có tiền án nếu cùng thực hiện một hành vi như nhau Hành vi tổ chức

đánh bạc do người đã bị kết án về một trong các tội cờ bạc có tính nguy hiểm cao hơn hẳn so với

cùng hành vi đó nhưng người phạm tội không chưa có tiền án, hoặc có nhưng về các tội ngoài

cờ bạc Do vậy mà khi thỏa mãn dấu hiệu này, hành vi tổ chức đánh bạc được coi là tội phạm

với mức xử lý nghiêm khắc hơn

Thứ hai là căn cứ vào yếu tố “đã bị xử phạt hành chính” về hành vi đánh bạc, tổ chức

đánh bạc hoặc gá bạc Khi hành vi tổ chức đánh bạc thỏa mãn dấu hiệu này, thì mặc dù không

đạt đuợc tới một quy mô nhất định hành vi vẫn thể hiện được mức độ nguy hại cao cho xã hội,

và do đó được coi là tội phạm, bị xử lý theo pháp luật hình sự mà không được coi là vi phạm

hành chính, bị xử lý theo pháp luật hành chính

Tuy trong Điều luật không qui định cụ thể song chúng ta cần hiểu rằng chỉ được áp dụng

yếu tố này khi nó chưa bị xóa bỏ, nghĩa là vẫn còn trong thời hạn đang bị xử phạt hành chính

chính nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết hiệu lực

thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành

chính Cần chú ý ở đây, thời điểm dùng làm mốc tính thời hạn được tính là ngày thi hành xong

hoặc là ngày hết hiệu lực thi hành quyết định xử phạt, mà không phải là ngày ra quyết định đó;

và chấp hành xong quyết định được hiểu là đã chấp hành xong hình thức xử phạt chính và các

hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khác nếu có

Từ các nghiên cứu trên, chúng ta cần thiết phải nói đến thực trạng của tội phạm tổ chức

đánh bạc ở góc độ chủ thể trong thực tế

Về giới tính đối tượng tổ chức đánh bạc chủ yếu là nam giới Tuy nhiên trong những năm

gần đây tỷ lệ nữ phạm tội này đang có xu hướng gia tăng Các đối tượng này thường tổ chức

cầm đồ, cho vay nặng lãi, thậm chí cả các “dịch vụ kèm theo” cho các con bạc

Về độ tuổi, đối tượng tổ chức đánh bạc tập trung ở độ tuổi trưởng thành, song phần lớn là

ở độ tuổi thanh niên và trung niên

Về thành phần, đối tượng phạm tội tổ chức đánh bạc rất phức tạp, từ những đối tượng

không nghề nghiệp đến các đối tượng giữ các chức vụ cao trong các cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội Số đối tượng không nghề nghiệp hoặc làm lao động tự do chiếm tỉ lệ cao do những người

này không có công ăn việc làm ổn định, không bị ràng buộc về thời gian, muốn đổi đời qua vận

đỏ đen Một số trong đó từng có tiền án, tiền sự về các tội cờ bạc, đây thường là những đối

tượng chuyên nghiệp, có nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để hoạt động và che giấu tội phạm

Các thống kê thực tiễn này cho thấy, xét về yếu tố chủ thể, ngoài một số vấn đề cần giải

quyết ở trên, các qui định của nhà làm luật là phù hợp với yêu cầu của tình hình phòng chống,

đấu tranh với loại tội phạm tổ chức đánh bạc trên thực tế

- Mặt chủ quan tội tổ chức đánh bạc

Theo luật Hình sự Việt Nam, một nguời sẽ không phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm

cho xã hội do mình thực hiện trong trường hợp họ không có lỗi trong khi thực hiện hành vi đó

Nguyên tắc có lỗi trong pháp lý Hình sự Việt Nam loại bỏ việc “quy tội khách quan” Theo đó,

Tòa án không thể tuyên một người là có tội và buộc người này phải chịu TNHS chỉ dựa trên cơ

sở hành vi khách quan mà không xem xét đến vấn đề lỗi

Thừa nhận, tôn trọng và đảm bảo nguyên tắc này chính là đã thừa nhận, tôn trọng và đảm

bảo tự do thực sự cho con người trong xã hội, là cơ sở cho TNHS thực hiện được cả chức năng

giáo dục và trừng trị

“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết

quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và

thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.”

Xét về mặt hình thức, lỗi được hiểu là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy

hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình

thức cố ý hoặc vô ý

Trong tội tổ chức đánh bạc, chủ thể luôn có ý thức lựa chọn gây thiệt hại cho xã hội trong

khi có đủ điều kiện lựa chọn các xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Người phạm tội

luôn nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính trái pháp

luật, xâm phạm tới trật tự xã hội nhưng vẫn tìm cách thực hiện Mặt khác, hậu quả của hành vi

này là vụ đánh bạc được diễn ra trên thực tế, gây hại đến trật tự chung của xã hội Do đó, việc đã

nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi mà vẫn quyết định thực hiện cho thấy thái độ mong

muốn hậu quả xảy ra trên thực tế của người phạm tội

Bên cạnh dấu hiệu lỗi, mặt chủ quan tội phạm còn bao gồm dấu hiệu động cơ và mục đích

phạm tội

Động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý được gọi là

động cơ phạm tội Trong các vụ án tổ chức đánh bạc, điều thúc đẩy người phạm tội thực hiện

hành vi thường là các lợi ích vật chất có được thông qua việc tổ chức cho các con bạc sát phạt

nhau (trường hợp xuất phát từ nhu cầu thỏa mãn “máu cờ bạc”, tổ chức để bản thân được tham

gia không xét xử về tội tổ chức đánh bạc, vấn đề này được nói tới ở chương sau) Động cơ này

không có ý nghĩa quyết định đến tính chất nguy hiểm của tội phạm, do đó mà không được qui

định là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành loại tội này Tuy vậy, nó vẫn có thể làm thay đổi mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mang ý nghĩa đối với vấn đề quyết định hình phạt

Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà chủ thể đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Chủ thể trong tội phạm tổ chức đánh bạc khi thực hiện hành vi chủ mưu, rủ rê, lôi kéo hay kích động đều hướng vào kết quả xác lập hành vi đánh bạc của đối tượng được tác động trên thực tế

Như vậy, qua phân tích các dấu hiệu pháp lí tội tổ chức đánh bạc xét trong bốn yếu tố hợp thành của tội phạm, ta thấy được tổ chức đánh bạc là loại tội phạm xâm phạm trực tiếp tới trật tự xã hội, do người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định (từ 16 tuổi trở lên đối với hành vi được qui định tại khoản một, từ 14 tuổi trở lên đối với hành vi qui định tại khoản hai) thực hiện việc thông qua các hành vi rủ rê, kích động, lôi kéo hay chủ mưu với lỗi cố ý trực tiếp

Câu 31: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội đưa hối lộ (Điều 289) Câu 32: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu (Điều 153)

Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 BLHS

* Dấu hiệu pháp lý

1 Khách thể của tội phạm là sự xâm phạm chính sách quản lý nội thương và ngoại thương

2 Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Hành vi khách quan là hành vi buôn bán hàng hoá qua biên giới quốc gia trái phép + Địa điểm phạm tội qua biên giới quốc gia là dấu hiệu bắt buộc

+ Đối tượng tác động của tội phạm thuộc 3 nhóm sau:

- Hàng cấm phải có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về 1 trong các hành vi

từ Điều 153 đến Điều 161, hoặc đã bị kết án về 1 trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích

Chú ý: Hàng cấm là đối tượng tác động của Điều 153 trừ các mặt hàng cấm đã quy định thành các tội độc lập như ma tuý, vũ khí quân dụng vì các loại tài sản này đã được quy định thành các tội danh độc lập

- Vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hoá

- Hàng hoá khác phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên Nếu dưới 100 triệu đồng thì phải thoả mãn 1 trong 2 điều kiện:

+ Đã bị xử phạt hành chính về 1 trong những hành vi được quy định từ Điều 153 đến Điều 161

+ Đã bị kết án về một trong những tội này nhưng chưa được xoá án tích

3 Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có năng lực TNHS

4 Mặt chủ quan của tội phạm lỗi cố ý trực tiếp

Câu 33: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội môi giới mại dâm (Điều 255)

- Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm giống Điều 248

- Mặt khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hành vi khách quan là hành vi môi giới mại dâm Hành vi môi giới mãi dâm là hành vi làm trung gian tổ chức móc nối, dụ dỗ, dẫn dắt tìm người mua dâm, bán dâm, tạo điều kiện cho hai bên gặp nhau để thực hiện mua bán dâm

- Chú ý: Chỉ cấu thành tội môi giới mãi dâm nếu người mua bán dâm từ đủ 13 tuổi trở lên Nếu người mua bán dâm chưa đủ 13 tuổi thì người môi giới mãi dâm sẽ bị xử lý về tội hiếp dâm trẻ em với vai trò là đồng phạm

Câu 34: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231)

- Khách thể, chủ thể, lỗi của tội phạm giống tội đua xe trái phép

- Mặt khách quan của tội phạm: Được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

+ Đối tượng tác động của tội phạm là công trình phương tiện quan trọng về an ninh

quốc gia Như công trình giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc công trình điện, công trình dẫn chất đốt công trình thuỷ lợi

+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi phá huỷ công trình phương tiện quan

trọng về an ninh quốc gia Được biểu hiện như đập phá, gây nổ, gây cháy, lấy trộm tài sản đang nằm trong hệ thống công trình quan trọng về an ninh quốc gia

Ngày đăng: 28/05/2021, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w