1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề về LUẬT HÌNH sự và tố TỰNG HÌNH sự

43 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 266 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ PHẦN I. LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội, Nhà nước dùng nhiều biện pháp khác nhau vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ của các vi phạm pháp luật mà nhà nước lựa chọn sử dụng các chế tài thích hợp như: Dân sự, hành chính, kinh tế, hình sự... mà trong đó chế tài hình sự là nghiêm khắc nhất nhằm xử lý bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm nghiêm trọng các lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân. Như vậy, Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước ta, bao gồm hệ thống các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó xác định rõ những hành vi vi phạm nào là tội phạm, đồng thời, quy định hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể. Trong hệ thống pháp luật của nước ta chỉ có Bộ luật hình sự do Quốc hội ban hành mới quy định về tội phạm và về hình phạt. Ngoài Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thì không có cơ quan nào khác có quyền quy định về tội phạm và về hình phạt. Hệ thống các quy định của luật hình sự được chia làm hai phần: Phần chung: Bao gồm các quy định về nguyên tắc, nhiệm vụ của Luật hình sự, về những vấn đề chung về tội phạm và hình phạt. Phần các tội phạm: Bao gồm các quy định xác định các dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cụ thể, loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm đó. Phần chung và Phần các tội phạm của Luật hình sự có mối quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau tạo nên sự hoàn chỉnh của Luật hình sự. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi tội phạm được quy định ở Phần các tội phạm cần phải tuân thủ những quy định của Phần chung. Mặt khác, Phần chung muốn phát huy tác dụng khi áp dụng vào thực tiễn của công tác đấu tranh chống tội phạm phải dựa vào các quy định ở Phần các tội phạm. 2. Nhiệm vụ Nhiệm vụ chung của Luật hình sự là bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (sau đây viết tắt là XHCN). Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của Luật hình sự là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

PHẦN I LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

I KHÁI QUÁT VỀ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1 Khái niệm

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội, Nhà nước dùng nhiềubiện pháp khác nhau vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh, ngănchặn những hành vi vi phạm pháp luật Tùy theo tính chất, mức độ của các vi phạm phápluật mà nhà nước lựa chọn sử dụng các chế tài thích hợp như: Dân sự, hành chính, kinh tế,hình sự mà trong đó chế tài hình sự là nghiêm khắc nhất nhằm xử lý bất kỳ người nào

có hành vi xâm phạm nghiêm trọng các lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dân

Như vậy, Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước ta, bao gồm hệ thống các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành trong đó xác định rõ những hành vi vi phạm nào là tội phạm, đồng thời, quy định hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể.

Trong hệ thống pháp luật của nước ta chỉ có Bộ luật hình sự do Quốc hội ban hànhmới quy định về tội phạm và về hình phạt Ngoài Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nướccao nhất thì không có cơ quan nào khác có quyền quy định về tội phạm và về hình phạt

Hệ thống các quy định của luật hình sự được chia làm hai phần:

- Phần chung: Bao gồm các quy định về nguyên tắc, nhiệm vụ của Luật hình sự, vềnhững vấn đề chung về tội phạm và hình phạt

- Phần các tội phạm: Bao gồm các quy định xác định các dấu hiệu pháp lý của từngtội phạm cụ thể, loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm đó

Phần chung và Phần các tội phạm của Luật hình sự có mối quan hệ mật thiết hữu cơvới nhau tạo nên sự hoàn chỉnh của Luật hình sự Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớimỗi tội phạm được quy định ở Phần các tội phạm cần phải tuân thủ những quy định củaPhần chung Mặt khác, Phần chung muốn phát huy tác dụng khi áp dụng vào thực tiễn củacông tác đấu tranh chống tội phạm phải dựa vào các quy định ở Phần các tội phạm

2 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ chung của Luật hình sự là bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhândân lao động để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa (sau đây viết tắt là XHCN) Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của Luật hình

sự là "bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm".

Trang 2

Như vậy, nhiệm vụ đầu tiên của Luật hình sự trong giai đoạn hiện nay là bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bàocác dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Để bảo vệ các lợi ích này, Luật hình sự quy định

và mô tả hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quy định loại vàmức hình phạt cụ thể đối với từng tội phạm để dựa vào đó các cơ quan tiến hành tố tụnggiải quyết vụ án được chính xác, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Nhiệm vụ tiếp theo của Luật hình sự là giáo dục mọi người ý thức tuân theo phápluật, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được thể hiện ở chỗ các quy địnhcủa Luật hình sự giúp cho mọi người biết được hành vi nào là tội phạm để tự điều chỉnhhành vi của mình, tránh những hành vi bị cấm hoặc tự thực hiện hành vi mà pháp luật bắtbuộc phải làm Thực chất, nhiệm vụ giáo dục của Luật hình sự là nhiệm vụ phòng ngừatội phạm nói chung

Từ nhiệm vụ "bảo vệ" và nhiệm vụ "giáo dục" của Luật hình sự chúng ta thấy nổi lênnhiệm vụ chính của Luật hình sự là đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

3 Những nguyên tắc cơ bản

Các nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trìnhxây dựng và áp dụng các quy định của Luật hình sự vào đấu tranh phòng chống tội phạm.Những nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của pháp luậtXHCN Những nguyên tắc đó là:

- Nguyên tắc pháp chế XHCN là một nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ hoạt

động xây dựng cũng như áp dụng Luật hình sự

Đối với cơ quan lập pháp (Quốc hội), nguyên tắc pháp chế XHCN được thể hiện ởchỗ: Những hành vi bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt phải được Luật hình sự quyđịnh; việc sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ tội phạm nhất định phải được tiến hành một cáchkịp thời và hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật

Đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp, nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi việc

áp dụng Luật hình sự cũng như việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm

và của bản thân người phạm tội phải chính xác và thống nhất Nguyên tắc pháp chếXHCN cũng đòi hỏi việc xét xử phải đúng người, đúng tội, không một hành vi phạm tội

và người phạm tội nào tránh khỏi việc bị xử lý theo luật hình sự, không được xử oanngười vô tội Mọi sự tùy tiện trong điều tra, truy tố và xét xử đối với công dân đều bị coi

là vi phạm nghiêm trọng pháp chế XHCN

- Nguyên tắc dân chủ XHCN thể hiện ở chỗ, Luật hình sự bảo vệ, tôn trọng và kiên

quyết xử lý mọi hành vi xâm phạm đến các quyền tự do dân chủ của công dân Luật hình

sự không phân biệt đối xử vì địa vị xã hội hoặc tình trạng tài sản, mọi người phạm tội đềubình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thànhphần, địa vị xã hội, đồng thời, bảo đảm cho nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vàoviệc xây dựng và áp dụng luật hình sự, đấu tranh phòng và chống tội phạm

Trang 3

Mặt chuyên chính của nguyên tắc dân chủ XHCN thể hiện ở chỗ xử lý nghiêm cáchành vi phạm tội, nhất là các trường hợp cố ý phạm tội, gây thiệt hại lớn cho Nhà nước,cho xã hội và công dân cũng như chuyên chính với kẻ phạm tội là người chủ mưu, cầmđầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức

vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tínhchất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng

- Nguyên tắc nhân đạo XHCN luôn luôn được thể hiện rõ nét trong chính sách hình

sự của Nhà nước ta Việc áp dụng hình phạt đối với kẻ phạm tội chủ yếu là nhằm giáodục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội Hình phạt trong luật hình sự khôngnhằm gây đau đớn về thể xác và không hạ thấp phẩm giá của con người Luật hình sựkhoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập côngchuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra Nguyên tắcnhân đạo XHCN còn thể hiện ở chỗ trong Luật hình sự có nhiều loại hình phạt khôngtước tự do; hình phạt chung thân và tử hình chỉ được phép áp dụng trong những trườnghợp thật đặc biệt và phạm vi áp dụng cũng có giới hạn nhất định và không được phép ápdụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi condưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử Ngoài ra, Luật hình sự còn có các quyđịnh khác nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo tốt như các quy định về miễntrách nhiệm hình sự; miễn hoặc giảm hình phạt; án treo

- Nguyên tắc kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản là sự

thể hiện chính sách đối ngoại của Luật hình sự nước ta Luật hình sự trừng trị các hành viphá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; ghi nhận và bảo đảm thựchiện các cam kết quốc tế của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chung của loài người chốngcác hành vi gây chiến tranh, chống các tội ác diệt chủng, diệt môi sinh, môi trường cũngnhư các tội phạm mang tính quốc tế khác

Ngoài ra, còn có một số nguyên tắc khác có tính chất đặc thù riêng của Luật hình sự,như các nguyên tắc: Trách nhiệm cá nhân, có lỗi, cá thể hoá hình phạt

4 Một số vấn đề về chính sách hình sự

4.1 Cơ sở trách nhiệm hình sự

Điều 2 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luậthình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy, cơ sở của trách nhiệm

hình sự là việc một người đã thực hiện một tội được quy định trong Bộ luật hình sự Để

xác định xem có một tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự đã được thực hiện haykhông, hay nói cách khác, có cơ sở trách nhiệm hình sự hay không, trước hết, chúng tacần phải xem xét các yếu tố khách quan, chủ quan bắt buộc sau đây của tội phạm:

- Trên thực tế có xảy ra hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu thành

các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự hay không và hành vi đó có nguy hiểm cho xã hộihay không Đây là yếu tố bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm Nếu xác định

được không có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc hành vi đó không có dấu hiệu

Trang 4

của tội phạm hoặc thậm chí tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho

xã hội không đáng kể thì cũng không được thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự

- Người thực hiện hành vi đó có lỗi hay không Đây là yếu tố bắt buộc thuộc mặt

chủ quan của tội phạm Nếu xác định được người thực hiện hành vi không có lỗi (cố ýhoặc vô ý) thì dù hành vi có nguy hiểm cho xã hội đến mức nào người thực hiện hành vi

đó cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Người thực hiện hành vi gây hậuquả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trướchoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó

- Người thực hiện hành vi đó đã đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa hoặc người đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không Đây là các yếu tố bắt buộc thuộc

chủ thể của tội phạm Nếu xác định được người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu tráchnhiệm hình sự hoặc không có năng lực trách nhiệm hình sự, thì dù hành vi có nguy hiểmcho xã hội đến mức nào người thực hiện hành vi đó cũng không phải chịu trách nhiệmhình sự Ví dụ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội chưa đủ 14 tuổihoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lựctrách nhiệm hình sự, tức là trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làmmất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Ngoài ra, còn có những yếu tố khách quan, chủ quan khác không bắt buộc của tộiphạm cũng cần được xác định như: hậu quả của hành vi; mục đích, động cơ thực hiệnhành vi; những đặc điểm về nhân thân của người thực hiện hành vi Chỉ khi xác định đượcchính xác, đầy đủ các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm thì mới có thể quyết địnhđược đúng đắn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

4.2 Nguyên tắc xử lý hình sự

Nguyên tắc xử lý hình sự được quy định rõ tại Điều 3 Bộ luật hình sự 1999, theo đó,mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minhtheo đúng pháp luật; mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệtnam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội

Khi xử lý về hình sự phải kết hợp hài hòa giữa giáo dục với trừng trị Nghiêm trị đốivới người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạmnguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảoquyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng, đồng thờikhoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập côngchuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra

Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hìnhphạt nhẹ hơn hình phạt tù và giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáodục

Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam nhưngphải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội và nếu họ có nhiều tiến bộ thìxét để giảm việc chấp hành hình phạt Còn khi người bị phạt tù đã chấp hành xong hình

Trang 5

phạt thì cần tạo điều kiện cho họ làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng

và khi có đủ điều kiện do luật định thì họ được xóa án tích

4.3 Miễn trách nhiệm hình sự; miễn, giảm hình phạt

- Theo quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 thì bị cáo có thể được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự, nếu có một trong những căn cứ sau đây:

+ Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành

vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

+ Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc,góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mứcthấp nhất hậu quả của tội phạm;

+ Khi có quyết định đại xá của Quốc hội

- Theo quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự thì người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

+ Khi người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn chưa chấp hànhhình phạt mà lại lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguyhiểm cho xã hội nữa

+ Khi có quyết định đặc xá của Chủ tịch nước hoặc quyết định đại xá của Quốc hội + Khi người bị kết án đang được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theoquy định của Bộ luật hình sự mà trong thời gian được hoãn hoặc tạm đình chỉ đã lập công.+ Khi người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế đã chấp hành được một phần hai thờihạn hình phạt và cải tạo tốt

Một hình thức miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là án treo.

- Các điều kiện để xét giảm hình phạt được quy định rõ tại các điều 58 và 59 Bộ

luật hình sự Cụ thể:

+ Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù phải có đủ 03 điềukiện sau đây mới được xét giảm hình phạt:

* Đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định;

* Có nhiều tiến bộ, thể hiện trên các mặt như thành thật hối cải; tích cực lao động,học tập chứng tỏ sự quyết tâm cải tạo;

* Có đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách

nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục (đối với người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ) hoặc cơ quan thi hành án phạt tù (đối với người chấp hành hình phạt tù).

+ Đối với người bị kết án phạt tiền phải có đủ điều kiện sau đây mới được xét giảmhình phạt:

* Đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt;

Trang 6

* Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tainạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lạihoặc lập công lớn;

* Có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

- Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạnđối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mườihai năm đối với tù chung thân Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảođảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên Người bị kết án tù chung thân,lần đầu được giảm xuống ba mươi năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảmthời hạn thực tế chấp hành hình phạt là hai mươi năm

Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mới nghiêm trọng,rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khingười đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc hai mươi năm nếu là

tù chung thân

Đối với người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đãquá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Toà án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơnhoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định chung

4.4 Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Do người chưa thành niên có những đặc điểm phát triển tâm - sinh lý khác biệt sovới người đã thành niên như: Chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như tâm sinh lý,trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế cho nên Luật hình sự cóchính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội khác hẳn so với người đã thànhniên phạm tội

Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họsửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Trongmọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chấtnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.Nếu người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hạikhông lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giámsát, giáo dục thì có thể miễn trách nhiệm hình sự cho họ

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hìnhphạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chấtcủa hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừatội phạm

Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưathành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng biện pháp tư pháp đối với họ Trong trường hợpcần phải xử phạt tù có thời hạn thì Toà án cho người chưa thành niên phạm tội đượchưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.Tuyệt đối, Tòa án không được xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa

Trang 7

thành niên phạm tội, không được áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thànhniên phạm tội cũng như không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niênphạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 69 BLHS).

Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiềutiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Toà án xét giảm theo quyđịnh của pháp luật; nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và

có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại Trường hợp người chưa thành niên bịphạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoảhoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởngViện Kiểm sát, Toà án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạtcòn lại (Điều 76 BLHS)

Người chưa thành niên phạm tội được xoá án tích khi có đủ 1/2 thời hạn do luật địnhđối với người đã thành niên Điều đáng lưu ý là, nếu người chưa thành niên phạm tộikhông bị áp dụng hình phạt mà được áp dụng biện pháp tư pháp thì không bị coi là có ántích Ngoài ra, án mà Tòa án có thẩm quyền đã tuyên đối với người chưa thành niên phạmtội khi chưa đủ 16 tuổi thì không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguyhiểm

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỘI PHẠM

1 Khái quát về tội phạm

1.1 Khái niệm tội phạm

Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định rõ khái niệm tội phạm, theo đó tội phạm đượchiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người cónăng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổchức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợiích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xãhội chủ nghĩa

Như vậy, nói một cách khái quát thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cólỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Pháp luật hình sự không trừng trị tưtưởng của con người và những biểu hiện của nó ra bên ngoài mà không thông qua hành

vi Tuy nhiên, hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó đồng thời thỏa mãn 4 yếu tố: Nguyhiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt

- Trước hết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tức là gây ra hoặc đe dọa gây

ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ như: an ninh quốcgia; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; quyền tự do dân chủ củacông dân; sở hữu; trật tự quản lý kinh tế; trật tự an toàn xã hội; trật tự quản lý hànhchính

- Tội phạm là hành vi có lỗi, tức là hành vi đó phải là kết quả của sự tự lựa chọn và

quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định một xử sự khác

Trang 8

phù hợp với đòi hỏi của xã hội Luật hình sự của ta không phải trừng trị một hành vi phạmtội mà chính là trừng trị người đã thực hiện hành vi phạm tội đó nhằm cải tạo, giáo dục họ

mà mục đích này chỉ có thể đạt được khi người đó có lỗi Đối với người không có lỗi thìhình phạt không thể phát huy tác dụng giáo dục, cải tạo được

- Tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự, tức là hành vi đó phải được quy định

trong Bộ luật hình sự dưới dạng một tội danh cụ thể Ví dụ: Tội giết người, tội buôn lậu,tội gây ô nhiễm nguồn nước, tội hủy hoại rừng, tội gây rối trật tự công cộng

- Tội phạm là hành vi phải chịu hình phạt, tức là bất cứ người phạm tội nào cũng đều

có thể phải chịu hình phạt được quy định ngay trong từng điều khoản cụ thể đối với từng

hành vi phạm tội cụ thể

1.2 Phân loại tội phạm

Phân loại tội phạm là phân chia các tội phạm ra từng nhóm (từng loại) dựa trênnhững căn cứ nhất định giúp cho cơ quan có thẩm quyền đề ra chính sách hình sự mộtcách phù hợp đối với từng loại tội phạm cũng như đối với từng tội phạm cụ thể và giúpcho Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng những biện pháp cần thiết để truy

tố, xét xử đúng người, đúng tội

Trước hết, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì tội phạm được chia thành 04 loại:

- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức

cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;

- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất

của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù;

- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao

nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chungthân hoặc tử hình

Ngoài ra, việc phân loại còn có thể dựa vào những căn cứ khác tuỳ thuộc vào yêu

cầu cần nghiên cứu Ví dụ: Căn cứ vào hình thức lỗi thì tội phạm được chia thành 02

loại: Tội phạm được thực hiện do cố ý và tội phạm được thực hiện do vô ý; căn cứ vào

mức độ thực hiện hành vi phạm tội thì tội phạm được chia thành 03 loại: Tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị, tội phạm chưa đạt và tội phạm đã hoàn thành; căn cứ vào sự tham gia trong hoạt động phạm tội thì tội phạm được chia thành 02: Tội phạm được thực hiện đơn

lẻ và tội phạm được thực hiện nhiều người (đồng phạm đơn giản, phạm tội có tổ chức);

căn cứ vào khách thể bị xâm hại thì tội phạm được chia thành 14 loại theo 14 chương

"Phần các tội phạm" của Bộ luật hình sự;

2 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Luật hình sự quy định tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi có nănglực trách nhiệm hình sự đầy đủ Như vậy, người chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Trang 9

khi thực hiện hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự thì luôn được coi là không cólỗi.

Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự thì:

- Tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi (14 tuổi tròn) trở lên.Điều đó có nghĩa là những người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự vềbất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào của họ Những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưngchưa đủ 16 tuổi tuy có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng chưa đầy đủ (hạn chế), họ chỉphải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng Như vậy, những người này không phải chịu trách nhiệm hình sự về tộiphạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng nhưng do

vô ý

- Tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ là từ đủ 16 tuổi (tức 16 tuổi tròn) trởlên Điều đó có nghĩa là, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm

3 Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Thông thường một hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì đượccoi là tội phạm và người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy vậy,trong thực tế có không ít trường hợp hành vi của một người về mặt hình thức có các yếu

tố cấu thành tội phạm nhưng lại có những lý do nhất định làm mất tính chất nguy hiểmcho xã hội của hành vi và do đó trách nhiệm hình sự bị loại trừ Bộ luật hình sự quy định

02 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự Đó là: Phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tìnhthế cấp thiết (Điều 16)

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ

chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lạimột cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Ví dụ: hành vicủa một người chống trả lại tên cướp có vũ khí để bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản chohành khách trên xe ô tô; hành vi đánh bị thương kẻ đang thực hiện hành vi giết ngườihoặc hành vi của nạn nhân chống trả gây thương tích cho kẻ đang thực hiện hành vi hiếpdâm

Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe

doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của ngườikhác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngănngừa Ví dụ: Khi tàu gặp bão lớn, Thuyền trưởng quyết định vứt bỏ hết hàng hoá trên tàu

để bảo đảm an toàn cho tính mạng của những người trên tàu hoặc khi hoả hoạn xảy ra,những người cứu hoả đã phá bỏ nhà bên cạnh để ngăn không cho đám cháy lây lan Phòng vệ chính đáng và hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải làtội phạm, do vậy, người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng và gây thiệt hại trong tìnhthế cấp thiết không phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, nếu người đó vượt quá giớihạn phòng vệ chính đáng (tức là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phùhợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại) hoặc gây ra thiệt

Trang 10

hại rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

về hành vi vượt quá đó

4 Các giai đoạn thực hiện tội phạm

Để xác định chính xác mức độ thực hiện ý định phạm tội làm cơ sở cho việc xácđịnh phạm vi, mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt, Bộ luật hình sự đã phân chia quátrình thực hiện tội phạm cố ý thành ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai đoạnphạm tội chưa đạt và giai đoạn phạm tội đã hoàn thành

4.1 Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu trong quá trình thực hiện tội phạm cố ý.

Hành vi chuẩn bị phạm tội phần lớn được thực hiện bằng hành động tích cực như: Chuẩn

bị kế hoạch, phương án phạm tội; nghiên cứu, xem xét địa điểm, thời gian thực hiện tộiphạm; tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiệnkhác để thực hiện tội phạm, nhưng cũng có trường hợp được thực hiện bằng không hànhđộng

Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự thì chỉ người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội

định thực hiện Như vậy, người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng và tộinghiêm trọng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện

4.2 Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến

cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Trong giai đoạn phạm tộichưa đạt, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được đếncùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội như: Do bị chống trả quyếtliệt; do công cụ, phương tiện phạm tội không phù hợp; do có những trở ngại khách quanngăn cản hậu quả xảy ra

Có hai dạng phạm tội chưa đạt:

- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp chưa đạt về hậu quả và chưa

hoàn thành về hành vi vì người phạm tội không có điều kiện để thực hiện được đầy đủ cáchành vi phạm tội

- Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp chưa đạt về hậu quả nhưng đã

hoàn thành hành vi Người phạm tội đã thực hiện tội phạm đến cùng nhưng không đạtđược mục đích mong muốn Thông thường thì trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoànthành nguy hiểm hơn trường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, do vậy, cần phảiđược xử phạt nặng hơn

Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật hình sự thì người phạm tội chưa đạt phải chịutrách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt

Trong trường hợp tội phạm không được thực hiện đến cùng nhưng không phải donguyên nhân khách quan mà do ý chí của người phạm tội tự mình không thực hiện tộiphạm đến cùng mặc dù không có gì ngăn cản thì đó không phải là phạm tội chưa đạt mà

là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Trang 11

được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủyếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

4.3 Phạm tội đã hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm Cần phân biệt việc phạm tội đã hoàn thành với việc phạm tội đã kết thúc Khi nói đến việc phạm tội đã hoàn thành là nói đến khía cạnh

pháp lý của việc thực hiện tội phạm, tức là khi hành vi được thực hiện đã thỏa mãn đầy đủ

các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Còn khi nói đến việc phạm tội đã kết thúc là muốn

nói đến thời điểm hành vi phạm tội thực tế được chấm dứt hẳn

Thời điểm hoàn thành của các loại tội phạm là khác nhau Đối với các tội phạm cócấu thành vật chất thì thời điểm hoàn thành là khi hậu quả nguy hiểm cho xã hội được mô

tả trong điều luật quy định về tội đó xảy ra; đối với các tội phạm có cấu thành hình thứcthì thời điểm hoàn thành là khi người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan được mô

tả trong điều luật quy định về tội đó

5 Vấn đề đồng phạm

- Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.Như vậy, để khẳng định xem có đồng phạm hay không đòi hỏi phải xác định rõ các dấuhiệu sau đây:

+ Có hai người trở lên tham gia thực hiện tội phạm và những người này phải có đủ

các điều kiện của chủ thể tội phạm (như: Độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự)

+ Những người này phải cùng cố ý thực hiện tội phạm Trong đồng phạm, mỗi

người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố

ý của những người đồng phạm khác Nếu chỉ có sự cố ý của mỗi người mà chưa có sựcùng cố ý của người khác thì chưa thể có đồng phạm được Đối với những tội mà mụcđích là dấu hiệu bắt buộc thì những người đồng phạm còn phải cùng mục đích

+ Những người này phải cùng thực hiện một tội phạm, tức là mỗi người đều phải có

hành vi tham gia thực hiện tội phạm với vai trò tổ chức, xúi giục, giúp sức hoặc trực tiếpthực hiện hành vi phạm tội Nếu không có một trong những loại hành vi này thì không thểcoi là cùng thực hiện tội phạm và do vậy cũng không thể là người đồng phạm được

Một hình thức cao của đồng phạm là phạm tội có tổ chức, tức là hình thức đồngphạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm

- Những người cùng tham gia thực hiện tội phạm gọi là những người đồng phạm Có

4 loại người đồng phạm:

+ Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm

+ Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm

+ Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.+ Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thựchiện tội phạm

III MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÌNH PHẠT

Trang 12

1 Khái niệm, mục đích

1.1 Khái niệm

Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật hình sự thì hình phạt là biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của ngườiphạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định

Trước hết, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước Tính

nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ nó có thể tước bỏ hoặc hạn chế những quyền vàlợi ích thiết thân của người phạm tội như: Quyền tự do, quyền chính trị, quyền sở hữu,thậm chí là cả quyền sống Ngoài ra, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết ánhậu quả pháp lý là án tích trong một thời gian nhất định do luật định

Hình phạt được Bộ luật hình sự quy định cả ở phần chung lẫn phần các tội phạm.

Phần chung quy định về khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt, các nguyên tắc quyếtđịnh hình phạt và miễn, giảm hình phạt Phần các tội phạm quy định các loại hình phạt vàmức hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể

Hình phạt phải do Tòa án quyết định nhân danh Nhà nước Hình phạt được Tòa án

tuyên đối với người phạm tội thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với họ và hành vi phạmtội do họ gây ra

Theo quy định của Bộ luật hình sự nước ta thì hình phạt chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội, tức là thể nhân Luật hình sự nước ta hiện nay chưa quy định trách

nhiệm hình sự đối với pháp nhân với tư cách là một tổ chức, do vậy, cũng chưa có quyđịnh việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân

1.2 Mục đích

Mục đích của hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạtđược khi quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối vớingười phạm tội Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự thì hình phạt không chỉ nhằmtrừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thứctuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tộimới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm Như vậy, mục đích của hình phạt thể hiện trước hết ở chỗ hình phạttác động trực tiếp đến người phạm tội, không chỉ trừng trị mà còn nhằm cải tạo, giáo dục,

ngăn ngừa họ phạm tội mới Đây chính là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt.

Trong phòng ngừa riêng, giữa trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họphạm tội mới có quan hệ tương tác qua lại với nhau rất chặt chẽ Không thể nói đến cảitạo, giáo dục được người phạm tội nếu như hình phạt trừng trị họ không tương xứng vớitội phạm đã gây ra (quá nặng hoặc quá nhẹ) Trừng trị công minh là yếu tố tiên quyếtquan trọng để bảo đảm mục đích cải tạo, giáo dục

Mục đích phòng ngừa chung của hình phạt thể hiện ở chỗ hình phạt còn nhằm giáo

dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Việc ápdụng hình phạt đối với người phạm tội trong từng trường hợp cụ thể bao giờ cũng tácđộng đến những người khác Tuỳ thuộc vào từng vụ án hình sự cụ thể, ý thức pháp luật,

Trang 13

sự chú ý riêng cũng như đặc điểm tâm lý của mỗi người mà mức độ tác động của hìnhphạt đối với họ cũng khác nhau Hình phạt răn đe mọi người tránh xa việc phạm tội Đểđạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiềubiện pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, pháp lý, văn hoá, giáo dục trong đó,tuyên truyền giáo dục pháp luật nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho công dân có ýnghĩa hết sức to lớn.

Phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt không thể tách rời nhau của hìnhphạt, chúng ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong mục đích chung của hình phạt

2 Hệ thống hình phạt

2.1 Hệ thống hình phạt chung

Điều 28 Bộ luật hình sự quy định 07 hình phạt chính và 07 hình phạt bổ sung, theo

đó, đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị

áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung Cụ thể như sau:

- Hình phạt chính bao gồm:

+ Cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt chính thể hiện sự khiển

trách công khai của Nhà nước đối với người bị kết án Cảnh cáo được áp dụng đối vớingười phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễnhình phạt

+ Phạt tiền là hình phạt mang tính kinh tế thể hiện ở việc tước của người bị kết án

một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước Phạt tiền được áp dụng là hình phạtchính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tựcông cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật hình sự quyđịnh

Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tộiphạm được thực hiện, đồng thời, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biếnđộng giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng

+ Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly

khỏi xã hội mà họ được giao cho cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nhằm phát huy vaitrò của quần chúng nhân dân tham gia vào việc giáo dục, cải tạo người phạm tội Cải tạo

không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm

trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định mà đang có nơi làm việc

ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly ngườiphạm tội khỏi xã hội

Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo khônggiam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước Trongtrường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý

do trong bản án Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạmgiam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngàytạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ Tòa án giao người bị phạt cải tạo

Trang 14

không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phươngnơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệmphối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dụcngười đó.

+ Trục xuất là hình phạt buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ

nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại

giam (tức là cách ly khỏi xã hội) trong một thời hạn nhất định

Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa

là hai mươi năm Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt

tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù

+ Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm

tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình Không áp dụng tùchung thân đối với người chưa thành niên phạm tội

+ Tử hình là hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt chỉ áp

dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối vớiphụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét

xử Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 thángtuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân Trường hợpngười bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân

- Hình phạt bổ sung bao gồm:

+ Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được

áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làmcông việc đó, thì có thể gây nguy hại cho xã hội

Thời hạn cấm là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tùhoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cảitạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo

+ Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở

một số địa phương nhất định

Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hìnhphạt tù

+ Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù về các tội xâm phạm an ninh quốc gia,

người tái phạm nguy hiểm hoặc người bị kết án phạt tù về tội phạm khác trong nhữngtrường hợp do Bộ luật hình sự quy định phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địaphương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phươngtrong thời hạn từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù

Trang 15

Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tướcmột số quyền công dân theo Điều 39 của Bộ luật hình sự và bị cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định.

+ Tước một số quyền công dân là hình phạt bổ sung được áp dụng đối với công

dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm kháctrong những trường hợp do Bộ luật hình sự quy định

Các quyền công dân mà người phạm tội có thể bị Tòa án tước là: Quyền ứng cử,quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; quyền làm việc trong các cơ quannhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân

Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấphành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợpngười bị kết án được hưởng án treo

+ Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị

kết án sung quỹ nhà nước

Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rấtnghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp do Bộ luật hình sự quyđịnh Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiệnsinh sống

+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm

các tội về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định

+ Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

2.2 Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo quy định tại Điều 71 Bộ luật hình sự thì người chưa thành niên phạm tội chỉ bị

áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:

- Cảnh cáo được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18

tuổi phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễnhình phạt

- Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội

từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng

Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá một phần hai mứctiền phạt mà điều luật quy định

- Cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi

đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật hình sựquy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấykhông cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên phạm tội không quámột phần hai thời hạn mà điều luật quy định Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giamgiữ đối với người chưa thành niên phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó

Trang 16

- Tù có thời hạn được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy

định sau đây:

+ Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được ápdụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được ápdụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được

áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

+ Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được ápdụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được ápdụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được

áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định

3 Vấn đề quyết định hình phạt

3.1 Căn cứ quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn một hình phạt cụ thể do Bộ luật hình

sự quy định để áp dụng đối với người phạm tội

Điều 45 Bộ luật hình sự quy định, khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quyđịnh của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình

sự Như vậy, có thể thấy có 04 căn cứ mà Tòa án phải dựa vào đó để quyết định hình phạt

đối với người phạm tội:

- Quy định của Bộ luật hình sự, tức là các quy định có tính nguyên tắc về tội phạm

và hình phạt trong Phần chung của Bộ luật hình sự và các điều khoản quy định hình phạtđối với tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tức là những đặc

tính về chất và về lượng của mỗi tội phạm cụ thể cho phép phân biệt tội phạm ở nhóm nàyvới tội phạm ở nhóm khác cũng như phân biệt mức độ nguy hiểm cho xã hội giữa tộiphạm này với tội phạm khác trong cùng một nhóm hoặc đối với cùng một tội danh nhưngtrong những trường hợp phạm tội khác nhau Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạm tội thể hiện ở tính chất và tầm quan trọng của khách thể bị xâm hại;hành vi đã thực hiện; hình thức thực hiện tội phạm; giai đoạn thực hiện tội phạm; thủđoạn, hoàn cảnh, địa điểm, thời gian phạm tội; hậu quả do tội phạm gây ra; hình thức,mức độ lỗi; động cơ, mục đích phạm tội,

- Nhân thân người phạm tội, tức là tổng hợp những đặc điểm nói lên tính chất của

một con người Những đặc điểm đó có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội và khảnăng cải tạo, giáo dục người phạm tội Xét đến nhân thân người phạm tội là xét đếnnhững mối quan hệ giữa người ấy với xã hội, tập thể, gia đình và với người khác cũngnhư những đặc điểm của bản thân người đó Đặc điểm nhân thân người phạm tội có rấtnhiều loại, như:

+ Những đặc điểm mang tính chất pháp lý (tức là đặc điểm có ảnh hưởng trực tiếpđến tội phạm) được Bộ luật hình sự quy định là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình

Trang 17

phạt như: Phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người chưathành niên, có thái độ tự thú, hối cải, lập công chuộc tội hay ngoan cố ;

+ Những đặc điểm có quan hệ đến ý thức chính trị, ý thức lao động, trình độ nhậnthức, hiểu biết của người phạm tội như: Thành phần, trình độ văn hoá, nghề nghiệp ;+ Những đặc điểm có quan hệ đến các đối tượng của các chính sách lớn của Đảng vàNhà nước như: Người phạm tội thuộc dân tộc ít người, thuộc gia đình liệt sỹ, là nhân sĩ,trí thức có tên tuổi, là người làm nghề tôn giáo ;

+ Những đặc điểm phản ánh hoàn cảnh thực tế của người phạm tội như: Bị lâm bệnhhiểm nghèo, là người già yếu, là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn của bản thân hay của gia đình

- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm có:

+ Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

+ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

+ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật củangười bị hại hoặc người khác gây ra;

+ Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

+ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

+ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

+ Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

+ Phạm tội do lạc hậu;

+ Người phạm tội là phụ nữ có thai;

+ Người phạm tội là người già;

+ Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năngđiều khiển hành vi của mình;

+ Người phạm tội tự thú;

+ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

+ Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tộiphạm;

+ Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

+ Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tậphoặc công tác

Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự thì khi quyết định hình phạt, Toà án cầnlưu ý là các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặcđịnh khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ một lần nữa, đồng thời ngoài các tình

Trang 18

tiết nêu trên, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi

rõ trong bản án

- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bao gồm:

+ Phạm tội có tổ chức;

+ Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

+ Phạm tội có tính chất côn đồ;

+ Phạm tội vì động cơ đê hèn;

+ Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

+ Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

+ Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng khôngthể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặccác mặt khác;

+ Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

+ Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặcnhững khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả nănggây nguy hại cho nhiều người;

+ Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

+ Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự thì chỉ những tình tiết liệt kê ở trên mớiđược coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Những tình tiết đã là yếu tố định tộihoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng một lần nữa khi quyếtđịnh hình phạt

3.2 Quyết định hình phạt trong một số trường hợp

Các Điều từ 50 đến 53 của Bộ luật hình sự quy định việc quyết định hình phạt trongcác trường hợp: phạm nhiều tội; tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; chuẩn bị phạm tội,phạm tội chưa đạt và đồng phạm

- Trường hợp phạm nhiều tội: Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội,

Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định sauđây:

+ Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thờihạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung khôngđược vượt quá ba năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối vớihình phạt tù có thời hạn;

Trang 19

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạtcải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạokhông giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung;+ Trong số các hình phạt đã tuyên, nếu hình phạt nặng nhất là tù chung thân thì hìnhphạt chung là tù chung thân; nếu hình phạt nặng nhất là tử hình thì hình phạt chung là tửhình;

+ Nếu các hình phạt bổ sung đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyếtđịnh trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; nếu các hình phạt

bổ sung đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đãtuyên

+ Hình phạt trục xuất và phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; cáckhoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

- Trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Trong trường hợp một người

đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội phạm khác thì Tòa án quyếtđịnh hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy tắcsau:

+ Nếu tội phạm đang bị xét xử được thực hiện trước khi có bản án mà người đó đangchấp hành, thì Tòa án tổng hợp hình phạt đối với tội đang bị xét xử với toàn bộ hình phạtcủa bản án đang chấp hành rồi quyết định hình phạt chung Thời gian đã chấp hành hìnhphạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung

+ Nếu tội phạm đang bị xét xử được thực hiện sau khi có bản án mà người đó đangchấp hành (phạm tội mới), thì Tòa án tổng hợp hình phạt đối với tội mới với phần hìnhphạt chưa chấp hành của bản án đang chấp hành rồi quyết định hình phạt chung

- Trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt: Đối với hành vi chuẩn bị phạm

tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luậthình sự về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạmkhông thực hiện được đến cùng theo quy tắc sau:

+ Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định

hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng

là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá mộtphần hai mức phạt tù mà điều luật quy định

+ Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định

hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt nàytrong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt khôngquá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định

- Trường hợp đồng phạm: Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm,

Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của

Trang 20

từng người đồng phạm Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình

sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó

4 Vấn đề án treo, xoá án tích

4.1 Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Theo quy định

tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân củangười phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hìnhphạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến nămnăm

Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổchức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đểgiám sát và giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổchức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó Người được hưởng

án treo có thể phải chịu một số hình phạt bổ sung như: Phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của Bộ luật hình sự

Nếu người bị kết án đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiềutiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án

có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách Trường hợp, người được hưởng án treophạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hìnhphạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộluật hình sự

4.2 Xoá án tích là một chế định mang tính nhân đạo của luật hình sự thể hiện ở chỗ

khi người bị kết án được xoá án tích thì họ được coi như chưa bị kết án (không có tiền án)

và nếu sau khi được xoá án tích người đó lại phạm tội mới thì cũng coi như phạm tội lầnđầu mà không được căn cứ vào án tích mà họ đã được xoá để xác định là tái phạm hoặctái phạm nguy hiểm

- Theo quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự thì trong những trường hợp sau đây,

người bị kết án đương nhiên được xoá án tích:

+ Người được miễn hình phạt

+ Người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treonhưng không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chốngloài người và tội phạm chiến tranh mà không phạm tội mới trong thời hạn một năm, kể từkhi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án

+ Người bị phạt tù đến ba năm nhưng không phải về các tội xâm phạm an ninh quốcgia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh mà không phạmtội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệuthi hành bản án

+ Người bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm nhưng không phải về các tộixâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm

Trang 21

chiến tranh mà không phạm tội mới trong thời hạn năm năm, kể từ khi chấp hành xongbản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

+ Người bị phạt tù trên mười lăm năm nhưng không phải về các tội xâm phạm anninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh màkhông phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khihết thời hiệu thi hành bản án

- Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự thì việc xoá án tích cho người bị kết án

về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tộiphạm chiến tranh phải do Tòa án quyết định căn cứ vào tính chất của tội phạm đã đượcthực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết ántheo quy tắc sau đây:

+ Người bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từkhi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án

+ Người bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trongthời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bảnán;

+ Người bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mườinăm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án

Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xinxóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa ántích

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công,được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đóthường trú đề nghị, thì có thể được Toà án xoá án tích nếu người đó đã bảo đảm được ítnhất một phần ba thời hạn quy định

- Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự thì thời hạn để xoá án tích được tính căn

cứ vào hình phạt chính đã tuyên Nếu chưa được xoá án tích mà phạm tội mới, thì thờihạn để xoá án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới

Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hìnhphạt bổ sung (kể cả trường hợp người bị kết án được miễn chấp hành phần hình phạt cònlại) và các quyết định khác của bản án

PHẦN II LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

I KHÁI QUÁT VỀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1 Khái niệm Luật tố tụng hình sự

Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, bao gồm

tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm giải quyết đúng đắn vụ

Ngày đăng: 04/10/2014, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w