Công trình này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc nắm vững nền tảng lý luận kịch cổ điển Ấn Độ, từ đó xem xét kịch Tagore dưới góc độ tiếp thu những yếu tố truyền thống của kịch cổ đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐẶNG THỊ UYÊN
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT KỊCH RABINDRANATH TAGORE
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số : 60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, người thực hiện còn may mắn nhận được sự chỉ dẫn, góp ý, động viên nhiệt tình, quý báu của các Thầy Cô, Gia đình, Bạn bè Nhân dịp luận văn hoàn thành, tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
- TS Nguyễn Thị Bích Thúy, người luôn nhắc nhở và động viên tinh thần tôi Thật sự, tôi rất biết ơn cô đã tận tình chỉ bảo, lắng nghe, và luôn ở bên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
- PGS Lưu Đức Trung, người đã gợi mở cho tôi nhiều vấn đề mới mẻ trong quá trình dịch thuật phần phụ lục; thầy Phan Nhật Chiêu, người thầy tâm huyết với nghề và luôn giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm tư liệu cho luận văn
- TS Hà Thanh Vân, Anh Lưu Hồng Sơn đã đọc và sửa giúp cho luận văn hoàn chỉnh hơn
- Đặc biệt là Gia đình – Nơi vẫn luôn dõi theo từng bước chân của tôi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20/11/2011
Người thực hiện luận văn
Đặng Thị Uyên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Kịch và thi pháp kịch Ấn Độ 10
1.1.1 Khái lược chung về kịch 10
1.1.2 Thi pháp kịch Ấn Độ 11
1.2 Kịch gia Rabindranath Tagore và thành tựu ở thể loại kịch 20
1.2.1 Bối cảnh xã hội Ấn Độ từ thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX 20
1.2.2 Một số vở kịch tiêu biểu của R Tagore 23
Chương 2: ĐỀ TÀI VÀ XUNG ĐỘT TRONG KỊCH CỦA R TAGORE 29
2.1 Đề tài trong kịch của R Tagore 29
2.1.1 Đề tài lịch sử, thần thoại, truyền thuyết 30
2.1.2 Đề tài tôn giáo 35
2.1.3 Đề tài chiến tranh 39
2.1.4 Đề tài tình yêu cuộc sống 41
2.2 Xung đột trong kịch của R Tagore 42
2.2.1 Kiểu xung đột trong kịch cổ điển 43
2.2.2 Các kiểu xung đột trong kịch của R Tagore 46
2.2.2.1 Xung đột giữa bổn phận tôn giáo với thiên đường tình yêu 46
2.2.2.2 Xung đột giữa lý tưởng cao cả với tham vọng quyền lực 56
2.2.2.3 Xung đột từ bi kịch gia đình 61
Chương 3:NHÂN VẬT VÀ NGÔN NGỮ TRONG KỊCH CỦA R TAGORE 67 3.1 Nhân vật trong kịch của R Tagore 67
3.1.1 Nhân vật tu sĩ 69
3.1.2 Nhân vật đức vua 77
3.1.3 Nhân vật phụ nữ 82
3.1.3.1 Nhân vật phụ nữ thuộc đẳng cấp thấp 84
3.1.3.2 Nhân vật phụ nữ thuộc đẳng cấp cao 87
3.1.4 Nhân vật trẻ em 92
3.2 Ngôn ngữ trong kịch của R Tagore 96
3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 98
3.2.1.1 Chất trữ tình, sâu lắng 99
Trang 43.2.1.2 Chất triết lý, chiêm nghiệm 102
3.2.1.3 Chất hành động 105
3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 109
3.2.2.1 Độc thoại nội tâm nhân vật 110
3.2.2.2 Chất truyền cảm 113
3.2.3 Lời chú thích nghệ thuật 115
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 128
THƯỢNG ĐẾ CỦA LÒNG TÔI 129
DÒNG THÁC 135
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong tiến trình lịch sử nhân loại, Ấn Độ được xem là một trong những cái nôi văn minh, văn học phong phú, vĩ đại và lâu đời của loài người, ẩn chứa nhiều điều huyền bí, diệu kì Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, văn minh, văn học
Ấn Độ ngày càng có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong khu vực và trên thế giới
1.2 R Tagore lớn lên lúc phong trào giải phóng dân tộc bước vào cao trào
và văn học Bengal ở vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất Nếu văn học Bengal đại diện cho sự tiến bộ của văn học Ấn Độ thì Rabindranath Tagore là gương mặt điển hình cho sự tiến bộ ấy Cuộc đời sáng tác của R Tagore gắn liền với vận mệnh Bengal và đất nước Ấn Độ, với lý tưởng giải phóng con người và Tổ quốc Văn hóa truyền thống và sự ảnh hưởng của các trào lưu văn học phương Tây đã tạo nên thiên tài R Tagore – ngôi sao sáng của Ấn Độ Phục hưng
R Tagore không chỉ là nhà thơ thiên tài với giải Nobel cho tập Thơ Dâng,
“kì công thứ hai sau Shakuntala” mà còn là một thiên tài nghệ thuật tổng hợp: thơ,
văn, kịch, triết học, âm nhạc, hội họa Ở lĩnh vực nào, ông cũng đạt được thành tựu cao
1.3 Gia tài kịch của R Tagore gồm 42 vở Nhiều vở kịch trong số đó được đánh giá cao bởi đã đem đến cho sân khấu Ấn Độ một diện mạo mới Điều này
không chỉ vì “kịch của Tagore có sức sống mãnh liệt, thu hút nhiều người xem” mà
còn góp phần cách tân kịch cổ điển Ấn Độ - thành tựu của văn học Veda cổ
Đề tài, chủ đề tư tưởng của kịch R Tagore hướng đến một xã hội Ấn Độ tiến
bộ Ở đó, con người đấu tranh không mệt mỏi cho quyền con người, cho một cuộc sống bình đẳng và hướng thiện Kịch R Tagore là sự kết hợp giữa chất trữ tình với chất hiện thực để làm nên một diện mạo mới trong văn phong R Tagore
Thực hiện đề tài luận văn Đặc điểm nghệ thuật kịch Tagore, chúng tôi
mong muốn góp một cái nhìn toàn diện hơn về thiên tài R Tagore ở thể loại kịch
Trang 62 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam cho đến thời điểm này, việc nghiên cứu kịch Tagore không nhiều, phần lớn là những đánh giá, nhận xét ngắn gọn trong một số bài viết, bài nghiên cứu, trong lời dẫn của các tựa sách viết về Tagore Chưa có công trình
nghiên cứu chuyên sâu và cụ thể về đặc trưng nghệ thuật kịch của Tagore
Trong quá trình tìm hiểu và tiếp cận đề tài, chúng tôi đã thống kê và tổng hợp những ý kiến từ các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu sân khấu kịch Ấn
Độ nói chung và kịch Tagore nói riêng
2.1 Ở Việt Nam
Tuyển tập R Tagore (thơ, truyện ngắn, kịch) (kỉ niệm 100 năm ngày sinh
của R Tagore) do Cao Huy Đỉnh, La Côn tuyển chọn và giới thiệu (1961) Trong
tuyển tập này, Cao Huy Đỉnh đã chọn dịch hai vở kịch là Thầy tu khổ hạnh và Lễ
máu Trong phần giới thiệu, tác giả phân tích một số nét đặc sắc trong kịch Tagore
và khẳng định: “Công lao vĩ đại của Tagore là phát huy được truyền thống nhân
đạo chủ nghĩa, truyền thống yêu nước và truyền thống thơ ca, kịch Ấn Độ” Công
trình của Cao Huy Đỉnh mở ra hướng tìm hiểu về xung đột, sự cách tân về đề tài và ngôn ngữ kịch Tagore
Phan Nhật Chiêu trong Câu chuyện văn chương phương Đông (1998) đã
nhận xét: “Giống như sân khấu phương Đông nói chung, kịch Ấn Độ luôn kết thúc
trong hòa dịu, bình yên nếu không phải là hạnh phúc” Tác giả còn đề cập đến cách
xây dựng nhân vật kịch: “Nhân vật được điển hình hóa hơn là cá tính hóa: người
thiếu nữ đang yêu, nhà vua, nữ hoàng” Tác giả đã chỉ ra đặc trưng lý luận của kịch
truyền thống Ấn Độ, giúp người viết đi sâu vào tìm hiểu cách xây dựng nhân vật và cách hóa giải xung đột trong kịch Tagore
Trong lời giới thiệu Tuyển tập các tác phẩm của R Tagore (tập 1) (2004),
Lưu Đức Trung đã nhấn mạnh đến đóng góp nhiều mặt của thiên tài Tagore, trong
đó có thể loại kịch: “Kịch của Tagore có sức sống mãnh liệt, thu hút nhiều người
xem” Tác giả còn chỉ ra rằng: “thành công đó là do Tagore biết kết hợp chặt chẽ truyền thống kịch dân gian với kịch hiện đại, biết kế thừa và cách tân trong nghệ
Trang 7thuật, kết hợp kịch phương Tây và Ấn Độ một cách sáng tạo” Trong khuôn khổ lời
giới thiệu ngắn gọn, Lưu Đức Trung đã gợi mở hướng nghiên cứu nghệ thuật kịch Tagore ở phương diện cách tân nghệ thuật
Công trình Thi pháp học cổ điển Ấn Độ (2006) của Phan Thu Hiền đã mang
lại cái nhìn toàn vẹn đối với thi pháp học cổ điển nói chung và thi pháp kịch cổ điển
Ấn Độ nói riêng Tác giả đặt lý luận kịch cổ điển Ấn Độ trong hệ thống thi pháp học cổ điển Ấn Độ Người viết đã chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa kịch cổ
điển Ấn Độ và bi kịch Hy Lạp qua việc so sánh Natyasastra (Lý luận sân khấu) của Bharata và Poetics (Thi pháp học) của Aristote trong chương II – “Những nguyên lý
cơ bản của thi pháp học cổ điển Ấn Độ” Công trình này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc nắm vững nền tảng lý luận kịch cổ điển Ấn Độ, từ đó xem xét kịch Tagore dưới góc độ tiếp thu những yếu tố truyền thống của kịch cổ điển, kết hợp với kĩ thuật viết kịch của phương Tây
Rabindranath Tagore với thời kì phục hưng Ấn Độ của tác giả Nguyễn
Văn Hạnh (2007) đã giới thiệu sơ lược các vở kịch của Tagore Tác giả còn đề cập
đến các yếu tố nghệ thuật kịch Tagore: “Các vở kịch của Tagore thường tập trung
khai thác những xung đột trong thế giới nội tâm nhân vật Ngôn ngữ kịch có sự hòa trộn, đan xen giữa văn xuôi và thơ” Trong phần kết luận, tác giả nhấn mạnh:
“R Tagore trong tư cách một nhà viết kịch, dù dưới dạng chính kịch hay kịch thơ, thế giới nội tâm nhân vật với những biến thái tế vi luôn là nơi thể hiện tập trung xung đột kịch” Ý kiến trên đã chỉ ra hướng nghiên cứu kịch R Tagore về phương
diện nghệ thuật là xung đột, ngôn ngữ
Phạm Vĩnh Cư với bài viết trên website viettimes.com.vn đăng ngày
27/11/2007 có nhan đề: Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam thế kỉ XX
(phần 1) Người viết đã đánh giá cao tài năng Tagore trong trong cuộc gặp gỡ hiếm
có giữa nghệ thuật kịch Đông – Tây:
Trong những kịch bản đầu tiên xuất hiện trong nửa sau thế kỉ XIX bắt chước
có ý thức nhưng chưa nhuần nhuyễn bi kịch cổ điển châu Âu, con đường đã dẫn đến những tác phẩm xứng đáng được gọi là những bi kịch phương Đông
Trang 8của một tác gia thiên tài và có ý thức thi tài với các tác gia phương Tây - Rabindranath Tagore
Tác giả còn nhấn mạnh đến những cách tân trong kịch Tagore nhờ sự tương tác, giao lưu văn hóa Đông và Tây tạo nên những giá trị trực tiếp làm giàu cho cả nền văn hóa phương Đông lẫn phương Tây:
Cái đích chung và cảm hứng chung trong những nỗ lực cách tân của các nhà viết kịch phương Đông, đặc biệt là Rabindrnath Tagore trong giai đoạn này là học tập nghệ thuật kịch, đặc biệt nghệ thuật bi kịch của phương Tây
để khám phá cuộc sống, lịch sử, tâm hồn dân tộc mình, sáng tạo nên những giá trị thẩm mĩ mới cấp cao, có thể sánh ngang với những giá trị được tôn vinh ở phương Tây
Qua bài viết, tác giả đã chỉ ra những đổi mới trong kịch Tagore khi tiếp thu
kĩ thuật viết kịch của phương Tây trên nền tảng truyền thống
Bài viết Những yếu tố triết lí truyền thống Ấn Độ trong kịch Tagore (Tạp chí Văn hóa Nghệ An ra ngày 19 tháng 11 năm 2009) của Nguyễn Xuân Hòa
đã đưa ra ý kiến: “Nét nổi bật trong kịch Tagore là sự khai thác theo hướng tích cực
những yếu tố tinh thần truyền thống Ấn Độ để khám phá chiều sâu của tình cảm con người, cái đẹp của cuộc sống ở triết lí cổ đại Ấn Độ, tôn giáo, kinh Veda, nghi lễ dân gian, lịch sử văn hóa, v.v ” Tác giả cho thấy sở trường viết kịch của Tagore
luôn gắn với triết lí truyền thống đặc thù của người Ấn Bài viết đã phân tích một cách sơ lược những yếu tố truyền thống trong kịch R Tagore, gợi mở hướng nghiên cứu về xung đột, ngôn ngữ kịch Tagore
2.2 Ở nước ngoài
2.2.1 R Tagore trên quê hương Ấn Độ
Rabindranath Tagore có một vị trí rất đặc biệt đối với người Ấn, được xưng tôn là “Gurudeva"”- Thánh sư Ông còn là một trong ba người có tầm ảnh hưởng lớn đối với đất nước Ấn Độ, ngoài Mahatma Gandhi, và Jawaharlal Neruh
Việc tìm tòi, tập hợp các nghiên cứu về các vở kịch của Tagore ngay chính trên quê hương của ông là điều khó khăn đối với người viết trong quá trình thực
Trang 9hiện luận văn Trong sự nỗi lực, chúng tôi đã tìm được một số tài liệu trong quá trình nghiên cứu
Trong bài viết Tagore với chúng tôi (phụ trương Văn học của Thời báo
Anh ngày 27/9/1974), Nira Chanhdhuri một mặt lên tiếng phê bình điểm yếu trong
tâm trí người dân Ấn: “đầu óc họ lệ thuộc vào sự thừa nhận của nước ngoài”, mặt khác ca ngợi tư tưởng độc lập tích cực của Tagore: “Tagore không thể phục vụ cho
một chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi nổi lên ở Ấn Độ vào khoảng năm 1913 vì ông là người tự do và có đầu óc quốc tế rộng rãi hiểu theo nghĩa cao cả nhất của nó”
Nhận xét của N Chanhdhuri đã chứng tỏ cách tiếp nhận luồng tư tưởng mới của R
Tagore và thái độ của ông trước thời cuộc rối ren: “Tinh thần yêu nước của ông là
tích cực, không có chút gần gũi với thứ tình cảm tiêu cực mà chủ nghĩa dân tộc Ấn
Độ đang tìm đến” Tình yêu đối với Tổ quốc mình được Tagore gửi gắm vào các tác
phẩm văn học nghệ thuật trong đó có các vở kịch như Thầy tu khổ hạnh, Lễ máu,
Dòng thác, Cây trúc đào… Kịch Tagore như một hồi chuông thức tỉnh Ấn Độ chìm
trong giấc ngủ dài bấy lâu nay, không thoát ra được vỏ bọc của mình
Tác phẩm Phát hiện Ấn Độ (tập 3), Nxb Văn học, một công trình thể hiện
sự lớn lao về tư tưởng và tầm nhìn của cố thủ tướng Ấn Độ J Nehru, đã nhắc đến
R Tagore như một nhà tư tưởng lớn biết dung hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện
đại: “Rabindranath Tagore đứng trên cái tuyến của sự kế tục vĩ đại, mang nặng tâm
trạng và những yêu cầu thúc ép của thời hiện đại nhưng bắt rễ trong quá khứ của
Ấn Độ và trong bản thân mình, ông đã tạo ra một sự tổng hợp cái cũ và cái mới”
Chính điều này tạo nên nét rất riêng trong các vở kịch của Tagore, vừa giữ nguyên được thần thái vẹn nguyên của người Ấn, vừa mang hơi hướng hiện đại cởi mở của phương Tây
J Nehru đã đánh giá Tagore như một linh hồn của văn học Ấn Độ: “Đối với
phần lớn những người sinh ra ở xứ Bengal chúng tôi, tên tuổi Tagore đồng nghĩa với những thành tựu của nền văn học Bengal” Điều đặc biệt là những thanh niên
Ấn Độ đương thời đều chịu ảnh hưởng ít nhiều nhân cách kiệt xuất của R Tagore,
người đã đạt đến sự hiền minh đáng ngưỡng mộ: “Thế giới tinh thần của ông rất Ấn
Trang 10Độ, ông lại bao quát được tinh thần nhân loại nói chung Tagore vừa rất dân tộc, lại vừa rất chung của toàn thế giới”
Đối với người dân Ấn Độ, Tagore được tôn thờ và ngưỡng vọng Vượt ra khỏi biên giới Ấn Độ rộng lớn, tên tuổi của Tagore còn được bạn bè năm châu biết đến và ngợi ca như một bậc thánh minh triết đầy tài năng và đức độ
2.2.2 Ở các nước khác
Nhà văn Nga Ilia Erenbua trong bài viết Cảm tưởng Ấn Độ đã nhận xét
R Tagore là một người toàn tài trong lĩnh vực nghệ thuật: “Trong văn học, không
một thể loại nào ông không có mặt Ông không chỉ là nhà thơ mà còn là nhà viết kịch, nhà văn chuyên viết truyện ngắn, nhà tiểu thuyết, người viết tùy bút và người dịch” Tác giả còn khẳng định lập trường sáng tác: “Tagore là người tiên tiến, ông căm ghét sự mê tín tôn giáo, sự phân chia giai cấp trong xã hội, sự mù quáng và thái độ cuồng tín của những giai cấp có độc quyền” Nhận xét này của I Erenbua
cũng chính là điều mà Tagore gửi gắm qua các vở kịch Lễ máu, Nhà vua và Hoàng
hậu, Chita,…
Trong công trình nghiên cứu Tư tưởng Ấn Độ theo dòng lịch sử, nhà khoa
học Đức Albert Schweitzer đã tìm hiểu tư tưởng Ấn Độ từ cổ đại đến hiện đại
R Tagore được coi là một đại biểu của Ấn Độ hiện đại Tác giả viết: “Theo Tagore,
không có hình thức nhận thức bi quan nào là chính đáng Ông coi chủ nghĩa bi quan là điệu bộ giả tạo của khối óc và con tim” Ta dễ dàng nhận ra điều này khi
đọc các vở kịch của Tagore, mọi bi quan sẽ được hóa giải theo cách nào đó
A Schweitzer đánh giá cao sự dung hòa về mặt tư tưởng của Tagore: “Trong sự hòa
hợp về tư tưởng có thể ví như một dàn nhạc giao hưởng tuyệt vời của mình, tư tưởng của Tagore hòa hợp và uyển chuyển khéo léo, mang đậm bản sắc Ấn Độ Nhưng chủ đề của nó nhắc chúng ta nhớ đến những chủ đề tương tự trong tư tưởng châu Âu” Chính tư tưởng “hòa hợp và uyển chuyển” này đã góp phần xây dựng nên
thế giới quan nghệ thuật của Tagore Sự nhìn nhận, đánh giá về tư tưởng của
R Tagore thực sự có ích cho việc lý giải các tác phẩm kịch Tagore ở phương diện chủ đề, đề tài kịch
Trang 11Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về kịch Tagore không nhiều nhưng đều khẳng định thành công nghệ thuật kịch Tagore và những đóng góp của ông đối với sân khấu kịch Ấn Độ Hiện nay, việc tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật kịch Tagore là vấn đề mà các nhà nghiên cứu đang quan tâm
3 Đối tượng nghiên cứu:
Kịch Tagore là sự kết hợp hài hòa giữa kịch cổ điển Ấn Độ và kịch hiện đại Tagore đã kế thừa và phát huy những yếu tố truyền thống trong kịch dân gian Ấn
Độ và thể hiện sự cách tân sân khấu khi kết hợp với nghệ thuật kịch phương Tây hiện đại
Dựa trên nền tảng lý luận kịch cổ điển Ấn Độ và kịch hiện đại phương Tây, luận văn đi vào nghiên cứu các đặc điểm nghệ thuật nổi bật của kịch Tagore để thấy được những đặc trưng trong kịch truyền thống Ấn Độ nói riêng và kịch hiện đại Ấn
Độ nói chung thể hiện trong các vở kịch của ông
4 Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi khảo sát 8 vở kịch được dịch ra tiếng
Việt (in trong Tuyển tập tác phẩm R.Tagore, tập 1) Đó là: Thầy tu khổ hạnh, Nhà
bưu điện, Lễ máu, Karna và Kunti, Malini, Chita, Xuân tuần hoàn, Nhà vua và Hoàng hậu và vở kịch Dòng thác (The Waterfall) nguyên bản tiếng Anh (được in
trong tuyển tập Collected poems and plays of R.Tagore, 1955) Macmillan & Co;
LTD, London) đã được chúng tôi chuyển sang tiếng Việt và in riêng thành phụ lục
Những vở kịch trên được khảo sát ở dạng kịch bản, không phải là một vở diễn trên sân khấu Chúng tôi tìm hiểu bốn vấn đề nổi bật của nghệ thuật kịch
R Tagore là đề tài kịch, xung đột kịch, nhân vật và ngôn ngữ kịch Việc khảo sát những đặc trưng tiêu biểu của nghệ thuật kịch Tagore gắn với việc so sánh kịch cổ
điển Ấn Độ Shakuntala của Kalidasa và kịch hiện đại Nga của A Sekhov, cùng
một số thể loại trong sáng tác của Tagore
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, người viết sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích loại hình: Dựa vào đặc trưng của thể loại kịch, đặc trưng
của kịch truyền thống Ấn Độ nói riêng và kịch hiện đại nói chung
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Dựa vào bối cảnh thời đại, truyền thống văn hóa,
nghệ thuật thời đại R Tagore nói riêng và đất nước Ấn Độ nói chung
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Áp dụng cho toàn luận văn Người viết đi vào
phân tích các vở kịch tiêu biểu của R Tagore về các phương diện đề tài, xung đột, nhân vật, ngôn ngữ nhằm khái quát nên các đặc điểm nghệ thuật kịch R Tagore
- Phương pháp so sánh: Dùng để đối sánh giữa kịch R Tagore và kịch cổ điển Ấn
Độ, kịch của A Sekhov và các thể loại trong sáng tác của Tagore (thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn) để thấy được sự kế thừa những yếu tố truyền thống và tiếp thu những đổi mới từ kịch phương Tây của Tagore
- Phương pháp tiểu sử: Áp dụng cho việc tìm hiểu tiểu sử kịch tác gia gắn liền với
Chương 2: Đề tài và xung đột trong kịch của R Tagore
Hai vấn đề trong kịch R Tagore là đề tài và xung đột kịch
Các đề tài được Tagore sử dụng là: kịch có đề tài lịch sử, thần thoại, truyền thuyết; đề tài về tôn giáo; đề tài viết về chiến tranh; và đề tài tình yêu cuộc sống Xung đột kịch được xem là cốt lõi của một vở kịch Kịch R.Tagore thể hiện nhiều loại xung đột, tiêu biểu là xung đột giữa tình yêu nhân tính và bổn phận tôn
Trang 13giáo, xung đột giữa lý tưởng cao cả và tham vọng quyền lực, xung đột từ bi kịch gia đình
Chương 3: Nhân vật và ngôn ngữ trong kịch của R Tagore
Khảo sát và phân loại hệ thống các nhân vật trong kịch R.Tagore: nhân vật tu
sĩ, nhân vật nhà vua, nhân vật phụ nữ, và nhân vật trẻ em
Ngôn ngữ kịch Tagore là ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại đậm chất sân khấu dân gian Ấn Độ giàu chất trữ tình – triết lý
Trang 14Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Kịch và thi pháp kịch Ấn Độ
1.1.1 Khái lược chung về kịch
Hegel và Bielinsky quan niệm: “Kịch là sự thống nhất giữa nghệ thuật tự sự
và nghệ thuật trữ tình” [59, tr.118]
O G Brockett quan niệm: Kịch là một trong những nghệ thuật “phù du nhất,
khách quan nhất, phức tạp, phức hợp nhất” Tính phù du của kịch chính là:
“kịch đơn thuần là một sáng tạo sân khấu chỉ tồn tại khi nó được biểu diễn trong
nhà hát” Như vậy, theo Brockett, những mảnh đời thực được tái hiện lại trên
sân khấu được khán giả trải nghiệm trong chốc lát và lập tức nó trở thành quá khứ Vì thế, kịch là một trong những loại hình nghệ thuật có tác động mạnh nhất đến người xem
Còn E Miner quan niệm: kịch mong manh, hiếm hoi và mang bản chất lạ hóa (estrangement), hóa trang (make up) và gắn kết, căng thẳng (engagement) Như vậy, kịch là loại hình nghệ thuật tổng hòa nhiều yếu tố, giữa văn học và nghệ thuật, giữa kịch bản và sân khấu Nó không chỉ mang những đặc trưng của văn học mà còn mang những đặc trưng của nghệ thuật sân khấu
Bản chất của kịch, như các loại hình nghệ thuật khác, chính là sự sáng tạo, là một hình thức khám phá cuộc sống của nhà văn Qua con mắt của nhà viết kịch, toàn bộ cuộc đời, con người được phơi bày lên trang viết Chính vì lẽ đó, để khám phá ra nguồn mạch tư tưởng của nhà viết kịch, chúng ta phải đi sâu thâm nhập và hiểu được tác phẩm
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán (chủ biên) định nghĩa: “Kịch là
một loại hình nghệ thuật gắn với sân khấu vừa là một trong ba loại hình văn học
(tự sự, trữ tình, kịch)” [29, tr.167]
Một chỉnh thể tác phẩm bao gồm nhiều yếu tố, và các yếu tố đó lại được phân chia ra thành các cấp độ khác nhau: cấp độ ngôn từ, cấp độ hình tượng, cấp
Trang 15độ kết cấu, cấp độ chỉnh thể Trong cấp độ hình tượng bao gồm các bộ phận như nhân vật, cốt truyện,…
Trong thể loại kịch có một loại không gian đặc biệt, đó là không gian do lời thoại của nhân vật gợi lên và thời gian diễn tiến theo hành động kịch Theo Đỗ
Đức Hiểu thì: “Không gian của kịch bản bao gồm nhân vật, đồ đạc, cách bài trí
và không gian ngoài sân khấu hay không gian tưởng tượng, do đối thoại gợi lên Thời gian bao gồm thời gian diễn xuất và thời gian của hành động kịch”
[11, tr.4]
Tìm hiểu hệ thống hình tượng nhân vật, đề tài, ngôn ngữ, xung đột trong tác phẩm kịch và thấy được mối liên hệ giữa chúng là điều cần thiết để có thể hiểu được tác phẩm và những ý nghĩa ẩn kín trong đó
1.1.2 Thi pháp kịch Ấn Độ
So với kịch Phương Tây, kịch Ấn Độ xuất hiện muộn hơn Vào thế kỉ IV- V Trước Công Nguyên, kịch phương Tây đã sớm phát triển với những tên tuổi kịch gia nổi tiếng như Ph Eschyle (525-456 Tr CN), Euripides (485-406 Tr CN, Sophocle (496-406 Tr CN),… Trong khi kịch Ấn Độ tuy ra đời từ rất sớm từ những năm Tr CN, nhưng phải mãi đến thế kỉ IV-V (sau Công nguyên) mới được định hình và phát triển Như vậy, kịch Ấn Độ ra đời muộn hơn so với kịch phương Tây nhưng sớm hơn Kinh kịch của Trung Quốc và kịch Noh của Nhật Bản (khoảng thế
kỉ XIV – XVI), nghệ thuật tuồng Việt Nam (khoảng thế kỉ XVIII – XIX)
Về nguồn gốc ra đời của kịch, có hai ý kiến khác nhau:
Thứ nhất, người ta cho rằng kịch có nguồn gốc do người nguyên thủy hoảng
sợ trước tự nhiên nên đã tổ chức nghi lễ hiến sinh Trong các buổi tế lễ, xuất hiện một người tư tế đeo mặt nạ, làm công việc đọc, hát và cúng cùng những người khác; chính những việc mà vị tư tế thực hiện đã làm cơ sở cho sự chào đời của kịch Các câu chuyện được đọc trong các nghi lễ trở thành huyền thoại, sau này trở thành chất liệu trong kịch, còn các nghi lễ mất đi
Trang 16Thứ hai, theo Aristote (384-347 Tr CN), nhà triết học lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại, kịch có nguồn gốc từ sự mô phỏng của con người Quan điểm này đã được minh chứng trong nguồn gốc của kịch Hy Lạp
Từ hai ý kiến trên, chúng tôi thấy nguồn gốc của kịch Ấn Độ và bi kịch Hy Lạp có điểm tương đồng
Kịch Hy Lạp bắt nguồn từ việc ca ngợi thần rượu nho Dyonysos Trong các buổi lễ thờ cúng thần Dionysos, người ta diễn những cảnh mang nhiều yếu tố của văn hóa phồn thực để ca ngợi thần Kịch Ấn Độ ra đời gắn với những sinh hoạt cộng đồng và tôn giáo Các đối thoại trong khúc hát Rig Veda là hình thức khai sinh đầu tiên của kịch Ấn Độ Trong những buổi lễ ca tụng thần Indra, người ta mô phỏng lại các chiến công của thần trong việc đánh bại lại quỷ thần Từ đó, các buổi
lễ rước thần luôn kèm theo những buổi diễn kịch
Sân khấu được người Ấn Độ xem như là một nghệ thuật tối cao và theo thói quen của họ, nghệ thuật này ra đời gắn với những ý niệm về tôn giáo, đậm chất tư duy
Theo truyền thuyết Ấn Độ: “Tại thiên đàng, theo ý nguyện của Indra, đấng
Brahma đã sáng tạo ra sân khấu (natya) như bộ kinh Veda thứ năm Thần Shiva dạy các diễn viên điệu múa tandava dữ dội, còn nữ thần Parvati dạy các cô đào vũ khúc dịu êm” [52, tr.106] Một lần kia, các tiên nữ Apsara cùng các bạn trai (những
Gandharva) đã táo bạo châm biếm một đạo sĩ (Rishi) trên sân khấu khiến ông tức giận đọc thần chú nguyền rủa, thế là từ đó họ bị đày đọa xuống trần Đó là lý do giải thích tại sao, một loại hình nghệ thuật thiêng liêng thế lại có mặt ở trần gian
Theo lời thỉnh cầu của các thần, đấng sáng thế Brahma đã sáng tạo ra loại
hình kịch: “Chúng tôi muốn một nghệ thuật giải trí vừa xem vừa nghe được Vì các
Veda đã có trước đây thì những người thuộc đẳng cấp Sudra (Nô lệ) không được nghe, xin đấng tối cao hãy sáng tạo một Veda khác mà tất cả các đẳng cấp (Varna) đều có thể hưởng thụ một cách bình đẳng” [58, tr.241] Khi đó thần Brahma nghĩ:
Ta sẽ tạo ra một Veda thứ năm về kịch với những câu chuyện dã sử đem đến Bổn phận (Dharma), Của cải (Artha) cũng như danh tiếng, đưa ra lời
Trang 17khuyên tốt Veda thứ năm và tập hợp những châm ngôn truyền thuyết, hướng dẫn con người tương lai trong mọi hành động của họ, chứa đựng phong phú các thuyết giảng của các giáo trình chính thức (Sastras) và sẽ tổng kết mọi nghệ thuật và ngành nghề thủ công [58, tr.241]
Lịch sử phát triển của kịch Ấn Độ đã trải qua không ít thăng trầm Triều đại của vua Asoka, thời kì mà văn học Phật giáo phát triển rực rỡ Người ta đã tìm thấy
ba vở hài kịch cổ của Acvaghasha Sau đó là mười ba vở hài kịch của Bhata trong
khoảng những năm 300 trước công nguyên Đáng chú ý là vở Mrichakatilca (Cỗ xe
đất sét) của Sudraka, một vở kịch mang đậm chất trữ tình và dân gian, miêu tả tâm
lí nhân vật sâu sắc, có ảnh hưởng sâu rộng đến các tác phẩm sau này
Một trong những kịch tác gia lớn nhất và sớm nhất của sân khấu Ấn Độ cổ
điển là Bhasa (thế kỉ thứ III) Kiệt tác của ông là Svapna Vasavadatta (Giấc mộng
của nàng Vasavadatta hay Vasavadatta trong mơ) Đây là một vở kịch rất đẹp, đầy
chất thơ của những cảm thức cao nhã, tinh tế Vở kịch, theo Henry Wells: “là một
khảo sát về thời gian, trí nhớ, thực tại và ảo mộng với một cảm thức thời gian tựa như Proust” [52, tr.139]
Vở kịch Shakuntala của Kalidasa được xem “là kì công thứ nhất của Ấn
Độ”, một vở kịch thực sự đạt đến đỉnh cao, trở thành tác phẩm mẫu mực của sân
khấu cổ điển Ấn Độ Goethe, đại thi hào người Đức đã ca tụng: “Những hương
thơm mùa xuân, những quả chín mùa thu… và đất trời rộng bao la có thể thâu tóm
trong một tiếng Shakuntala” Vở kịch được Kalidasa sáng tác dựa vào cuốn sử thi
Mahabharata Ngòi bút trữ tình của Kalidasa khám phá tinh tế, sâu sắc những khía
cạnh tình cảm sâu kín nhất của nhân vật Dù lấy đề tài từ trong truyền thuyết, nhưng khi đi vào trong kịch của Kalidasa, với sự thể hiện hoàn toàn mới, sự kết hợp giữa truyền thống và cách tân, giữa chuẩn mực của thơ ca cung đình với văn học bình dân và với tinh thần nhân đạo sâu sắc, vở kịch thực sự đạt đến đỉnh cao của văn học
Sanskrit cả về nội dung và hình thức thể hiện Và Kalidasa, theo S.Levi thì: “đã có
may mắn tạo nên một kiệt tác thật sự kinh điển, mà ở đó Ấn Độ tự ca ngợi mình và
ở đó nhân loại tự nhận ra mình” [39, tr.63]
Trang 18Vào thế kỉ thứ VII, vua Harsa sáng tác ba vở kịch bằng ngôn ngữ Sanskrit, góp thêm những giá trị to lớn cho nền kịch cổ điển Sau đó, vào khoảng thế kỉ VIII,
Bhavabuti cho ra đời ba vở kịch xuất sắc: Vở Mahaviracarrita lấy đề tài từ tình yêu
và hai vở Utaramacarita, Mahatimadhava lấy cảm hứng từ sử thi Ramayana, hai
vở này thường được trình diễn trong những ngày lễ thần Shiva
Cùng với một số loại hình nghệ thuật khác, văn học thời kì này được xem là thời kì cổ điển của kịch Ấn Độ, đạt đến giá trị mẫu mực
Trải qua bao biến động của lịch sử, dưới ách đô hộ của các vương triều Hồi giáo và Ba Tư, kịch Ấn Độ vẫn giữ được nguyên vẹn những yếu tố truyền thống, mặt khác tiếp thu nhiều tinh hoa nghệ thuật từ bên ngoài Tuy nhiên, kịch đã có dấu hiệu thoái trào dưới các triều đại này
Vào thời kì cận đại, dưới sự thống trị của thực dân Anh xâm lược, kịch Ấn
Độ đã ảnh hưởng và tiếp thu kĩ thuật viết kịch và thể tài của kịch phương Tây, đồng thời vẫn lấy kịch truyền thống làm nền tảng Không còn đi vào lối mòn với các đề tài lấy từ tôn giáo, kịch Ấn Độ giai đoạn này thể hiện những vấn đề hiện thực của thời đại Rabindranath Tagore hiện lên như một tên tuổi lớn của nền kịch Ấn Độ hiện đại Tiếp nối truyền thống từ kịch của Kalidasa, kịch của R.Tagore mang lại một diện mạo mới cho nền kịch Ấn Độ Kịch R Tagore là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại Ngôn ngữ kịch R Tagore thể hiện chất trữ tình sâu lắng
R Tagore tập trung vào việc xây dựng những kiểu nhân vật đặc trưng như thầy tu, nhà vua, nhân vật nữ,… với số phận và tính cách mang dáng dấp của cả thời đại Chúng tôi sẽ làm rõ những vấn đề này ở các chương sau
Từ dòng chảy của Shakuntala tới các vở kịch của R Tagore, kịch Ấn Độ đã
khẳng định được vị trí của thể loại kịch cổ điển Ấn Độ trong nền văn học thế giới nói chung và kịch phương Đông nói riêng
Cuốn sách Natyasastra (Bàn về nghệ thuật sân khấu) của Bharata (khoảng
thế kỉ thứ II), được xem là cha đẻ của thi pháp học, ra đời từ khá sớm Đây được xem là cuốn lý luận nghệ thuật cổ xưa nhất của thế giới
Trang 19Theo Bharata: “Kịch là sự bắt chước những hành động xử sự của con người
Kịch chứa đựng những xúc cảm phê phán và trình bày những tình huống khác nhau Kịch kể lại những hành động tốt, xấu, thường thường, mang sự can đảm, hài hước, niềm vui, hạnh phúc cũng như những lời khuyên tốt cho mọi người”
Dựa vào cách thức trình diễn, kịch Ấn Độ được chia làm hai loại: đó là kịch
Sukumara (Tao nhã) và kịch Aviddha (Mạnh mẽ)
Loại kịch Aviddha (Mạnh mẽ) bao gồm kịch Dima, Samavakara, Vyayoga,
Ihamrga Nội dung chủ yếu của loại kịch này thể hiện những cuộc giao tranh ác liệt,
vì vậy nhân vật chính thường là thần linh, anh hùng Ở các loại kịch này, nhân vật nam chiếm số đông so với nhân vật nữ, phong cách trình diễn luôn hướng tới sự mạnh mẽ, cao cả
Sukumara (Tao nhã) bao gồm các loại kịch Natuka, Prakarana, Vithi, Anka
Nội dung của các loại kịch này gần với hiện thực hơn nên nhân vật chính thường là những con người rất đỗi bình thường trong cuộc sống Trong đó Natuka là loại phổ biến nhất, nhân vật thường là những vị vua Kịch bản dài từ năm đến mười màn, và kết thúc luôn có hậu Loại kịch này thường lấy đề tài từ sử thi, thần thoại Loại Prakarana thì cốt truyện thường do tác giả hư cấu, sáng tạo nên
Trên sân khấu, kịch kết hợp hai loại trình diễn: trình diễn theo hình thức tự nhiên và trình diễn ước lệ
Trình diễn theo hình thức tự nhiên, giống như hiện thực (Lokadharmi): “Vở
kịch dựa trên cư xử tự nhiên, đơn giản, không có khoảng cách và trong cốt truyện của nó có các nghề nghiệp, các loại người, diễn xuất đơn giản dựa trên kiểu tính cách nam giới, phụ nữ khác nhau” [58, tr.274]
Trình diễn kịch có tính ước lệ (Natyadharhmi): “Nếu bất cứ cái gì không
được người ta thừa nhận là thực mà được sáng tạo trong một vở kịch với một hình thức và ngôn ngữ có tính vật chất thì đó là trình diễn ước lệ” [58, tr.275]
Tính ước lệ phổ biến trong rất nhiều yếu tố cấu thành nên kịch và tồn tại theo quy ước giữa người xem và người diễn Tính ước lệ thể hiện qua cử chỉ, điệu bộ của diễn viên kết hợp với ngôn ngữ để gợi lên bối cảnh không gian, hay thời gian
Trang 20Trong nháy mắt, nhân vật có thể đi từ núi rừng đến thành thị thông qua cách di chuyển của diễn viên, hoặc qua một vài cử động, khán giả sẽ biết được nhân vật đang ở đâu, làm gì Những đặc điểm này dẫn dắt người xem đi vào thế giới giữa giả
và thật, thế giới của tưởng tượng Tính ước lệ là đặc trưng quan trọng trong kịch
truyền thống Ấn Độ và phương Đông Người Nhật quan niệm sân khấu: “là cái
ranh giới giữa cái giả và cái thật Nó tham gia vào cái giả nhưng không phải cái giả, nó tham gia vào cái thật nhưng không phải là cái thật” Nghệ thuật tuồng, chèo
Việt Nam cũng mang tính ước lệ cao Một khi khán giả không nắm bắt được điều này sẽ gặp khó khăn khi xem tác phẩm
Trong khi kịch phương Tây quan niệm, kịch là sự bắt chước, “mô phỏng
hành động của con người, nhờ sự mô phỏng mà họ thu nhận được kiến thức đầu tiên, những sản phẩm của sự mô phỏng đem lại thích thú cho con người” [1, tr.21]
thì kịch Ấn Độ cũng quan niệm kịch là “sự bắt chước những hành động và cư xử
của con người” [58, tr.93], nhưng cách hiểu về sự mô phỏng không phải như kịch
phương Tây mà là để “trình bày tình trạng, trạng thái của cả ba giới” [58, tr.250]
Vì thế, đặc trưng nổi bật của kịch Ấn Độ là gắn liền với chức năng tôn giáo, là một trong những cách con người thực hiện mục tiêu cơ bản của cuộc đời
Kịch Hy Lạp cổ đại có tính tổng hợp, gắn với những điệu múa và lời ca để ca tụng thần rượu nho Dyonisus Về sau, với đặc trưng của tư duy phương Tây nên dần dần đã có sự tách biệt rõ ràng giữa các lĩnh vực âm nhạc, vũ đạo và kịch Trong khi
đó, kịch Ấn Độ nói riêng và kịch phương Đông nói chung là một nghệ thuật tổng hợp, không đơn thuần chỉ là loại hình ca - vũ kết hợp mà còn là sự tổng hòa giữa
yếu tố thơ và văn xuôi Như J.A.B Van Buitenen đã nhận định: “Kịch đóng vai trò
làm cỗ xe chuyên chở thơ ca”
Là một loại hình nghệ thuật tổng hợp, kịch Ấn Độ là sự kết hợp của ca – vũ:
“Người diễn viên sân khấu Ấn Độ phải là diễn viên tổng hợp Anh ta phải nắm chắc
nghệ thuật của diễn viên kịch nói, diễn viên múa và ca sĩ” [31, tr.45]
Về kết cấu, kịch Ấn Độ bao gồm phần giáo đầu và các hồi, mỗi hồi có một hoặc hai cảnh, được chia thành cảnh chính và cảnh phụ
Trang 21Phần giáo đầu là lời ca cầu nguyện của đạo diễn và các diễn viên Sau một hồi trống, nhạc công và các diễn viên xuất hiện Họ múa điệu Tandava và Iasya thể hiện sự mạnh mẽ, quyết liệt, tiêu biểu cho Shiva (nam giới) và điệu Iasya thể hiện
sự mềm mại, uyển chuyển và linh hoạt, tiêu biểu cho Parvati (nữ giới) Sau hai điệu múa, lá cờ của thần Indra được giương cao và hoa được rải khắp nơi trên sân khấu, sau đó đạo diễn và các diễn viên làm phép để cảm tạ trời đất bốn phương Cuộc đối thoại giữa đạo diễn và diễn viên diễn ra đồng thời Đó là những lời giới thiệu vở kịch
Nhân vật trong kịch Ấn Độ bao gồm nhân vật chính và nhân vật phụ Nhân vật chính là nhân vật lý tưởng, mang phẩm chất của người anh hùng Nhân vật phụ thường là phụ nữ, dân thường, đầy tớ và anh hề Ngoài ra còn có một loại nhân vật đặc biệt, đó là các con vật
Ngôn ngữ trong kịch cổ điển Ấn Độ thường không được sử dụng một cách đồng nhất Nhân vật nam cao quý thì sử dụng tiếng Sanskrit; nhân vật nữ và các loại nhân vật bình thường khác thường sử dụng tiếng Prakrit; nhân vật ngoài đẳng cấp, thấp kém, sử dụng tiếng Nagadhi Tuy vậy, nếu khi nhân vật cấp trên nói về nhân vật cấp dưới, hay những khi rơi vào tình huống hiểm nghèo, bi đát thì phải sử dụng tiếng Prakrit Ngược lại, khi nhân vật cấp dưới nói về nhân vật cấp trên thì phải sử dụng tiếng Sanskrit
Về cốt truyện (Ltivrtta), kịch phương Đông quan niệm hoàn toàn khác so với
kịch phương Tây Quan niệm của kịch phương Tây: “Cốt truyện là cơ sở, là linh
hồn của bi kịch, sau đó mới đến tính cách, bởi vì bi kịch mô phỏng hành động, và vì vậy, nó phải mô phỏng những con người đang hành động” [1, tr.37] Bản chất của
bi kịch là: “sự mô phỏng một hành động quan trọng và trọn vẹn có một quy mô nhất
định, sự mô phỏng đó nhờ vào ngôn ngữ - ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự trau chuốt khác nhau, bằng hành động qua khêu gợi lên sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc đó” [1, tr.34]
Cái đích mà kịch phương Tây hướng đến là sự thanh lọc cảm xúc Chính vì
thế, Xcaligie đã khuyên các nhà bi kịch nên mô tả “sự sụp đổ của các vương quốc,
Trang 22các ông vua bị lật khỏi ngai vàng, những cảnh chết chóc, những chuyện cưỡng hiếp phụ nữ, sự xuất hiện của ma quỷ, lời nói của người chết” [2, tr.40] Latayer cũng
yêu cầu bi kịch phải mô tả “những sự kiện đáng thương và phi thường, sự bấp bênh
của số phận” [2, tr.41]
Sơ đồ: Cốt truyện (Mythos) như linh hồn của kịch Hy Lạp [58, tr.99]
Trong kịch Ấn Độ, Bharata quan niệm “Cốt truyện (Itivrtta) là thân thể của
kịch”, chứa năm giai đoạn, năm tình trạng, trạng thái kế tiếp nhau là: Mở đầu
(Arambha hoặc Prarambha) – Nỗ lực (Prayatra) – Khả năng đạt đến thành công (Prapti – Sambhava) – Sự chắc chắn của thành công (Niyataphalaprapti) – Hoàn thành mục tiêu (Phalayoga)
Cốt truyện trong kịch Ấn Độ là quá trình “vận động tới thành công, kết thúc
bằng hạnh phúc, thành công” [58, tr.10] Đó là quá trình nhân vật thể hiện những
khát khao, lý tưởng, mục tiêu tinh thần tốt đẹp (Dharma), hướng đến sự hòa điệu tinh thần (Samvidvisranti) tuyệt đối Theo Bharata thì bản thân kịch cũng thực hiện mục đích tôn giáo, là quá trình con người loại bỏ phần Karma tội lỗi để hướng đến
sự giải thoát (Moksha)
Rasa (Cảm thức) là linh hồn của kịch, là “kinh nghiệm cuộc sống được tái tạo bằng nghệ thuật” [87, tr.6] Quá trình thưởng thức nghệ thuật đồng thời cũng là
quá trình người xem thực hiện những nếm trải mĩ học, từ đó khơi gợi sự xót thương, xúc động trước nỗi đau, thán phục trước cái cao cả và căm phẫn cái xấu xa, độc ác
MYTHOS (CỐT TRUYỆN) DRAM (HÀNH ĐỘNG) KATHARSIS (THANH LỌC CẢM XÚC)
Trang 23và làm phong phú cảm xúc con người, thoát khỏi những nhỏ nhen toan tính tầm thường Vì vậy, Rasa được người Ấn Độ xem như là trải nghiệm trạng thái cận – giải thoát (Moksha)
Sơ đồ: Rasa (Cảm thức), linh hồn của kịch Ấn Độ [58, tr.118]
Không như kịch cổ điển phương Tây, sân khấu Ấn Độ không quan tâm đến luật tam duy nhất Chỉ có hành động là được chi phối bởi một cảm thức (Rasa) chủ đạo, và thường đó là cảm thức yêu đương Không có bi kịch như kịch cổ điển Hy Lạp vì sân khấu Ấn Độ muốn tránh cho khán giả khỏi mọi cảm thức ghê sợ, khủng khiếp
Trong kịch Ấn Độ có tám Rasa, trong đó có năm Rasa tích cực là Srngara (Ái tình), Hasya (Hài hước), Karuna (Cảm thương), Adbhuta (Ngạc nhiên, thán phục), Vira (Hào hùng) và ba Rasa tiêu cực là Raudra (Giận dữ), Bhayanaka (Khủng khiếp) – Bidhatsa (Ghê tởm)
Kịch Ấn Độ, cũng như các loại hình văn học nghệ thuật khác, đều chịu sự chi phối của mĩ học Bàlamôn, phải thể hiện cho được một số phạm trù như sau:
SAMVIDVISRANTI (HÒA ĐIỆU TINH THẦN)
RASA (CẢM THỨC)
BHAVA (XÚC CẢM)
AVASTHAS (TRẠNG THÁI) KARMA (HÀNH ĐỘNG)
NATYA (MÚA) – KAVYA (THƠ) – NATAKA (KỊCH) (Kết hợp Ca – Vũ – Nhạc) (Với cốt truyện)
Trang 24Thứ nhất: tư tưởng Varna (Đẳng cấp) Nhân vật phải vượt qua mọi thử thách
để hoàn thành bổn phận của đẳng cấp mình: Đẳng cấp Brahmin, đẳng cấp Kshatrya, đẳng cấp Vaisya, đẳng cấp Sudra
Thứ hai: triết lý Karma (Nghiệp báo) – Samsara (Luân hồi) Với người Ấn
Độ, cuộc sống vận động theo vòng luân hồi, và con người tự nhận lấy kết quả do chính mình gây ra Nếu ai gieo nhân nào, người đó ắt gặt quả nấy, ai gieo niềm vui
sẽ gặt về niềm vui, ai gieo đau khổ thì sẽ thu về khổ đau Không chỉ trong kiếp này,
mà sự vận động ấy sẽ chuyển qua các kiếp sống khác, và mãi mãi con người sẽ chìm trong vòng nghiệp báo ấy
Thứ ba: quan niệm Maya (Ảo ảnh) Đây là quan niệm về cuộc đời của người
Ấn Cuộc sống hiện tại không phải là mục tiêu trước mắt họ nhắm đến, mà thực chất
họ luôn hướng về một cuộc sống khác hoàn toàn cuộc sống nơi trần thế Cuộc sống thực tại với họ chỉ là tạm bợ, là phù du, sắc sắc (có) rồi lại không không (mất) Điều
mà người Ấn hướng đến là cõi niết bàn bất biến, vĩnh hằng
Kết thúc trong kịch Ấn Độ bao giờ cũng có hậu, không có bi kịch Điều này xuất phát từ triết học Ấn Độ Người Ấn luôn thống nhất những cặp phạm trù đối lập, không có gì là bất biến, tất cả đều nằm trong sự luân chuyển giữa các cặp phạm trù Được – Mất, Hạnh phúc - Đau khổ, Thành công – Thất bại, Đẹp – Xấu, Ánh sáng – Bóng tối…
Người Ấn Độ xem nghệ thuật nói chung và kịch nói riêng không đơn thuần
là để giải trí mà còn là cầu nối để giao cảm với thần linh, tìm đến sự hòa hợp tinh thần Đó là hành trình của các Tiểu ngã trên con đường kiếm tìm và hòa hợp với cái Đại ngã (Bản thể vũ trụ) Đây chính là mục đích tinh thần cao cả nhất, theo quan điểm của Hindu giáo
1.2 Kịch gia Rabindranath Tagore và thành tựu ở thể loại kịch
1.2.1 Bối cảnh xã hội Ấn Độ từ thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX
Rabindranath Tagore sinh ra ở tỉnh Bengal, một tỉnh giàu có vào bậc nhất của Ấn Độ Đây là nơi phát sinh nhiều cuộc biến động lịch sử sâu sắc Đồng thời là nơi mà ngôn ngữ đã sớm phát triển, làm nền cho truyền thống nhân đạo chủ nghĩa
Trang 25rực rỡ nhất R Tagore chào đời đương lúc phong trào giải phóng dân tộc bắt đầu sôi nổi và văn học Bengal thực sự bước vào thời kì phát triển mới
Từ cuối thế kỉ XVIII trở đi, dưới sự thống trị của thực dân Anh, quan hệ tư bản chủ nghĩa đã sớm phát triển ở Bengal Trong hoàn cảnh đó, sự xuất hiện của tầng lớp trí thức dân tộc, đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản đang lên, đã nhận thấy rõ bộ mặt nham hiểm của thực dân Anh và bất bình với tình trạng nô lệ ở
Ấn Độ Đại đa số họ là những trí thức mang trong mình dòng máu thấm nhuần nền văn hóa cổ Ấn Độ, đồng thời được tiếp xúc với những nền văn học ưu tú của nhân loại, đặc biệt là của Anh, Pháp, Nga Những con người ưu tú này muốn khôi phục lại nền văn hóa cổ vàng son của dân tộc mình, đồng thời muốn đem văn hóa phương Tây hòa vào dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc với mong ước dùng văn học làm công cụ để giải phóng dân tộc
Những cuộc đấu tranh ấy ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhất là từ sau cuộc khởi nghĩa lớn vào năm 1857 – 1859 Tuy bị thực dân Anh đàn áp dã man, nhưng
nó đã đánh dấu sự suy tàn của chế độ phong kiến, là đòn tấn công trực diện vào bọn thực dân; đồng thời nung nấu ý chí, thức tỉnh tinh thần dân tộc, tinh thần đoàn kết
của người dân Ấn Độ Đặc biệt vào những năm cuối thế kỉ XIX, tổ chức “Đại hội
Quốc dân” (1885) đã đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp tư sản Ấn Độ, phong
trào yêu nước chống thực dân, nhất là những năm đầu thế kỉ XX ngày càng trở nên sôi nổi
Trên bối cảnh xã hội ấy, nền văn học Bengal phát triển mạnh mẽ, làm đòn bẩy cho các dòng văn học khác của Ấn Độ Cùng với nghề in, xuất bản và báo chí, các thể loại văn học trở nên phong phú, đa dạng Trước yêu cầu văn học cần phản ánh và biểu hiện đầy đủ sinh hoạt xã hội phức tạp, thơ ca Ấn Độ không thể làm hết nhiệm vụ cao cả ấy Do đó, một số thể loại khác như kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết,… ra đời Ngôn ngữ Bengal làm công việc tiên phong cho các ngôn ngữ khác trong toàn Ấn Độ, góp phần làm cho bộ mặt văn học thêm sáng sủa, có chiều sâu
Đề tài của văn học lúc này vẫn tập trung khai thác phần nhiều về thần thoại lịch sử với văn phong lãng mạn, trừu tượng, thậm chí thần bí Chủ đề đã hướng dần vào
Trang 26cuộc sống hiện tại, vừa phát huy tính truyền thống nhân đạo chủ nghĩa, vừa tiếp thu được tính chất duy lý phản kháng của châu Âu gắn chặt với những đòi hỏi mới của thời đại: cải cách tôn giáo, xã hội
Sang những nằm đầu thế kỉ XX, cùng với phong trào “Tự chủ”, phong trào
đấu tranh chống thực dân Anh chia sẻ mảnh đất Bengal (1905) và phong trào cách mạng do Bal Gangadhar Tilak cầm đầu (1908), văn học đã chuyển sang đấu tranh đòi độc lập và dân chủ Sau Thế chiến thứ nhất, tính chất này càng trở nên mạnh mẽ với phong trào của Gandhi, đặc biệt do ảnh hưởng của cuộc cách mạng tháng Mười Nga, với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và tư tưởng Macxit trong nước Từ
1930, các nhà văn đã chuyển hướng sáng tác và tiến tới thành lập tổ chức “Hội các
nhà văn tiến bộ Ấn Độ” (1936), đấu tranh chống chủ nghĩa Phát xít cho tới thời kì
cao trào đấu tranh giành độc lập (1943-1947)
Đó là cả một quá trình đấu tranh gay gắt giữa cái mới và cái cũ, giữa cải cách
và bảo thủ, giữa duy lý và duy linh, giữa cách mạng và nô dịch Mỗi giai đoạn khác nhau, văn học có những biểu hiện, khuynh hướng khác nhau, nhưng tựu chung lại là tinh thần đoàn kết đấu tranh chống đế quốc ngày càng mạnh mẽ của nhân dân Ấn
Độ
Trong bối cảnh xã hội ấy, quê hương Bengal chào đón một “ngôi sao sáng
của Ấn Độ Phục hưng”, R Tagore Đây chính là người con tiêu biểu nhất cho tinh
thần đoàn kết thống nhất và phục hưng của đất nước Ấn Độ ở lĩnh vực văn học trong tương lai Cuộc đời sáng tác của R Tagore gắn liền với lý tưởng giải phóng
con người Đúng như nhà thơ Hindi Nirana đã nói: “Tagore hòa hợp với ngôn ngữ
và tâm hồn Bengal như hoa sen nở thơm ngát trong ánh bình minh” [4, tr.8]
“Chẳng có gì quá đáng khi nói rằng Rabindranath Tagore là nhà thơ cũng
như nhà văn vĩ đại nhất trong suốt ba ngàn năm hoạt động văn học của Ấn Độ”
[53, tr.5] Hơn cả lời nhận xét của Jun Ohrui, R Tagore vượt lên khỏi vị trí một đại thi hào Ấn Độ Ông còn là nhạc sĩ, họa sĩ, nhà hoạt động sân khấu, triết gia,…
Từ những năm đầu thế kỉ XX, độc giả Việt Nam đã biết đến Tagore và rất yêu quý ông Những người yêu văn học không ai là không nhắc tới Tagore, tới tập
Trang 27Thơ Dâng , Mùa hái quả, Tôn giáo Con người Đặc biệt, vào tháng 6 - 1929, trên
đường từ Nhật Bản về Ấn Độ, Tagore đã ghé thăm Sài Gòn và để lại nhiều kỉ niệm đẹp cho giới văn nghệ sĩ báo chí ở Việt Nam Tagore đã mặc bộ “quốc phục” mà những người thợ may đã cố gắng hoàn thành trong ba giờ để nhà thơ có thể mặc đi dạo quanh Sài Gòn Điều đó làm chúng ta càng yêu quý và nể trọng một nhân cách
vĩ đại, một người luôn khao khát tìm kiếm, gắn kết mọi người lại trong “ngôi nhà
chung của thế giới”
Nhắc đến Tagore, người dân Bengal thường nói đến khái niệm “văn hóa
Tagore” để chỉ năng lực sáng tạo phong phú, mang tầm vóc sánh ngang với một nền
văn hóa vĩ đại
Tám mươi năm cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Rabindranath Tagore
đã hoá thành huyền thoại, nói như Mahatma Gandhi: “Tagore là người lính canh vĩ
đại của nhân gian”
1.2.2 Một số vở kịch tiêu biểu của R Tagore
Riêng về kịch, Tagore đã để lại cho nền sân khấu hiện đại Ấn Độ 42 vở kịch
Kịch của Tagore được đánh giá là “vực dậy nền sân khấu Ấn Độ” sau một thời gian
dài trượt dốc vì không tìm được lối thoát khỏi cái bóng vĩ đại của kịch cổ điển Kịch của Tagore đã mang đến một làn gió mới, phản ánh những vấn đề bức thiết mà thời đại đặt ra, đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả Không chỉ đổi mới về nội dung, kịch Tagore còn là sự tiếp nối và cách tân nghệ thuật của kịch truyền thống
Ấn Độ
Trong Tuyển tập tác phẩm của Rabindranath Tagore, Lưu Đức Trung (chủ
biên) đã tuyển dịch thêm sáu vở kịch nữa và đưa thêm hai vở kịch do Cao Huy Đỉnh
- La Côn dịch vào trong tuyển tập Có thể nói, tám vở kịch in trong tuyển tập này đều là những vở kịch tiêu biểu của Tagore
Vở kịch đầu tiên của Tagore gây sự chú ý đặc biệt của công chúng Bengal
bấy giờ là Sự trả thù của tự nhiên (1883), viết bằng tiếng Bengal Về sau được Tagore sửa chữa và dịch ra tiếng Anh (1916) với tên gọi Thầy tu khổ hạnh
Trang 28Vở kịch xoay quanh hai nhân vật chính Một Xaniaxi (thầy tu) trẻ tuổi, muốn rời bỏ cuộc đời trần tục để đi tìm sự giải thoát trong cõi hư vô Nhưng sự xuất hiện của Vasanti, một cô gái mồ côi, bị ruồng bỏ, một người ở đẳng cấp cùng đinh, là bước ngoặt khởi đầu cho tấn bi kịch của thầy tu Vì chính Vasanti đã đánh thức khát vọng tự nhiên luôn tìm ẩn trong con người thầy tu Chàng tìm mọi cách để ruồng
bỏ, hất hủi Vasanti Nhưng càng xa lánh nàng, trái tim chàng ngày càng thổn thức, khát vọng sống càng bùng cháy dữ dội Vở kịch khép lại với sự “đốn ngộ” của Thầy tu: không có gì thiêng liêng hơn cuộc đời trần thế và không hạnh phúc nào bằng được sưởi ấm trong tình yêu
Những tư tưởng ban đầu của Tagore trong Thầy tu khổ hạnh đã hé mở cho khuynh hướng tư tưởng viết kịch của ông sau này Nhưng phải đến vở kịch Lễ máu
(Sacrifice) thì chủ đề chống lễ giáo phong kiến trói buộc con người mới được thể
hiện sâu sắc và triệt để nhất Trong lời đề từ của vở kịch, ông viết: “Tôi tặng vở kịch
này cho những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ hòa bình khi có kẻ đòi lấy máu nhân loại làm lễ dâng Nữ Thần Chiến Tranh” [33, tr.688] Vì thế, sức chiến đấu của vở kịch
này lại càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Raghupati từ một thầy tu chân chính đã trở thành kẻ khát máu gian ác, xem thế gian là một trận tàn sát và hắn là một tên đao phủ bạo ngược, tay vấy đầy máu
Nhà vua Gonvinda, người chỉ có “quyền hành ở bên ngoài cổng đền” đã lên tiếng
phản đối và ra lệnh dẹp bỏ lễ hiến sinh Điều đó đã làm hoàng hậu Gunavati, người luôn khao khát có một mụn con vô cùng tức giận Raghupati lợi dụng tình hình rối ren đã xúi giục hoàng thân Nacsatora giết vua Gonvinda nhưng không thành Sau cái chết của Jaising, Raghupati mới thực sự tỉnh ngộ Vở kịch có sự xuất hiện của một cô gái nghèo, một đẳng cấp thấp nhất trong xã hội, Acparna Vượt qua cửa đền thiêng, cô đem tình yêu của mình đến với Jaising, một tu sĩ trẻ Jaising và Acparna
đã khẳng định tư tưởng của Tagore: hạnh phúc không đến từ sự thờ phụng thần linh,
mà hạnh phúc chỉ có thể được tìm ra từ ngay trong một tôn giáo đặc biệt: Tôn giáo
Con người
Trang 29Vở kịch Nhà bưu điện (Post Office) ra mắt công chúng Bengal lần đầu tiên
vào năm 1912, được dịch sang tiếng Anh vào năm 1914 Đây được xem là vở kịch thành công nhất của Tagore trên sân khấu thời ấy
Nhân vật trung tâm của vở kịch là cậu bé Amal bệnh tật, ốm yếu Amal mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được người chú đem về nuôi nấng và yêu thương như con đẻ Thầy thuốc cấm không cho Amal được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời Vì thế, không gian để cậu bé giao tiếp với thế giới bên ngoài chính là khung cửa sổ nhỏ hẹp hướng
ra con đường Amal khao khát được biết sau rặng núi kia là thế giới như thế nào Thậm chí cậu bé còn tưởng tượng ra cuộc sống nơi ấy chính xác y như những gì ông lão bán sữa đông đã nói Khung cửa sổ nhỏ bé giúp em nhìn ngắm và nói chuyện với mọi người, từ cô bé đồng trang lứa Sudha, người tuần đường khó tính, ông lão bán sữa, hay các cậu bé mà cậu đã cho mượn đồ chơi Amal tiếp xúc nhiều nhất với người đưa thư Cậu bé từng mơ ước một ngày nào đó sẽ nhận được bức thư của nhà vua từ tay người đưa thư Chú cậu bắt cậu học hành, song Amal lại có một ước muốn giản dị và ngây thơ rằng khi lớn lên, em sẽ là một người đưa thư mang niềm vui đến cho mọi người Cuối cùng, Amal được nhà vua ghé thăm Dù Amal không được chiêm ngưỡng dung nhan người mà em hằng ao ước được gặp, song vở kịch khép lại khi Amal nằm thiếp đi trong ánh sáng của ngàn sao tràn vào căn phòng, trong sự yêu thương, đùm bọc của mọi người
Karna và Kunti là vở kịch ngắn và ít nhân vật nhất của Tagore Vở kịch
xoay quanh đoạn đối thoại ngắn gọn của hoàng hậu Kunti và Karna Karna lớn lên trong sự nuôi dạy và yêu thương của người đánh xe ngựa Adhiratha Khi trưởng thành, chàng trở thành hầu tước xứ Kaurava Trong trận chiến đấu với Arjuna, người em cùng mẹ khác cha, chàng đã giành phần thắng về cho phe Kaurava Người
mẹ đứng trên khán đài xúc động, muốn tới ôm hôn con, nhưng không đủ can đảm đối diện sự thật với đám đông Mặc cho sự van xin tha thứ của mẹ, Karna vẫn quyết định đi theo con đường mà mình lựa chọn Chàng vẫn không quên người nuôi dưỡng mình, ông lão đánh xe ngựa Karna đã chọn quay trở về với sự nghèo khổ mà
ấm áp trong căn nhà của cha mẹ nuôi
Trang 30Vở kịch Malini xoay quanh câu chuyện của công chúa Malini, người có tư
tưởng mới về tôn giáo, phải đối đầu với những thầy tu Bàlamôn Cha của Malini vì
sự phản ứng mạnh mẽ của các thầy tu, muốn trục xuất con gái mình khỏi cung điện, mặc cho hoàng hậu hết mực can ngăn Đối lập với Malini là các đạo sĩ, người ra sức bảo vệ đức tin của tôn giáo, đứng đầu là Kemankar Nhưng ngay trong lòng làn sóng phản đối ấy, có một con sóng đi ngược dòng tên là Supriya, người đầu tiên nghi ngờ chính tôn giáo mình, và lên tiếng bênh vực Malini Kemankar tự ý dùng bạo lực để bảo vệ tôn giáo của mình khi nó đang đứng trước nguy cơ bị Malini thu phục Kemankar đã mượn sức mạnh của quân đội nước ngoài để mong lấy lại uy lực của giáo phái Niềm tin mù quáng đã biến Kemankar thành kẻ phản quốc và nhẫn tâm giết chết người bạn thân Supriya
Vở kịch Xuân tuần hoàn (The cycle of Spring) mang đậm chất thơ và tính
biểu tượng cao, triết lý sâu sắc của Tagore Đây là vở ca kịch đặc biệt: kịch lồng trong kịch
Một buổi sáng khi thức giấc, nhà vua hết sức hoang mang, sốt sắng khi phát hiện trên đầu mình có vài sợi tóc bạc Trong khi ở bên ngoài cửa cung đình, người
dân đang kêu gào vì đói khát, thì hoàng thượng lại chỉ quan tâm đến cái “lợi ích rất
xa vời của mình”, thậm chí mê muội, cuồng tín bởi những lí lẽ không thiết thực của
nhà hiền triết Srutibhushan với quyển kinh Biển cả hi sinh, là người “đang lo cho
kho quỹ của bệ hạ ở thế giới bên kia” Sự xuất hiện của nhà thơ, hay chính là hiện
thân của Tagore, người nghệ sĩ tài năng nhưng cũng rất cứng cỏi, đã giúp nhà vua đấu tranh tư tưởng và gạt bỏ những hoang mang, sợ hãi, tuổi già và cái chết Nhà thơ đã dựng lên một vở kịch với hai sứ giả mang tính biểu tượng rất cao: sứ giả mùa Xuân và sứ giả mùa Đông Dù cái già nua, lạnh lùng của mùa Đông có cố gắng kéo thời gian tồn tại của mình, thì mùa Xuân vẫn dâng tràn sức sống mạnh mẽ Từ lớp tuyết dày đặc, lạnh lẽo của mùa đông nhú lên những mầm xanh mơn mởn của cỏ cây, báo hiệu một sức sống mới Vở kịch khép lại trong khúc ca rộn ràng, hân hoan niềm vui của mùa Xuân, bỏ lại sau lưng hình ảnh ông già mùa Đông đang ngồi vuốt
ve một cách nuối tiếc cảnh sắc tuyết trắng
Trang 31Trong số những tác phẩm kịch xuất sắc của Tagore phải kể đến Nhà vua và
Hoàng hậu (The King and the Queen), viết năm 1889
Vikram là một ông vua hưởng lạc, chỉ chìm đắm trong tình yêu, bỏ bê công việc triều chính, bỏ ngoài tai tiếng kêu gào đói khát của dân chúng Hoàng hậu Sumitra hết lời can ngăn và cố gắng đưa nhà vua trở lại công việc, nhưng nhà vua vẫn không tỉnh ngộ Hoàng hậu bèn đi cầu cứu anh trai Kumarsen Từ cảm giác hụt hẫng vì mất đi thứ tài sản vô giá, Vikram trở thành kẻ hiếu chiến vì ý nghĩ hoàng hậu phản bội Bỏ mặc dân chúng đói khát đang chầu trực trước cửa, Vikram điên cuồng lùng bắt hoàng hậu và Kumarsen Khi đó, Ila xuất hiện và cầu xin Vikram cứu người yêu mình là Kumarsen Vì cảm động trước mối tình sâu sắc của Ila, Vikram đã giác ngộ Hoàng hậu Sumitra trở về với lễ vật là cái chết của Kumarsen nhằm chấm dứt sự cuồng bạo của Vikram Cái chết của hoàng hậu và hình ảnh Ila mặc áo cưới để sẵn sàng chờ đón người yêu Kumarsen khép lại trong tiếng nhạc cưới
Chita là vở kịch kể về công chúa Chita, con gái của đức vua Sứ mệnh của
Chita là bảo vệ dân làng, bảo vệ đất nước Điều ấy đã biến Chita thành người phụ
nữ mạnh mẽ, cứng cỏi, dần mất đi nữ tính Nàng mặc áo giáp, đeo cung tên trên vai
và luôn rong ruổi trên lưng ngựa Vào một ngày, Chita đã gặp và yêu tướng Acgiuna, người thuộc đẳng cấp Kshatrya với lời nguyền nguyện sống trong trắng trong mười hai năm Acgiuna đã từ chối lấy Chita làm vợ, điều đó làm nàng thấy mặc cảm vì vẻ bề ngoài nam tính của mình Vì thế, Chita đã cầu cứu Vansanta, chúa
tể của tuổi thanh xuân ban cho nàng sắc đẹp và sự quyến rũ toàn mĩ Acgiuna không
hề biết đó là Chita và đã cùng nàng sống hạnh phúc trong một thời gian Nhưng thật trớ trêu, Acgiuna lại luôn nghĩ về Chita, người mà dân làng ca ngợi vì đã bảo vệ họ thoát khỏi ngoại xâm và trộm cắp Và chỉ khi nàng trút bỏ bộ xiêm y quyến rũ, những vòng xuyến trên tay và hoa cài trên đầu, Acgiuna mới nhận ra nàng và càng yêu mến, nể trọng nàng hơn bao giờ
Tagore đã xây dựng thành công một hình tượng Chita, người phụ nữ mạnh
mẽ, dám bước qua lề thói tôn giáo để đến với tình yêu
Trang 32Trong Collected poems and plays of Rabindranath Tagore, chúng tôi đã trích dịch sang tiếng Việt vở kịch Dòng thác (The Waterfall) của Tagore (in trong
phụ lục) Điều này là hết sức cần thiết để hiểu thêm về tư tưởng của Tagore thể hiện trong các vở kịch
Vua Dhananjay của xứ sở Uttarakut với tham vọng mở rộng bờ cõi sang tận
xứ Shintarai, nên đã sai người thợ hoàng gia Bidhuti chế tạo một cỗ máy bọc thép khổng lồ nhằm ngăn dòng chảy của thác Muktadhara Sau 25 năm nỗ lực nghiên cứu, Bibhuti đã xây dựng thành công con đê chắn ngang thác nước Người dân xứ Shintarai đã kiệt quệ vì không có nước để tưới cho những cánh đồng lúa mì, đất đai khắp nơi khô cằn vì hạn hán, thiếu lương thực,… Vua xứ Uttarakut lợi dụng tình hình này đã tăng giá lương thực khi bán cho người dân xứ Shiutarai, khiến họ vô cùng bất bình Thái tử Abhifit, người kế vị ngai vàng trong tương lai, được vua cha đặt hết niềm tin yêu và luôn cố gắng che giấu con trai một bí mật Một lần tình cờ, thái tử phát hiện ra thân phận của mình: chàng không mang dòng máu hoàng tộc,
mà chỉ là đứa trẻ bị bỏ rơi bên cạnh dòng thác và được nhà vua đem về nuôi nấng Biết được âm mưu của cha và Bidhuti, Abhifit quyết định phá tan cỗ máy quái ác để cứu người dân xứ Shiutarai Chính điều này đã khiến vua cha và những người dân
xứ Uttarakut nổi giận Họ quyết định đưa chàng ra xét xử Tìm cách trốn ra khỏi lâu đài, nơi vua cha đã che giấu chàng trước cơn thịnh nộ của người dân, thái tử Abhifit
đã tìm ra điểm yếu của con đê và dùng thân mình đánh vào điểm yếu đó, phá tan con đê ngăn dòng thác Bị dòng nước dữ cuốn trôi, Abhifit hy sinh, để lại sự ân hận, đau đớn cho vua cha Sau cái chết của chàng, nhân dân của xứ Uttarakut và Shiutarai bắt tay xây dựng cuộc sống hòa bình như xưa
Qua việc khái quát nội dung các vở kịch tiêu biểu của Tagore, chúng ta nhận
ra một sự thật trong câu nói của Will Durant: “Chỉ một mình ngài thôi cũng đủ cho
thấy tại sao Ấn Độ cần phải được tự do” [52, tr.10] Kịch của Tagore không những
mang giá trị nội dung sâu sắc, đầy tính chiến đấu mà còn thể hiện những giá trị nghệ thuật độc đáo, mang tính định hướng cho nền kịch Ấn Độ hiện đại
Trang 33Chương 2: ĐỀ TÀI VÀ XUNG ĐỘT TRONG
KỊCH CỦA R TAGORE
2.1 Đề tài trong kịch của R Tagore
Năm mười tám tuổi, sau khi trở về từ nước Anh, R Tagore bắt đầu con đường sáng tạo của một nhà viết kịch Trong số những vở kịch viết ở giai đoạn này,
đáng chú ý là vở nhạc kịch Thiên tài Valmiki Niềm đam mê và thiên hướng tài
năng kịch của Tagore đã được bộc lộ từ thuở thiếu niên Mười một tuổi, R Tagore
đã tìm đọc và dịch kịch Macbeth của W Sheakespeare từ nguyên tác tiếng Anh sang tiếng Bengal Vài năm sau đó, ông tham gia trình diễn vở kịch Trưởng giả học
làm sang của Moliere do Juyotirindranath, anh trai ông dàn dựng Tagore đã từng là
diễn viên trong các vở kịch của mình Sân khấu Bengal bấy giờ còn biết đến ông trong vai trò một đạo diễn sân khấu tài ba
Trong tiểu luận triết lý Tôn giáo nhà thơ (The Religion of an Artist), Tagore
khẳng định: “Nhiệm vụ của người nghệ sĩ là phải nhắn nhủ với thế giới rằng chúng
ta lớn lên trong hiện thực, bằng cái hiện thực mà chúng ta thể hiện” Đó chính là
hiện thực của sự sáng tạo, là “sự trả lời của tâm hồn sáng tạo của con người đáp lại
tiếng gọi của hiện thực” Và chỉ trong cái hiện thực sống động ấy, người nghệ sĩ
mới khẳng định được sự tồn tại hữu ích của mình cho cuộc sống Với Tagore, sáng tạo là niềm khát khao, là nhu cầu tự nhiên của cuộc hành trình không ngừng nghỉ để được giao cảm với đời
Hầu hết các vở kịch của Tagore đều được khai thác từ đề tài truyền thống, chất liệu, môtip trong thần thoại, tôn giáo Ấn Độ nhưng vẫn luôn mang đến cho độc giả, khán giả những cảm giác mới mẻ Ông luôn có ý thức tìm cho mình một lối đi riêng, không bắt chước rập khuôn và không lặp lại Nhiều vấn đề của hiện thực đời sống đã được chuyển tải dưới hình thức lấy xưa nói nay trong các vở kịch của ông
So với các thể loại khác, kịch Tagore có phạm vi phổ biến rộng rãi hơn là nhờ quá trình sân khấu hóa Hầu hết các vở kịch đều được đưa lên sân khấu trong và ngoài
Trang 34nước Nơi đầu tiên thường được ông chọn để công diễn các vở kịch của mình là trường Santiniketan Ở đó, ông có một công chúng đông đảo là học sinh, sinh viên, nhiều đồng nghiệp là người Ấn Độ và người Anh Sự tuyên truyền rộng rãi cùng sức hấp dẫn riêng của kịch Tagore, đưa ông lên vị trí kịch gia hàng đầu trong nền kịch Ấn Độ nửa đầu thế kỉ XX
Văn hóa Ấn Độ và nền văn học cổ điển Anh đã kết hợp, khắc sâu trong tâm
hồn Tagore từ bé Đó là: “một nền văn học Sheakespeare, Mintern, Bairon đã quyết
định tính chất cách mạng từ duy trong tác phẩm của ông [4, tr.11] Ông đã có
những trang viết hùng hồn về quá trình tìm hiểu thơ ca Anh:
Trong tình yêu thắm thiết của Romeo và Juliet, trong tiếng kêu rên xiết và điên dại của vua Lear, trong ngọn lửa ghen tuông bùng cháy của Otello, có một cái gì đó làm cho chúng ta bị ngăn cách bởi một sự đơn điệu làm cho tình cảm sôi nổi không thể xuất hiện trong cuộc sống xã hội Tất cả mọi việc của chúng ta đều lặng lẽ và êm ả Tất nhiên những trái tim của chúng ta khao khát một nguồn thúc đẩy mãnh liệt những tình cảm sôi nổi trong văn học Anh Chúng tôi sung sướng thưởng thức nghệ thuật văn học Anh không phải vì thẩm mĩ, mà vì trong sự đình trệ của chúng ta, văn học ấy đem đến một cái gì dơ bẩn từ dưới đáy phơi trần lên trên mặt [4, tr.12]
Tâm hồn Tagore được chung đúc từ sự trầm ngâm, sâu sắc, trừu tượng và bình lặng của Ấn Độ hòa hợp với cái sôi nổi, phóng khoáng của văn hóa tư sản tiến
bộ phương Tây Sự trải nghiệm sóng gió hiện thực của cách mạng giải phóng dân tộc Ấn Độ được Tagore thể hiện qua các vở kịch lấy đề tài từ trong truyền thuyết, lịch sử
2.1.1 Đề tài lịch sử, thần thoại, truyền thuyết
Khi R Tagore chào đời, cha ông, Devendranath Tagore đã có một mong muốn lớn lao là cậu bé Rabin của ông sẽ trở thành nhân tài mang ánh sáng trí tuệ soi rọi sự tối tăm của đất nước Ấn Độ nghèo nàn và đau khổ
Trải qua nhiều thế kỉ trong những cuộc đấu tranh khó khăn gian khổ, Ấn Độ
đã phải đánh đổi cả máu và nước mắt mới giành được nền độc lập như ngày hôm
Trang 35nay Bất kì người Ấn Độ cũng đều trân trọng và gìn giữ những giá trị truyền thống lịch sử ấy của dân tộc Truyền thống ấy đã được gìn giữ và phát huy từ lớp nhà văn hiện thực như Premchand, Mulk Raj Anand, Bihari Len,
Tình yêu quê hương đất nước đã được Tagore gửi gắm vào trong các tác phẩm: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, hội họa và kịch, Tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của Tagore thể hiện qua các vở kịch đã mang đến làn gió mới, góp thêm sức mạnh cho cơn bão táp cách mạng Ấn Độ đang chờ đủ mạnh để quét sạch thực dân xâm lược và bọn tay sai
Một trong những vở kịch của Tagore gây được tiếng vang lớn trên sân khấu
Bengal thời bấy giờ là Lễ máu (1890) Vở kịch đã đánh dấu sự trưởng thành của
Tagore về cả hai mặt tư tưởng và nghệ thuật Tác phẩm dựa theo cuốn tiểu thuyết
Ông vua thánh của ông viết vào năm 1887 Đến năm 1916, trong thời kì chiến
tranh thế giới lần thứ nhất, Tagore đã sửa lại vở kịch rồi dịch ra tiếng Anh và đề tặng cho những chiến sĩ hòa bình
R Tagore từng nói: “Tôi sinh năm 1861 Đó không phải là một ngày quan
trọng của lịch sử, nhưng nó thuộc về một giai đoạn lớn lao trong lịch sử Bengal.”
[4, tr.5] Tagore mượn đề tài có tính chất lịch sử, gắn liền với một nghi thức của tôn giáo Đó là tập tục thờ tượng thần và lễ dâng máu sống cho thần Ác ở miền Đông Bengal đã gây ra những cuộc sát sinh đẫm máu Đây chính là công cụ bóc lột của những người Bàlamôn dùng chính tôn giáo làm chính sách mị dân, điều mà từ ngày xưa những tín đồ chân chính của Phật giáo sơ khai đã chống lại kịch liệt Đến thời Tagore sống, các đền thờ đó vẫn được giai cấp thực dân phong kiến duy trì làm ổ cho những nạn mãi dâm, giết người, cướp của Dân chúng càng bị thiên tai địch họa, càng mê tín vào lễ dâng máu Họ không hề biết mình đang bị lợi dụng bởi bọn thực dân, bọn đội lốt Bàlamôn khát máu Bọn thống trị càng thực hiện được chính sách ngu dân để dễ bề bóc lột và kìm hãm tinh thần cách mạng Khi phân tích về sự
thống trị của thực dân Anh ở Ấn Độ, K Marx nói: “Chúng ta không nên quên rằng:
cuộc sống cầu bình an đình trệ, sự sinh tồn bị động ấy đã kích thích lực lượng phá hoại điên cuồng, vô mục đích và bừa bãi, khiến cho việc ám sát trở thành nghi thức
Trang 36tôn giáo ở Hindustan” [4, tr.19] Và K Marx kết luận: “Một nước mà xã hội như thế, thảo nào chẳng trở thành chiến lợi phẩm của kẻ xâm lược” [4, tr.19] Tagore
đau xót khi mục kích cảnh chính nhân dân mình đem máu của đồng loại tế những
bức tượng vô tri Trong lời đề từ của vở kịch, ông viết: “Tôi tặng vở kịch này cho
những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ hòa bình khi có kẻ đòi lấy máu nhân loại làm lễ dâng Nữ Thần Chiến Tranh” [33, tr.688]
Đóng góp quan trọng của Tagore là ở chỗ không phải ai cũng dám lên tiếng chống lại lễ giáo phong kiến từ lâu đời đã ăn sâu vào lòng người dân Ấn Độ, nhất là trong khi lực lượng Bàlamôn đang còn mạnh Chọn hình thức biểu hiện thích hợp trong thần thoại hay trong nghi lễ dân gian để nói lên những vấn đề của thời đại, phê phán kín đáo nhằm tránh được chế độ kiểm duyệt gắt gao của chính quyền thống trị là phương thức biểu hiện được Tagore sử dụng hiệu quả Do đó, với các vở kịch, R Tagore xứng đáng là một chiến sĩ dũng cảm nhất trong hàng ngũ chống phong kiến, chống tăng lữ, bảo vệ hòa bình
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã bộc lộ bản chất tàn ác của chủ nghĩa đế quốc
và bóc trần bộ mặt giả dối của nền văn minh tư sản Của cải và sinh mệnh của người dân Ấn Độ dốc hết vào chiến tranh để phục vụ cho thực dân Anh Phong trào đấu tranh giành độc lập ngày càng sôi nổi, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Tagore không trực tiếp tham gia vào các phong trào chính trị, nhưng qua các vở kịch, tiếng nói hòa bình và nhân đạo của ông ngày càng tỏ ra quyết liệt và sâu sắc hơn Cho đến cuối đời, ông vẫn là người lính canh bảo vệ cho nền hòa bình của Ấn Độ
Sau vở ca kịch ngắn đầu tay Trái tim tan vỡ (1881), Tagore bắt đầu thử
nghiệm đề tài thần thoại với nền nhạc ngợi ca thần linh để sáng tác vở ca kịch
Valmiki tỉnh ngộ (1881) Cốt truyện lấy từ truyện thần thoại về tên cướp Rotnakor
được nữ thần Xarasvati cảm hóa phú cho tài làm thơ đã viết nên kiệt tác Ramayana
Tagore đã khéo léo điểm xuyết cốt truyện thần thoại khớp với nền nhạc phụ họa, và giữ nguyên cốt truyện trong sáng tác dân gian xứ Bengal thời Trung cổ Theo truyền thuyết dân gian thì chỉ sau khi gặp gỡ nữ thần có sức mạnh siêu nhiên trong hình
Trang 37tượng cô gái, tên cướp mới có tài năng “bộc phát” biết làm thơ Khai thác theo hướng tích cực, cốt truyện thần thoại phục vụ cho ý niệm chân thiện, Tagore đã xử
lí những diễn biến trong vở ca kịch một cách tài tình, thấm đẫm tinh thần nhân đạo Tagore để cho tính cách của nhân vật chuyển biến rất logic theo sự tự vận động bản tính con người trước sự lựa chọn giữa cái thiện và cái ác Người xem tán thưởng với cách xử lí của tác giả để cho nhân vật tên cướp tỉnh ngộ vì sự đồng cảm với tình cảm của cô gái, tuyệt nhiên không phải vì sợ hãi trước uy linh của nữ thần Để cho nhân vật tên cướp tỉnh ngộ bằng cách khơi dậy “tính bản thiện”, Tagore muốn
hướng người xem đến cái thiện vốn có của con người trong cách đối xử với đồng
loại: đó là cái thiện có thể cảm hóa được tà tâm và cứu vớt được những kẻ lầm lạc thoát khỏi vòng tội lỗi để hoàn lương trở lại làm người Thông qua vở kịch, Tagore muốn thể hiện niềm tin mãnh liệt rằng, thần thánh cao siêu thần bí không thể nào
thay đổi được bản chất con người, bởi lẽ ông hằng tâm niệm: “thần thánh không
cứu giúp người thì con người phải tự cứu lấy mình” [31, tr.702]
Hai vở kịch Dòng thác (1922) và Cây trúc đào (1926) thể hiện rõ ràng nhất
tư tưởng chính trị của R Tagore Tác giả đã vạch trần bản chất lỗi thời, vô nhân đạo của chế độ thuộc địa và chủ nghĩa tư bản Vào thời điểm Tagore viết những vở kịch này, cuộc cách mạng tháng Mười Nga đã có một ảnh hưởng nhất định đến các phong trào xã hội Ấn Độ và tư tưởng nghệ thuật của Tagore Đặc biệt vào năm
1930, Tagore đã có chuyến thăm Liên Xô, đất nước mà ông luôn mong muốn được
nhìn thấy tận mắt: “Tôi có thể xem như mục đích của đời mình chưa hoàn toàn
thành đạt, nếu tôi chưa đến thăm Liên Xô” [4, tr.44] Ông chỉ ở Liên Xô hai tuần lễ
Nhưng chuyến đi đó đã mở ra cho ông một thế giới mới lạ mà trước đây chỉ có trong trí tưởng tượng và ước mơ của ông Ông vô cùng cảm kích trước những thành tựu xán lạn của đất nước xã hội chủ nghĩa, những kì công của người lao động Xô Viết từ trong bóng tối, đau khổ đã đứng lên làm chủ vận mệnh tươi sáng và tương
lai đẹp đẽ của mình Trong Những bức thư từ nước Nga (Letters From Russia,
1931), Tagore viết:
Trang 38Và sau cùng là nước Nga (nhìn nơi nào tôi cũng tràn đầy cảm kích) Nước Nga không giống bất kì một nước nào Thật hoàn toàn khác Từ gốc đến ngọn, mọi người đều cùng vươn dậy như nhau… Người ta đang cố gắng không ngừng đưa đến cho nhân dân những thành tựu khoa học dù là nhỏ nhất Các rạp hát ở đây đều chật ních, tràn ngập những người đi xem: những người đi xem này lại đều là nông dân
và công nhân Không có nơi nào công nông bị khinh rẻ cả [4, tr.55]
Thực tế xã hội ở Liên Xô đã giúp ông giải đáp những mối băn khoăn về cải cách xã hội, đã làm cho ông yêu mến Liên Xô và tin tưởng hơn về lực lượng quần chúng cách mạng Ấn Độ Từ sau chuyến đi này, cách nhìn hiện thực cuộc sống và
số phận con người của Tagore đã có nhiều thay đổi Từ cái nhìn duy tâm trừu tượng trước kia, Tagore đã có cái nhìn cụ thể gắn liền với sự phân tích lịch sử - xã hội sâu sắc Dù chưa thật rõ ràng, nhưng ông đã nhìn thấy dấu hiệu thức tỉnh, ý thức dân chủ và tinh thần dân tộc trong các phong trào công nhân Những phân tích của ông
về tình trạng cuộc sống người công nhân trong một nước thuộc địa ngày càng sâu sắc Ông đã nhìn thấy những nghịch lý trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là tình trạng cuộc sống của người công nhân ngày càng tồi tệ hơn trong khi khoa học
kĩ thuật ngày càng phát triển Ông không nhìn máy móc như một thứ thù địch với
đời sống con người Trong vở Dòng thác, R Tagore đã tố cáo sự áp bức dân tộc và
cướp bóc thuộc địa của giai cấp tư sản nhờ sự tiếp tay của những thành tựu khoa học kĩ thuật Một khi máy móc nằm trong tay những kẻ bóc lột, nó sẽ trở thành một công cụ, một thứ quyền lực bạo tàn mà con người phải chống lại để bảo vệ cuộc sống của họ
Cảm hứng ấy còn được Tagore thể hiện sâu sắc hơn trong vở kịch Cây trúc
đào Trong vở kịch này, Tagore tập trung phê phán mạnh mẽ chế độ người bóc lột người Ông lên tiếng kêu gọi mọi người, đặc biệt là những người công nhân đứng lên chống lại chế độ nô dịch chuyên chế, đồng thời vạch trần bản chất xấu xa của đế
quốc tư bản ích kỉ, trục lợi Trong vở Cây trúc đào, quan điểm của Tagore về dân
tộc và nhân loại, về chiến tranh và hòa bình cũng xuất phát từ tinh thần nhân đạo trừu tượng Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đây là tác phẩm đầu tiên của Ấn Độ,
Trang 39thông qua những hình ảnh ẩn dụ đặc biệt đã chỉ ra tình trạng tồi tệ của cuộc sống những người công nhân trong chế độ thuộc địa
Giữ vị trí đặc biệt trong kịch của Tagore phải kể đến vở kịch thơ Cỗ xe thời
gian Tác phẩm được Tagore hoàn thành bản thảo vào năm 1923 và cho ra mắt công
chúng vào năm 1932 Đây là thời kì tư tưởng nghệ thuật của Tagore có nhiều thay đổi, nhất là sau chuyến thăm Liên Xô Từ một nghệ sĩ quý tộc, ông đã trở thành một nhà dân chủ có cảm tình với giai cấp vô sản Những nhận thức của ông về vai trò và khả năng thay đổi số phận của những con người nhỏ bé đã trở nên rõ ràng hơn
Trong vở kịch Cỗ xe thời gian, Tagore đã hiện thực hóa một cách khá rõ ràng
những khái niệm chính trị, xã hội phức tạp Hình ảnh tượng trưng của lịch sử chính
là cỗ xe thời gian, xuất hiện trong những ngày lễ tôn giáo ở Ấn Độ Theo nghi lễ tôn giáo, trong ngày lễ đó, người ta đặt lên cỗ xe những bức tượng thánh được tôn thờ thành kính và kéo cỗ xe đi dọc các đường phố trong khi các tín đồ nằm xuống đường để cản bánh xe lăn Trong kịch Tagore, hình tượng cỗ xe đã mang một ý nghĩa mới mẻ Nó biểu trưng cho tiến trình lịch sử mà nhân dân lao động là người thúc đẩy nó tiến lên Dưới bánh xe lịch sử, những bất công xã hội, những tư tưởng
lỗi thời là lực cản cần loại bỏ vì: “không thể kìm dây cương từ những cơn giận dữ
của những dòng thác đang lên” [51, tr.137] Tagore thể hiện niềm tin vào những
người dân lao động, chính họ là người sẽ đẩy cỗ xe thời gian đi theo con đường
mới: “Thế giới này là của nhân dân, nó đi theo ý muốn của họ” và “họ tin rằng họ
có thể cầm quyền với niềm vui hân hoan của những người lao động” [51, tr.137]
Trong cái nhìn của Tagore, phía trước là ngày mai, một “ngày mai vĩ đại đã đến
rồi!”
2.1.2 Đề tài tôn giáo
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa Tôn giáo là:
Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng tự nhiên cho rằng có lực lượng siêu nhiên định đoạt tất cả, con người phải phục tùng và tôn thờ Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng
Trang 40một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái đấy
Ấn Độ là một trong những cái nôi tôn giáo lớn của thế giới Người dân Ấn
Độ bao đời vẫn chìm đắm mơ màng trong những nghi lễ, hủ tục tôn giáo Kẻ thù đã lợi dụng nhược điểm đó để thống trị và áp đặt những luật lệ hà khắc Đến thời của Tagore, thực dân Anh ngày càng bộc lộ rõ bản chất thâm độc của chúng Các cuộc bạo động của nông dân đều bị dìm trong biển máu; nạn đói khủng khiếp giết chết
hàng chục triệu người Vấn đề giải phóng con người và “cứu sống linh hồn Hindu”
là yêu cầu cấp bách Theo Tagore, muốn giải phóng đất nước, trước hết phải giải phóng con người, giải phóng bản chất tự nhiên của họ Ông đề cao cuộc sống và tình cảm con người, chống lại tinh thần phân biệt đẳng cấp, chủ nghĩa khổ hạnh, thoát tục của đạo giáo Với Tagore, thế giới hữu hạn là hiện thân của Thượng đế Vậy muốn hòa hợp với Thượng đế, không còn cách nào khác là hòa hợp với cuộc sống hồn nhiên của con người Ông chuyển vấn đề Thượng đế thành vấn đề của riêng con người Vì thế tôn giáo của Tagore không phải là thứ tôn giáo huyễn hoặc,
xa vời Ông đã tìm tôn giáo của mình: Tôn giáo Con người Tư tưởng này thể hiện rất rõ trong các vở kịch Thầy tu khổ hạnh, Chita, Malini
Bao trùm vở kịch Thầy tu khổ hạnh là cảm hứng ca ngợi sự chiến thắng của
tình yêu, của nhân tính trước chủ nghĩa khổ hạnh của tôn giáo Tagore đã viết lời đề
từ dưới tên vở kịch: “Xin dẫn dắt chúng tôi từ Hư vô về Thực tại” Tác phẩm là lời
tuyên chiến của R Tagore đối với tôn giáo thần bí và là lời cảnh tỉnh đối với những
ai đang lầm lạc trong màn sương khói của tôn giáo
Đề tài của vở kịch không mới so với kịch truyền thống Ấn Độ Bởi có thể bắt gặp hình ảnh của Xaniaxi trong dáng dấp của hiền sĩ Visuamitra mà Kalidasa đã thể
hiện trong Shakuntala, trong bóng dáng của thần Shiva khổ hạnh ép xác trong thần thoại Karma - Shiva Ý định bỏ trời, bỏ cõi tu khổ hạnh để trở về với cuộc đời thật cũng là chủ đề được nhắc lại trong bài thơ Từ biệt Trời, trong đó nhân vật tu sĩ
quyết từ bỏ trời cao xa, từ biệt các vũ nữ Menaka, Urovaxi để quay về đất mẹ trần thế với người con gái bằng xương bằng thịt, người vợ chưa cưới chung thủy Ở tập