Tiếp tục tinh thần và nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chủ trương đ ẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào phải trên cơ sở phát huy[r]
Trang 1TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ CỦA HAI DÂN
TỘC VÀ TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN MỚI
-Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết, bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh giành độc lập tự do và tiến
bộ xã hội Mối quan hệ đó được lãnh đạo hai Đảng hai Nhà nước khẳng định là mối quan
hệ đặc biệt Điều này cắt nghĩa cho việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử và trên những chặng đường phát triển mới là
vô cùng quan trọng
Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống,
còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường phát triển mới.
Các điều kiện tự nhiên, địa - chiến lược, địa - quân sự là một trong những yếu tố chi phối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Các yếu tố đó đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn - Trung, thuộc vùng Đông Nam
Á lục địa Trong phạm vi bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phía đông Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo Như vậy dãy Trường Sơn được ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt nam và Lào Địa hình tự nhiên đã quy định hệ thống giao thông ở Việt Nam và Lào cùng chạy dài theo trục Bắc - Nam; ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A và ở Lào là trục quốc lộ 13 Về mặt tự nhiên bên cạnh con đường 13 nối Pạc
Xê - Thành Phố Hồ Chí Minh Lào có thể thông thương ra biển gần nhất bằng hệ thống đường xương cá chạy ngang trên lãnh thổ hai nước đó là đường 6 Sầm Nưa – Thanh Hoá, đường 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An, đường 8 Khăm Muộn - Hà Tĩnh, đường 9 Xavẳnnakhệt - Đông Hà, đường 12 Khăm Muộn - Quảng Bình
Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo chiều dọc của bán đảo, mặt hướng ra biển đông với
bờ biển dài 3400 km, tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ, biển Đông và Vịnh Thái Lan, có nhiều cảng biển lớn, nhất là các các biển nước sâu ở Miền Trung
Việt Nam và Lào là những nước thuộc loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống bên cạnh nhau chiếm vị trí địa chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn độ Dương Về quốc phòng, bờ biển Việt Nam ở phía Đông tương đối dài nên việc bố phòng về mặt biển gặp không ít trở ngại Trong khi đó dựa vào địa hình hiểm trở, nhất là với dãy Trường Sơn - một “lá chắn chiến tranh” hùng vĩ, một lợi thế tự nhiên
Trang 2che chắn cho cả Việt Nam và Lào, nên chẳng những hai nước có thể khắc phục được những điểm yếu “hở sườn” ở phía đông mà còn phát huy được sự cần thiết dựa lưng vào nhau tạo ra vô vàn cách đánh của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc Nhân dân hai nước có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, giành thắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược Về địa - quân sự, Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng, hay cao nguyên BôlaVên của Lào và Tây Nguyên của Việt Nam, vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào đều là những vị trí có tầm chiến lược hàng đầu trên bán đảo Đông Dương Nhiều nhà chiến lược và quân sự cho rằng: Ai nắm được địa bàn chiến lược trên, người đó sẽ làm chủ toàn bộ chiến trường Đông Dương Điều đó cắt nghĩa về tầm quan trọng phải giũ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Lào lên tầm cao mới
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sản vô giá, là quy luật giành thắng lợi của hai dân tộc Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mối quan hệ giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng chiến đấu Đảng cộng sản Việt Nam - tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương thành lập, đánh dấu việc thiết lập quan hệ đặc biệt Việt Nam
- Lào, Lào - Việt Nam Việt Nam, Lào, Cao Miên tuy là ba nước nhưng đều nằm trong một xứ, đều bị thực dân Pháp thống trị và áp bức Giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị
áp bức trong ba nước muốn đánh đổ thực dân Pháp, giành lại độc lập, đánh đổ chế độ phong kiến để giải phóng cho mình thì không thể đấu tranh riêng lẽ được Ngay sau khi hợp nhất ba tổ chức cộng sản và lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng đã thông qua các văn kiện “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng” “ Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng” “Sách lược vắn tắt” và “ Chương trình tóm tắt” chứa đựng tinh thần yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế trong sáng, được thể hiện ở chỗ trong khi tuyên truyền khẩu hiệu An Nam độc lập, đồng thời cũng tuyên truyền và xây dựng quan hệ đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới Với những văn kiện đó, nhất là “Luận cương chánh trị” của Đảng cộng sản Đông Dương sau đó đã xác định cụ thể, toàn diện về mặt lý luận cho mối quan hệ giữa phong trào cách mạng Việt nam và phong trào cách mạng Lào, đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào với các tổ chức Đảng trong các xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam Kỳ,
Ai lao, Cao Miên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã được khẳng định trong lịch
sử, in đậm những mốc son sáng chói về tình nghĩa ruột, thịt, thủy chung trong sáng, nương tựa lẫn nhau, sống chết có nhau: Nhân dân Lào đã cùng Việt Kiều tích cực đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 –
1939 và tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền giai đoạn
1939-1945 Hợp tác giúp nhau chống thực dân Pháp xâm lược; phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ ne Vơ, chống Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao ( 1954- 1962); phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến
Trang 3lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn ( 1973 -1975 ); Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn khảo nghiệm, mở đường đổi mới ( 1976 – 1986) Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ( 1986 – nay) Trong tiến trình cách mạng đó, mỗi bước phát triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẩn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển Mối quan hệ đó xuẩt phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh giải phóng mang bản chất quốc tế vô sản, mang lại hiệu quả rõ rệt Trong sự nghiệp chung
đó, Lào và Việt Nam đã trở thành những người bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chung một kẻ thù, chung một chiến hào đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ Đó là một mối quan hệ xưa nay hiếm - một mối quan hệ láng giềng tự nhiên, có lịch sử gắn bó lâu dài, chung một dãy Trường Sơn, chung một dòng sông Mê Kông, chung một ý thức hệ Hai Đảng, hai Nhà nước không những đã đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau chống kẻ thù chung là Pháp và Mỹ mà còn giúp đỡ nhau có hiệu quả trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập tự do, hạnh phúc của hai
dân tộc và nhân dân hai nước đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới
những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống,
là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào
cũng không thể chia tách được Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ tịch Kaysone Phomvihane
khẳng định: “ Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài toàn diện như vậy”
Nhìn lại lịch sử đã qua, Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, chí tình, chí nghĩa và có hiệu quả mà hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dành cho sự nghiệp cách mạng của nhau Những năm qua, hai bên thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao, duy trì
cơ chế trao đổi thông tin, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công cuộc đổi mới và xây dựng Đảng; hoàn thành và công bố các sản phẩm của Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào; hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên và mở rộng với nhiều hình thức được thực hiện từ Trung ương tới các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp Hai bên đã ký Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt Nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, giai đoạn 2011 – 2020 Những năm gần đây, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước tiếp tục được tăng cường;
Trang 4Việt Nam là nước đứng thứ hai trong số các nước đầu tư vào Lào với 5200 cán bộ lưu học sinh Lào đang học tập tại các cơ sở đào tạo của Việt Nam và 500 lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Lào Thương mại hai chiều năm 2011 đạt 734 triệu USD, tăng 50% so với năm 2010 Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào với hơn 400 dự án, tổng vốn đầu tư trên 5 tỷ U SD Dự báo đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng 7 tỷ USD vào năm 2015, kim ngạch 2 chiều đạt 2-3 tỷ USD vào năm 2015 và 5 tỷ USD vào năm 2020 Trong năm 2012, hàng loạt các công trình, dự án sẽ hoàn thành chào mừng Năm đoàn kết hữu nghị Việt - Lào, như Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào, Đường 2E, Nhà máy thủy điện Xe KhamAn, Trường PTTH dân tộc nội trú HuaPhan
Tại kỳ họp lần thứ 33 Ủy ban liên Chính phủ, hai bên đã ký thỏa thuận về Chiến lược hợp tác giai đoạn 2011 – 2020; Hiệp định hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2011 – 2015; Hiệp định hợp tác Việt Nam – Lào năm 2011 Bên cạnh đó, Việt Nam và Lào thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề quốc tế và khu vực, hoạt động tại các tổ chức và các diễn đàn đa phương Sự ủng hộ mạnh mẽ và toàn diện của hai Đảng, hai nước dành cho nhau trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của mỗi nước là vô cùng quan trọng và to lớn.
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân Lào đã giành được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, làm cho thế và lực của Cách mạng Lào không ngừng lớn mạnh, uy tín và vị thế của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Những thắng lợi đó không chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với nhân dân Lào, mà còn là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam luôn ghi nhận với sự biết ơn sâu sắc Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em về sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, vô tư, trong sáng và có hiệu quả trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ngày nay Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước và nhân dân cùng các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn ủng hộ và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào, nhân dân Lào anh em sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, xây dựng thành công nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng
Bước sang thế kỷ XXI, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày
càng mạnh mẽ, sâu sắc trong thế giới hiện đại trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt kinh tế,
khoa học, công nghệ, thương mại Đó là xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh Toàn cầu hóa vừa có thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời cũng
là những thách thức to lớn, nhiều khi hoàn toàn mới mẽ đối với các nước đang còn ở trong tình trạng chậm phát triển Thế giới đứng trước những vấn đề toàn cầu mà không một quốc
Trang 5gia riêng lẽ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương Mặt khác vị trí chiến lược của Đông Nam Á ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương từ lâu đã trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực giữa các nước lớn trên thế giới Cùng với sự phát triển như vũ bão của quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, Đông Nam Á ngày càng trở nên sống động, không chỉ bởi sự gia tăng hợp tác và liên kết nội khối, mà còn trở thành nơi hội
tụ của các sáng kiến mới thúc đẩy quan hệ hợp tác ASEAN với các đối tác bên ngoài, đặc biệt là với các nước lớn và các nước đang phát triển Trước xu thế đó, các nhà lãnh đạo ASEAN càng nhận thức rõ hơn tính bức thiết trong việc đẩy nhanh tiến trình hội nhập trong nội khối cũng như ngoài khu vực Chính vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội IX của Đảng NDCM Lào tiếp tục khẳng định đường lối, chính sách coi trọng và không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc
biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, coi đó là di sản vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển, là một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước Việc đưa quan hệ Việt Nam - Lào lên tầm cao mới sẽ đáp
ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trên tinh thần đó, ngay sau khi được bầu làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng trong hoạt động đối ngoại của mình đã chọn Lào là quốc gia đầu tiên trong chuyến thăm chính thức của mình trên cương vị Tổng Bí thư và cũng ngay sau khi được bầu làm Tổng bí thư, chủ tịch nước của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone đã chọn Việt Nam trong chuyến thăm hữu nghị chính thức của mình Những hoạt động đó là biểu hiện sinh động của tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, gắn bó keo sơn, thủy chung, trong sáng giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước và là bằng chứng hai Đảng, hai nhà nước và hai dân tộc luôn ưu tiên và coi trọng, quan tâm và chăm sóc để mối quan hệ Việt-Lào “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững
Tuyên bố chung về kết quả cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone đã khẳng định:
Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, kết hợp thỏa đáng tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào với thông lệ quốc tế, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới
Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi một số biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận cấp cao hai Đảng, hai nước Trong đó đặc biệt chú ý việc Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các Bộ, Ngành,địa phương triển
Trang 6khai thực hiện Hiệp định hợp tác 5 năm 2015 và Chiến lược hợp tác 10 năm 2020;
2011-Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương của hai nước, nhất là các địa phương có chung biên giới; sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế
và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Liên Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Tiếp tục đi sâu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt quan tâm việc tuyên truyền, giáo dục dưới nhiều hình thức về Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Chủ động chuẩn bị kỹ, trao đổi thống nhất và phối hợp chặt chẽ về nội dung, chương trình hoạt động của “Năm đoàn kết hữu nghị 2012” trong đó có việc Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước thăm chính thức lẫn nhau để cùng khai mạc và bế mạc “Năm đoàn kết hữu nghị 2012,” tổ chức khởi công hoặc khánh thành một số công trình trọng điểm tạo dấu ấn về quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào
Cần có sự phối hợp và sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển; đẩy mạnh hợp tác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong hoàn cảnh nào hai Đảng và nhân dân hai nước cũng làm hết sức mình để giữ gìn và vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau; không ngừng phát triển quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thiết thực, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao 2012) và 35 năm ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (1977-2012) Phối hợp chặt chẽ để thực hiện thắng lợi thoả thuận chiến lược về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước giai đoạn 2011-2020, Hiệp định hợp tác giai đoạn 2011-
(1962-2015 và Hiệp định hợp tác năm 2011; tập trung hợp tác xây dựng một số công trình kinh tế
có vai trò kết nối nền kinh tế hai nước và kết nối với khu vực và thế giới
Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; hoàn thành dự án tăng dày
và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới vào năm 2014 và tiếp tục xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào Khẳng định mong muốn cùng các bên liên quan giải quyết vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực Hai Đảng luôn duy trì, giữ vững và giúp
Trang 7đỡ lẫn nhau một cách chí tình và vô tư, trong sáng để cùng phát triển, đồng thời giữ vững các mục tiêu cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước
Một lần nữa chúng ta khẳng định một điều rằng, giữ gìn và phát huy mối quan
hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bởi lẽ, đó là mối quan hệ đặc biệt được hai Đảng, hai Nước và nhân dân hai dân tộc thường xuyên trân trọng, vun đắp và gìn giữ qua các thời kỳ cách mạng Chúng ta tin tưởng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của hai Đảng, nhân dân hai Nước sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng cũng như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mình.
BÀI DỰ THI : “TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT
bộ xã hội Mối quan hệ đó được lãnh đạo hai Đảng hai Nhà nước khẳng định là mối quan
hệ đặc biệt Điều này cắt nghĩa cho việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt
Trang 8Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử và trên những chặng đường phát triển mới là
vô cùng quan trọng
Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống,
còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường phát triển mới.
Các điều kiện tự nhiên, địa - chiến lược, địa - quân sự là một trong những yếu tố chi phối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Các yếu tố đó đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn - Trung, thuộc vùng Đông Nam
Á lục địa Trong phạm vi bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phía đông Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo Như vậy dãy Trường Sơn được ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt nam và Lào Địa hình tự nhiên đã quy định hệ thống giao thông ở Việt Nam và Lào cùng chạy dài theo trục Bắc - Nam; ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A và ở Lào là trục quốc lộ 13 Về mặt tự nhiên bên cạnh con đường 13 nối Pạc
Xê - Thành Phố Hồ Chí Minh Lào có thể thông thương ra biển gần nhất bằng hệ thống đường xương cá chạy ngang trên lãnh thổ hai nước đó là đường 6 Sầm Nưa – Thanh Hoá, đường 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An, đường 8 Khăm Muộn - Hà Tĩnh, đường 9 Xavẳnnakhệt - Đông Hà, đường 12 Khăm Muộn - Quảng Bình
Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo chiều dọc của bán đảo, mặt hướng ra biển đông với
bờ biển dài 3400 km, tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ, biển Đông và Vịnh Thái Lan, có nhiều cảng biển lớn, nhất là các các biển nước sâu ở Miền Trung
Việt Nam và Lào là những nước thuộc loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống bên cạnh nhau chiếm vị trí địa chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á do nằm kề con đường giao thương hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn độ Dương Về quốc phòng, bờ biển Việt Nam ở phía Đông tương đối dài nên việc bố phòng về mặt biển gặp không ít trở ngại Trong khi đó dựa vào địa hình hiểm trở, nhất là với dãy Trường Sơn - một “lá chắn chiến tranh” hùng vĩ, một lợi thế tự nhiên che chắn cho cả Việt Nam và Lào, nên chẳng những hai nước có thể khắc phục được những điểm yếu “hở sườn” ở phía đông mà còn phát huy được sự cần thiết dựa lưng vào nhau tạo ra vô vàn cách đánh của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc Nhân dân hai nước có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, giành thắng lợi từng bước, tiến lên đánh bại mọi kẻ thù xâm lược Về địa - quân sự, Cánh đồng Chum- Xiêng Khoảng, hay cao nguyên BôlaVên của Lào và Tây Nguyên của Việt Nam, vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Đông Bắc Lào đều là những vị trí có tầm chiến lược hàng đầu trên bán đảo Đông Dương Nhiều nhà chiến lược và quân sự cho rằng: Ai nắm được địa bàn chiến lược trên, người đó sẽ làm chủ toàn bộ chiến trường Đông Dương.
Trang 9Điều đó cắt nghĩa về tầm quan trọng phải giũ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Lào lên tầm cao mới
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sản vô giá, là quy luật giành thắng lợi của hai dân tộc Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mối quan hệ giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng chiến đấu Đảng cộng sản Việt Nam - tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương thành lập, đánh dấu việc thiết lập quan hệ đặc biệt Việt Nam
- Lào, Lào - Việt Nam Việt Nam, Lào, Cao Miên tuy là ba nước nhưng đều nằm trong một xứ, đều bị thực dân Pháp thống trị và áp bức Giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị
áp bức trong ba nước muốn đánh đổ thực dân Pháp, giành lại độc lập, đánh đổ chế độ phong kiến để giải phóng cho mình thì không thể đấu tranh riêng lẽ được Ngay sau khi hợp nhất ba tổ chức cộng sản và lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng đã thông qua các văn kiện “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng” “ Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng” “Sách lược vắn tắt” và “ Chương trình tóm tắt” chứa đựng tinh thần yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế trong sáng, được thể hiện ở chỗ trong khi tuyên truyền khẩu hiệu An Nam độc lập, đồng thời cũng tuyên truyền và xây dựng quan hệ đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới Với những văn kiện đó, nhất là “Luận cương chánh trị” của Đảng cộng sản Đông Dương sau đó đã xác định cụ thể, toàn diện về mặt lý luận cho mối quan hệ giữa phong trào cách mạng Việt nam và phong trào cách mạng Lào, đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào với các tổ chức Đảng trong các xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam Kỳ,
Ai lao, Cao Miên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã được khẳng định trong lịch
sử, in đậm những mốc son sáng chói về tình nghĩa ruột, thịt, thủy chung trong sáng, nương tựa lẫn nhau, sống chết có nhau: Nhân dân Lào đã cùng Việt Kiều tích cực đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 –
1939 và tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền giai đoạn
1939-1945 Hợp tác giúp nhau chống thực dân Pháp xâm lược; phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ ne Vơ, chống Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao ( 1954- 1962); phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn ( 1973 -1975 ); Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn khảo nghiệm, mở đường đổi mới ( 1976 – 1986) Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ( 1986 – nay) Trong tiến trình cách mạng đó, mỗi bước phát triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẩn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển Mối quan hệ đó xuẩt phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh giải phóng mang bản chất quốc tế vô sản, mang lại hiệu quả rõ rệt Trong sự nghiệp chung
Trang 10đó, Lào và Việt Nam đã trở thành những người bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chung một kẻ thù, chung một chiến hào đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ Đó là một mối quan hệ xưa nay hiếm - một mối quan hệ láng giềng tự nhiên, có lịch sử gắn bó lâu dài, chung một dãy Trường Sơn, chung một dòng sông Mê Kông, chung một ý thức hệ Hai Đảng, hai Nhà nước không những đã đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau chống kẻ thù chung là Pháp và Mỹ mà còn giúp đỡ nhau có hiệu quả trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập tự do, hạnh phúc của hai
dân tộc và nhân dân hai nước đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới
những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống,
là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào
cũng không thể chia tách được Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ tịch Cayxỏn phômvihản khẳng định: “ Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài toàn diện như vậy”
Nhìn lại lịch sử đã qua, Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào luôn nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, quý báu, chí tình, chí nghĩa và có hiệu quả mà hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dành cho sự nghiệp cách mạng của nhau Những năm qua, hai bên thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cấp cao, duy trì
cơ chế trao đổi thông tin, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công cuộc đổi mới và xây dựng Đảng; hoàn thành và công bố các sản phẩm của Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào; hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên và mở rộng với nhiều hình thức được thực hiện từ Trung ương tới các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp Hai bên đã ký Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt Nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, giai đoạn 2011 – 2020 Những năm gần đây, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước tiếp tục được tăng cường; Việt Nam là nước đứng thứ hai trong số các nước đầu tư vào Lào với 5200 cán bộ lưu học sinh Lào đang học tập tại các cơ sở đào tạo của Việt Nam và 500 lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Lào Thương mại hai chiều năm 2011 đạt 734 triệu USD, tăng 50% so với năm 2010 Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào với hơn 400 dự án, tổng vốn đầu tư trên 5 tỷ U SD Dự báo đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tăng 7 tỷ USD vào năm 2015, kim ngạch 2 chiều đạt 2-3 tỷ USD vào năm 2015 và 5 tỷ USD vào năm 2020 Trong năm 2012, hàng loạt các công trình, dự án sẽ hoàn thành chào mừng
Trang 11Năm đoàn kết hữu nghị Việt - Lào, như Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào, Đường 2E, Nhà máy thủy điện Xe KhamAn, Trường PTTH dân tộc nội trú HuaPhan
Tại kỳ họp lần thứ 33 Ủy ban liên Chính phủ, hai bên đã ký thỏa thuận về Chiến lược hợp tác giai đoạn 2011 – 2020; Hiệp định hợp tác Việt Nam – Lào giai đoạn 2011 – 2015; Hiệp định hợp tác Việt Nam – Lào năm 2011 Bên cạnh đó, Việt Nam và Lào thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề quốc tế và khu vực, hoạt động tại các tổ chức và các diễn đàn đa phương Sự ủng hộ mạnh mẽ và toàn diện của hai Đảng, hai nước dành cho nhau trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của mỗi nước là vô cùng quan trọng và to lớn.
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân Lào đã giành được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, làm cho thế và lực của Cách mạng Lào không ngừng lớn mạnh, uy tín và vị thế của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Những thắng lợi đó không chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với nhân dân Lào, mà còn là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam luôn ghi nhận với sự biết ơn sâu sắc Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào anh em về sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, vô tư, trong sáng và có hiệu quả trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ngày nay Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước và nhân dân cùng các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn ủng hộ và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào, nhân dân Lào anh em sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa trong công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, xây dựng thành công nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng
Bước sang thế kỷ XXI, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày
càng mạnh mẽ, sâu sắc trong thế giới hiện đại trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt kinh tế,
khoa học, công nghệ, thương mại Đó là xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh Toàn cầu hóa vừa có thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời cũng
là những thách thức to lớn, nhiều khi hoàn toàn mới mẽ đối với các nước đang còn ở trong tình trạng chậm phát triển Thế giới đứng trước những vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẽ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương Mặt khác vị trí chiến lược của Đông Nam Á ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương từ lâu đã trở thành địa bàn tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực giữa các nước lớn trên thế giới Cùng với sự phát triển như vũ bão của quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, Đông Nam Á ngày càng trở nên sống động, không chỉ bởi sự gia tăng hợp tác và liên kết nội khối, mà còn trở thành nơi hội
Trang 12tụ của các sáng kiến mới thúc đẩy quan hệ hợp tác ASEAN với các đối tác bên ngoài, đặc biệt là với các nước lớn và các nước đang phát triển Trước xu thế đó, các nhà lãnh đạo ASEAN càng nhận thức rõ hơn tính bức thiết trong việc đẩy nhanh tiến trình hội nhập trong nội khối cũng như ngoài khu vực Chính vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội IX của Đảng NDCM Lào tiếp tục khẳng định đường lối, chính sách coi trọng và không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc
biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, coi đó là di sản vô giá của hai dân tộc và là
quy luật phát triển, là một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước Việc đưa quan hệ Việt Nam - Lào lên tầm cao mới sẽ đáp
ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trên tinh thần đó, ngay sau khi được bầu làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng trong hoạt động đối ngoại của mình đã chọn Lào là quốc gia đầu tiên trong chuyến thăm chính thức của mình trên cương vị Tổng Bí thư và cũng ngay sau khi được bầu làm Tổng bí thư, chủ tịch nước của Đảng nhân dân cách mạng Lào, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone đã chọn Việt Nam trong chuyến thăm hữu nghị chính thức của mình Những hoạt động đó là biểu hiện sinh động của tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, gắn bó keo sơn, thủy chung, trong sáng giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước và là bằng chứng hai Đảng, hai nhà nước và hai dân tộc luôn ưu tiên và coi trọng, quan tâm và chăm sóc để mối quan hệ Việt-Lào “mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”
Tuyên bố chung về kết quả cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone đã khẳng định:
Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, kết hợp thỏa đáng tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào với thông lệ quốc tế, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới
Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi một số biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận cấp cao hai Đảng, hai nước Trong đó đặc biệt chú ý việc Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các Bộ, Ngành,địa phương triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác 5 năm 2011-2015 và Chiến lược hợp tác 10 năm 2011- 2020;
Trang 13Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương của hai nước, nhất là các địa phương có chung biên giới; sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế
và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Liên Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Tiếp tục đi sâu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt quan tâm việc tuyên truyền, giáo dục dưới nhiều hình thức về Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Chủ động chuẩn bị kỹ, trao đổi thống nhất và phối hợp chặt chẽ về nội dung, chương trình hoạt động của “Năm đoàn kết hữu nghị 2012” trong đó có việc Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước thăm chính thức lẫn nhau để cùng khai mạc và bế mạc “Năm đoàn kết hữu nghị 2012,” tổ chức khởi công hoặc khánh thành một số công trình trọng điểm tạo dấu ấn về quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào
Cần có sự phối hợp và sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển; đẩy mạnh hợp tác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong hoàn cảnh nào hai Đảng và nhân dân hai nước cũng làm hết sức mình để giữ gìn và vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau; không ngừng phát triển quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thiết thực, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao 2012) và 35 năm ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (1977-2012) Phối hợp chặt chẽ để thực hiện thắng lợi thoả thuận chiến lược về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước giai đoạn 2011-2020, Hiệp định hợp tác giai đoạn 2011-
(1962-2015 và Hiệp định hợp tác năm 2011; tập trung hợp tác xây dựng một số công trình kinh tế
có vai trò kết nối nền kinh tế hai nước và kết nối với khu vực và thế giới
Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; hoàn thành dự án tăng dày
và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới vào năm 2014 và tiếp tục xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào Khẳng định mong muốn cùng các bên liên quan giải quyết vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực Hai Đảng luôn duy trì, giữ vững và giúp
Trang 14đỡ lẫn nhau một cách chí tình và vô tư, trong sáng để cùng phát triển, đồng thời giữ vững các mục tiêu cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước
Một lần nữa chúng ta khẳng định một điều rằng, giữ gìn và phát huy mối quan
hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bởi lẽ, đó là mối quan hệ đặc biệt được hai Đảng, hai Nước và nhân dân hai dân tộc thường xuyên trân trọng, vun đắp và gìn giữ qua các thời kỳ cách mạng Chúng ta tin tưởng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của hai Đảng, nhân dân hai Nước sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng cũng như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mình./.
-1 Đất nước và con người Lào
Nước Lào có tổng diện tích 236.800 km2, có đường biên giới giáp 5 nước: Phía bắc giáp TrungQuốc, phía tây bắc giáp My-an-ma, phía tây giáp Thái Lan, phía nam giáp Căm-Pu-Chia và phía đônggiáp Việt Nam Lào có 17 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có 10 tỉnh chung đường biêngiới với Việt Nam với chiều dài 2067 km (Riêng đường biên giới chung với Quảng Trị là 206 km, gồm 2tỉnh Savằnnkhet và Salavan)
Rừng núi chiếm 3/4 diện tích, có nhiều lâm sản, động vật và khoáng sản quý hiếm Khí hậu đượcchia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Códòng Mê-công chảy từ bắc xuống nam dài 1865 km Có núi Phu-bia cao 2820m so với mặt nước biển, làđỉnh cao nhất nước Lào Có cố đô Luông-pha-ra-băng là di sản văn hoá thế giới, hàng năm thu hút rấtnhiều khách du lịch
Lịch sử nước Lào trước thế kỷ XIV gắn liền với sự thống trị của Vương quốc Nam Chiếu Vào thế
kỷ thứ XIV, vua Phà Ngừm lên ngôi đổi tên nước thành Lạn Xạng (Triệu Voi) Trong nhiều thập kỷ tiếptheo, Lào nhiều lần phải chống các cuộc xâm lược của Miến Điện và Xiêm Đến thế kỷ XVIII, Thái Langiành quyền kiểm soát trên một số tiểu vương quốc còn lại Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnhhưởng của Pháp trong thế kỷ XIX và bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương năm 1893 Trong thế chiếnthứ 2, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh ngày 12 tháng 10năm 1945, Lào tuyên bố độc lập Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào Năm 1949, quốc gianày nằm dưới sự lãnh đạo của Vua SisavangVong và mang tên Vương quốc Lào Tháng 7 năm 1954,Pháp ký hiệp định Giơnevơ công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào
Trang 15Từ năm 1955 đến năm 1975, Vương quốc Lào lệ thuộc mạnh mẽ vào Hoa Kỳ trong cuộc chiếnchống Cộng sản tại Đông Dương, tình hình đó đã lôi kéo Lào vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứhai, là yếu tố dẫn đến nội chiến Lào và xảy ra một vài cuộc đảo chính.
Thi hành Nghị Quyết Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương (02/1951), ngày 22/3/1955, Đạihội thành lập Đảng Nhân Dân Lào khai mạc tại một khu rừng thuộc tỉnh Hưa phen (Sầm Nưa) ĐảngNhân Dân Lào lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam cho hành động, xác định kẻ thù của cách mạngLào là đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phá hoại hiệp định đình chiến và bè lũ tay sai của chúng Đảng đề
ra nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới là: “đoàn kết, lãnh đạo toàn dân, phấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng”.
Từ năm 1968, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã hỗ trợ các đơn vị tham chiếncùng quân Pathét chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ Sức mạnh tổng hợp của cách mạng Lào trongkhối liên minh đoàn kết chiến đấu với các nước Đông Dương đã dồn đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào vào thế
bị động, khốn quẩn chưa từng thấy Mỹ thấy không thể thắng được Pathét Lào bằng sức mạnh quân sự do
đó phải chấp nhận phương sách “hòa hoãn” với các lực lượng cách mạng Lào
Trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân các bộ tộc Lào đang ở giai đoạnbước ngoặt, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Nhân Dân Lào lần thứ II được khai mạc từ ngày 03/02/1972
- 06/02/1972 tại ViêngXay (Sầm Nưa) với 125 đại biểu, thay mặt cho hàng vạn đảng viên của Đảng đến
dự Đại hội Đại hội thông qua bản sửa đổi Điều lệ Đảng và đổi tên Đảng nhân dân Lào thành Đảng nhândân cách mạng Lào Đại hội bầu đồng chí Cayxỏn phômvihẳn làm Tổng Bí thư Đảng nhân dân cáchmạng Lào
Năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, phong trào cộng sản Pathét Lào
đã lật đổ chính quyền hoàng tộc Ngày 29/11/1975, nhà vua Lào phải tuyên bố thoái vị, chấm dứt chế độquân chủ Lào Ngày 02/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quânchủ, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Đồng chí Suphanuvong được cử giữ chức Chủ tịchNước, đồng chí Cayxỏnphômvihẳn Tổng Bí Thư được cử làm Thủ tướng Từ đó, ngày 02 tháng 12 đượclấy làm ngày Quốc khánh của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Sau hơn 30 năm ròng rã đấu tranh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cuộc cách mạng Dân tộcDân chủ Nhân dân Lào đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn Việc khai sinh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dânLào (02/12/1975) đã kết thúc vẻ vang cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào kéodài suốt 197 năm kể từ khi phong kiến Xiêm đặt ách thống trị Lào vào năm 1778 Đây là một thắng lợioanh liệt nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của nhân dâncác bộ tộc Lào Với thắng lợi này, nhân dân các bộ tộc Lào bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình
và tiến bộ
Lào có 17 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, thủ đô là Viêng Chăn, các thành phố lớn như:Luống Phả Bang (là kinh đô đầu tiên của Lào), Xả Vằn Na Khệt, Pạc Xế… Dân số của Lào hiện nay cókhoảng 7 triệu người, bao gồm ba bộ tộc chính là Lào Lùm, Lào Thơng và Lào Sủng, ngoài ra còn cókhoảng 2-5% là người Việt, Người Hoa, người Thái cùng chung sống, tập trung ở các thành phố
2 Nền văn hoá Lào:
Nước Lào, trước đây còn gọi là Vương quốc Lạn Xạng, “Lạn” tiếng Lào là triệu, “xạng” là voi.Lạn Xạng có nghĩa là “Triệu Voi” Được mệnh danh là “Miền đất Triệu voi”- Lào nằm ở nơi giao hội củahai nền văn minh vĩ đại và hùng mạnh nhất châu Á là Ấn Độ và Trung Hoa, người dân Lào đã hấp thụnhững phong tục và tín ngưỡng của hai nền văn minh ấy để hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc củariêng mình hết sức độc đáo
Trang 16Nền văn hóa Lào là nền văn hóa Phật giáo Đạo Phật đã ăn sâu vào tư tưởng của người Lào, ảnhhưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, tạo nên một dân tộc Lào rất riêng.
Văn hóa Lào là xứ sở của Phật giáo tiểu thừa, 90% dân số theo đạo Phật Đạo Phật được truyềnvào xứ Lào trong triều vua Dvaravati vào thế kỷ thứ 7, và từ thế kỷ 14 Phật giáo đã trở thành quốc giáo.Người dân Lào đã thấm nhuần trong mình những lời Phật dạy, một mực kính trọng các bậc tăng ni, những
vị sư sãi trong chùa Với dân số khoảng 7 triệu người và có tới 1.400 ngôi chùa lớn nhỏ, Lào là nước có tỉ
lệ chùa so với dân cao nhất thế giới, chùa chiền, đền tháp là nơi gắn bó cả đời với người Lào, cũng là chấtkeo cộng đồng gắn kết các bộ tộc Lào lại với nhau- chất keo văn hoá Phật giáo Chùa chiền với nhữngmái ngói uốn cong nhiều dáng vẻ còn là biểu hiện sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc vàthẩm mỹ của người Lào Lễ hội gắn với chùa chiền, chùa chiền gắn liền với làng bản, là nơi để mọi ngườigặp gỡ, vui chơi, ăn diện và múa hát Lễ hội cũng là biểu hiện của văn hoá tâm linh phật giáo từ, bi, hỉ, xả
đã ăn sâu vào máu thịt bao đời người dân các bộ tộc Lào, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Lào trườngtồn, lung linh mà quyến rũ
Lào là đất nước của bốn mùa lễ hội Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á, lễ hội tại đấtnước Lào cũng chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội Phần lễ là phần nghi thức do chính con người đặt ra
để giao cảm với thần linh và phần hội chủ yếu là vui chơi, giải trí Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương Lịch,Tết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và Tết H'mong (tháng12) Ngoài ra còn các lễ hội: Bun PhaVet ( Phật hóa thân) vào tháng 1 ; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vàotháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao PhanSa (mùa chay) vào tháng 7; BunKhao Padapdin (tưởng nhớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào tháng 10 Lễ hội
ở Lào hay còn được gọi là Bun, nghĩa là phước, làm Bun nghĩa là làm phước để được phước
Lào có tết cổ truyền Bunpimay (có nghĩa là mừng năm mới), hay còn gọi là Tết té nước diễn ra từngày 13 đến ngày 16 tháng 4 hàng năm Vì đạo phật ở Lào có tự lâu đời phát triển mạnh trở thành quốcđạo, các nhà chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới hàng năm bắt đầu vào tháng tư
dương lịch Người Lào gọi tết là vui tết chứ không gọi là ăn tết, tất cả các cuộc vui được chuẩn bị theo
truyền thống tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán của người Lào Trong những ngày lễ hội vui chơi
là chủ yếu, tuy nhiên họ cũng chuẩn bị đồ ăn, thức uống thịnh trọng hơn ngày thường, đặc biệt là khôngthể thiếu rượu Ngày tết từ sáng sớm dân làng diện những bộ đồ đẹp nhất, nhất là chàng trai, cô gái với đủ
áo váy màu sắc sặc sỡ, tập trung tại sân chùa để dự lễ tắm phật Xong lễ tắm phật mọi nhà làm lễ buộc cổchỉ tay cho những người thân trong nhà, tục lễ này gọi là ( pục khén ) hay còn gọi là (xù khoắn) lễ gọihồn vía Nhân dịp đầu năm con cháu chúc ông bà, cha mẹ, bạn bè, người thân gặp may mắn hạnh phúc.Cũng vì lẽ đó, lễ mừng năm mới còn gọi lễ té nước (gọi là Bun hốt nậm), trong những ngày lễ, thanh niênnam, nữ thường té nước cho nhau vừa chúc mừng nhưng cũng vừa để tỏ tình Bun hốt nậm còn có ý nghĩa
về chuyện chuyển năm và cũng là chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa; sau những tháng ngày hanhkhô, những cơn mưa rào ập đến mang nước mát tưới cho núi rừng, cỏ cây, ruộng đồng, màu xanh tươimát của chồi non vụt nhú lên báo hiệu một mùa làm ruộng, rẫy mới Người dân té nước để cầu may, cầubình yên cho cả năm, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt Trong những ngày này, mọi ngườithăm viếng chúc tụng lẫn nhau, ăn uống vui chơi, múa hát cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà hạnh phúc,người người ấm no… Với người Lào, những phong tục trong lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa đem lại sựmát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp để nuôi dưỡng và hun đúc nghệthuật dân tộc
Âm nhạc của Lào ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như khèn (một dạng của
ống tre Một dàn nhạc điển hình bao gồm người thổi khèn cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác Múa Lăm vông (Lam saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào,
Trang 17những người Lào ở Thái Lan đã phát triển và phổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là mor lam sing Khi được mời cùng múa Lăm Vông với người khác giới, hai người đi song song nhưng không va chạm vào người phụ nữ
Chăm pa (hoa đại) là một loài hoa biểu tượng của đất nước và con người Lào Mang đậm một bảnsắc riêng biệt, hương sắc ngào ngạt của hoa chăm pa phản ảnh rõ tính cách, tâm hồn của dân tộc Lào, vớinhững con người có một vẻ đẹp giản dị, chan hoà, gìn giữ và chất phác, thật thà Ngoài cái đẹp bản sắcriêng của dân tộc Lào, hoa chăm pa có 5 cánh hoa xoè ra thể hiện sự đoàn kết muốn hợp tác vươn tới 5nước láng giềng với thể ứng xử cởi mở, cân bằng, mềm mại, hoà đồng bên ngoài, thống nhất ở bên trong
Ở Lào hoa chăm pa có nhiều loại và mọc khắp nơi Người dân Lào thường trồng hoa chăm pa để tô điểmcho vẻ đẹp thanh bình êm ả của đất nước và sống động hơn trong không khí hội hè Đến với đất nước Lào(Triệu Voi) là đến thăm đất nước hoa chăm pa xinh đẹp Hạnh phúc biết bao khi được các cô gái choànglên cổ vòng hoa chăm pa, buộc vào cổ tay vòng chỉ cầu mong phúc lành, đam mê không muốn dứt trongnhững điệu múa Lăm vông dưới bóng cây chăm pa
Văn hoá Lào như một dòng chảy ngọt ngào đời này qua đời khác, hun đúc nên tâm hồn, cốt cách,
và văn hoá của người Lào Qua thời gian năm tháng được kết tinh ở những phong tục văn hoá đẹp đẽ nhưTết Té nước để giải trừ mọi lo âu phiền muộn; Buộc chỉ cổ tay chúc phúc người thân, chúc phúc kháchquý, bạn bè… đó là mỹ tục rất đẹp đẽ, độc đáo và hiếm có; và hoà cùng với tiếng chiêng, tiếng khèn, điệuLăm vông mềm mại uyển chuyển làm say đắm lòng người, như mời gọi, như níu giữ bước chân du khách
đã đặt chân đến đất nước Lào là không muốn rời xa, là dẫu chỉ một lần mà lưu luyến mãi
Các nước đạo Phật phát triển trở thành quốc giáo thì phong tục tập quán cơ bản giống nhau Conngười Lào lịch sự, lễ phép, không thoa đầu mọi người kể cả trẻ em, không bá vai, bá cổ Người Lào gặpnhau, người dưới chắp tay chào người trên; trẻ em chắp tay chào người lớn, không bao giờ họ lớn tiếngcãi nhau Khi chào hoặc khi đáp từ kể cả thành tiếng hoặc không thành tiếng người ta thường dùng các cửchỉ như: thông thường hai tay chắp lại với nhau giơ lên ngang ngực, đầu hơi cúi xuống, nếu tỏ ý kínhtrọng đối với người lớn tuổi hoặc cấp trên thì giơ ngang mặt
Có cuộc sống yên ả, thanh bình và thơ mộng, người Lào thật thà, chất phác, hiền hoà, dễ mến,trọng danh dự Tính cách ấy biểu hiện rõ trên ánh mắt, nụ cười, cử chỉ và dáng điệu của mỗi con người.Trong gia đình họ chung sống hoà thuận, và đặc biệt họ rất quý trọng tình bạn, quý trọng chữ tín Chuyện
vợ chồng ly hôn cũng rất ít khi xảy ra, vì nó bắt nguồn từ những phong tục thuần hậu truyền đời Nếu nhưvới người phụ nữ Việt Nam là “tam tòng tứ đức”, thì người phụ nữ Lào là “hươn xảm nậm xi” (ba nhàbốn nước) được giáo dục từ hồi còn tấm bé Đây cũng là nét văn hoá, phong tục đặc sắc của người Lào
Người Lào rất gần gũi và hầu như không gặp trở ngại gì lớn trong văn hóa và giao tiếp Sự hài hòagiữa lòng nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc trong triết lý nhân sinh người Lào Ngạn ngữLào có câu:“Nói hợp lòng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì dẫu xin mua cũng chẳng bán” (Vầu thực khọ, khỏ kin cò bò thi (bò khỉ thi), vầu bò thực khọ khỏ xừ cò bò khải) Người Việt còn lưu lại trong
thư tịch cổ:“người Lào thuần hậu chất phác”, trong giao dịch buôn bán thì “họ vui lòng đổi chác” Đó cũng là tình cảm bình dị, chân thành mà người dân nước Việt giành cho người người dân láng giềng của
mình
Phong tục ăn mặc ở Lào, phụ nữ phải mặc “Phaa sin”, một kiểu váy dài có các mảng hoa văn đặctrưng, mặc dù nhóm các bộ tộc thường có trang phục riêng của họ Đàn ông thì mặc “phaa biang sash”vào những dịp lễ hội Ngày nay phụ nữ thường mặc trang phục kiểu phương Tây, nhưng “phaa sin” vẫn làtrang phục bắt buộc
Đất nước Lào có nhiều công trình lịch sử văn hoá, có thiên nhiên tươi đẹp, có nhiều cảnh quan kỳthú như Thạt Luổng (Viêng Chăn), cố đô Luông Phra-băng (di sản văn hoá thế giới), chùa Vạtxixun
Trang 18(Luông pha băng), Núi phú Xỉ, Cánh Đồng Chum huyền bí (Xiêng Khoảng), thác Khôn, thác Quang Xi,Hang Thẳm tình.v.v
Là một vùng đất có lịch sử lâu đời nhưng trải qua các cuộc chiến tranh với người Miến Điện, Trung Hoa và đặc biệt với đế quốc Xiêm nên nhiều di tích lịch sử, văn hóa, tôn giáo bị tàn phá Nhiều di tích hiện nay đã được xây dựng lại trong cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 còn nét cổ kính, uy nghi
Viên Chăn - tên gọi của thành phố bắt nguồn từ tiếng Pali, có nghĩa là “thành phố
của gỗ đàn hương” – một loại cây quý trong kinh điển Ấn Độ Theo tiếng Lào - Wiang Jan
có nghĩa là “thành phố của mặt trăng” Thành phố nằm dọc theo bờ sông Mekong, có lẽ vì thế mà có một môi trường sống rất dễ chịu, thoáng đãng Khi người Pháp cai trị, họ quy hoạch hệ thống đường, xây dựng các biệt thự, công trình mang phong cách Pháp Con đường lớn nhất xuyên giữa lòng thành phố là Đại lộ Lan Xang (Lan Xang có nghĩa là Triệu voi) - được ví như Đại lộ Champs Elysées ở Paris (Pháp)
Cuối Đại lộ Lan Xang là Patuxay Gate- biểu tượng chiến thắng của người Lào được xây dựng vào năm 1962 Công trình này dùng để vinh danh những chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Lào Patuxay Gate có nhiều tên gọi khác: “đường băng thẳng đứng” hay “Champs Elysées của phương Đông” Patuxay Gate trước đây được biết đến là tượng đài Anousavary Hình thức bên ngoài Patuxay Gate có phần nào đó giống với khải hoàn môn ở Paris, tuy nhiên, vẫn nở rộ nét đặc sắc của nhân dân Lào: những hình tượng trang trí Kinari – nửa người phụ nữ và nửa chim, những phù điêu mô tả trường ca Rama và các tháp mang đậm phong cách của người Lào Từ trên cao, Thủ đô Viêng Chăn hiện ra trước mắt du khách không gian bao la và trải rộng vươn ra mọi hướng Patuxay Gate lại kết hợp hài hòa trong không gian quảng trường rộng lớn Mỗi khi chiều
về là lúc người dân Viêng Chăn cùng du khách lại tụ tập về đây vui chơi thư giãn
Tại Viêng Chăn, có rất nhiều chợ đường phố Thức ăn của Lào rất đặc biệt và ngon, thủ công mỹ nghệ truyền thống như: dệt-lụa, đồ trang sức và giỏ xách phong phú Ngoài ra
có Công viên Phật lưu giữ bộ sưu tập bê tông ngoài trời của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo và Hindu, Hồ Nam Ngeun, làng văn hóa Vangxang
Ở Viêng Chăn có nhiều ngôi chùa rất lớn và nổi tiếng như Wat Sisaket, Ong Teu, That Luang Chùa Wat Sisaket lưu giữ đến 6.840 tượng Phật lớn nhỏ rất quý hiếm và là ngôi chùa có nhiều tượng Phật cổ nhất Lào Tượng ở đây được làm chủ yếu bằng đồng, một số làm từ các vật liệu khác như gỗ quý, bạc hoặc mạ vàng Đối diện với chùa Wat Sisaket là chùa Prakeo, nét độc đáo ở đây là pho tượng quý hiếm Phật Phra Bang (đúc tại Sri Lanka, bằng vàng) được vua Fa Ngum mang từ Angkor về Viêng Chăn trong thế kỷ
14
Điểm nổi bật nhất là chùa Heavy Buddha được xây dựng từ thế kỷ thứ I, hiện là trường học của sư sãi, các nhà sư từ nhiều miền đất nước của Lào được truyền dạy kinh Phật dưới sự hướng dẫn của các sư trụ trì thâm niên
Trang 19Tháp That Luang (Thạt Luổng)- di sản văn hóa thế giới, biểu tượng văn hóa Phật
giáo và hiện được coi là biểu tượng của nước Lào That Luang được xây dựng năm 1566 trên nền phế tích của một ngôi đền Khmer thế kỷ XIII và theo truyền thuyết là có chứa một sợi tóc của Đức Phật được một nhà truyền giáo mang đến từ Ấn Độ Sau đó, tháp Thạt Luổng bị tàn phá và đổ nát sau cuộc xâm lược của người Thái ở thế kỷ XIX Năm 1930, tháp được khôi phục lại theo kiến trúc nguyên bản với độ cao 45m Bức tượng ngay phía trước tháp là vua Setthathilath, người đã cho xây dựng tháp đầu tiên Ngày xưa, bốn mặt vòng quanh That Luang được bao bọc bởi các ngôi chùa nhưng hiện tại chỉ còn tồn tại chùa Luang Nua và Luang Tai Hằng năm, ở đây, vào trung tuần tháng 11 diễn ra lễ hội cấp quốc gia là Lễ hội That Luang Tháp That Luang được coi là rất linh thiêng nên có nhiều người đến đây cầu khấn các nguyện vọng
Luông Pra Băng hay Luông Pha Băng, nghĩa là Phật Vàng Lớn Luông Pha-băng là
Thủ đô của Vương triều Lan Xang thế kỷ thứ 14, thời kỳ hưng thịnh của Lào dưới triều Vua Xê-tha-thi-lát, nhưng từ năm 1545 chiến tranh xảy ra liên miên, Vua Xê-tha-thi-lát quyết định rời kinh đô đến Viêng Chăn Trước năm 1975, nó vẫn là thủ đô hoàng gia, trung tâm của Vương quốc Lào Ngày nay, nó là tỉnh lỵ của tỉnh Luông Pra Băng Luông Pha Băng có 129 điểm du lịch, với nhiều di tích lịch sử, tôn giáo, chùa và làng cổ kính với những kiến trúc và chạm trổ độc đáo, có cố cung hoàng gia, thác nước Tát Khoang-xi, được ca ngợi như "viên ngọc xanh giữa rừng nhiệt đới" Luông Pha-băng đã được UNESCO công nhận là di tích lịch sử và văn hóa của thế giới năm 1995
Cánh đồng chum - một di tích khảo cổ học nằm ở tỉnh Xiêng Khoảng có khoảng 2.000 cái chum lớn nhỏ ở 52 địa điểm nằm rải rác tại chân dãy núi Trường Sơn Kích thước của các chum đá dao động khoảng từ 0,5 đến 3m, trọng lượng lên đến 6000 kg và có niên đại khoảng 1500 đến 2000 năm
Các câu chuyện huyền thoại của người Lào cho rằng có những người khổng lồ đã từng định cư ở khu vực này Theo một truyền thuyết khác, một vị vua cổ đại tên là Khun Cheung - đã tiến hành cuộc chiến chống lại kẻ thù thành công Ông đã cho tạo lập cánh đồng chum để ủ lên men và chứa số lượng lớn rượu gạo lao lao để ăn mừng chiến thắng.
Cánh đồng chum mang trong mình những bí ẩn của một nền văn hoá, một thế giới tâm linh mà cho đến bây giờ vẫn chưa rõ về xuất xứ…
Đất nước, con người và nền văn hoá Lào quả là đang mang trong mình nguốn sức mạnh vô biên, ẩn chứa biết bao điều kỳ diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội lực to lớn Tiềm năng và nguồn lực to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào trân trọng, giữ gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát triển.
Trang 20
BÀI DỰ THI : “TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT
NAM ’’
Họ và Tên :
Sinh Năm :
Nơi công tác
NHỮNG KINH NGHIỆM QUÝ BÁU
VỀ VIỆC GÌN GIỮ, CỦNG CỐ, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG HỮU NGHỊ ĐẶC
BIỆT VIỆT NAM – LÀO
Quan hệ đó dựa trên cơ sở cả hai dận tộc Việt Nam và Lào đều khẳng định con đường cách mạng
vô sản là con đường giải phóng và phát triển của Đông Dương Quan hệ đó đã được kiểm nghiệm trong
lịch sử, trải qua nhiều thử thách, hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhândân hai nước, quan hệ Việt Nam – Lào đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiềuthắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất
nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nếu một trong hai nước xa rời Chủ nghĩa Mác
-Lê Nin, chệch hướng con đường mà Đảng của mỗi nước đã chọn thì có nguy cơ phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Do đó, tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng
sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triểncủa mối quan hệ Việt Nam – Lào
Hai là: Cả hai dân tộc Việt Nam và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Giúp bạn là mình tự giúp mình”
Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâusắc của quan điểm “Giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn Đây là câu nói côđọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc; là vũkhí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn
Chúng ta thấy rằng, trong tiến trình cách mạng của hai nước thời gian qua, mỗi bước phát triểncủa cách mạng Lào tạo hậu thuẩn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng lợi củacách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển
Trang 21Trong những năm 1930 - 1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, các cuộc đấutranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã ảnh hưởng lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong tràocách mạng mỗi nước.
Giai đoạn 1939-1945 cả hai dân tộc Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam đoàn kết giúp nhau giànhchính quyền Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã đập tan bộ máy thống trị đầunão của phát xít Nhật và thực dân Pháp ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa giànhchính quyền của nhân dân Lào
Tháng 4 - 1953, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Kháng chiến Lào quyếtđịnh mở chiến dịch Thượng Lào Quân đội Việt Nam phối hợp với quân đội Lào Ítxalạ giải phóng toàn bộtỉnh Sầm Nưa, một phần Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ
Tháng 12-1953 một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào Ítxalạ và quân tìnhnguyện Việt Nam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào Chiến thắng của Liên quân Việt – Lào góp phầnlàm phá sản kế hoạch tập trung quân của Nava, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó trên nhiềuchiến trường, tạo điều kiện củng cố, phát triển thế phối hợp chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào
Ngày 13-3-1954, quân và dân Việt Nam mở đầu cuộc tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.Phối hợp với chiến trường chính Việt Nam, quân và dân Lào liên tục đẩy mạnh các hoạt động quân sự từBắc xuống Nam Lào để kiềm chế lực lượng địch, đồng thời ủng hộ mặt trận Điện Biên Phủ
Ngày 7-5-1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoàn toàn Chiến công đó đã đánh bại
cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp được Mỹ viện trợ, giáng một đòn quyết dịnh vào ý chíxâm lược của bọn thực dân, đế quốc, góp phần thúc đẩy quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trênphạm vi toàn thế giới Đó là thắng lợi to lớn của nhân dânViệt Nam và cũng là thắng lợi của khối đoànkết, liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mà Việt Namlàm trụ cột trong sự nghiệp kháng chiến chống kẻ thù chung
Đầu năm 1961, đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đẩy mạnh việc đánh phá hòng ngăn chặn việcvận chuyển của Đoàn 559 trên tuyến Đông Trường Sơn Được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộtộc Lào, các đoàn công tác quân sự Việt Nam đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, phục vụ cho việc
mở tuyến đường mới dọc Tây Trường Sơn trên đất Lào
Từ cuối năm 1963, Việt Nam cử chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đến giữanăm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Lào xuống đến
Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phối hợp với bạn để nghiên cứu kế hoạchtác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ ở Lào Đồng thời, các đơn
vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vựcđường 9 – Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếm của địch,bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam vận chuyểntrên đường Tây Trường Sơn để chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam và cách mạng hai nướcLào, Campuchia
Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịchtiến công Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạndân, nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phươngcách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và Campuchia
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4-1975, nhất làchiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975) của nhân dân Việt Nam, ngày 5-5-1975, Bộ
Trang 22Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát độngtoàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợi hoàn toàn.Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (tháng 12 năm 1975) là thắng lợi to lớn, triệt để của nhândân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kếtchiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.
Mối quan hệ đó xuẩt phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh giải phóng mang bảnchất quốc tế vô sản, mang lại hiệu quả rõ rệt Trong sự nghiệp chung đó, Lào và Việt Nam đã trở thànhnhững người bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chung một kẻ thù, chung mộtchiến hào đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ Đó là một mối quan hệ xưa nay hiếm - một mối quan hệláng giềng tự nhiên, có lịch sử gắn bó lâu dài, chung một dãy Trường Sơn, chung một dòng sông MêKông, chung một ý thức hệ Hai Đảng, hai nhà nước không những đã đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫnnhau chống kẻ thù chung là Pháp và Mỹ mà còn giúp đỡ nhau có hiệu quả trong công cuộc đổi mới vàxây dựng đất nước Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc
nghiệt, đầy hy sinh gian khổ vì độc lập tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong
đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hànhthành công sự nghiệp đổi mới đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa
Vì vậy, cần có một nhận thức thống nhất trong cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệtnày Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tếthuần túy và ngắn hạn
Ba là: Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào phải luôn coi trọng thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân chủ của hai bên
Tại cuộc hội đàm với Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách Mạng Lào, ngày 9/7/1961,đồng chí Lê Duẩn , Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trình bày vềnguyên tắc lớn và lề lối làm việc giữa hai Đảng, bao gồm những nội dung: “ Mọi công việc ở Lào đều doĐảng Lào phụ trách Cách mạng Lào do đồng chí Lào lãnh đạo, Đường lối chủ trương do Đảng Lào đề ra.Việt Nam góp ý kiến Cũng có lúc Việt Nam thấy vấn đề trước thì Việt Nam đề xuất ý kiến trước, nhưngquyền quyết định vẫn do Đảng Lào”
Ở phạm vi quan hệ giữa Đảng Lào với các Đảng anh em khác thì “ Đảng Lào tự mình bàn bạcthương lượng với các Đảng anh em trong mọi vấn đề có liên quan Trong phạm vi nào đó theo yêu cầucủa các Đảng anh em và với sự thỏa thuận của Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian giúp đỡ”
Về quan hệ giữa hai nước, hai chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Tất nhiên có những quan
hệ khác hơn quan hệ hai Đảng Những vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai chính phủ thì hai Đảng cũng cần
có sự trao đổi ý kiến trước với nhau”
Về phía Lào, giải thích rõ nguyên tắc độc lập, tự chủ và giá trị của nó, trong bài phát biểu tại Hộinghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13 tháng 5 năm 1974, Chủ tịch Cayxỏnphomvihản nói: “Sự nghiệp cáchmạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự làm lấy Đảng ta là một Đảng lãnh đạo cách mạng thực sự,
do đó phải giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ thì mới chứng minh một cách đầy đủ chủ nghĩa yêu nướcnồng nàn kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng”
Trên cơ sở nhận thức quá trình toàn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nước trong khu vực ĐôngNam Á Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ VIII Đảng nhân dân cách mạng Lào ( tháng 3/2006) nêu rõ:
“ Kiên định quan điểm chủ động và thái độ tích cực trong hội nhập quốc tế và khu vực bằng việc phát
Trang 23huy cao độ sức mạnh của dân tộc và tiềm năng của đất nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sẵn sàng
là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm đảm bảo lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên”
Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độclập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển.”
Tiếp tục tinh thần và nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạngLào chủ trương đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào phải trên cơ sở phát huytinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi Thực hiện tốt 4nguyên tắc mà Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương diễn ra tại thủ đô Viên Chăn từ ngày 22 đến ngày
23 - 2 - 1983 đã thống nhất, trong đó chú ý đến vấn đề: Quan hệ giữa ba nước sẽ được giải quyết bằngthương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau
Bốn là: Để việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần thường xuyên thông báo cho nhau về tình hình mỗi Ðảng, mỗi nước
Thường xuyên trao đổi về các phương hướng, biện pháp không ngừng phát triển quan hệ hai
Ðảng, hai nước, cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm
Thường xuyên trao đổi một số biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận
cấp cao hai Đảng, hai nước
Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Hiệp định
hợp tác 5 năm 2011-2015 và Chiến lược hợp tác 10 năm 2011- 2020
Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương của hai nước, nhất là các địa
phương có chung biên giới
Sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Liên
Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Tiếp tục đi sâu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xâydựng Đảng, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mốiquan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt quan tâm việc tuyên truyền, giáodục dưới nhiều hình thức về Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Hai bên cần chủ động chuẩn bị kỹ, trao đổi thống nhất và phối hợp chặt chẽ về nội dung, chươngtrình hoạt động của “Năm đoàn kết hữu nghị 2012” trong đó có việc Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước
thăm chính thức lẫn nhau để cùng khai mạc và bế mạc “Năm đoàn kết hữu nghị 2012,”
Tổ chức khởi công hoặc khánh thành một số công trình trọng điểm tạo dấu ấn về quan hệ đoàn kếtđặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào
Hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển Đẩy mạnh hợp tác về
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Trong hoàn cảnh nào hai Đảng vànhân dân hai nước cũng làm hết sức mình để giữ gìn và vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Làomãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau; không ngừng phát triển quan hệhai nước ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thiết thực, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vìhòa bình ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trang 24Các tài liệu tham khảo
1 Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam 1930 – 2007; NXB Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội -2011
2 Nâng tầm quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Lào; QĐND - Chủ nhật, 07/08/2011
3 Chinhphu.vn) Hội nghị quan hệ hợp tác Quốc hội Việt Nam – Lào: Đoàn kết – Hữu nghị được tổ chức tại Sơn La, một hoạt động lớn mở đầu cho dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao
và 35 năm Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt - Lào
4 Hoàng Bình Quân ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban đối ngoại Trung ương - thành viên chính thức của Đoàn trả lời phỏng vấn nhóm phóng viên báo chí cùng đi nhân chuyến thăm nước CHDCND Lào từ ngày 20 đến 22.6.2011
5 QĐND Tình nghĩa anh em Việt - Lào keo sơn, bền chặt !Ghi chép của phóng viên Báo Nhân Dân Thứ tư, 25/04/2012
6 QĐND Không ngừng phát huy tình đoàn kết, hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào 22/4/2012
7 Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI - Nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội - 2011
BÀI DỰ THI : “TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM.
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam là quan hệđặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trongsáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nềnmóng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạohai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam:
Trang 25Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêu nước nồng nàn và nghịlực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và cácdân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dân tộc ViệtNam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản
Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào.Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dânPháp ở Lào (1) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam doNguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộcvận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khítgiữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, HộiViệt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từ nửa sau những năm
20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mớicủa Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tạiLào (2) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũngtrong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dâyliên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc,nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phongtrào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệđặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạngViệt Nam cũng như cách mạng Lào
Ngày 3 -2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lapạ đã ra đời - tiền thâncủa Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam
Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban Chấp hành Đảng bộ lâm
thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một dấu mốc
quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai tròlãnh đạo của Đảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triển mới trong quan
hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề ranhững chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng và phong trào cách mạng Đông Dươngcũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết, nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trênhành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳng định: quátrình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạng Việt Nam, đồng thờivới việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạothực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp ngườicộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là người Campuchia Đâychính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc làkiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó
Trang 26Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế
hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàng thânXuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyếtđịnh đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc míttinh của hàng vạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia chính
phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới ” Hình ảnh,
uy tín, quyết tâm làm cách mạng, cứu nước và những lời nói tốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào Việt đã tác động lớn lao đến sự hưởng ứng, tham gia cách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào, càng tạothêm chất keo gắn kết tình cảm của nhân dân Lào với Việt kiều cũng như với Việt Nam Chính phủ Lào
-Ítxalạ (Lào tự do) vừa được thành lập cũng đã chủ trương: “Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương” (3) Thủ
tướng Khăm Mạo tuyên bố với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay nhau để kiến thiết quốc gia” (4) Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt (4) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt (5), đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thùchung của hai dân tộc Việt - Lào
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào hơn lúc nào hết, chỉ mongmuốn được sống trong hòa bình, tiếp tục hợp tác, cùng nhau bảo vệ nền độc lập và xây dựng lại đất nướcnhưng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ súng đánh chiếmthành phố Sài Gòn Tiếp đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam Trung Bộ của Việt Nam,sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương
Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào - Campuchia, ngày
25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt
trận Việt- Miên- Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường công tác vũ trang tuyêntruyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trận kháng Pháp của Lào – Việt lan rộng
và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê, đặng bao vây lại quân Pháp ở nơi sào huyệt của chúng và quétsạch chúng khỏi đất Lào” (6)
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhiệm vụ giúp cáchmạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu, đánh đuổi kẻ thù chung, giành độc lập tự
do cho mỗi nước trên bán đảo Đông Dương Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả của Đảng Lao độngViệt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu phương sẵn sàng chia
sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều người con yêu dấu của mình sang phối hợp cùngbạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng kháng chiến
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất quốcgia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư
cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Sở dĩ cách mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do
sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp
đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.(7)
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồng thờikhẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào,trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào,
Trang 27như đồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao
động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình
và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm
đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”(8)
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp mình”, coi nhân dân
bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn là trách nhiệm của mình, trong suốt 30 nămchiến tranh giải phóng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam làmnhiệm vụ quốc tế ở Lào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chống địch càn quét lấnchiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền kháng chiến, xây dựng và bảo vệvùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích trên khắp các khu vựcThượng, Trung và Hạ Lào Đồng thời, thực tiễn chiến đấu, công tác trên các chiến trường Lào cũng là cơhội bồi dưỡng, rèn luyện rất bổ ích về các mặt quân sự, chính trị, nhất là nâng cao thêm tinh thần đoàn kếtquốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên gia Việt Nam
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từ liên minh chiến đấu chung mộtchiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền Cuộc cách mạng khoa học côngnghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩy nhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội Do đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và Lào đều có cơ hội và điều kiện thuhút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới để đẩynhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào và Việt Nam đã đạtđược thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộ quân đội và chuyên gia Việt Nam về nước
và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng cơ hội này, bọnphản động trong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt động nổi dậy ở nhiềunơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâm hàng đầu về an ninh chính trị của Làocũng là mối quan tâm thường trực của Việt Nam Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ
quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủViệt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chínhthức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũngnhư các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hainước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệđộc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các
Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác
lâu dài giữa hai nước
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan
trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – ViệtNam Hiệp ước có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu một tronghai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một năm trước khi hết hạn Hiệp
Trang 28ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – ViệtNam, không ngừng tăng cường tình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau
về mọi mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần
quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởngtích cực trong khu vực
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết vấn đề lợi ích
dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sảntrong sáng, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986,lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị: “Trên cơ sở quán triệtđường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị vềtăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hộiđàm lần này1, các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểm điểm, rút kinhnghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực, các quan điểm, nhận thức vàhành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta với Lào”2 Về phía Lào, Ban Bí thư Trungương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình,nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, banước Lào – Việt Nam – Campuchia mới trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạngbất di bất dịch của mỗi nước, là vấn đề sống còn của mỗi nước”3 Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư ĐảngNhân dân cách mạng Lào ghi rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên vànhân dân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắccủa mối quan hệ trong giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránhnhững bảo thủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởngdân tộc hẹp hòi”4
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một cơ chếhoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánhdấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thứcnước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thưNguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây là chuyến thăm Lào chính thức đầu tiêncủa lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Haibên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước
và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt
1
2
3
Trang 29Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định hướng chính trị theo con đường
xã hội chủ nghĩa.
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thăm chính thức Việt Nam Hai bên khẳng địnhquyết tâm trước sau như một tăng cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào – Việt Nam,Việt Nam – Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hai nướcnhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấp tỉnhsang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tưtưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnhbiên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội
dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình Lịch sử quan
hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu
và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ choviệc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm caomới
Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã thăm hữu nghị chínhthức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mong muốn và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ViệtNam trong việc gìn giữ, phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sản chung vô giá của haidân tộc Cũng trong năm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốc hội và đại biểu Quốc hộicủa hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu giữa các cơ quan của hai Quốc hộinhư: Hội thảo giao lưu giữa Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam - Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng6/2011; Hội thảo giữa ba Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam - Lào - Campuchia tại Chămpaxắc (Lào)vào tháng 7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòng Quốc hội Việt Nam - Lào tại Savẳnnakhệt (Lào) vàotháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của haiQuốc hội tháng 2/2011 tại Lào, qua đó tăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diện giữa haiQuốc hội nói riêng, hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung
Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly xaynhasỏn dẫn đầu Ðoàn đại biểu cấpcao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ truyền thống, hữu nghị vĩđại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào
- Việt Nam phát triển lên tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước Lào - Việt Nam, vì hòa bình, ổnđịnh, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng đã được Chủ tịch HồChí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: " Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã
có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam" ; " Núi
có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
Trang 30Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh Savẳnakhệt, Xalavăn của nướcCộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thống quý báu đó.
Phát huy truyền thống trong chiến đấu, ngày nay trong sự nghiệp xây dựng đất nước với lợi thếQuảng Trị có chung 206 km đường biên giới, chính quyền 3 tỉnh Quảng Trị, Savẳnnakhệt và Xalavănthường xuyên phối hợp tổ chức các cuộc hội thảo quảng bá đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tại CửaKhẩu Quốc tế Lao Bảo, Đensavẳn và Cửa khẩu Quốc gia La Lay nhằm khuyến khích giao lưu phát triểnkinh tế, thương mại, du lịch và tạo điều kiện bà con 2 bên biên giới qua lại thăm thân, trao đổi hàng hoá,tham quan, du lịch Quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế của Quảng Trị vàcác tỉnh biên giới của Lào từng bước được xác lập và bước đầu đạt kết quả tốt Các Công ty du lịch của 3tỉnh Quảng Trị - Việt Nam, Savannakhẹt - Lào và Mụcđahản - Thái Lan đã có các chương trình hợp tácđưa đón khách tham quan du lịch theo tour " Một ngày ăn cơm 3 nước" ngày càng thu hút nhiều kháctrong và ngoài nước
Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các lực lượng Công an, Quân sự, Bộ đội biênphòng, Hải quan tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savẳnnakhệt, tỉnh Xalavăn định kỳ có các cuộc gặp gỡ giao lưu,học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Công an, Biên phòng các huyện biên giới cũng thường xuyên phối hợp vớinhau trong công tác nắm tình hình, điều tra cơ bản bổ sung các tuyến điểm, địa bàn trọng điểm để hoànchỉnh kế hoạch đấu tranh phòng chống tội phạm Nhờ vậy, đường biên, cột mốc giữa các tỉnh luôn đượcbảo vệ nguyên trạng; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới của hai bênluôn được giữ vững Vừa qua, tại Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo - Đensavẳn, tỉnh Quảng Trị là tỉnh đầu tiêntrong 13 tỉnh, thành phố có chung đường biên giới với nước bạn Lào được triển khai xây dựng thí điểm
và tỉnh Savănnakhệt (Lào) khởi công xây dựng cột mốc Quốc giới Việt Nam - Lào đoạn qua tỉnh QuảngTrị và Savănnakhet (mốc 605-1 và 605-2) Đây là cặp mốc đầu tiên được khởi công xây dựng nằm trong
dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc Quốc giới Việt – Lào
Hiện nay, các thế lực thù địch đang thực hiện các âm mưu “diễn biến hòa bình” với nhiều thủđoạn nhằm phá hoại, chia rẽ tình đòan kết hữu nghị đặc biệt Việt- Lào và công cuộc xây dựng CNXH ởmỗi nước Hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam- Lào tiếp tục khẳng định ý chí, quyết tâm tăng cường quan
hệ hữu nghị hợp tác toàn diện nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗi nước, giữgìn và phát triển tình hữu nghị láng giềng gắn bó keo sơn này
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Trịcùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Quảng Trị, Savănnakhệt,Xalavăn sẽ làm hết sức mình,tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung, cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động thúc đẩy quan
hệ hữu nghị hợp tác toàn diện lên tầm cao mới, trở thành mối quan hệ quốc tế mẫu mực, thuỷ chung trongsáng này ngày càng phát triển bền vững, trước mắt, thực hiện các nội dung chương trình hợp tác mà lãnhđạo cao cấp 3 tỉnh đã ký kết hàng năm, góp phần cùng với hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân ViệtNam- Lào bảo vệ và nâng quan hệ đặc biệt lên tầm cao mới
_
(1) Xem: Nguyễn Ái Quốc: “Bản án chế độ thực dân Pháp” trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 2
(2) Ban Chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào: Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào (Tóm lược), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 18 Địa điểm mà
Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến Lào được xác định là bản Xiêng Vảng, huyện Noỏng Bốc, tỉnh KhămMuộn Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nhân dịp kỷniệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 19 tháng 5 năm 2010), đồngchí Bun Nhăng Vôlachít, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư, Phó Chủ tịch nước Cộng hòaDân chủ Nhân dân Lào và đồng chí Hồ Đức Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng,
Trang 31Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã dự lễ động thổ xây dựng Khu lưu niệmChủ tịch Hồ Chí Minh tại bản Xiêng Vảng, huyện Noỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn.
(3) Báo Cờ Giải phóng - Cơ quan của Đảng Cộng sản Đông Dương, số 27 ngày 21-10-1945
Trang 32-Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam làmột điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầyhiệu quả giữa hai dân tộc, đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.
Hai nước Việt Nam - Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân hai nước đã
“chung lưng đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, Việt Nam và Lào đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc Mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Lào bắt nguồn từ tình cảm láng giềng thân thiết, sự gắn bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào đã trải qua muôn vàn thử thách, được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng
và nhân dân hai nước, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản kính mến trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp, không ngừng phát triển và trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, trong sáng và là mẫu mực hiếm có trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất,
cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được ” Chủ
tịch Cayxỏn Phômvihản cũng nói: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi
mãi vững bền hơn núi, hơn sông” Tư tưởng lớn của hai nhà lãnh đạo đã trở thành kim chỉ nam soi đường,
chỉ lối, được Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước thực hiện nhất quán trong suốt những năm thángchiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập, thống nhất đất nước đến hòa bình, xây dựng, đổi mới, hộinhập và phát triển
Đặc biệt, trong nhiều giai đoạn lịch sử, hai dân tộc Việt Nam - Lào đều có chung một kẻ thù xâm lược Vị trí địa lý và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của mỗi dân tộc đã gắn kết hai nước trở nên gần gũi, thân thiện Theo đó, quá trình chiến đấu của mỗi nước phải dựa vào nhau để chống kẻ thù chung, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước Vì vậy, quân và dân hai nước Việt Nam- Lào luôn sát cánh bên nhau chống lại kẻ thù chung vì độc lập của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân và mỗi dân tộc
Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam - Lào cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cao đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế Truyền thống quan hệ hữu nghị, đoàn kết vĩ đại và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản kính yêu đã sáng lập, gìn giữ và được kế tục, phát triển bởi các thế hệ lãnh đạo, các chiến sỹ cách mạng và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam Trong suốt nhiều thập kỷ qua, hai nước đã cùng nhau lập những chiến công hiển hách, giành độc lập dân tộc cho cả hai dân tộc; Mọi thắng lợi của Cách mạng Lào đều gắn chặt với sự giúp đỡ, ủng hộ mạnh mẽ, hy sinh to lớn của nhân dân Việt Nam anh em với tinh thần đồng chí
chung một chiến hào, “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” cùng đồng cam cộng khổ, từng
Trang 33bước đi tới thắng lợi cuối cùng, chiến thắng đế quốc xâm lược và phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội Vì vậy, mối quan hệ đó trở thành di sản quý giá, thành quyluật tồn tại và phát triển của hai nước và cũng là mối quan hệ thủy chung, trong sáng, đặc biệt và hiếm có trong quan hệ quốc tế
Sau ngày Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang giai đoạn mới Đó là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào được ký ngày 18/7/1977 Hiệp ước đã tạo khung pháp lý thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện Hàng loạt các văn bản, hiệp định hợp tác được ký kết, tạo ra những bước chuyển to lớn về chất trong quan hệ đặc biệt giữa hai Chính phủ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế, văn hóa, Sự hợp tác chặt chẽ giữa hai Chính phủ đã tạo
ra mối liên kết gắn bó hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau và tạo môi trường thuận lợi đối với sự nghiệp phát triển của cả Việt Nam và Lào.
Bước vào thời kỳ đổi mới với muôn vàn khó khăn, Chính phủ hai nước phải đổi mới cả về nộidung, phương thức và cơ chế hợp tác để giữ vững và phát huy hiệu quả quan hệ hữu nghị và hợp tác toàndiện, đặc biệt Việt Nam - Lào
Chiến lược hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong thời gian tới (2011 - 2015 vàtầm nhìn đến 2020) được xây dựng và thực hiện trong bối cảnh quốc tế, khu vực và ở từng nước có nhữngthuận lợi và khó khăn đan xen cùng những chuyển biến rất mau lẹ, tác động trực tiếp đến quan hệ hợp táctoàn diện giữa hai nước
Bối cảnh quốc tế và khu vực có những thuận lợi và khó khăn, nhiều cơ hội đang mở ra cho quan
hệ hợp tác giữa hai nước, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn Các nước lớn
và các nước phát triển tăng cường hợp tác với ASEAN và các tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) trongbối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra với tốc độ nhanh và ngày càng sâu sắc
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là đang là xu thế phổ biến hiện nay và trụ lựcchính của tiến trình này là tự do hoá thương mại Khu vực Đông Nam Á nói chung và tiểu vùng Mê Côngnói riêng đang gia tăng mạnh mẽ các lộ trình họi nhập trên nhiều cấp độ Với vị trí quan trọng của khuvực Châu Á- Thái Bình dương,, các nước lớn và phát triển ngày càng quan tâm và tăng cường mở rộngquan hệ, đặc biệt là hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư vào khu vực này, góp phần tạo nên diện mạomới cho khu vực Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mỗi nước GMS, trong đó có Việt Nam
và Lào
Tuy nhiên đây cũng sẽ là tâm điểm của sự tranh giành quyền lực và ảnh hưởng của các nước lớn
và các nền kinh tế phát triển, tác động tiêu cực đén ASEAN và GMS, trong đó có Việt Nam và Lào Mặtkhác, vượt ra ngoài những nội dung hội nhập kinh tế, các vấn đề về chính trị và an ninh nãy sinh trong sựtương tácvề quan hệ lợi ích chiến lược giữa các nước lớn với nhau và những tham vọng và các nước nàyđối với khu vực, rất có thể đẩy các nước trong khu vực tới những bất ổn khó lường
Mặt khác, hợp tác giữa các nước Tiểu vùng Mê Công mở rộng(GMS) diễn ra mạnh mẽ và ngàycàng có hiệu quả Công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam và Lào với tốc độ phát triển ngày càng nhanh vàbền vững, cùng những kết quả hợp tác đạt được giữa Việt Nam và Lào đòi hỏi phải tăng cường toàn diệntrong giai đoạn mới Vì vậy, trong thời gian tới Việt Nam và Lào phải có sự phối hợp nhịp nhàng, đổi mớiquan hệ hợp tác toàn diện phù hợp với bối cảnh mới
Trang 34Việt Nam và Lào sống bên nhau tại hai triền Đông và Tây Trường Sơn hùng vĩ, rất thuận lợi cho sự phát triển phong phú của động vật, thực vật lại được bổ sung bởi nhiều hang động, rừng nguyên sinh kỳ thú, thuận lợi cho du lịch Nơi đây có nhiều sông suối chảy dốc từ núi cao đổ xuống, tạo lợi thế cho khai thác thủy điện.
Trường sơn còn là một tường thành vững chắc cho quân dân hai nước nương tựa nhau chống giặc ngoại xâm.
Về kinh tế, hai nước có thể bổ sung cho nhau thế lợi về biển cả của Việt Nam, đường
bộ của Lào đi sâu vào lục địa châu Á, cùng các nguồn tài nguyên phong phú do mỗi nước quản lý.
Ngoài những điều kiện trên, hai nước Việt Nam, Lào có một ưu thế nổi trội vô cùng quý giá là quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam mà hai Đảng, hai dân tộc cần luôn luôn vun đắp, bảo vệ và phát huy trong mọi hoạt động chính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phòng an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục đào tạo nhân lực, nhân tài.
Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong thời kỳ mới Trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai nước, hai bên luôn khẳng định quan điểm nhất quán, tiếp tục coi trọng và dành mọi ưu tiên cho việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, coi đây là tài sản vô giá cần gìn giữ và truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau, đòi hỏi hai nước Việt Nam- lào phải yêu thương gắn bó chặt chẽ với nhau, giữ cho quan hệ đặc biệt Việt –Lào muôn đời bền vững.
Trong quan hệ hữu nghị ở tầm quốc gia đó cùng với bề dày lịch sử, tỉnh Quảng Trị và tỉnhSavannakhet; Salavan là những người bạn thủy chung son sắt từ trong cuộc kháng chiến chống kẻ thùchung cho đến nay Phát huy tình đoàn kết trong sáng, thuỷ chung giữa 2 dân tộc trong kháng chiếnchống kẻ thù chung, ngày nay Quảng Trị đã có mối quan hệ hợp tác với hai tỉnh Savannakhet và Salavantrên nhiều lĩnh vực, đạt được những thành quả quan trọng, vun đắp cho tình đoàn kết hữu nghị Việt –Làomuôn ngày càng tốt đẹp và bền vững
BÀI DỰ THI : “TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT
NAM ’’
Họ và Tên :
Sinh Năm :
Nơi công tác
CẦN LÀM GÌ ĐỂ GÌN GIỮ, PHÁT HUY TÌNH CẢM HỮU NGHỊ ĐẶC
BIỆT VIỆT NAM- LÀO
Trang 35
-Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, Việt Nam và -Lào đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc Tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt - Lào và sự gắn bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvi hản trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp.
Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam - Lào cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cao đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Việt - Lào hai nước chúng ta - Tình sâu hơn nước Hồng
Hà, Cửu Long” Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng từng nói: “Trong lịch sử cách mạng
thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”.
Sau khi Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang giai đoạn mới.
Đó là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng chứng sinh động là Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào được ký ngày 18/7/1977.
Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và tăng cườngquan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong thời kỳ mới Trong cácchuyến thăm của lãnh đạo hai nước, hai bên luôn khẳng định quan điểm nhất quán, tiếp tục coi trọng vàdành mọi ưu tiên cho việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợptác toàn diện Việt Nam - Lào, coi đây là tài sản vô giá cần gìn giữ và truyền lại cho muôn đời con cháumai sau
Những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn mới.
Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung
đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.
Trong quá trình tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện, hai bên cần luôn luôn tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau.
Trang 36Trong quan hệ hợp tác kinh tế sắp tới cần phải chú trọng tính thực chất, hiệu quả và chất lượng Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ phía Việt Nam (các dự án của Việt Nam đầu tư vào Lào) phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Lào Việt Nam cần ưu tiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui hoạch và kế hoạch phát triển của Lào đã được vạch ra tại các
kế hoạch 5 năm 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020 của Lào Đó là các dự án hợp tác về phát triển thủy điện với Lào, dự án xây dựng đường giao thông ra biển; các dự án hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Việt Nam và Lào cần phải phát huy quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt trở thành động lực thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hợp tác toàn diện, đặc biệt là hợp tác kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển của mỗi nước, đưa hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong thời gian tới ngang tầm với quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước chúng ta.
Tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam khác căn bản với các quan hệ đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm cả chính trị,
an ninh, kinh tế, văn hóa và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả các quan hệ song phương khác Cần có một nhận thức thống nhất của cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt này Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn.
Để tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn mới, cần tập trung tiếp tục thực hiện những định hướng lớn đã được thỏa thuận giữa hai Bộ Chính trị tháng 1-2008 tại Viêng Chăn và tiếp tục thực hiện 6 chương trình mục tiêu đã được thỏa thuận tại Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ giai đoạn 2006-2010 Thực hiện thắng lợi chương trình hợp tác giai đoạn 2006-2010 sẽ tạo những tiền đề vật chất cần thiết cho việc xây dựng chiến lược hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020.
Định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là: “Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trở thành động lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập của mỗi nước” Trong đó, không ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu sắc thêm quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm với quan hệ truyền thống giữa hai nước Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo: coi trọng, phát triển và củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và coi đây là nhiệm vụ có tầm chiến lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi ích đảm bảo ổn định an ninh chính trị và phát triển của mỗi nước Coi hợp tác và nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ chiến lược lâu dài giữa hai nước nhằm hình thành một thế hệ mới kế cận có đầy
đủ năng lực và nhận thức một cách sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình
Trang 37đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước, tạo lòng tin vững chắc, lâu dài lẫn nhau, góp phần tăng cường bền vững mối quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước Đặc biệt coi trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp của các địa phương Lào, cán bộ làm việc ở các dự án giữa hai nước; kết hợp hài hòa giữa đào tạo và bồi dưỡng, giữa số lượng và chất lượng, giữa đào tạo chính qui các bậc học với đào tạo nghề.
Thường xuyên phối hợp và cụ thể hóa quan điểm về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trên tinh thần các tuyên bố chung và thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước vào các nội dung hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước Từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt theo luật pháp của mỗi nước trên cơ sở những nội dung sau:
- Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm bổ sung nguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa nước Lào thoát khỏi nước kém phát triển vào năm 2020.
- Phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 2 tỷ USD vào năm 2015 và 5
tỷ USD vào năm 2020 Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm kết nối giao thông đường bộ trên các trục huyết mạch và các tuyến kết nối qua biên giới với các cảng biển của Việt Nam để phục vụ đầu tư, thương mại và hội nhập giữa hai nước trên nguyên tắc đầu tư đồng bộ và đồng thời giữa hai bên.
- Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, tổ chức, địa phương và doanh nghiệp hai nước Gắn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên giới nhằm phát triển các địa phương khu vực biên giới trở thành hậu phương chiến lược vững chắc, ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài, tạo sự gắn bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài.
- Hai bên phối hợp chặt chẽ việc rà soát, bổ sung sửa đổi các văn bản thỏa thuận, phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và tình hình thực tế mỗi nước, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và thông lệ quốc tế, tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế cũng như hội nhập quốc tế và khu vực của mỗi nước.
- Phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các cam kết và có sự đồng thuận trong các khuôn khổ hợp tác đa phương đối với những vấn đề có liên quan đến hai nước.
Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao
nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị,
tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí trước hết tiếp tục củng cố, tăng cường sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong
Trang 38những vấn đề có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc gặp cấp cao truyền thống Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên hôm nay và mai sau./.
BÀI DỰ THI : “TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM ’’
bộ tộc Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvi hản trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp.
Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam - Lào cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cao đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Việt - Lào hai nước chúng ta - Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng từng nói: “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã
có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”.
Sau khi Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang giai đoạn mới Đó
là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng chứng sinh động là Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào được ký
Tình đoàn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong thời kỳ mới Trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai nước, hai bên luôn khẳng định quan
Trang 39điểm nhất quán, tiếp tục coi trọng và dành mọi ưu tiên cho việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, coi đây là tài sản vô giá cần gìn giữ và truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau
Những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới và những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên những điều kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn mới.
Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung
đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.
Trong quá trình tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện, hai bên cần luôn luôn tôn trọng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của nhau.
Trong quan hệ hợp tác kinh tế sắp tới cần phải chú trọng tính thực chất, hiệu quả và chất lượng Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ phía Việt Nam (các dự án của Việt Nam đầu tư vào Lào) phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Lào Việt Nam cần ưu tiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui hoạch và kế hoạch phát triển của Lào đã được vạch ra tại các kế hoạch 5 năm 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020 của Lào Đó là các dự án hợp tác về phát triển thủy điện với Lào, dự án xây dựng đường giao thông ra biển; các dự án hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Việt Nam và Lào cần phải phát huy quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc
BÀI DỰ THI : “TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM ’’
Trang 40Họ và Tên :
Sinh Năm :
Nơi công tác
TẠI SAO HAI NƯỚC VIỆT NAM- LÀO
PHẢI YÊU THƯƠNG GẮN BÓ CHẶT CHẼ VỚI NHAU
-Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc, đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội
Hai nước Việt Nam - Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân hai nước đã “chung lưng đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn hóa, Việt Nam và Lào
đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc Mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Lào bắt nguồn từ tình cảm láng giềng thân thiết, sự gắn bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam
và nhân dân các bộ tộc Lào đã trải qua muôn vàn thử thách, được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng và nhân dân hai nước, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản kính mến trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quýtrọng, nâng niu và dày công vun đắp, không ngừng phát triển và trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, trong sáng và là mẫu mực hiếm có trong quan hệ quốc tế hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được” Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng nói: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông” Tư tưởng lớn của hai nhà lãnh đạo đã trở thành kim chỉ nam soi đường, chỉ lối, được Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước thực hiện nhất quán trong suốt những năm tháng chiến đấu chống
kẻ thù chung, giành độc lập, thống nhất đất nước đến hòa bình, xây dựng, đổi mới, hội nhập và phát triển.Đặc biệt, trong nhiều giai đoạn lịch sử, hai dân tộc Việt Nam - Lào đều có chung một kẻ thù xâm lược Vịtrí địa lý và lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của mỗi dân tộc đã gắn kết hai nước trở nên gần gũi, thân thiện Theo đó, quá trình chiến đấu của mỗi nước phải dựa vào nhau để chống kẻ thù chung, bảo vệ dân tộc, bảo vệ đất nước Vì vậy, quân và dân hai nước Việt Nam- Lào luôn sát cánh bên nhau chống lại
kẻ thù chung vì độc lập của mỗi nước, vì hạnh phúc của nhân dân và mỗi dân tộc
Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam - Lào cùng tựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cao đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế Truyền thống quan hệ hữu nghị, đoàn kết vĩ đại và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam mà Chủ tịch Hồ ChíMinh vĩ đại và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản kính yêu đã sáng lập, gìn giữ và được kế tục, phát triển bởi các thế hệ lãnh đạo, các chiến sỹ cách mạng và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam Trong suốt nhiều thập
kỷ qua, hai nước đã cùng nhau lập những chiến công hiển hách, giành độc lập dân tộc cho cả hai dân tộc; Mọi thắng lợi của Cách mạng Lào đều gắn chặt với sự giúp đỡ, ủng hộ mạnh mẽ, hy sinh to lớn của nhân dân Việt Nam anh em với tinh thần đồng chí chung một chiến hào, “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” cùng đồng cam cộng khổ, từng bước đi tới thắng lợi cuối cùng, chiến thắng đế quốc xâm lược và phát triển đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội Vì vậy, mối quan hệ đó trở thành di sản quý giá, thành quy luật tồn tại và phát triển của hai nước và cũng là mối quan hệ thủy chung, trong sáng, đặc biệt và hiếm có trong quan hệ quốc tế
Sau ngày Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước
Tài liệu tham khảo cuộc thi