1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài dự thi việt nam lào

43 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 133,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc khởi nghĩacủa Châu Anuvuông không thành công ở nước Lào vào đầu thế kỉ XIX đã làm cho tình hình biên giới giữa hai nước có những xao trộn nhưng đã nhanh chóng khôi phục lại.“Bởi nhà

Trang 1

BÀI DỰ THI

TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM

Họ và tên: Bùi Thị Thanh Nha

Ngày sinh: 22 10 1980

Giới tính: Nữ

Nghề nghiệp: Giáo viên

Địa chỉ: Chi bộ trường THCS Hợp Đức - Đồ Sơn - Hải Phòng

Số điện thoại: 0225860194

Câu hỏi: Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào,Lào – Việt Nam (5-9-1962) Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước

* Những cơ sở tạo nên việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam (5-9-1962)

I.Điểm lại những cột mốc lịch sử trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Quan hệ Việt Nam – Lào hình thành từ rất sớm Việc ổn định biên giới Việt – Lào là một trong những việc làm được nhà Lý coi trọng để bảo vệ hậu phương

để kháng chiến chống Tống Đến thời Trần, trước nguy cơ xâm lược của đế quốcMông – Nguyên, liên minh Lào - Việt đã được củng cố Nhà Trần đặc biệt ý thứcđược tầm quan trọng của liên minh này Khi nhà Trần suy yếu, nhà Hồ lên, các quý tộc nhà Trần đã chạy sang đất Lào để lánh nạn và chờ cơ hội phục hồi lại ngai vương đã được nhân dân Lào đã che chở

Từ khi vương quốc Lan Xang ra đời, nhân dân hai nước, mối bang giao giữa hai nhà nước cũng nhanh chóng được thiết lập Các sứ giả của hai nước thường xuyên qua lại giao hảo Mối giao hảo thân thiện ngày càng trở nên gắn bó hơn khi cuộc xâm lược của nhà Minh xuống vùng này đang gần kề Hai nước đã cùng nhau sát cánh đương đầu với cuộc xâm lược đó

Khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, Lê Lợi đã cử các tướng thông thạo tiếngLào sang liên hệ với vua Lào để mua voi, lương thực, vũ khí Vua Lào cùng nghĩa quân kết nghĩa giao hòa và giúp đỡ nghĩa quân rất nhiều và đến khi Lê Lợi

Trang 2

lên ngôi, mối quan thệ ngoại giao giữa hai nước hết sức tốt đẹp Cuộc khởi nghĩacủa Châu Anuvuông không thành công ở nước Lào vào đầu thế kỉ XIX đã làm cho tình hình biên giới giữa hai nước có những xao trộn nhưng đã nhanh chóng khôi phục lại.

“Bởi nhà Nguyễn cũng hiểu rỏ rằng giữ gìn mối quan hệ Đại Việt – Lào không chỉ là đảm bảo cho sự tồn vong của hai dân tộc mà còn là tất yếu của lịch sử”Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ách thống trị của thực dân Pháp và phát xítNhật đã đẩy mâu thuẫn giữa những kẻ thống trị với nhân dân Đông Dương lên đỉnh điểm, điều này đã làm cho tính thần đoàn kết giữa nhân dân trong nước và khu vực ngày càng gắn chặt hơn bao giờ hết Họ sẵn sàng tham gia công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách áp bức Và thời cơ đã đến tháng 8 năm 1945 Quân phát xít đầu hàng quân Đồng Minh Dưới sự dẫn dắt tài tình củaBác Hồ, nhân dân hai nước đã cùng nhau đi đến thắng lợi quan trọng, lật đổ được ách thống trị của các nước phát xít Nền độc lập được vẹn toàn Thể hiện tình cảm tốt đẹp và đoàn kết giữa hai nước, một dấu ấn vàng son trong mối quan

hệ ngoại giao của cả đôi bên

Tuy nhiên, nền độc lập của hai nước không được bao lâu thì thực dân Pháp quaytrở lại xâm lược Nhưng chúng chỉ càng làm tinh thần đoàn kết của 2 dân tộc ngày càng nồng thắm, thể hiện trong những lần cùng nhau hợp tác để đánh đuổi

kẻ thù này, và một mốc son chói lọi đó là chiến thắng lịch sử Điện Biên Để chuẩn bị cho chiến dịch này, bộ đội Việt Nam đã cùng phối hợp với quân giải phóng Lào một cách hiệu quả, góp phần hết sức quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ Việc ký kết Hiệp định Giơnevơ thật sự là mốc son chói lọi trong mối quan hệ bang giao giữa hai nước Việt Nam- Lào

Trên mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp đó, những năm kháng chiến chống Mĩ là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, trong đó, nổi bật lên sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân dân hai nước Việt-Lào Thắng lợi vĩ đại của hai dân tộc Việt Nam, Lào đã kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng, đánh dấu sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới

Hiện nay mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực Hợp tác hai nước ngày càng đi vào chiều sâu và đem đến những kết quả tốt đẹp

II Những nét tương đồng trong văn hóa, điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam - Lào Nhân tố quan trọng góp phần hình thành mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước từ xưa đến nay.

Văn hóa, là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội thể hiện trên mặt vật chất và tinh thần, tri thức và tình cảm Văn hóa luôn mang bản sắc dân tộc, tức là mang tính duy nhất và độc đáo, hết sức thống nhất trong bản thân

Trang 3

mình “Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực đời sống, ý thức về một dân tộc, đó là cách tư duy, cách sống cách dựng nước, giữ nước, cách giữ nước và dựng nước, cách sáng tạo ra văn hóa, khoa học, văn nghệ.” Nócòn được thể hiện trong các hệ giá trị của dân tộc có tính ổn định rất lớn và hóa thân vào các giá trị của đời sau theo quy luật kế thừa và sáng tạo Ngoài ra, bản sắc văn hóa còn là tổng thể các giá trị đặc trưng về văn hóa của cả một dân tộc,

nó được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước, các giá trị đặc trưng ấy ở "tầng nền" mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Do vậy, muốn nhận biết nó, phải thông qua vô vàn các sắc tháivăn hóa, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy

III Những nét tương đồng trong bản sắc văn hóa của hai nước Việt Nam - Lào Nhân tố quan trọng góp phần hình thành mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước.

Việt Nam và Lào đều là những quốc gia có rất nhiều những thành phần dân tộc,

có lịch sử phát triển lâu đời trên bán đảo Đông Dương Theo thời gian, quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam và cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã phản ánh sinh động, liên tục mối quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc từ xa xưa của nhân dân hai nước Huyền thoại khởi nguyên về quả bầu mẹ đã trở thành biểu tượng cao đẹp về nguồn gốc chung và tình đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc hai bên dãy Trường Sơn Cho đến nay, các dân tộc anh em sống ở khu vực biên giới hai nước vẫn còn nuôi dưỡng niềm

tự hào và truyền mãi cho nhau những câu chuyện về đạo lý làm người vô cùng sâu sắc mà ông bà xưa để lại Sự hài hòa giữa lòng nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc trong triết lý nhân sinh người Việt Nam cũng như người Lào Đó cũng là những tình cảm bình dị nhưng chân thành mà người dân nước Việt dành cho người bạn láng giềng của mình

Tuy Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tự không giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổ chức chính trị – xã hội khác nhau, nhưng những nét tương đồng torng văn hóa thì vẫn thấy phổ biến trong muôn mặt đời sống hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào Các nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam và Lào dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm lẫn nhau, chia sẻ tâm hồn chung về các giá trị cộng đồng, coi trọng luật tục, tôn kínhngười già Từ những phân tích nhỏ trên chúng tôi xin đưa ra những nét tương đồng trong văn hóa của hai nước như sau:

- Nhân dân hai nước giàu lòng nhân ái, bao dung

- Văn hóa Phật giáo và những giáo lý đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa haidân tộc, giúp hai dân tộc, đất nước đến gần nhau hơn ngay từ khi mới hình thành

ý thức hệ về tổ quốc

- Nhân dân hai nước có truyền thống bang giao hòa hiếu, cùng chung những kẻ

Trang 4

thù tàn bạo.

- Sự gần gũi về khoảng cách địa lý: cùng nằm trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, và đặc biệt là “đều có sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ với những nền văn hóa khác nhau qua những thời kì lịch sử khác nhau”

- Cùng có nền văn minh lúa nước, cùng có lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc

- Phong tục, tập quán, tín ngưỡng khác nhau tạo nên sự đa dạng về văn hóa của khu vực

- Các tôn giáo lớn: Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo

Sự tương đồng giữa văn hóa làng – nước của người Việt và văn hóa bản -

mương của người Lào bắt nguồn từ chính nền tảng chung của văn minh nông

nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á

Nhờ lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó có những ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêu thương

và hướng thiện Điều này được thể hiện rất rõ trong giáo lý của Phật Giáo

Như trên đã nói, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế là điều tất yếu Trước vấn đề này, nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những nấc thang mới, cùng nhau đưa mối quan hệ lên tầm cao hơn Đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam theo các cách thức mới Đó vừa là niềm tự hào của các thế hệ đi sau và vừa là nhiệm vụ thiêng liêng mà cả hai đất nước đang tiến hành, vận mình theo quỹ đạo đã vạch sẵn một cách có tiếp thu Với rất nhiều thuận lợi mà các thế hệ cha anh đi trước đã để lại là vậy Nhưng khó khăn cũng không ít, Mối quan hệ láng giềng hết sức tốt đẹp và đạt được những thành tựu rực rỡ ghi dấu ấn trong lịch sử chắc chắn sẽ có rất nhiều thế lựcthù địch âm mưu chia rẽ tinh thần đoàn kết, chống phá lại thành quả cách mạng

mà hai nước đã đạt được Cần có những biểu hiện mạnh hơn nữa về giao lưu vănhóa giữa hai nước Yếu tố quan trọng đã góp phần vào sự hình thành cũng như phát triển mối quan hệ hựu nghị đặc biệt giữa hai nước Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam

Xin được trích nguyên văn câu nói nổi tiếng của nhà lãnh đạo cách mạng Lào, Cay-Sỏn Phôm-Vi-Hẳn làm lời kết của bài viết này “Cao hơn núi, dài hơn sông, rộng như biển Đông, sáng tựa trăng rằm! ” Và Việt Nam giúp đỡ, chia sẻ với nhân dân Lào trong thời cam go gian khó chẳng khác nào “Hạt gạo cắn đôi, cọng rau bỏ nữa! ”

Như vậy hai nước dựa trên các yếu tố hình thành và các đặc điểm tương đồng

về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị và xã hội; truyền thống chống giặc ngoại xâm của hai tộc và tinh thần tự nguyện phối hợp chiến đấu của nhân dân hai

Trang 5

nước, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt nền móng và được phát triển không ngừng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ ở Đông Dương.

- Bối cảnh lịch sử và những đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung cần phải củng cố, phát triển quan hệ ngoại giao của hai nước nhằm giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp do sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương Từ đó, tiếp tục gắn kết hai dân tộc lại với nhau trên cùng một trận tuyến chống lại kẻ thù chung

* Ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam.

- Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm vóc lịch sử to lớn trong quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam

- Góp phần tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa hai dân tộc anh em tiến lên một tầm cao mới Nhờ đó, đã giải quyết được những khó khăn, thử thách mới với nhiều diễn biến phức tạp do sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào các nước Đông Dương

- Khẳng định đường lối nhất quán, đúng đắn trong mối quan hệ chiến lược của hai Đảng và nhân dân hai nước; đảm bảo sự thống nhất về đường lối chính trị, quân sự, để hai dân tộc tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội do Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra

- Là cơ sở vững chắc để quân dân hai nước tiếp tục sát cánh bên nhau chiến đấu

và giành nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập tự do cho mỗi nước

Trang 7

Nghề nghiệp: Giáo viên

Địa chỉ: Chi bộ trường THCS Hợp Đức - Đồ Sơn - Hải Phòng

Số điện thoại: 0225860194

Phát triển liên minh chiến đấu, đánh thắng các chiến lược chiến tranh của

Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn (1963-1975).

Từ khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập năm 1955, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ và biểu hiện hết sức sinh động trên tất cả cáclĩnh vực, không ngừng nâng cao theo sự phát triển của phong trào cách mạng của hai nước Trong những lúc cam go, gian khổ nhất, cán bộ, đảng viên, quân

và dân hai dân tộc vẫn sát cánh bên nhau với nghĩa tình “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự

do của mỗi nước Trong giai đoạn hoà bình với nhiều điều kiện thuận lợi, hai dân tộc cũng không ngừng vun đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt đểcùng nhau tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

1 Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc Việt Nam - Lào đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Sau Hiệp định Giơnevơ, theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào, Đảng và Nhà nước Việt Nam quyết định để lại một bộ phận chuyên gia tiếp tục giúp đỡ cách mạng Lào Tổng số chuyên gia gồm 964 đồng chí Đây là lực lượng rất quan trọng đối với cách mạng Lào sau ngày đình chiến

Thực hiện đề án đấu tranh ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ (là căn cứ tập kết của lực lượng cách mạng Lào), được sự chỉ đạo phối hợp của Ban cán sự miền Tây, chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp đỡ bạn xây dựng hai tỉnh thành các khu chiến đấu liên hoàn, đáp ứng tình hình thực tế của từng địa bàn, khả năng tổ chức, quản lý của cán bộ Lào, đồng thời đề phòng chiến sự lan rộng Trong trường hợp bị chia cắt, từng khu có thể đảm bảo độc lập tác chiến; đồng thời giúp bạn triển khai các mặt công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố cơ sở ở các địa phương tạo địa bàn vững chắc, ngăn chặn địch tấn công Nhờ đó, lực lượng Pathết Lào không chỉ đẩy lùi các đợt tấn công lấn chiếm của quân đội Vương quốc Lào, mà còn mở trận đánh lớn thu thắng lợi, diệt được nhiều địch

Trang 8

và mở rộng vùng giải phóng, làm nức lòng nhân dân hai tỉnh Sầm Nưa và

Phôngxalỳ

Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất, Việt Nam đã nhận đào tạo 330 cán bộ của Pa Thết Lào, nhằm chuẩn bị lực lượng cho phong trào cách mạng cả nước Bức thư của Ban chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã khẳng định: “Trong kháng chiến cũng như trong đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước, cách mạng Lào luôn được sự giúp đỡ tận tình của cách mạng ViệtNam, Đảng Lao động Việt Nam Sỡ dĩ cách mạng Lào giành được thắng lợi to lớn đó cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”

Mặc dù Chính phủ liên hiệp với mục tiêu đem lại hòa bình cho nước Lào đãđược thành lập nhưng đế quốc Mỹ và tay sai vẫn ra sức thi hành chính sách khủng bố đối với cán bộ cách mạng và những người có tư tưởng hòa bình, tiến

bộ Nhiều cán bộ và thường dân Lào ở các tỉnh biên giới chạy sang Việt Nam lánh nạn Để tạo điều kiện giúp cách mạng Lào, ngày 13-12-1958, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra Chỉ thị 120-CT/TW, nêu rõ: Hết lòng giúp đỡ cho số cán bộ và thường dân Lào vì tránh khủng bố mà chạy sang biên giới ta về mọi mặt tinh thần, vật chất theo khả năng của ta Nhận thức

rõ nhiệm vụ quan trọng này, tại Quảng Trị, khi Tỉnh ủy Savẳnnakhệt phải sang đóng ở A Vao (Hướng Hoá), bạn được Tỉnh ủy Quảng Trị, nhân dân các dân tộc Hướng Hoá bảo vệ, cung cấp lương thực, thực phẩm suốt trong thời gian lực lượng Pathet Lào bị bọn phản động Phu Mi và Cà Tày (thân Mỹ) trở mặt phá bỏ Hiệp định Giơnevơ, truy lùng, khủng bố Quảng Trị đã trở thành căn cứ địa, hậu phương vững chắc của tỉnh bạn Ở Thái Nguyên, trong lúc tình hình kinh tế còn rất nhiều khó khăn, nhưng cán bộ, học sinh Lào ở đây vẫn được cung cấp đủ tiêuchuẩn phụ cấp Những việc làm tình nghĩa này càng làm cho quan hệ vừa là đồng chí vừa là anh em giữa hai Đảng, hai dân tộc thêm keo sơn, gắn bó

Về quân sự, Việt Nam không chỉ sát cánh bên bạn trong thời kỳ đầu củng

cố, phát triển lực lượng, xây dựng hậu cứ, cung cấp vũ khí, quân trang mà còn phối hợp với bộ đội PaThết Lào đánh địch giành thắng lợi oanh liệt Từ ngày 18-

8 đến 15-9-1959, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với các đơn vị PaThết Lào mở đợt hai hoạt động trong mùa mưa Trong đợt hoạt động này, quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam (chủ yếu là lực lượng quân khu

4 tác chiến ở các tỉnh Xiêng Khoảng, Liên huyện 90 và Khăm Muộn) đã vận

Trang 9

dụng nhiều hình thức tác chiến linh hoạt như phục kích, tập kích, bao vây, bắn tỉa, địch vận, phá hoại cầu đường, đốt kho tàng địch, đánh cứ điểm bằng đặc công kết hợp hoả lực Đi đôi với tác chiến, các đơn vị tình nguyện Việt Nam đã tích cực giúp Lào củng cố cơ sở, phát động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tham gia các lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng Các đơn vị tình nguyện phối hợp chặt chẽ với lực lượng PaThết Lào và nhân dân địa phương đánh 40 trận, giải phóng thêm 13 điểm Sau đợt hoạt động này, các tiểu đoàn 1, 2, 4 PaThết Lào được lệnh rút ra hoạt động ở biên giới Việt - Lào, sau đósang tập trung ở huyện Yên Lập (Phú Thọ) để chấn chỉnh lực lượng Theo yêu cầu của Trung ương Neo Lào Hắc Xạt, Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp xây dựngtiểu đoàn 1 và 2 PaThết Lào thành hai tiểu đoàn chủ lực mạnh, quân số mỗi tiểu đoàn từ 650 đến 700 chiến sĩ; đồng thời bổ sung vũ khí, trang bị và cử các tổ chuyên gia giúp hai tiểu đoàn về quân sự, chính trị và chuyên môn kỹ thuật.

Khi cuộc kháng chiến của hai dân tộc ngày càng phát triển, các trận đánh phối hợp giữa quân tình nguyện Việt Nam với bộ đội PaThết Lào ngày càng có quy mô lớn hơn, nhịp nhàng và chặt chẽ hơn Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Việt Nam đã chi viện pháo binh cho PaThết Lào, đồng thời tăng cường hoạt động uy hiếp Thà Khẹc, giúp bạn bảo vệ thủ đô Viêng Chăn trước sự tấn công của địch Cuối năm 1960, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bạn giải phóng Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, nối liền vớiSầm Nưa, tạo căn cứ địa vững chắc để Chính phủ hợp pháp của Hoàng thân Xuvănna Phuma đặt trụ sở chính thức ở Khăng Khay (Xiêng Khoảng)

Trên cơ sở thoả thuận giữa hai Đảng, ngày 9-1-1961, Quân ủy Trung ương

và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế của chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam đối với cách mạng Lào trong 5 năm 1961-1965 là: Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng Lào về chuyên gia quân sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển lực lượng vũ trang của bạn; khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp chiến đấu với bộ đội bạn

Trung ương Đảng hai nước cũng xác định: Lực lượng PaThết Lào cần phối hợp chặt chẽ với quân tình nguyện Việt Nam, kiên quyết đập tan các hoạt động phiêu lưu quân sự của địch, giữ vững vùng giải phóng và các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng Lào trong mọi tình huống

Căn cứ nhiệm vụ trên, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định biên chế thời chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224 thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ đoàn 335 và Trung đoàn 148 thuộc Quân

Trang 10

khu Tây Bắc, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam và chiến trường Lào.

Trên tinh thần đó, các trận đánh phối hợp giữa hai bên ngày càng đạt hiệu quả cao, thu thắng lợi giòn giã trên các chiến trường như cuộc tiến công giải phóng đường 8, giải phóng huyện Xê Pôn (Savẳnnakhệt), đẩy lùi các đợt tấn công của địch vào Xiêng Khoảng Tiêu biểu là chiến dịch Nặm Thà năm 1962,

do Bộ tư lệnh chiến dịch Nặm Thà trực tiếp chỉ huy với sự tham gia của các tướng lĩnh Việt Nam - Lào Chiến dịch Nặm Thà đã làm xoay chuyển tình thế cólợi cho cách mạng Lào, có ý nghĩa quan trọng về quân sự và chính trị Liên quânLào - Việt không chỉ tiêu diệt được một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của địch vừa mới xây dựng, mà còn giáng đòn mạnh về chính trị, đánh vào âm mưu của Mỹ

và chính quyền tay sai Phumi Nôxavẳn, làm cho tinh thần đội quân đánh thuê thêm hoang mang, dao động Uy tín của Neo Lào Hắc Xạt, quân đội PaThết Làođược nâng cao, khu giải phóng mở rộng thành căn cứ liên hoàn đến tận biên giớiTrung Quốc

Sau Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962, thực hiện cam kết của mình, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam và đại bộ phận chuyên gia quân sự về nước Thời gian này, Chính phủ liên hiệp Lào đã lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tuy vậy, Hoàng thân Xuvanuvông vẫn khẳng định: Người bạn cùng sống chết, chung một chiến hào với ta chỉ có Việt Nam

Năm 1963, tình hình cách mạng Lào gặp khó khăn do đế quốc Mỹ và chínhquyền tay sai lật lọng âm mưu xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ Trước yêu cầu của bạn, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam lại cử chuyên gia và quân tình nguyện sang giúp đỡ Điều đáng trân trọng, biểu hiện tình cảm thủy chung giữa quân và dân hai nước là đoàn chuyên gia Việt Nam phần lớn là các đồng chí đã từng hoạt động, chiến đấu trên đất bạn thời gian trước

Cuối năm 1964, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở “cuộc vận động thu phục phỉ” nhằm ổn định vùng giải phóng Việt Nam đã giúp Lào các sản phẩm thiết yếu như muối, vải, quần áo, thuốc men; đồng thời tại Lào, các đơn vị tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã sát cánh cùng quân, dân Lào triểnkhai có hiệu quả cuộc vận động trên Nhiều ổ phỉ lâu đời bị giải tán, tạo sự ổn định mọi mặt cho các vùng giải phóng

Từ năm 1965, liên minh chiến đấu Việt - Lào sát cánh bên nhau đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam

Trang 11

Việt Nam và chiến lược “chiến tranh đặc biệt” tăng cường của đế quốc Mỹ tại Lào.

Trước tình hình đế quốc Mỹ đánh phá vùng giải phóng Lào quyết liệt, đồngthời mở các chiến dịch ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh; dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào không quản gian khổ, hy sinh chiến đấu anh dũng, kiên cường cùng quân, dân Lào bảo

vệ vùng giải phóng, tuyến hành lang chiến lược và mở các chiến dịch tấn công địch giành thắng lợi to lớn Có những cuộc chiến đấu diễn ra gay go, ác liệt, lực lượng tuy mỏng nhưng quân tình nguyện Việt Nam vẫn đặt lên trên hết nhiệm vụbảo vệ nhân dân các bộ tộc Lào Năm 1969, quân tình nguyện Việt Nam cùng PaThết Lào tổ chức chiến dịch phản công cuộc hành quân Cù Kiệt đánh ra Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng của địch Tại khu vực điểm cao 1505, Lạt Huồng, sau khi địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm Phu Tôn, Cang Xẻng - Phu Hủa Xàng, chúng dùng cối 106,7 ly và pháo 105mm từ trung tâm Cánh đồng Chum bắn phá ác liệt các điểm cao xung quanh Tiểu đoàn 924 thuộc Trung đoàn 866 quân tình nguyện Việt Nam đã kiên quyết giữ vững cao điểm 1505, Bạn Thặm, đồng thời giúp nhân dân và cơ quan bạn sơ tán ra khỏi khu vực Tuy lực lượng chiến đấu có hạn nhưng các đại đội vẫn cử ra một số tổ công tác để hướng dẫn và giúp dân sơ tán Trong bom đạn ác liệt, bộ đội tình nguyện đã chiến đấu quên mình, giúp đỡ nhân dân, nhường áo xẻ cơm, sẵn sàng xông pha vào những nơi nguy hiểm để bảo vệ nhân dân Ở xưởng may của tỉnh Xiêng Khoảng, khi địch càn đến gần, anh chị em công nhân được lệnh di chuyển

nhưng có một chị tàn tật không đi được phải bò vào rừng lán nạn Biết tin đó, tổ công tác của trong đoàn đã vào rừng tìm kiếm, cứu được chị đưa về nơi sơ tán

an toàn Trong những ngày ác liệt này, bộ đội Việt Nam đã phối hợp với các cơ

sở Đảng, chính quyền đưa hơn 16.000 dân và gia đình cán bộ sơ tán qua Mường Xéng, Kỳ Sơn (Nghệ An) Nhân dân Nghệ An nhiệt tình đón tiếp, nhường áo xẻ cơm, cùng nhân dân Lào xây dựng nhà cửa, bệnh xá, trường học, ổn định cuộc sống nơi sơ tán Những tấm gương sáng, quên mình của bộ đội tình nguyện, sự đón tiếp tận tình của nhân dân Nghệ An trong những ngày gian khó này đã góp phần làm cho tình đoàn kết chiến đấu của quân dân Việt Nam - Lào càng thêm keo sơn, gắn bó

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là minh chứng vô cùng sống động về mối quan hệ Việt - Lào thắm thiết, ruột thịt Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng hai nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở, đồng bào các bản, làng, mường Việt Nam và Lào trên địa bàn dự kiến sẽ diễn ra chiến dịch đã tham gia hết sức hăng hái vào mọi công

Trang 12

việc chuẩn bị Ngày ngày, trên khắp những nẻo đường hành quân, nhân dân Quảng Trị cùng nhân dân các bộ tộc Lào không quản mưa rừng, thác lũ sát cánh cùng các đơn vị bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong bạt núi, mở đường, đào đắp, vận chuyển hàng vạn mét khối đất đá, xây dựng cầu cống; truy bắt lực lượng thám báo địch bảo vệ sự an toàn và bí mật cho chiến dịch; tích cực tham gia xây dựng các trận địa bắn máy bay và vận chuyển các loại vũ khí, đạn dược, hàng hóa vào các vị trí tập kết đúng kế hoạch Xe trâu, xe bò, xe đạp thồ là cả gia tài đối với đồng bào nơi đây nhưng khi cách mạng cần, bà con sẵn sàng đónggóp để phục vụ yêu cầu vận chuyển đạn được, quân trang, quân nhu Những chàng trai, cô gái Vân Kiều, Pa Cô và các bộ tộc Lào cùng trang lứa với sức trẻ

và lòng nhiệt huyết cách mạng đã đưa năng suất gùi thồ lên 90-100kg mỗi

chuyến Nhiều người tuy sức khoẻ yếu hay vừa chữa lành vết thương vẫn xung phong đi phục vụ chiến dịch; có em nhỏ mới 13-14 tuổi đã tình nguyện đóng góp sức mình vào việc khuân vác, chặt cây ngụy trang mặt đường, làm liên lạc Đang làm nương rẫy, dân bản thấy bộ đội hành quân liền tìm cách gây tiếng ồn

để át tiếng động của các đoàn quân, tránh sự phát hiện của thám báo địch Thi thoảng, người dân ra bờ suối vắng thấy những vết chân bộ đội in trên cỏ ướt đã bảo nhau lùa trâu, bò ra để xáo trộn, xoá đi Một số đồng bào bị địch bắt, chúng

dụ dỗ, mua chuộc hay tra tấn dã man, vẫn kiên quyết không khai báo, sắt son một lòng một dạ trung thành với cách mạng

Khi chiến dịch diễn ra ác liệt, trước yêu cầu phục vụ chiến trường, bà con dân tộc Việt Nam và Lào nơi đây tiếp tục tự nguyện phối hợp với cùng các lực lượng vận tải tham gia vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men phục vụ bộ đội Có những đoạn đường địch đánh phá dữ dội suốt ngày đêm, nhưng từng đoàn người gùi lương, tải đạn vẫn không ngừng toả đi các hướng về nơi bộ đội đang chờ Nhiều nơi, đồng bào tự nguyện chỉ ăn củ mài

và rau rừng, dành cho các chiến sĩ những hạt gạo, lát sắn, củ khoai cuối cùng để

“ăn no mà đánh thắng giặc Mỹ”

Từng đoàn dân công là con em các dân tộc ngày đem gùi lương, tải đạn ra chiến trường, rồi lại tham gia vận chuyển thương binh về tuyến sau Nhiều thôn, bản thành lập các đội đi tìm kiếm chôn cất cán bộ, chiến sĩ hy sinh Bom đạn địch chà xát, tàn phá nhà cửa, nương rẫy nhưng không thể nào làm phai nhạt tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc, tình quân dân thắm thiết, thủy chung

Đó là nhân tố làm nên chiến thắng đường 9 - Nam Lào vang dội của quân và dânhai nước

Tinh thần đoàn kết, tình cảm thủy chung, gắn bó keo sơn của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Việt Nam với dân tộc Lào anh em đã được Tổng Bí thư Cayxỏn

Trang 13

Phômvihản nêu rõ: Nhiều đồng chí Việt Nam đã hy sinh trên chiến trường Sầm Nưa, Cánh đồng Chum Nhiều cán bộ Việt Nam đã sang Lào hoạt động từ lúc cách mạng mới bắt đầu cho đến khi tóc đã bạc, coi nhân dân Lào như nhân dân của mình, coi sự nghiệp cách mạng Lào như sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đối với Việt Nam, sự hết lòng yêu quý, giúp đỡ của nhân dân các bộ tộc Lào luôn là nguồn động viên, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của bộ đội tình nguyện và các chuyên gia Việt Nam Đặc biệt, nhân dân Lào đã cùng chia sẻ vớinhân dân Việt Nam trước bom đạn ác liệt của giặc Mỹ, tạo mọi điều kiện để bộ đội Việt Nam mở đường Trường Sơn và mở các chiến dịch lớn, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

2 Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu hiện vô cùng sinh độngmối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào

- Việt Nam

Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định thành lập đoàn 959 chuyên gia giúp Lào ở mặt trận Hạ Lào Cũng trong thời gian này, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đưa đón cán

bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảo đảm hậu cần cho đoàn 959 chuyên gia ở Lào và vận chuyển vật chất giúp bạn Lào

Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc

Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã kết hợp các lực lượng không quân, bộ binh với phương tiện chiến tranh hiện đại liên tục đánh phá Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không qua được đường 9 Trước tình hình đó, trên cơ sở quan hệ truyền thống vốn có giữa hai dân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện cho chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đường phía Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vị tình nguyện Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân sự ở miền Trung và Hạ Lào, giải phóng một vùng rộnglớn từ Căm Cớt, Lắc Xao đến Mường Phìn, Sê Pôn, Bản Đông, nối đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạo thành một hành lang dài và rộng theo chiều Đông

- Tây Toàn bộ 6 mường của Lào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng

Năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục đưa quân bao vây, đồng thời đánh phá quyết liệt tuyến vận tải phía đông Trường Sơn Trước tình hình đó, được sự lãnh đạo của hai Đảng, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội

Pa Thết Lào quyết định mở chiến dịch 128 giải phóng toàn bộ vùng cao nguyên Trung Lào có biên giới chung với Việt Nam dài trên 700km Thắng lợi của chiến

Trang 14

dịch 128 đã tạo điều kiện cho Việt Nam chuyển toàn bộ đường vận tải sang hướng Tây trên đất Lào.

Trong quá trình này, bộ đội tình nguyện, đoàn chuyên gia cố vấn Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã thường xuyên phối hợp với quânkhu Trung - Hạ Lào, Đảng bộ và chính quyền 7 tỉnh có đường Hồ Chí Minh xuyên qua tổ chức khảo sát địa hình, phối hợp mở đường và chiến đấu bảo vệ căn cứ và tuyến đường chiến lược, tổ chức đánh địch tại chỗ, giải phóng đất đai,

mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện để tuyến đường được mở rộng và phát triển

Để có con đường chiến lược với hơn 20.000km, các chiến sĩ, lực lượng thanh niên xung phong và nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào đã đổ bao

mồ hôi, xương máu, của cải và hàng ngàn người đã ngã xuống để xây dựng, bảo

vệ và vận chuyển hàng hóa, nhân lực phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai nước Việt - Lào

Đối với cách mạng và nhân dân Lào, từ khi mới hình thành cho đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh đi qua 17 mường (huyện) ở Trung và Nam Lào với tổng chiều dài hàng ngàn km Trong 16 năm (1959-1975), đế quốc Mỹ đã rải xuống các cánh rừng dọc tuyến đường hàng triệu tấn bom các loại, hàng ngàn tấn chất độc hóa học và nhiều thiết bị điện tử tinh vi nhằm phát hiện, ngăn chặn lực lượng vận tải chiến lược

Đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Nam Việt Nam, Lào, Campuchia còn sử dụng lực lượng lớn quân đội và vũ khí đánh vào các vùng thuộc hành lang của tuyến đường, quy mô lớn nhất là chiến dịch Lam Sơn 719 với 20.000 quân Sài Gòn cùng sự yểm trợ của 9.000 quân Mỹ, 2.000 máy bay các loại đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào Riêng năm 1969, máy bay Mỹ đã đánh phá hàng nghìntrận vào 180 bản làng của đồng bào các dân tộc Lào dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, thiêu hủy 845 nóc nhà, giết hại 482 người, làm bị thương 344 người, phá

337 nương rẫy Bất chấp sự hủy diệt tàn bạo và những âm mưu thâm độc của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân dân các bộ tộc Lào đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Việt Nam trong việc mở đường, bảo vệ tuyến đường và vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến trường Từ năm 1965, khi đế quốc

Mỹ mở rộng đánh phá, nhân dân 17 huyện thuộc 7 tỉnh của Lào trên mảnh đất Tây Trường Sơn đã tự động dời nhà, bỏ nương rẫy đi vào rừng sâu sinh sống Bộđội và du kích Lào phối hợp chặt chẽ với bộ đội Việt Nam đánh trả máy bay địch, ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm, tập kích của chúng Nhân dân Lào còn đóng góp hàng triệu ngày công cùng bộ đội và lực lượng thanh niên

Trang 15

xung phong Việt Nam làm mới, sửa chữa đường xá, vận chuyển lương thực, thương bệnh binh, góp phần vào mọi hoạt động của tuyến đường Hồ Chí Minh.Không thể kể hết những tình cảm quý báu của nhân dân các bộ tộc Lào dành cho các chiến sĩ, cán bộ Việt Nam Năm 1964, địch đánh phá ác liệt, thời tiết phức tạp khiến việc vận chuyển hàng hóa và dẫn quân của đoàn 559 trên tuyến tây Trường Sơn gặp rất nhiều khó khăn Có thời điểm đường bị tắc, khách qua tuyến dồn ứ hàng ngàn người ở các trạm giao liên gần một tháng Việc đảm bảo lương thực, thực phẩm cho bộ đội trở thành vấn đề “nước sôi, lửa bỏng” Trước tình hình đó, chỉ huy đoàn 559 cùng đoàn chuyên gia 763 ở Hạ Lào trực tiếp đề xuất với Tỉnh ủy Távên Oọc của Lào vận động nhân dân địa phương giúp

đỡ Với tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, nhân dân tỉnh Távên Oọc, đặc biệt

là các huyện Cà Lươn, Xê Camản nhanh chóng thu gom thóc, giã gạo phục vụ

bộ đội Việt Nam Mặc dù là địa phương nghèo, nhân dân sống phân tán, nhưng chỉ trong vòng nửa tháng, bạn đã huy động được hơn 30 tấn lương thực, góp phần quan trọng giải quyết khó khăn cho đoàn 559

Nhờ sự phối hợp liên minh này mà hàng hoá không còn bị ứ đọng trên tuyến đường 9, vào chiến trường miền Nam và nước bạn thông suốt, kịp thời Tuy nhiên, sức người có hạn, việc vận chuyển hàng hoá còn phải dựa vào voi, trâu, bò Bà con dân tộc đông - tây Trường Sơn rất quý voi, coi voi là thần, là tượng trưng cho sự giàu có, danh giá Làng nào có voi rất tự hào Thế nhưng khi cách mạng cần, nhân dân cả Việt - Lào đều sẵn sàng hiến voi, đưa voi ra trận tuyến

Trong những năm ác liệt, gian khó đó, điều quý nhất ở bạn là tấm lòng chânthật, trong sáng, ngay thẳng, không nề vất vả, hy sinh và tuyệt đối tin tưởng vào cán bộ, bộ đội Bà con dân tộc Lào ở đây đã nói với cán bộ, bộ đội Việt Nam rằng: “Tao đói còn đi đào được củ rừng để ăn Tụi mày làm cách mạng còn phải

đi làm mãi Củ sắn, lúa chúng tao dành cho chúng mày…” Bà con Mường Noòng 3 năm không có muối phải ăn tro từ rễ tranh đốt ra Đến khi ta đưa muối sang, liền nhắc công ơn cụ Hồ Có người chưa hề thấy ảnh Bác, hỏi cụ Hồ có phải như ông Voi không? ông trời không? Những lúc giáp hạt, bị cái đói hành

hạ, bà con dắt nhau đi tìm rau rừng, xuống khe bắt ốc sống cầm hơi, không hề nghĩ đến việc lấy một lưng gạo, hạt muối ở các kho lương thực, thực phẩm của các binh trạm đặt giữa rừng trên đất bạn

Trong những năm tháng khó khăn hay trong những trận đánh ác liệt, nhiều

bà mẹ, gia đình Lào trong khi cuộc sống còn rất thiếu thốn vẫn chắt chiu từng bát gạo để nuôi dưỡng thương binh, vượt qua bom đạn của địch đưa rau, gạo,

Trang 16

thuốc men đến các binh trạm trên tuyến đường để trao tận tay cho các chiến sĩ Việt Nam.

Đáp lại lòng quý mến và đùm bọc của nhân dân Lào trên dọc tuyến đường Trường Sơn, các đơn vị bộ đội Việt Nam đã tích cực cùng với bộ đội PaThết Làochiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân các bộ tộc Lào, giúp đồng bào tăng gia sản xuất, cứu đói cho dân khi gặp thiên tai, địch họa Bộ đội Việt Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh còn giúp nhân dân Lào xây mới một số tuyến đường liên bản, liên xã, liên huyện, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội vùng giải phóng Chính vì vậy, tuy phải chịu đựng hy sinh, gian khổ, nhưng nhân dân các bộ tộc Lào dọc tuyến đường vẫn hết lòng yêu thương, ủng hộ quân đội cách mạng hai nước

Nhờ có con đường chiến lược Hồ Chí Minh, tính chung trong vòng 16 năm (1959-1975), tuyến giao thông vận tải quân sự Trường Sơn đã vận chuyển được 1.349.000 tấn hàng hóa, vũ khí, trong đó giao cho các chiến trường và cách mạng Lào, Campuchia hơn 583.000 tấn, 515 triệu m3 xăng dầu Riêng 4 tháng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, tuyến vận tải 559 qua đường Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng

Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu, mối quan hệ thủy chung son sắt của hai dân tộc Việt

- Lào trong trường kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc

- Trong giai đoạn này, quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam phát triển lên đỉnh cao của hình thức liên minh chiến lược trực tiếp chống đế quốc, trở thành một mẫu mực về tình đoàn kết, chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau trên mọi lĩnh vực

- Thủy chung với tình hữu nghị truyền thống, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ, hỗ trợ đến mức cao nhất cả về vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến chống đếquốc Mỹ xâm lược của nhân dân các bộ tộc Lào Đáp lại, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hết lòng ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

- Trong cuộc trường chinh đầy gian khổ ấy, quân tình nguyện Việt Nam đã cùng Quân đội giải phóng nhân dân Lào mở nhiều chiến dịch cùng hàng loạt trận chiến đấu thắng lợi, đánh bại từng bước chiến lược“Chiến tranh đặc biệt”, rồi

Trang 17

“Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mỹ ở Lào, làm cho đế quốc Mỹ phải phân tán lực lượng đối phó, góp phần hỗ trợ đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, tạo đà phát triển

đi lên của cách mạng Campuchia, dẫn tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975

- Từ thực tiễn đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trong những năm tháng chiến tranh chống kẻ tù chung đã để lại một số bài học lịch sử, rất cầnchắt lọc, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mỗi nước

BÀI DỰ THI

TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM

Họ và tên: Ngo Thị Thu Huyền

Trang 18

Ngày sinh: 22 10 1980

Giới tính: Nữ

Nghề nghiệp: Giáo viên

Địa chỉ: Chi bộ trường THCS Hợp Đức - Đồ Sơn - Hải Phòng

Số điện thoại: 0225860194

Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, Chủ tịch

Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm

có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam:

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêu nước nồng nàn và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung

mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào (1) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn ÁiQuốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu

Trang 19

nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào

là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bí mật

tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (2) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanhniên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức

Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông

Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở

ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặcbiệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào

Ngày 3 -2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lapạ đã ra đời - tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban

Chấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành

lập Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai trò lãnhđạo của Đảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết, nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữa khẳng định: quá trình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạng Việt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là người Campuchia Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc

sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó

Trang 20

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi, có mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống tốt đẹp lâu đời Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống chung dòng nước Mêkông, núi liền núi, sông liền sông, ngay từ rất sớm, hai dân tộc Việt Nam - Lào đã gắn bó bền chặt bên nhau chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay xỏn Phômvihản chính là những người đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào Mối quan hệ đã được các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và quân dân hai nước dày công vun đắp để không ngừng phát triển và được đúc kết thành mối quan hệ mẫu mực, thủy chung, trong sáng, hiếm có trong quan hệ quốc tế và là tài sản chung

vô giá của hai dân tộc Việt - Lào Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta - Người đã dày công vun đắp cho mối quan hệ Việt - Lào đã nhấn mạnh, đó là mối

“quan hệ đặc biệt” mà lịch sử đã chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt - Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc.Nền tảng của quan hệ Việt - Lào xuất phát từ quan hệ truyền thống lâu đời giữa hai nước láng giềng gần gũi, cùng chung sống trên bán đảo Đông Dương Mối quan hệ truyền thống

ấy trở nên “đặc biệt” từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng của hai dân tộc Việt Nam và Lào, cùng sát cánh bên nhau chiến đấu chống kẻ thù chung, xây đắp nên tình đoàn kết keo sơn, thuỷ chung, son sắt Việt - Lào Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào - Việt Nam có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó và thường xuyên căn dặn:

“Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào.”

Với quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, với thiện chí chân tình, thông cảm nhau sâu sắc trên tình đồng chí anh em, giúp bạn là tự giúp mình, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt - Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước Người rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình” Từ khi mới ra

Trang 21

đời, tại Hội nghị Trung ương tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương: ba nước đều là thuộc địa của Pháp nên cần đoàn kết chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc Bên cạnh đó, trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luôn luôn phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào Theo Người “kháng chiến Việt - Miên - Lào là chung của chúng

ta, là bổn phận của chúng ta Việt Nam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi” Người khẳng định “Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng, thành thực giúp đỡ Mặt trận nhân dân Lào, Miên một cách không có điều kiện”; “Mà giúp nước bạn tức là tự giúp mình” nên “phải ra sức giúp đỡ một cách tích cực, thiết thực hơn” Trong quá trình giúp cách mạng Lào, Người chỉ rõ, khi giúp bạn, phải nắm vững nguyên tắc dân tộc tự quyết Việc gì cũng phải đựơc Đảng và nhân dân Lào đồng ý rồi mới làm Bởi vì, người làm nên lịch sử Lào không ai khác chính là nhân dân Lào, cách mạng Lào phải do nhân dân Lào tự làm lấy, sự nghiệp cách mạng Lào phải do Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo Tại Hội nghị Trung ương III (khóa II), Hồ Chủ tịch nêu rõ: “cho đến nay chúng ta phải cố gắng giúp đỡ hơn nữa” và cũng từ đó, nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào ngày càng được tăng cường, quan hệ đoàn kết Việt - Lào càng thêm gắn bó, mật thiết Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở Lào, một số chi bộ cộng sản đã được thành lập ở Savannakhet, Thakhek,

Vientiane, và đến tháng 9/1934 Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào Đó là những mốc son lịch sử trong quan hệ Lào-Việt Nam; cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước gắn bó với nhau và ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu và tạo nên cơ sở cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và hai nước Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản; luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết cách mạng hai nước Lào - Việt Nam, nuôi dưỡng và phát huy sáng tạo sức mạnh chung của nhân dân hai nước để cùng tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Lào cũng như thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, giành độc lập cho nhân dân mỗi nước năm 1945 Ngày 30/10/1945, hai nước đã ký Hiệp ước Hợp tác tương trợ Việt - Lào Với Hiệp ước này, quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc anh em không chỉ trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, mà còn trên tầm quan hệ gắn

bó giữa hai nhà nước Chủ tịch Xuphanuvông đã khái quát ý nghĩa trọng đại của

sự kiện này: “Quan hệ Lào-Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới”, kỷ nguyên

Ngày đăng: 13/10/2018, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w