Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của việc đưa ra nhiều hơn (16) hoặc ít hơn (6) ví dụ đối với tính sáng tạo của học sinh trong môn Mỹ thuật.. Các kết quả cho thấy học [r]
Trang 1CÁC TÌNH HUỐNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Dr Soh Kay Cheng & Dr Chris Tan
Tình huống 1: Osman, N & Zhang, S J (2007) Sử dụng quá nhiều ví dụ có cản trở tính sáng tạo hay không?
Trường THCS Seng Kang, Singapore
Tình huống 2: Tey, S L (2007) Dạy ngữ pháp tiếng Anh theo cách tiếp cận vấn đề trực tiếp và gián tiếp
Trường THCS Seng Kang, Singapore
Tình huống 3: Wang, Q., Lim, C & Woo, H.L.(2006) Sử dụng ảnh màu để viết bài luận trong trường học tại Trung Quốc
Nghiên cứu khoa học tại các trường học Singapore NXB Những chân trời mới trong ngành giáo dục, Trang 91-102
Tình huống 4: Ho, B (2006) Sử dụng cách " tiếp cận dựa vào quá trình" để dạy môn viết tại trường Tiêu học Hồng Kông
NXB Những chân trời mới trong ngành giáo dục, trang 22-41
Tình huống 1: Osman, N & Zhang, S J (2007) Sử dụng quá nhiều
ví dụ có cản trở tính sáng tạo hay không? Trường THCS Seng Kang, Singapore
Tóm tắt
Giáo viên thường tin rằng sử dụng nhiều ví dụ sẽ giúp học sinh học tốt hơn Tuy nhiên, đối với những môn như mỹ thuật, nhấn mạnh đến tính sáng tạo, điều này chưa được khẳng định chắc chắn 20 học sinh nhóm thực nghiệm được cho xem 6 ví dụ về tác phẩm, và 20 học sinh của nhóm đối chứng được xem 16
ví dụ Bài kiểm tra thu hoạch yêu cầu học sinh vẽ minh họa cho một trích đoạn trong truyện Harry Potter Các phép kiểm chứng độc lập thực hiện đối với bài kiểm tra thu hoạch cho thấy sự khác biệt lớn, nghiêng về nhóm thực nghiệm
Giới thiêu
Nghiên cứu này dựa trên tính sáng tạo trong môn mỹ thuật dạy tại trường trung học Hiện tại, học sinh được xem từ 10 đến 20 ví dụ trước khi thực hiện tác phẩm Giáo viên cố gắng tổ chức bài học một cách sáng tạo và thú vị hơn bằng cách đưa ra các bài tập tự luận đòi hỏi học sinh tư duy sáng tạo Kết quả là hầu hết học sinh bắt chước các ví dụ được cho xem và sản phẩm của các em thể hiện sự thiếu tính sáng tạo Vấn đề đặt ra là liệu việc đưa ra quá nhiều ví dụ như vậy có cản trở tính sáng tạo của các em hay không
Trang 2Theo quan điểm của Lowenfeld (1964), phát triển tính sáng tạo có nghĩa
là “học sinh được vẽ một mình và các em sẽ thực hiện các bước một cách tự nhiên với sự khuyến khích và thời gian cho phép.” Fisher và Williams còn tin rằng “tính sáng tạo cần có không gian” Để phát huy tính sáng tạo, giáo viên nên truyền cho học sinh nguồn cảm hứng và ban lãnh đạo nhà trường nên tạo cho các em cơ hội để thể hiện tính sáng tạo
Một nghiên cứu khác có liên quan của tác giả Bartel (2006) đã tìm ra rằng bắt chước không phải là cách phát triển một tinh thần sáng tạo cho học sinh vì học bắt chước khiến học sinh thụ động hơn Đối với Marvin, bắt chước là một phản xạ theo bản năng trong việc học của học sinh, dẫn tới “học vẹt” và không khuyến khích tư duy sáng tạo Marvin còn đưa ra hình ảnh lũ lụt, và minh hoạ được rất nhiều vấn đề từ hình ảnh lũ lụt Một trong những vấn đề đó là thiếu sự tăng cường phẩm chất sáng tạo trong học sinh Tưởng tượng lũ lụt trong thực tế
sẽ bóp nghẹt hoặc làm chết đuối tính sáng tạo của mỗi người trước khi họ có cơ hội để tự bơi Các nghiên cứu đã được thực hiện với học sinh trường Trung học Với những dụng cụ thú vị trong tay, Anne Hamilton (giáo viên trường TH
Washington, South Bend, Bang Indiana, Mỹ) không cần phải giao bài tập sao chép Học sinh có được niềm tự hào là tự mình quan sát Tư duy sáng tạo được
bổ trợ bởi kỹ năng quan sát và nhu cầu tìm ra nhiều cách diễn đạt những điều quan sát thấy Học sinh thể hiện được phong cách riêng của mình, và trở nên tự tin hơn
Mục tiêu của nghiên cứu khoa học ứng dụng này là trả lời câu hỏi liệu đưa ra quá nhiều ví dụ có cản trở tính sáng tạo của học sinh hay không
Phương pháp
Đối tượng nghiên cứu
Hai nhóm học sinh được chọn tham gia thí nghiệm này, mỗi nhóm gồm 20 học sinh Một nhóm được phân là nhóm thực nghiệm (1E2) và một nhóm là nhóm đối chứng (1E3) Nhóm thực nghiệm chỉ được cho xem một vài ví dụ và không có tác động của giáo viên Nhóm đối chứng thì được xem rất nhiều ví dụ đánh số từ 1 đến 20 và giáo viên tác động rất nhiều
Quy trình
Hoạt động ban đầu là cho nhóm thực nghiệm xem 6 ví dụ, nhóm đối chứng xem 16 ví dụ trước khi tham gia vẽ sáng tạo Hai nhóm được giao cùng một nhiệm vụ và được hướng dẫn như nhau Học sinh đọc một trích đoạn trong tập truyện “Harry Potter và hầm chứa bí mật” và được yêu cầu vẽ minh họa cho trích đoạn đó Học sinh có thể dùng các loại mầu và nguyên liệu khác nhau và hoàn thành tác phẩm trong 1 tuần (Xem trích đoạn ở phụ lục số 1)
Đánh giá
Các bức vẽ được các giáo viên mỹ thuật đánh giá sử dụng các tiêu chí chấm điểm thông thường như bài vẽ diễn đạt trích đoạn thế nào, tính sáng tạo,
Trang 3kỹ thuật pha màu và tính thẩm mỹ như hình họa, màu sắc… Xem phụ lục 2 về
các tiêu chí chấm điểm)
Thiết kế
Do việc phân nhóm ngẫu nhiên, hoặc vào nhóm thực nghiệm hoặc nhóm
đối chứng không được thuận lợi, nên ở đây học sinh được phân theo nhóm lớp
học Điều này đưa ra một thiết kế thí nghiệm hình thức với bài kiểm tra đầu vào
(O1 và O2) và bài kiểm tra đầu ra (O3 và O4) như dưới đây
Nhóm KT đầu vào Hoạt động KT đầu ra
Nghiên cứu
(1E2)
Giáo viên không hướng dẫn
O3
Đối chiếu
(1E3)
Giáo viên có hướng dẫn
O4
Khi sử dụng phép Aggregate PSLE để kiểm tra tương quan giữa hai
nhóm, kết quả là nhóm thực nghiệm có giá trị trung bình cao hơn (214) so với
nhóm đối chứng (210) Sự khác biêt ban đầu về khả năng học này có thể là minh
họa cho những so sánh giữa hai nhóm trong phần sau
Kết quả
Phép kiểm nghiệm t-test độc lập cho thấy nhóm thực nghiệm đạt điểm cao
hơn so với nhóm đối chứng cả ở bài kiểm tra đầu vào và đầu ra (Bảng 1) Trong
trường hợp này, sự khác biệt trong kết quả kiểm tra đầu ra có thể do khác biệt
trong bài kiểm tra đầu vào Để gạt bỏ ảnh hưởng của sự khác biệt ban đầu giữa
các nhóm, điểm chênh lệch được tính bằng cách lấy điểm kiểm tra đầu ra trừ đi
điểm đâu vào Sau đó, hai nhóm được so sánh dựa trên điểm chênh lệch này
Bảng 1: So sánh giá trị trung bình
Phép đo Nhóm thực nghiệm
(20 học sinh)
Nhóm đối chứng (20 học sinh)
Giá trị p của phép kiểm chứng t-test
Quy mô ảnh hưởng Gía trị TB SD Gía trị TB SD
Điểm
chênh
lệch
Như trong Bảng 1, giá trị trung bình điểm chênh lệch của nhóm thực
nghiệm là 2.8 và nhóm đối chứng là -2.9, như vậy chênh lệch điểm giữa hai
nhóm là 5.7 nghiêng về phía nhóm thực nghiệm Quy mô ảnh hưởng tương ứng
Trang 4là 0.65, theo tiêu chuẩn Cohen là mức ảnh hưởng trung bình Kết quả được khái quát trong biểu đồ Hình 1 dưới đây
Hình 1 So sánh giá trị trung bình
Kết luận
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của việc đưa ra nhiều hơn (16) hoặc ít hơn (6) ví dụ đối với tính sáng tạo của học sinh trong môn
Mỹ thuật
Các kết quả cho thấy học sinh được đưa quá nhiều ví dụ có thể gặp trở ngại trong việc phát huy tính sáng tạo Ngược lại, việc đưa ít ví dụ cũng góp phần tạo không gian và sự tự do để các em thể hiện tư duy sáng tạo của mình
Điều này cho thấy việc giáo viên đưa ra quá nhiều hướng dẫn không phải cách tốt để dạy học sinh sáng tạo Phát hiện này chính là minh chứng cho các nhà giáo mỹ thuật như Lowenfeld (1964) và các nhà nghiên cứu giáo dục mỹ thuật như Fisher and Williams (2004)
Giáo viên đưa ra quá nhiều ví dụ cho học sinh trước khi cho các em tự thực hiện ý tưởng của mình vì tin rằng nhiều ví dụ sẽ đem lại cho học sinh nhiều
ý tưởng, Điều này có thể đúng với các môn học thiên về nội dung vì kiến thức là nền tảng để phát huy việc học Tuy nhiên, theo phát hiện của nghiên cứu quy mô nhỏ này, điều này có thể không đúng với các môn học không chú trọng vào nội dung kiến thức như môn Mỹ thuật Trong các bài học mỹ thuật, các ví dụ chỉ nên được sử dụng làm đòn bẩy cho ý tưởng Sau khi đưa ra một vài ví dụ, học sinh nên được làm việc độc lập với ý tưởng của các em (thậm chí là tự do làm việc) nhằm đảm bảo môn mỹ thuật không trở thành môn học sao chép
Hình 1: So sánh giá trị trung bình
Kiểm tra đầu vào Kiểm tra đầu ra
Nhóm thực nghiệm
Nhóm đối
Trang 5Tài liệu tham khảo
Lowenfeld, V (1964) Phát triển trí tuệ và tính sáng tạo, 4th Ed New York:
Macmillan
Fisher, R and Willams, M (2004) Dạy học sáng tạo trong chương trình giảng
dạy Trích David Fulton , Ed Trường học sáng tạo: phát triển cộng đồng sáng
tạo RoutledgeBartel, M, (2006)
Dạy học sáng tạo Cập nhật tại website www.goshen.edu/~marvinpb/arted/tc.ht ml
Phụ lục 1 : Các trích đoạn trong tập truyện “Harry Potter và Hầm chứa bí
mật” sử dụng trong nghiên cứu
1 Innumerable candles were hovering in midair over four long, crowded tables, making the golden plates
and goblets sparkle Overhead, the bewitched ceiling, which always mirrored the sky outside, sparkled
with stars
2 The kitchen was small and rather cramped There was a scrubbed wooden table and chairs in the
middle and Harry was down on the edge of the seat, looking around He had never been in a wizard
house before
3 The clock on the wall opposite him had only one hand and no numbers at all Written around the edge
were things like ‘Time to make tea’, ‘Time to feed the chickens’, and ‘You’re late’ Books were stacked
deep on the mantel piece, books with titles like Charm Your Own Cheese,
Enchantment in Baking and
One Minute Feasts-It’s Magic! And unless Harry’s ears were deceiving him, the old radio next to the sink
had just announced that coming up was ‘Witching Hour’
4 The shadowy walls were lined with shelves of large jars, in which floated all manner of revolting things
Harry didn’t really want to know the name of at the moment The fireplace was dark and empty
5 Instead of roots, a small, muddy, and extremely ugly baby popped out of the earth The leaves were
growing right out of his head He had pale green, mottled skin, and was clearly bawling at the top of his
Trang 66 The pixies were electric blue and about eight inches high, with pointed faces and voices so shrill it was
like listening to a lot of budgies arguing The moment the cover had been
removed, they had started
jabbering and rocketing around, rattling the bars and making bizarre faces at the people nearest them
7 Harry got up and crossed to the window next to the message on the wall Hermione was pointing at the
topmost pane, where around twenty spiders were scuttling, apparently fighting to get through a small
crack A long, silvery thread was dangling like a rope, as though they had all climbed it in their hurry to
get outside
8 It was the gloomiest, most depressing bathroom Harry had ever set foot in Under a large cracked and
spotted mirror were a row of chipped sinks The floor was damp and reflected the dull light given off by
the stubs of a few candles, burning low in their holders, the wooden doors to the stalls were flaking and
scratched and one of them was dangling off its hinges
9 It was a large and beautiful circular room, full of funny little noises A number
of curious silver
instruments stood on spindle-legged tables, whirring and emitting little puffs of smoke The walls were
covered with portraits of old headmasters and headmistresses, all of whom were snoozing gently in their
frames
10 The enormous serpent, bright, poisonous green, thick as an oak trunk, had raised itself high in the air
and its great blunt head was weaving drunkenly between the pillars
11 Music was coming from some where Riddle whirled around to stare down the empty chamber The
music was growing louder It was eerie, spine-tingling, and unearthly; it lifted the hair on Harry’s scalp
and made his heart feel as though it was swelling to twice its normal size Then,
as the music reached
such a pitch that Harry felt it vibrating inside his own ribs, flames erupted at the top of the nearest pillar
Trang 712 Her words were cut short; however, as the portrait of the fat lady swung open and there were a sudden
storm of clapping It looked as though the whole of Gryffindor house were still awake, packed into the
circular common room, standing on the lopsided tables and squashy armchairs, waiting for them to
arrive Arms reached through the portrait hole to pull Harry and Ron inside, leaving Hermonie scramble
after them
13 They managed to get to the other side of the common room, still having their backs slapped, and gained
the peace of the staircase They hurried up it, right to the top, and at least a sign
on it saying ‘second
years’ They entered the familiar circular room, with its five four posters hung with red velvet and its high,
narrow windows Their trunks had been br ought up for them and placed at the ends of their beds
14 It was an incredible sight The dungeon was full of hundreds of pearly white, translucent people, mostly
drifting around a crowded dance floor, waltzing to the dreadful, quavering sound
of thirty musicial
saws,played by an orchestra on a black-draped platform A chandelier overhead blazed midnight blue
with a thousand more black candles
Phụ lục 2: Các mục chấm điểm được sử dụng
Chất lượng mỹ thuật
(Kỹ năng dùng màu và vẽ hình hoạ)
/10 điểm