Tuy nhiên phương pháp mới cũng đã được ứng dụng đối với tất cả các số liệu về tỷ lệ nhiễm HIV trước đây, với mục đích các ước tính về số ca nhiễm mới, tỷ lệ hiện nhiễm và số tử vong từ n
Trang 1
07
Cập nhật tình hình dịch AIDS
Trang 2UNAIDS/07.27E/JC1322E (Nguyên bản tiếng Anh, Tháng 12, 2007)
© Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 2007.
Giữ toàn bộ bản quyền Có thể nhận các ấn phẩm do UNAIDS và WHO xuất bản từ Trung tâm thông tin của UNAIDS Xin phép tái bản hoặc dịch các ấn phẩm của UNAIDS cho mục đích thương mại hoặc phi thương mại xin gửi tới Trung tâm thông tin theo địa chỉ dưới đây, hoặc gửi tới số fax +4122 791 4187, hoặc email: publicationpermissions@unaids.org.
Hình thức trình bày và thiết kế mỹ thuật của ấn phẩm này không ám chỉ bất cứ một quan điểm nào của UNAIDS hoặc WHO liên quan đến tình trạng pháp lý của bất cứ quốc gia, lãnh thổ, thành phố hay khu vực tự trị nào hoặc liên quan đến sự phân chia ranh giới hoặc biên giới.
Việc nhắc đến tên của một số công ty hay nhà sản xuất cụ thể không có nghĩa là chúng đã được UNAIDS hoặc WHO kiểm tra hay khuyến nghị so vớí các công ty hay nhà sản xuất khác không được nhắc tên Trừ khi do bị lỗi hoặc nhầm lẫn, tất cả các tên của các sản phẩm đều được phân biệt bằng chữ cái đầu in hoa.
UNAIDS không thể đảm bảo được rằng tất cả các thông tin trong ấn phẩm này là đầy đủ và chính xác, và không chịu trách nhiệm về bất cứ tổn thất nào do việc sử dụng thông tin trong ấn phẩm này.
Dữ liệu trong danh mục thư viện của WHO
Trang 3Cập nhật tình hình dịch AIDS
Tháng 12 / 2007
Trang 5Ước tính số người trưởng thành và trẻ em toàn cầu, 2007
Ước tính số người trưởng thành và trẻ em đang sống với HIV trong năm 2007
Ước tính số người trưởng thành và trẻ em mới bị nhiễm HIV trong năm 2007
Ước tính số người trưởng thành và trẻ em tử vong liên quan đến AIDS trong năm 2007
45 46 47 48
Trang 7
Trẻ em dưới 15 tuổi 2.5 triệu [2.2 - 2.6 triệu]
Số ca mới nhiễm HIV trong năm 2007
Khoảng dao động xung quanh các con số ước tính trong bảng này là xác định giới
hạn trong đó bao gồm con số thực, dựa trên các thông tin tốt nhất hiện có
2007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÓM TẮT TÌNH HÌNH
Trang 92007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
TÓM TẮT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS TOÀN CẦU
Trong năm 2007, những tiến bộ trong
phương pháp ước tính dịch HIV áp dụng
đối với nhiều loại số liệu quốc gia đã
mang lại những kết quả đáng kể trong
ước tính số người đang sống với HIV
trên toàn thế giới Tuy nhiên việc đánh
giá định tính mức độ nghiêm trọng và
những ảnh hưởng của dịch vẫn chưa có
nhiều thay đổi Ước tính số người đang
sống với HIV toàn cầu trong năm 2007
là 33,2 triệu [30,6 – 36,1 triệu], giảm 16%
số với con số ước tính công bố năm 2006
(39,5 triệu [34,7 – 47,1 triệu.] (UNAIDS/
WHO, 2006) Sự giảm đi này chủ yếu
là nhờ những biện pháp chuyên sâu áp
dụng khi đánh giá dịch HIV tại Ấn Độ,
từ đó xem xét và cập nhật lại các số liệu
ước tính của quốc gia này Việc đánh giá
lại các con số ước tính của một số quốc
gia khác, nhất là khu vực Cận Sahara
Châu Phi, cũng góp phần làm giảm số
ước tính ban đầu 70% khác biệt giữa số
ước tính của năm 2006 và 2007 là do có
sự thay đổi số liệu tại sáu nước: Angola,
Ấn Độ, Kenya, Mozambique, Nigeria,
và Zimbabwe Tại Kenya và Zimbabwe,
ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy
tỷ lệ nhiễm ở đây giảm một phần là do
số ca nhiễm mới giảm xuống, kết quả có
phần đóng góp của việc giảm các hành vi
nguy cơ cao
Do ước tính số ca nhiễm HIV mới và số
ca tử vong liên quan đến HIV dựa trên
mô hình toán ứng dụng cho việc ước
tính tỷ lệ nhiễm HIV, những ước tính
mới về số ca nhiễm HIV mới và tỷ lệ
tử vong trong năm 2007 cũng khác biệt
đáng kể so với đánh giá ban đầu Cần
nhấn mạnh rằng những khác biệt giữa
Giới thiệu
số ước tính công bố năm 2006 và số ước tính công bố năm 2007 phần lớn là kết quả của việc cải tiến phương pháp, chứ không phải là những xu hướng của bản thân dịch Do đó, không nên đưa ra kết luận dựa vào việc so sánh những con số ước tính năm 2007 với số công bố năm
2006 Tuy nhiên phương pháp mới cũng
đã được ứng dụng đối với tất cả các số liệu về tỷ lệ nhiễm HIV trước đây, với mục đích các ước tính về số ca nhiễm mới, tỷ lệ hiện nhiễm và số tử vong từ những năm về trước nêu trong bản báo cáo này vẫn có thể được sử dụng để đánh giá các xu hướng dịch qua nhiều thời kỳ
Tài liệu Cập nhật Tình hình Dịch AIDS
công bố những biến chuyển gần đây nhất của đại dịch AIDS và được xuất bản hàng năm liên tục từ năm 1998 Bản báo cáo năm 2007 này cung cấp những ước tính cập nhật nhất về quy mô dịch và
số tử vong cũng như tìm hiểu những xu hướng phát triển mới của dịch Báo cáo này do UNAIDS và WHO phối hợp thực hiện và các ước tính do Nhóm Chuyên
đề về Giám sát HIV/AIDS và STI toàn cầu của UNAIDS/WHO đưa ra đều dựa trên các phương pháp và thông số công
bố bởi Nhóm Chuyên đề của UNAIDS
về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự đoán HIV/AIDS (UNAIDS Reference Group
on HIV/AIDS Estimates, Modelling and Projections) Những ước tính này cũng dựa vào nghiên cứu của các chuyên gia quốc gia trong loạt 11 hội thảo ước tính HIV khu vực do UNAIDS và WHO tổ chức Cách thức và phương pháp ước tính do UNAIDS và WHO sử dụng cũng
Trang 10được xem xét và thông qua trong cuộc
hội đàm quốc tế về ước tính dịch AIDS
do Văn phòng UNAIDS và WHO tổ
chức vào ngày 14 và 15 tháng 11 năm
2007 tại Geneva
Những yếu tố cơ bản của phương pháp
mới được ứng dụng bao gồm hiểu biết
sâu rộng hơn về dịch HIV thông qua
điều tra dựa vào dân số, mở rộng giám
sát trọng điểm tới nhiều vùng hơn tại
các quốc gia liên quan, và chỉnh sửa các
mô hình toán học bởi đã có hiểu biết
nhiều hơn về lịch sử tự nhiên của việc
lây nhiễm HIV không được điều trị tại
các nước thu nhập thấp và trung bình
Những chỉnh sửa phương pháp này
được giải thích kỹ hơn trong phần “Số
liệu mới dẫn đến nhiều thay đổi trong
giả định và số ước tính.” UNAIDS và
WHO sẽ tiếp tục chỉnh sửa các số ước
tính về nhiễm HIV và tử vong vì AIDS
sau khi có được các số liệu khoa học,
nghiên cứu và phân tích mới
Một số so sánh trong báo cáo này là giữa
các ước tính HIV tính theo cùng phương
pháp mới trong các năm 2007 và năm
0 5 10 15 20 25 30 35 40
số yếu tố khả quan với những nhận định sau:
tỷ lệ hiện nhiễm HIV toàn cầu (tỷ lệ người mắc HIV) vẫn dừng ở mức độ như trước, mặc dù số lượng người sống với HIV toàn cầu đang tăng lên bởi các ca nhiễm mới tiếp tục tích lũy
| | | | | | | | | | | | | | | | | | |
Trang 112007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
với tuổi thọ người bệnh cao hơn, tính
theo số dân nói chung đang không
và
số ca nhiễm HIV mới toàn cầu hàng năm đang giảm
Nghiên cứu các xu hướng toàn cầu và
Ước tính tỷ lệ nhiễm HIV (%) trong người lớn (15-49 tuổi) toàn cầu và
Cận Sahara Châu Phi, 1990 – 2007
Châu Phi cận Sahara
Trang 121990 ‘91 ‘92 ‘93 ‘94 ‘95 ‘96 ‘97 ‘98 ‘99 2000 ‘01 ‘02 ‘03 ‘04 ‘05 ‘06 ‘07 0
1 2 3 4 5 6
Ước tính số người mới nhiễm HIV trên toàn cầu,
khu vực cho thấy dịch đã hình thành hai
mô hình chính:
dịch đại trà ở đối tượng dân cư nói chung tại rất nhiều quốc gia Cận Sahara Châu Phi, nhất là ở miền nam châu lục này; và
dịch tại các khu vực còn lại của thế giới tập trung chủ yếu ở các nhóm đối tượng nguy cơ cao nhất, ví dụ nam giới quan hệ đồng tính, người tiêm chích ma túy, người hoạt động mại dâm và các bạn tình của họ
Cận Sahara Châu Phi vẫn là khu vực
chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, với AIDS
là nguyên nhân chính gây tử vong ở đây
Mặc dù tỷ lệ phần trăm nhiễm HIV
không biến động, việc tiếp tục xuất hiện
những ca nhiễm mới (dù với tốc độ đã
chậm lại) vẫn khiến số ước tính người
đang sống với HIV lên đến 33,2 triệu
[30.6 – 36,1 triệu], con số lớn nhất từ
trước đến nay (Biểu đồ 1) Tỷ lệ nhiễm
HIV có xu hướng giảm chậm theo thời
gian khi các ca nhiễm mới giảm đi và
theo số ca tử vong của những người
nhiễm HIV; nó có thể tăng lên qua số
lượng ca nhiễm HIV mới và qua tỷ lệ tử
vong của người nhiễm HIV giảm đi
Biểu đồ 4
nhờ điều trị ARV Những phân tích trong báo cáo này không thể đánh giá cụ thể những ảnh hưởng khác nhau đối với các nỗ lực phòng chống lây nhiễm HIV nhằm giảm số ca nhiễm mới và việc mở rộng điều trị nhằm giảm ca tử vong của người sống với HIV
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV toàn cầu – tỷ lệ dân số người lớn trên toàn cầu đang sống với HIV – được ước tính không biến động nhiều từ năm 2001 (Biểu đồ 2) Tại một số nước tỷ lệ nhiễm HIV đang có xu hướng giảm, khi các nỗ lực nhằm giảm ca nhiễm HIV mới từ năm
2000 và 2001 đang bắt đầu mang lại hiệu quả Tại hầu hết các nước vùng Cận Sa-hara Châu Phi, tỷ lệ nhiễm HIV quốc gia hoặc không tăng hoặc đang có dấu hiệu
giảm (Biểu đồ 2) Bờ biển Ngà, Kenya và
Zimbabwe đều chứng kiến tỷ lệ nhiễm
quốc gia giảm xuống, tiếp tục các xu
hướng trước đó Tại Đông Nam Á, dịch tại Cam-pu-chia, Myanmar và Thái Lan
đều có dấu hiệu giảm
Con số ước tính ca tử vong vì AIDS trong năm 2007 là 2,1 triệu [1,9 – 2,4 triệu] trên toàn thế giới (Biểu đồ 3), trong số đó 76% là ở Cận Sahara Châu Phi Những con số giảm trong hai năm
Trang 132007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
qua một phần là nhờ việc mở rộng
các dịch vụ điều trị ARV AIDS vẫn là
nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn
cầu và nguyên nhân tử vong chính tại
Cận Sahara Châu Phi, minh chứng cho
thách thức lớn và dài lâu cho việc cung
cấp các dịch vụ điều trị sẽ phải đối mặt,
với tác động hết sức lên vùng Cận Sahara
Châu Phi ngày càng rõ rệt
Số ca nhiễm HIV mới (số lượng ca
nhiễm HIV mới trong một cộng đồng
hàng năm) là thông số chính mà các nỗ
lực dự phòng muốn giảm, bởi những
người mới nhiễm làm tăng thêm tổng số
người đang sống với HIV; họ sẽ chuyển
sang giai đoạn bệnh và tử vong sau một
thời gian; và là một nguồn nguy cơ lây
nhiễm tiếp Số nhiễm mới HIV toàn cầu
dường như đã đạt đỉnh vào cuối những
năm 1990 (Biểu đồ 4) với con số 3 triệu
ca nhiễm mới một năm, và đã được ước
tính là 2,5 triệu [1,8 – 4,1 triệu] ca nhiễm
mới trong năm 2007, trong đó trên hai
phần ba (68%) là ở Cận Sahara Châu Phi
Việc số ca nhiễm mới giảm đi này có lẽ
phản ánh những xu hướng tự nhiên của
dịch cũng như kết quả của các chương
trình dự phòng mang đến sự thay đổi
hành vi trong những hoàn cảnh khác
nhau
Kết luận cuối cùng là về chất lượng và
bản chất của các thông tin chiến lược
liên quan đến dịch và tác động của các
chương trình của chúng ta Tăng đầu
tư vào các biện pháp can thiệp về dự
phòng, điều trị, và chăm sóc liên quan
đến HIV đang chứng tỏ hiệu quả nhưng
cũng làm tăng đáng kể tính chất phức
tạp của dịch và việc phân tích các xu
hướng dịch Những phân tích trong báo
cáo này không thể định nghĩa đầy đủ tác
động của các biện pháp can thiệp hoặc
chương trình cụ thể Điều này đòi hỏi
phải có nghiên cứu đặc biệt tại các vùng
địa phương, bao gồm cả việc đánh giá
trực tiếp số lượng nhiễm HIV mới, tỷ lệ
tử vong, hiệu quả của chương trình và
gánh nặng của nhiễm HIV, bệnh tật và tử
vong ở trẻ em
Cùng với việc các nguồn lực được cam kết dành cho ứng phó với AIDS và các bệnh nguy hiểm khác tiếp tục tăng lên, cần nhấn mạnh đến việc củng cố hệ thống thu thập và phân tích số liệu cũng như việc nâng cao chất lượng số liệu nhằm định hướng việc lập kế hoạch một cách có chiến lược Mặc dù thu thập
số liệu theo phương pháp này không tránh khỏi thách thức và hạn chế, những nguồn lực dành cho ứng phó AIDS toàn cầu đã góp phần tăng chất lượng thông tin và giúp hiểu biết của chúng ta về dịch HIV đầy đủ hơn so với các căn bệnh toàn cầu khác
Tóm tắt tình hình dịch tại các khu vực
Số liệu theo vùng được nêu trong Bảng
1 Cận Sahara Châu Phi tiếp tục là
khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch AIDS toàn cầu Hơn hai phần ba (68%) người lớn và gần 90%
trẻ em nhiễm HIV sống tại khu vực này,
và hơn ba phần tư (76%) số ca tử vong
vì AIDS trong năm 2007 xảy ra ở đây, minh chứng cho nhu cầu chưa được đáp ứng về điều trị ARV tại Châu Phi Tuy nhiên, dịch ở khu vực này có mức độ rất khác nhau, với tỷ lệ nhiễm HIV quốc gia ở người lớn (15-49 tuổi) thay đổi từ dưới 2% tại một số nước ở Sahel đến
trên 15% tại hầu hết các nước vùng nam
châu Phi Chỉ riêng vùng Nam Phi đã
chiếm gần một phần ba (32%) tổng số các ca nhiễm HIV mới và ca tử vong vì AIDS trên toàn cầu trong năm 2007
Tổng số 1,7 triệu [1,4 – 2,4 triệu] người
tại Cận Sahara Châu Phi đã bị nhiễm
HIV trong năm vừa qua, giảm từ 2,2 triệu [1,7 – 2,7 triệu] ca nhiễm mới năm
2001 Hiện tại ước tính có 22,5 triệu [20,9 – 24,3 triệu] người sống với HIV trong khu vực trong năm 2007 – so với 20,9 triệu [19,7 – 23,6 triệu] năm 2001
Tại Cận Sahara Châu Phi, tỷ lệ nhiễm
Trang 14Số liệu về HIV và AIDS theo khu vực, 2001 và 2007
Người lớn và trẻ em sống với HIV Người lớn và trẻ em mới nhiễm HIV Tỷ lệ người lớn hiện nhiễm (%) Số người lớn và trẻ em tử vong vì AIDS 2007
20,9 triệu [19,7 triệu - 23,6 triệu]
1,7 triệu [1,4 triệu - 2,4 triệu]
2,2 triệu [1,7 triệu - 2,7 triệu]
380 000 [270 000 - 500 000]
300 000 [220 000 - 400 000]
4,0 triệu [3,3 triệu - 4,5 triệu]
3.5 triệu [2,9 triệu - 4,5 triệu]
35 000 [16 000 - 65 000]
41 000 [17 000 - 58 000]
340 000 [180 000 - 740 000]
450 000 [150 000 - 800 000]
800 000 [620 000 - 960 000]
420 000 [350 000 - 510 000]
92 000 [21 000 - 220 000]
77 000 [4900 - 130 000]
75 000 [53 000 - 120 000]
26 000 [19 000 - 39 000]
1,6 triệu [1,4 triệu - 1,9 triệu]
1,3 triệu [1,2 triệu - 1,6 triệu]
230 000 [210 000 - 270 000]
190 000 [180 000 - 250 000]
1,6 triệu [1,2 triệu - 2,1 triệu]
630 000 [490 000 - 1,1 triệu]
760 000 [600 000 - 1,1 triệu]
620 000 [500 000 - 870 000]
1,3 triệu [480 000 - 1,9 triệu]
1,1 triệu [390 000 - 1,6 triệu]
33,2 triệu [30,6 triệu - 36,1 triệu]
29,0 triệu [26,9 triệu - 32,4 triệu]
2,5 triệu [1,8 triệu - 4,1 triệu]
3,2 triệu [2,1 triệu - 4,4 triệu]
14 000 [11 000 - 26 000]
3800 [3900 - 5600]
100 000 [47 000 - 220 000]
20 000 [17 000 - 25 000]
17 000 [15 000 - 230 000]
20 000 [17 000 - 25 000]
150 000 [70 000 - 290 000]
230 000 [98 000 - 340 000]
31 000 [19 000 - 86 000]
32 000 [19 000 - 76 000]
46 000 [38 000 - 68 000]
44 000 [40 000 - 63 000]
25 000 [20 000 - 34 000]
22 000 [11 000 - 39 000]
270 000 [230 000 - 380 000]
170 000 [120 000 - 220 000]
32 000 [28 000 - 49 000]
12 000 [8200 - 17 000] 1200 [1100]
<500 [17 000 - 58 000]
58 000 [49 000 - 91 000]
51 000 [44 000 - 100 000]
11 000 [9800 - 18 000]
14 000 [13 000 -21 000]
55 000 [42 000 - 88 000] 8000 [5500 - 14 000]
12 000 [<15 000]
10 000 [<15 000]
21 000 [18 000 - 31 000]
21 000 [18 000 - 31 000] 2,1 triệu [1,9 triệu - 2,4 triệu] 1,7 triệu [1,6 triệu - 2,3 triệu]
Bảng 1
HIV ở người lớn (15-49 tuổi) giảm từ
5,8% [5,5% - 6,6%] năm 2001 xuống
5,0% [4,6% - 5,5%] trong năm 2007
AIDS tiếp tục là nguyên nhân chính gây
tử vong tại Cận Sahara Châu Phi (WHO, 2003); trong tổng số 2,1 triệu [1,9 - 2,4
Trang 152007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
triệu] ca tử vong ở người lớn và trẻ em
do AIDS gây ra trong năm 2007, 1,6 triệu
[1,5 – 2 triệu] là ở Cận Sahara Châu
Phi Ước tính có khoảng 11,4 triệu [10,5
– 14,6 triệu] trẻ mồ côi do AIDS1 tại khu
vực này
Bên cạnh xu hướng giảm số lượng ca
nhiễm mới tại Cận Sahara Châu Phi
trong giai đoạn 2001 – 2007, số lượng
nhiễm HIV mới ước tính hàng năm cũng
giảm tại khu vực Nam và Đông Nam Á
từ 450.000 [150.000 – 800.000] năm 2001
xuống 340.000 [180.000 – 740.000] trong
năm 2007, và tại Đông Âu từ 230.000
[98.000 – 340.000] vào năm 2001 xuống
150.000 [70.000 – 290.000] năm 2007
Sự khác biệt trong số ca nhiễm mới tại
Đông Âu phần lớn là do tốc độ phát
triển dịch HIV đã chậm lại ở Cộng hòa
Liên bang Nga, quốc gia có số nhiễm
lớn nhất khu vực này và cũng là nơi số ca
nhiễm mới tăng đột biến vào cuối những
năm 1990 trước khi lên đến đỉnh điểm
năm 2001 Số ca nhiễm HIV mới hàng
năm được báo cáo (không phải là ước
tính) của Liên bang Nga trong những
năm gần đây lại tăng lên, nhưng với tốc
độ chậm hơn so với hồi đầu thế kỷ
Con số 92.000 [21.000 – 220.000] người
lớn và trẻ em ước tính bị nhiễm HIV
tại Đông Á trong năm 2007 thể hiện
mức tăng gần 20% so với 77.000 [4.900
– 130.000] người nhiễm HIV vào năm
2001 Tại Châu Đại Dương số ca nhiễm
mới ước tính cũng tăng lên – từ 3.800
[3.000 – 5.600] vào năm 2001 lên 14.000
[11.000 – 26.000] vào năm 2007 Tại khu
vực Ca-ri-bê, Châu Mỹ La-tinh, Trung
Đông và Bắc Phi, Bắc Mỹ và Tây Âu, số
ca nhiễm mới HIV trong năm 2007 gần
như không biến động
Những con số tỷ lệ theo khu vực này có
có thể khiến người ta quên mất thực tế
rằng con số thực những người đang sống
với HIV có thể đang tăng lên; ví dụ như
ở Đông Âu, tổng số người có HIV tăng gần 150% từ năm 2001 đến 2007 Tương
tự tại một số quốc gia, ví dụ như Việt Nam và In-đô-nê-xi-a, tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng lên
Phụ nữ sống với HIV
Tổng số ước tính các ca nhiễm mới ở nam giới và phụ nữ từ năm 2001 đến năm 2007 cũng tăng tương tự - tỷ lệ phụ nữ trên nam giới toàn cầu vẫn giữ
ổn định Con số 15,4 triệu [13,9 – 16,6 triệu] phụ nữ đang sống với HIV trong năm 2007 đã tăng thêm 1,6 triệu so với con số 13,8 triệu [12,7 – 15,2 triệu] vào năm 2001 Đối với nam giới, ước tính 15,4 triệu [14,3 – 17 triệu] người đang sống với HIV trong năm 2007 so với 13,7 triệu [12,6 – 15,2 triệu] vào năm
2001 Tại Cận Sahara Châu Phi, gần
61% người lớn đang sống cùng HIV là
phụ nữ, trong khi tại khu vực Ca-ri-bê
con số này là 43% (so với 37% năm 2001) (Biểu đồ 5 ) Tỷ lệ phụ nữ sống với HIV
tại Châu Mỹ La-tinh, Châu Á và Đông
Âu đang tăng với tốc độ chậm, bởi HIV
bị lây nhiễm sang những bạn tình nữ của những người đàn ông rất có thể đã bị nhiễm qua tiêm chích ma túy, hoặc qua mại dâm không an toàn, hoặc qua quan
hệ tình dục với bạn đồng tính nam Tại
Đông Âu và Trung Á, ước tính phụ nữ
chiếm 26% số người lớn có HIV trong năm 2007 (so với 23% năm 2001), trong
khi tại Châu Á tỷ lệ đó lên đến 29% năm
2007 (so với 26% năm 2001)
Trẻ em (dưới 15 tuổi) sống với HIV
Số lượng trẻ em đang sống với HIV trên toàn cầu đã tăng từ 1,5 triệu [1,3 - 1,9 9 triệu] năm 2001 lên 2,5 triệu [2,2 – 2,6 triệu] vào năm 2007 Tuy nhiên số ca nhiễm mới ước tính trong trẻ em đã giảm từ 460.000 [420.000 – 510.000]
1 Trẻ mồ côi (0-17 tuổi) hiện đang sống được định nghĩa là số ước tính trẻ em từ 0 đến 17 tuổi trong năm 2007 đã
mất bố hoặc mẹ hoặc cả bố mẹ vì bệnh AIDS.
Trang 160 10 20 30 40 50 60 70
1990 ‘91 ‘92 ‘93 ‘94 ‘95 ‘96 ‘97 ‘98 ‘99 2000 ‘01 ‘02 ‘03 ‘04 ‘05 ‘06 ‘07
2 Tỷ lệ phụ nữ bị nhiễm trên nam giới phạm vi toàn cầu vẫn giữa nguyên ở mức khoảng 50% từ cuối những năm
1990 Trong biểu đồ tỷ lệ này, mặc dù tỷ lệ phụ nữ trên nam giới tăng lên tại mỗi khu vực, tại hầu hết các khu vực tổng số nam giới bị nhiễm vẫn vượt xa số phụ nữ bị nhiễm.
3 Nhóm Chuyên đề của UNAIDS về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự đoán HIV/AIDS (UNAIDS Reference Group on HIV/AIDS Estimates, Modelling and Projections) bao gồm những nhà nghiên cứu hàng đầu về HIV, dịch tễ học, nhân khẩu học, và các lĩnh vực liên quan Nhóm có chức năng đánh giá những kết quả được xuất bản hoặc chưa xuất bản dựa trên các nghiên cứu tại các nước khác nhau Nhóm cũng xem xét những bước tiến trong lĩnh vực hiểu biết về dịch HIV, và đưa ra nhiều phương pháp nhằm nâng cao chất lượng và độ chính xác của các con số ước tính.
Tỷ lệ phần trăm người lớn (trên 15 tuổi) là phụ nữ đang sống với HIV,
1990 – 2007
Năm
Cận Sahara Châu Phi TOÀN CẦU
Ca ri bê Châu Á Đông Âu và Trung Á Châu Mỹ La-tinh
SỐ LIỆU MỚI DẪN ĐẾN NHIỀU THAY ĐỔI TRONG GIẢ ĐỊNH VÀ SỐ ƯỚC TÍNH
Là một nội dung trong quá trình liên tục chỉnh sửa các số ước tính về HIV, UNAIDS và WHO thường xuyên cập nhật phương pháp ước tính của mình với các thông tin mới, theo đề nghị của Nhóm Chuyên đề Đánh giá của UNAIDS
về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự đoán HIV/AIDS (UNAIDS Reference Group
on HIV/AIDS Estimates, Modelling and Projections), và dựa trên những tiến bộ khoa học gần đây nhất 3 Ngoài ra, Văn phòng UNAIDS và WHO cũng đồng tổ chức Hội đàm Quốc tế về Ước tính Dịch AIDS vào ngày 14 và 15 tháng 11 năm
2007 tại Geneva, Thụy Sĩ nhằm đánh giá các cách thức và phương pháp hiện UNAIDS và WHO đang sử dụng để đưa ra các số ước tính HIV ở cấp quốc gia, khu vực, và toàn cầu.
Những công cụ được thiết kế theo khuyến nghị của Nhóm Chuyên đề đề Đánh giá của UNAIDS gồm có Bộ Ước tính và Dự đoán (EPP), WORKBOOK, và Spectrum Những công cụ này tạo ra đường cong dao động tỷ lệ HIV và dự đoán tác động nhân khẩu học theo tuổi của tỷ lệ tử vong vì AIDS Những thông tin thu được bao gồm tỷ lệ nhiễm HIV qua các thời kỳ, số người
Trang 172007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
đang sống với HIV, số ca nhiễm mới, số tử vong do AIDS, số trẻ mồ côi, và nhu
cầu điều trị Số ước tính về số ca nhiễm mới và tỷ lệ tử vong được rút ra từ tỷ lệ
nhiễm HIV người lớn qua các thời kỳ - tỷ lệ này lại dựa vào số liệu từ quá trình
giám sát, điều tra và nghiên cứu chuyên đề.
Các hệ thống giám sát HIV đã được mở rộng và nâng cấp đáng kể trong những
năm qua, nhất là ở khu vực Cận Sahara Châu Phi và Châu Á Chất lượng số
liệu giám sát trọng điểm HIV cũng được cải thiện bởi số lần giám sát trọng điểm
cũng như phạm vi địa lý và dân số tăng lên Ví dụ tại Ấn Độ số vùng được giám
sát trọng điểm đã tăng lên hơn 1.100 trong năm 2006 (từ 155 năm 1998) và
hiện đối tượng giám sát đã bao gồm những nhóm có nguy cơ cao nhất Tại một
số nước châu Phi nơi trước đây số liệu về tỷ lệ HIV rất hạn chế (như Angola,
Liberia, và Sudan), việc giám sát trọng điểm tăng lên đã mang lại những số liệu
chính xác hơn.
Số liệu thu thập từ các cuộc điều tra quốc gia dựa trên dân số làm tăng độ
chính xác của số ước tính HIV và AIDS Trong khi tỷ lệ nhiễm HIV từ giám sát
trọng điểm vẫn sẽ tiếp tục cung cấp những thông tin quý giá về xu hướng dịch
thì tỷ lệ HIV dựa trên điều tra quốc gia đã được chỉnh sửa để tránh các sai số
do không có hồi đáp hoặc do thành kiến, cung cấp số liệu tốt hơn để có thể tính
toán tỷ lệ nhiễm quốc gia Tuy nhiên những điều tra quốc gia tại các nước có
dịch tập trung có thể không tiếp cận được các nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV
cao và do đó cần phải tiếp tục được chỉnh sửa cho phù hợp Từ năm 2001, 30
nước vùng Cận Sahara Châu Phi, châu Á và Ca-ri-bê đã tiến hành nhiều điều
tra quốc gia dựa vào dân số bao gồm nội dung đánh giá tỷ lệ HIV (Bảng 2) Kết
quả của những cuộc điều tra này nhìn chung đều cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV quốc
gia thấp hơn so với kết quả suy đóan được từ các giám sát trọng điểm khu vực.
Đối với những con số ước tính theo vùng và toàn cầu nêu trong báo cáo này,
tỷ lệ nhiễm HIV người lớn có được từ các cuộc điều tra đó đã được sử dụng
để chỉnh sửa lại tỷ lệ nhiễm HIV của năm tiến hành điều tra tại từng nước Với
những nước mới tiến hành điều tra gần đây (như Benin, Cam-pu-chia, Cộng
hòa Trung Phi, Haiti, Ấn Độ, Liberia, Malawi, Mali và Swaziland), các số ước
tính thấp hơn so với những con số nêu trong bản ước tính khu vực và toàn cầu
được đề cập trong báo cáo Cập nhật tình hình dịch AIDS năm 2006
Ngoài ra một số giả định mới đã được đưa vào các công cụ phần mềm ước tính
phiên bản 2007, đó là Bộ Ước tính và Dự đoán (EPP) 2007 và Spectrum 3 Một
giả định mới quan trọng liên quan đến các quốc gia có dịch HIV đại trà nhưng
chưa tiến hành điều tra HIV quốc gia trong dân số So sánh tỷ lệ nhiễm HIV của
phụ nữ có thai đến khám tại các cơ sở y tế với tỷ lệ nhiễm HIV dựa theo điều
tra quốc gia cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV người lớn qua điều tra quốc gia là khoảng
80% tỷ lệ nhiễm HIV của phụ nữ có thai đến khám tại các cơ sở y tế ở cả vùng
nông thôn lẫn thành thị (UNAIDS, 2007) Quan sát đó dẫn đến khuyến nghị rằng
tại các nước có dịch HIV đại trà nhưng chưa tiến hành điều tra quốc gia trong
dân số, số liệu tỷ lệ nhiễm HIV của phụ nữ có thai đến khám trước sinh tại các
cơ sở y tế nên được điều chỉnh giảm xuống trung bình theo hệ số 0,8 (Nhóm
Chuyên đề của UNAIDS về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự đoán HIV/AIDS,
2006) Trước đây chỉ có tỷ lệ nhiễm lấy từ các cơ sở y tế trước sinh vùng nông
thôn được điều chỉnh.
Giả định quan trọng thứ hai liên quan đến việc ước tính số ca nhiễm mới và số
ca tử vong Số ca nhiễm HIV mới và số ca tử vong vì AIDS được tính bằng cách
kết hợp tỷ lệ nhiễm HIV qua các thời kỳ và giả thiết rằng một người bị nhiễm
Trang 18Quốc gia
Tỷ lệ nhiễm theo điều tra quốc gia trong dân số (%) (năm)
Tỷ lệ nhiễm HIV 2001 (%) nêu trong Báo cáo tình hình dịch AIDS toàn cầu 2002
Tỷ lệ nhiễm HIV 2003 (%) nêu trong Báo cáo tình hình dịch AIDS toàn cầu 2004
Tỷ lệ nhiễm HIV 2005 (%) nêu trong Báo cáo tình hình dịch AIDS toàn cầu 2006
Cận Sahara Châu Phi
* Bao gồm cả nam giới trong độ tuổi từ 15 đến 49
Tỷ lệ nhiễm HIV ở người lớn (15-49 tuổi) tại các nước đã tiến hành điều tra HIV
trong dân số trong những năm gần đây
Bảng 2
Trang 192007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
HIV vẫn có thể sống được mà không cần điều trị, trong khi những người được
điều trị có thể sống lâu hơn (Stover, 2006) Trong trường hợp không có điều
trị, thời gian sống trung bình sau khi nhiễm HIV giờ được ước tính là 11 năm
(Nhóm Chuyên đề của UNAIDS về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự đoán HIV/
AIDS, 2006), thay vì con số 9 năm được đưa ra trước đó (Nhóm Chuyên đề
của UNAIDS về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự đoán HIV/AIDS, 2006) Điều
này được áp dụng đối với mọi quốc gia trừ các nước phần lớn các ca nhiễm là
HIV loại E Đối với các nước này, thời gian sống trung bình sau khi nhiễm HIV
vẫn còn đang được xem xét lại, nhưng một số nghiên cứu cho thấy con số ước
tính là 9 năm (Nhóm Chuyên đề của UNAIDS về Ước tính, Lên Mô hình, và Dự
đoán HIV/AIDS, 2006) Những khuyến nghị mới này dựa trên các thông tin mới
cung cấp bởi nhiều nghiên cứu dọc (Todd và nhóm tác giả, 2007; Marston và
nhóm tác giả, 2007) Đối với cùng mức độ tỷ lệ nhiễm, thời gian sống trung bình
sau khi nhiễm HIV dài hơn này dẫn đến việc các số ước tính ca nhiễm mới và
ca tử vong do AIDS giảm xuống.
Bên cạnh những thay đổi về tỷ lệ nhiễm HIV tại các quốc gia do có sự điều
chỉnh dựa theo kết quả điều tra quốc gia (xem bên trên), những quốc gia khác
cũng có tỷ lệ nhiễm thấp hơn (sau khi chỉnh sửa) nhờ hiệu quả mở rộng hệ
thống giám sát của họ (ví dụ Angola và Madagascar.) Ngoài ra, tại một số
nước có dịch đại trà nhưng chưa tiến hành điều tra quốc gia, chính việc điều
chỉnh lại số liệu từ các cơ sở y tế tại vùng thành thị (xem bên trên) đã làm cho
số ước tính về tỷ lệ nhiễm quốc gia giảm xuống, ví dụ tại Angola, Congo,
Eri-trea, Gambia, Guinea-Bissau, Mozambique, Namibia, Nigeria, Somalia và
Sudan
Thay đổi về giả thiết thời gian sống (xem bên trên) đã làm cho số ước tính về
số ca tử vong và nhiễm mới giảm đi tại tất cả các quốc gia, trừ những nước
phần lớn bị nhiễm HIV loại E Điều này không có tác động lớn đối với thời điểm
các ca nhiễm mới đạt đỉnh điểm Tất cả những thay đổi này mang lại những
con số ước tính chính xác hơn về số người đang sống với HIV, số ca tử vong
do AIDS, và số ca nhiễm HIV mới Hầu hết các số ước tính trong bản báo cáo
này đều thấp hơn so với số đề cập trong các báo cáo trước đây, không chỉ cho
năm 2007 mà còn cho các năm trước Do đó không thể so sánh trực tiếp các số
liệu trong báo cáo này với các báo cáo trước đây Khác với các báo cáo trước
thường nêu số liệu của hai năm liền trước đó, báo cáo này đưa ra số liệu so
sánh giữa năm 2001 và năm 2007, điều này giúp cho việc đánh giá xu hướng
được chính xác hơn Bởi nhiều nước vẫn chưa có số liệu giám sát của năm
2007, các xu hướng ước tính của giai đoạn 2005- 2007 sẽ ít chính xác hơn so
với những xu hướng của giai đoạn 2001-2007 bởi giai đoạn này kéo dài hơn.
Những thay đổi này và một số thay đổi khác về giả thiết dựa vào các đánh giá
và số liệu nghiên cứu gần đây cũng sẽ làm thay đổi việc ước tính số người cần
được điều trị ARV, nhưng chúng sẽ không được đề cập trong báo cáo này.
Tại một số nước vẫn tồn tại nhiều hạn chế đáng kể trong hệ thống giám sát,
khiến việc đánh giá các xu hướng và hiện trạng dịch khó có thể chính xác
UN-AIDS và WHO sẽ tiếp tục cải tiến chất lượng các con số ước tính về HIV/UN-AIDS
khi có được sự hỗ trợ từ những số liệu giám sát mới và từ các nghiên cứu khoa
học.
Trang 20Những xu hướng gần đây về HIV
và hành vi tình dục trong thanh
niên
Trong năm 2001, bản Tuyên bố Cam kết
Phòng chống HIV/AIDS của Liên Hợp
Quốc đã khái quát mục tiêu đến năm
2005 phải giảm được 25% tỷ lệ hiện
nhiễm HIV trong thanh niên (tuổi
15 24) tại các quốc gia bị ảnh hưởng nặng
nề nhất, nhằm mục đích đánh giá các
tiến bộ trong công tác dự phòng các ca
nhiễm HIV mới Việc xác định các xu
hướng hiện tại về mức độ lây nhiễm của
dịch HIV (và cụ thể là các tác động của
các chương trình dự phòng đối với sự lây
nhiễm của dịch HIV), về lý thuyết, đòi
hỏi phải có các nghiên cứu lâu dài và liên
tục trên một số lượng lớn người tham
gia Tuy nhiên với những khó khăn thực
tế khó có thể thực hiện những nghiên
cứu như vậy, một biện pháp gián tiếp
đã được đề xuất (Tỷ lệ hiện nhiễm HIV
trong đối tượng nữ thanh niên tuổi từ
15- 24 đến khám trước sinh tại các cơ sở
y tế.)
Để đánh giá các bước tiến trong việc
thực hiện mục tiêu này, các nước có tỷ lệ
hiện nhiễm toàn quốc trên 3% đã được
Nhóm Hoạt động Chuyên đề về Giám sát
HIV/AIDS và STI toàn cầu của WHO/
UNAIDS đề nghị tham gia vào nỗ lực
này trong các năm 2006 và 2007 Những
quốc gia này là 35 quốc gia trong Bảng 3
Các xu hướng về HIV và hành vi tình
dục trong thanh niên có thể cung cấp
thông tin về những biến động gần đây
của tình hình dịch HIV tại nhiều quốc
gia Cụ thể là, những xu hướng về tỷ lệ
nhiễm HIV trong đối tượng thai phụ
từ 15-24 tuổi, những người có thể vừa
mới bị nhiễm HIV, hiện không chịu
ảnh hưởng của tỷ lệ tử vong và điều trị
ARV nhiều như những xu hướng về tỷ
lệ nhiễm HIV đối tượng người lớn hoặc
đối tượng chung không phân biệt lứa
tuổi Do đó các xu hướng về tỷ lệ nhiễm
HIV trong đối tượng 15-24 tuổi được coi
là có thể phản ánh chính xác nhất các xu hướng lây nhiễm HIV
Nghiên cứu những thông tin cập nhật nhất hiện có cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong đối tượng thai phụ trẻ (15-24 tuổi) thăm khám trước sinh tại các cơ sở y tế
từ năm 2000/2001 đã giảm tại 11 trên 15 quốc gia thu thập được đầy đủ số liệu (tỷ
lệ nhiễm trong ba năm khác nhau) để phân tích những xu hướng gần đây trong thanh niên tại các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất (xem Bảng 3)
Tại Kenya, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong
thai phụ trẻ đã giảm rõ rệt, trên 25%, tại
cả khu vực nông thôn và thành thị, trong
khi tại vùng thành thị của Bờ biển Ngà,
Malawi, và Zimbabwe, cũng như vùng
nông thôn của Botswana cũng có những
tỷ lệ giảm tương tự Không đáng kể bằng (về con số) nhưng tại khu vực nông thôn
và thành thị của Burkina Faso, Namibia
và Swaziland, vùng thành thị của
Baha-mas, Botswana, Burundi và Rwanda,
vùng nông thôn của Cộng hòa
Tanza-nia, tỷ lệ nhiễm trong thai phụ trẻ cũng
giảm Tuy nhiên tại Mozambique, Nam
Phi và Zambia lại không có bằng chứng
giảm mức độ lây nhiễm HIV trong thanh niên
Tại 9 trong số 35 nước nói trên, các cuộc điều tra trên phạm vi quốc gia thực hiện
từ năm 1994 đến năm 2006 đã cung cấp đủ số liệu so sánh để đánh giá các
xu hướng hành vi tình dục trong thanh
niên Tại 2 quốc gia trong số đó – Haiti
và Kenya – số liệu xu hướng cho thấy có
sự giảm đáng kể trong một số loại hành
vi tình dục gây nguy cơ lây nhiễm HIV
Tỷ lệ thanh niên cho biết đã từng quan
hệ tình dục với nhiều bạn tình khác nhau trong năm trước đã giảm xuống
đối với cả nam và nữ tại Cameroon,
Ke-nya, và Zimbabwe, đối với nữ tại Haiti
và Zambia, và đối với nam tại Chad và
Malawi Tuy nhiên tỷ lệ nam thanh niên
và nữ thanh niên có quan hệ tình dục với
Trang 212007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | TÌNH HÌNH TOÀN CẦU
2006/2007
Chiều hướng nhiễm Tuổi bắt đầu quan hệ tình
dục
Tình dục với bạn tình không thường xuyên
Sử dụng bao cao su khi quan
hệ với bạn tình không thường xuyên
Phân tích chiều hướng 2006/2007 ở nhóm 15-24 tuổi tại các nước có tỷ lệ hiện nhiễm cao:
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ có thai (2000-2005) từ các chương trình giám sát trọng điểm,
và một số hành vi tình dục của nam giới và phụ nữ (1994-2006) từ các điều tra quốc gia
Bảng 3
Notes: [1] Các ô bôi đậm để chỉ các chiều hướng tích cực về tỷ lệ hiện nhiễm hoặc hành vi
[2] Năm phân tích là năm phân tích được tiến hành, không nhất thiết là năm cuối số liệu được sử dụng trong phân tích
* Các vùng cố định được sử dụng để tính trung vị tỷ lệ hiện nhiễm theo năm trong ít nhất 3 năm liên tục Test thống kê dựa trên Ho:slope=0 Phân
tích của các nước có số liệu trên 3 năm dựa trên số các vùng cố định ở thành thị và nông thôn: Botswana (10,10), Burundi (3,3), Bờ biển Ngà
(9 vùng thành thị), Kenya (20,13), Malawi (11,8), Mozambique (5 Nam, 8 Trung, 7 Bắc), Rwanda (6 vùng thành thị), Cộng hòa Tanzania (11,8),
Zimbabwe (7,6).
** Trong nhóm 15-24 tuổi, tỷ lệ cho biết có quan hệ tình dục trước 15 tuổi Phân tích dựa trên số liệu DHS, MICS hoặc điều tra quốc gia thực hiện từ
1995- 2005.
*** Trong nhóm 15-24 tuổi, tỷ lệ cho biết có quan hệ tình dục với bạn tình không thường xuyên trong vòng 1 năm trước đó Tại Nam Phi, tỷ lệ nhóm
15-24 tuổi cho biết có hơn một bạn tình trong vòng 12 tháng trước đó Phân tích dựa trên số liệu DHS, MICS hoặc điều tra quốc gia của Nam Phi
thực hiện từ 1995- 2005.
Legend:
Trang 22 Ý nghĩa thống kê tăng
Ý nghĩa thống kê giảm
≥ 25% Ý nghĩa thống kê giảm hơn 25%
NS Giảm theo thời gian nhưng không có ý nghĩa thống kê
Không có bằng chứng đi xuống
*ID Không đầy đủ số liệu, có nghĩa không đủ số liệu đầy đủ của 3 năm để phân tích tỷ lệ hiện nhiễm
**ND Không nhận được số liệu
# Bán thành thị và thành thị được gộp lại khi phân tích số liệu thành thị
↕ Phân tích ở Mozambique theo các vùng Nam, Trung, Bắc
§ Không nhận được số liệu theo yêu cầu của Nhóm làm việc của UNAIDS; phân tích dựa trên số liệu của báo cáo giám sát của Nam Phi
¶ Không nhận được số liệu theo yêu cầu của Nhóm làm việc của UNAIDS; phân tích dựa trên số liệu của báo cáo giám sát của Zambia 2005 Phân tích dựa trên số liệu cộng gộp cả nông thôn và thành thị.
nhiều bạn tình khác nhau lại tăng ở cả
Rwanda và Cộng hòa Tanzania.
Việc sử dụng bao cao su khi quan hệ tình
dục với nhiều bạn tình không thường
xuyên khác nhau cũng đã có những thay
đổi đáng kể Tỷ lệ thanh niên cho biết
họ đã dùng bao cao su trong lần quan
hệ gần đây nhất với một bạn tình không
thường xuyên đã tăng lên đối với cả nam
lẫn nữ tại Cameroon, Haiti, Kenya,
Ma-lawi, và Zimbabwe, đối với nữ tại Chad,
Rwanda, Togo và Uganda, và đối với
nam tại Botswana Mặt khác, tỷ lệ này lại
giảm đối với cả nam lẫn nữ thanh niên
tại Cộng hòa Tanzania, và đối với nam
tại Chad, Rwanda và Uganda.
Đáng tiếc là có đến hơn hai mươi trên
tổng số 35 nước không có đủ hoặc không
hề có số liệu về tỷ lệ hiện nhiễm HIV và/
hoặc về các xu hướng hành vi tình dục ở thanh niên - gồm cả một số nước ở miền nam châu Phi có tỷ lệ nhiễm HIV đặc biệt cao
Mặc dù các xu hướng hành vi ở thanh niên phát triển theo hướng thuận lợi cho công tác phòng chống HIV chỉ rõ ràng ở
một vài quốc gia (Cameroon, Kenya và
Zimbabwe), số liệu này cũng cho thấy
một số thay đổi đáng khích lệ gần đây tại
sáu nước khác (Botswana, Chad, Haiti,
Malawi, Togo, và Zambia) Những xu
hướng này, cùng với bằng chứng tỷ lệ HIV đang giảm đáng kể trong đối tượng thai phụ trẻ ở các vùng thành thị và/hoặc
nông thôn của năm quốc gia (Botswana,
Bờ biển Ngà, Kenya, Malawi, và bwe) cho thấy các nỗ lực dự phòng đang
Zimba-có một ảnh hưởng nhất định đối với một
số các nước chịu hậu quả nặng nề nhất
Trang 232007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | CẬN SAHARA - CHÂU PHI
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH DỊCH THEO KHU VỰC
CẬN SAHARA CHÂU PHI
Cận Sahara Châu Phi vẫn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong dịch AIDS
toàn cầu Hơn hai phần ba (68%) tổng số người có HIV dương tính sống tại khu vực
này, và trong năm 2007 đã có trên ba phần tư (76%) tổng số ca tử vong vì AIDS Ước
tính 1,7 triệu [1,4 – 2,4 triệu] người đã bị nhiễm HIV mới trong năm 2007, nâng tổng
số người đang sống với HIV lên 22,5 triệu [20,9 – 24,3 triệu] Không giống các khu vực
khác, đa số số người sống với HIV tại Cận Sahara Châu Phi (61%) là phụ nữ.
Biểu đồ 6
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trung vị ở phụ nữ (15 – 49 tuổi) khám thai tại các cơ sở y tế tại một
số vùng của các nước miền nam châu Phi, 1998 – 2006
Năm Nguồn: nhiều cuộc điều tra khác nhau tại các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ trước sinh
Miền Nam Châu Phi
Quy mô và xu hướng dịch tại khu vực này khác nhau đáng kể, với vùng nam Châu Phi
là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Tiểu vùng này chiếm 35% tổng số người đang sống
với HIV và gần một phần ba (32%) tổng số các ca nhiễm HIV mới và tử vong vì AIDS
trên toàn cầu trong năm 2007 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành quốc gia
đã vượt quá 15% tại tám quốc gia trong năm 2005 (Botswana, Lesotho, Mozambique,
Namibia, Nam Phi, Swaziland, Zambia và Zimbabwe) Trong khi có bằng chứng cho
thấy tỷ lệ hiện nhiễm quốc gia của Zimbabwe đã giảm đáng kể, dịch tại hầu hết các
nước trong tiểu vùng này hoặc đang lên chậm hoặc đang tiến tới bình ổn Chỉ duy nhất
tại Mozambique số liệu HIV mới nhất (năm 2005) cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm tăng lên so
với thời kỳ giám sát trước đó.
Trang 24Tại Zimbabwe, tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ
nữ có thai đến khám trước sinh tại các
cơ sở y tế đã giảm mạnh trong những
năm vừa qua, từ 26% năm 2002 xuống
còn 18% năm 2006 Ở phụ nữ có thai
trẻ (15-24 tuổi) tỷ lệ hiện nhiễm giảm từ
21% xuống còn 13% trong cùng thời kỳ
Tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất ở đối tượng
phụ nữ có thai đến khám trước sinh
trong ngành mỏ (26% tỷ lệ hiện nhiễm
HIV) và ngành nông nghiệp thương mại
(22% tỷ lệ hiện nhiễm) (Bộ Y tế và Phúc
lợi Trẻ em Zimbabwe, 2007)
Xu hướng giảm trong số liệu giám sát
tại Zimbabwe cũng phù hợp với kết quả
của một số nghiên cứu (UNAIDS, 2005;
Mahomva và cộng sự, 2006; Hargrove và
cộng sự, 2005; Mugurungi và cộng sự,
2005; Bộ Y tế và Phúc lợi Trẻ em
Zim-babwe, 2007), trong khi tỷ lệ hiện nhiễm
ở nam giới và phụ nữ đều giảm tại các
vùng nông thôn Manicaland (Gregson và
cộng sự, 2006) Xu hướng này phản ánh
sự kết hợp giữa số tử vong rất cao với số
ca HIV mới giảm xuống, một phần là do
thay đổi hành vi (UNAIDS, 2005) Có
nhiều bằng chứng từ miền đông
Zim-babwe cho thấy ngày càng có nhiều phụ
nữ và nam giới tránh quan hệ tình dục
với bạn tình không thường xuyên, và số
phụ nữ dùng bao cao su thường xuyên
với bạn tình không thường xuyên cũng
tăng lên (từ 26% năm 1998-2000 lên 37%
năm 2001-2003) Các công thức toán
học cũng cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV
giảm không chỉ là tiến triển tự nhiên
của dịch AIDS tại Zimbabwe, mà còn là
do thay đổi hành vi (Hallet và cộng sự,
2006)
Nam Phi là nước có số người nhiễm
HIV cao nhất thế giới Số liệu tỷ lệ hiện
nhiễm HIV thu được từ cuộc giám sát cơ
sở khám thai gần đây nhất cho thấy mức
độ lây nhiễm HIV đang chậm lại, với tỷ
lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ có thai là
30% năm 2005 và 29% năm 2006 (Bộ Y
tế Nam Phi, 2007) Ngoài ra, tỷ lệ hiện
nhiễm HIV ở phụ nữ có thai trẻ (15-24
tuổi) cũng cho thấy một xu hướng giảm trong số ca nhiễm mới hàng năm Dịch thay đổi nhiều tại mỗi tỉnh, từ 15% tại Western Cape đến 39% tại tỉnh KwaZu-lu-Natal (Bộ Y tế Nam Phi, 2007)
Theo những số liệu ban đầu thu được từ
cuộc điều tra dân số mới tại Swaziland,
ước tính có một trên bốn (26%) người trưởng thành (15-49 tuổi) ở nước này nhiễm HIV Cả số liệu từ điều tra theo dân số và giám sát tại các cơ sở khám thai cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm không khác biệt lắm giữa các vùng, nhưng có một sự khác biệt đáng kể về mức độ nhiễm giữa phụ nữ và nam giới: 20% nam giới trưởng thành xét nghiệm dương tính với HIV, so với 31% phụ nữ (Bộ Y tế và Phúc lợi Xã hội Swaziland, 2007; Cơ quan Thống kê Trung ương Swaziland & Macro International, 2007)
Tỷ lệ hiện nhiễm tại Lesotho vẫn cao, với
tỷ lệ nhiễm ở phụ nữ đến khám thai là 38% ở nhóm 25-29 tuổi trong năm 2005 (Bộ Y tế và Phúc lợi Xã hội Lesotho, 2005) Phụ nữ chiếm khoảng 57% người sống với HIV Số liệu giám sát HIV gần đây nhất cho thấy mức độ lây nhiễm
ở phụ nữ có thai trẻ (15-24 tuổi) đang giảm, từ 25% năm 2003 xuống 21% năm
2005, nhưng sự giảm này có thể là do số lượng khu vực được giám sát trọng điểm mới được tăng lên trong cuộc điều tra gần đây nhất (Bộ Y tế và Phúc lợi Xã hội Lesotho, 2005)
Tổng thể, dịch tại Namibia nhìn chung
ổn định với một trên năm (20%) phụ nữ khám thai có HIV dương tính năm 2006 (Bộ Y tế và Phúc lợi Xã hội, 2007) Xu hướng khá ổn định này kể từ giữa những năm 1990 của tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ
nữ có thai trẻ (15-24 tuổi), và xu hướng đang tăng ở những người độ tuổi 30 cho thấy cần đẩy mạnh các nỗ lực dự phòng (Bộ Y tế và Phúc lợi Xã hội, 2007)
Xu hướng giảm trong tỷ lệ hiện nhiễm
HIV ở phụ nữ đến khám thai tại
Bo-tswana trong những năm gần đây (từ
Trang 2536% năm 2001 xuống 32% năm 2006)
cho cho thấy dịch ở đây đã chạm đỉnh
và hiện có thể bắt đầu giảm Tỷ lệ hiện
nhiễm đặc biệt cao ở vị thành niên có
thai, 18% số này xét nghiệm HIV dương
tính trong năm 2005 Tuy nhiên, mức độ
lây nhiễm ở phụ nữ có thai trẻ đã giảm
xuống trong những năm gần đây (Bộ
Y tế Botswana, 2006) Ở phụ nữ có thai
tuổi 15-19 đi khám thai, tỷ lệ hiện nhiễm
giảm từ 25% xuống 18% trong những
năm 2001 – 2006, trong khi tỷ lệ ở
những người độ tuổi 20-24 giảm từ 39%
xuống còn 29% trong cùng thời kỳ (Bộ Y
tế Botswana, 2006)
Số liệu HIV mới nhất thu được từ các cơ
sở khám thai tại Angola cho thấy tỷ lệ
hiện nhiễm ở phụ nữ có thai không thay
đổi nhiều lắm trong các năm 2004 và
2005 Tỷ lệ hiện nhiễm quốc gia trung vị
được ước tính là 2,5% trong năm 2005,
so với 2,4% năm 2004 (Ministério da
Sáude & CDC USA, 2006)
Tại Mozambique, dịch lại bắt đầu tăng
lại tại cả ba khu vực sau khi có vẻ ổn
định trong những năm đầu của thập kỷ
Tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ nữ đến khám
thai thấp nhất ở miền bắc (trung bình
9% năm 2004), nhưng ở miền trung và
miền nam tỷ lệ này là hơn 20%, gồm cả
thủ đô Maputo, và tại các tỉnh Gaza,
In-hambane, Manica và Sofala (nơi tỷ lệ này
lên đến gần 27% năm 2004) (Conselho
Nacional de Combate ao HIV/SIDA,
2006)
Dịch tại Malawi có dấu hiệu chậm lại
và giảm tại một số địa phương trong bối
cảnh có nhiều bằng chứng về thay đổi
hành vi giúp làm giảm số nhiễm HIV
(Heaton, Fowler & Palamuleni, 2006)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trung vị ở phụ nữ
có thai tại các khu vực giám sát trọng
điểm vẫn dừng ở mức từ 15% đến 17%
từ những năm đầu những năm 2000 (Ủy
ban Quốc gia Phòng chống AIDS
Ma-lawi, 2005)
Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV cấp quốc
gia ít có dấu hiệu giảm tại Zambia, dịch
có vẻ giảm tại một số vùng của nước này
Giám sát cơ sở khám thai gần đây nhất cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ nữ có thai vùng thành thị cao gấp hai lần vùng nông thôn (25% so với 12%) (Bộ Y tế, 2005), con số này cũng phù hợp với ước tính từ cuộc giám sát theo dân số trước
đó (23% so với 11%) (Cơ quan Thống kê Trung ương Zambia và cộng sự, 2003)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV đã giảm ở phụ
nữ có thai tuổi 20-24 tại vùng thành thị (giảm từ 30% năm 1994 xuống 24% năm 2004) cũng như ở phụ nữ có thai độ tuổi 15-19 (giảm từ 20% năm 1994 xuống 14% năm 2004) (Bộ Y tế Zambia, 2005)
Dịch HIV tại các quốc đảo miền nam châu Phi thấp hơn rất nhiều Số liệu HIV gần đây thu được từ phụ nữ khám
thai tại Madagascar cho thấy tỷ lệ hiện
nhiễm HIV quốc gia ở đây chỉ là 0,2%, mặc dù tỷ lệ đó cao 1,1% tại Sainte Maria
và 0,8% tại Morondava (Ministère de la Santé et du Planning Familial Madagas-car, 2005) Dùng chung dụng cụ tiêm chích không khử trùng là yếu tố nguy cơ
chính gây lây nhiễm HIV tại Mauritius,
nơi khoảng ba phần tư số ca nhiễm HIV chẩn đoán trong sáu tháng đầu năm 2004
là ở người tiêm chích ma túy (Sulliman
& Ameerberg, 2004)
Đông Phi
Tại hầu hết các quốc gia Đông Phi tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành hoặc không tăng hoặc bắt đầu giảm Xu hướng thứ hai rõ rệt nhất ở Kenya, nơi dịch HIV đang giảm nhờ thay đổi hành
vi Bên cạnh thay đổi hành vi, số ca tử vong của người nhiễm HIV vài năm trước đây cũng làm giảm tỷ lệ hiện nhiễm.
Uganda là nước đầu tiên ở khu vực Cận
Sahara Châu Phi công bố giảm tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia ở người trưởng thành quốc gia Tuy nhiên dịch tại đây vẫn nghiêm trọng với mức độ lây nhiễm cao nhất là ở phụ nữ (7,5% so với 5% ở
2007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | CẬN SAHARA - CHÂU PHI
Trang 26nam giới) và ở người dân thành thị (10%
so với 5,7% ở người dân nông thôn) theo
kết quả giám sát quốc gia tiến hành năm
2004- 2005 (Bộ Y tế Uganda & ORC
Macro, 2006)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV bắt đầu giảm tại
Uganda năm 1992, cùng với những bằng
chứng về thay đổi hành vi khiến tốc độ
lây lan HIV chậm lại (Asamoah-Odei,
Garcia-Calleja & Boerma, 2004) Tuy
nhiên xu hướng đó dường như chững
lại vào đầu những năm 2000 Trong
khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ đến
khám thai tại Kampala và một số vùng
thành thị khác giảm xuống trong năm
2005, thì các giám sát tại những vùng
thành thị và nông thôn khác cho thấy
tỷ lệ hiện nhiễm trong thập kỷ này nhìn
chung đã chậm lại (Kirungi và cộng sự,
2006; Shafer và cộng sự, 2006) Tương
tự, trong một nghiên cứu tập trung tại
một vùng nông thôn miền nam Uganda,
có dấu hiệu cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm
HIV và số ca nhiễm mới đã chậm lại từ
khoảng năm 2000 đến nay ở cả phụ nữ
và nam giới (Shafer và cộng sự, 2006)
Cần ghi nhớ rằng với dân số tăng nhanh
như ở Uganda (nơi có tỷ lệ sinh 6,7%,
theo Điều tra Y tế và Dân số 2006), tỷ lệ
ca nhiễm HIV mới ổn định có nghĩa là
hàng năm số người mới nhiễm HIV lại
tăng lên
Xu hướng HIV ổn định đang diễn ra
cùng với sự tăng lên rõ rệt gần đây của
các hành vi tình dục nguy cơ cao Trong
các cuộc điều tra dân số những năm
1995, 2000, 2004-2005, và 2006, 12%,
14%, 15% và 16% (tương ứng theo
năm) số phụ nữ, và 29%, 28%, 37% và
36% (tương ứng theo năm) số nam giới
trưởng thành cho biết họ có quan hệ tình
dục nguy cơ cao (Kirungi và cộng sự,
2006; Bộ Y tế Uganda & ORC Macro,
2006; Cục Thống kê Uganda và Macro
International Inc, 2007) Trong cùng các
điều tra đó, việc dùng bao cao su khi
quan hệ tình dục với các bạn tình này
được khẳng định bởi 20%, 39%, 47% và
35% (tương ứng theo năm) số phụ nữ, và bởi 35%, 59%, 53% và 57% (tương ứng theo năm) số nam giới, cho thấy ít có chuyển biến tích cực trong thay đổi hành
vi tình dục trong những năm gần đây Rất cần phải tiến hành lại và chỉnh sửa các nỗ lực dự phòng đã được sử dụng để khống chế dịch tại Uganda trong những năm 1990
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại Kenya đã giảm
từ con số cao 14% trong giữa những năm 1990 xuống còn 5% năm 2006 (Bộ
Y tế Kenya, 2007) Xu hướng giảm này đặc biệt rõ tại các vùng thành thị Busia, Meru, Nakuru và Thika, nơi tỷ lệ hiện nhiễm trung vị giảm từ 28% năm 1999 xuống còn 9% năm 2003 ở phụ nữ có thai tuổi 15-49 đi khám thai, và từ 29% năm 1998 xuống 9% năm 2002 ở phụ nữ khám thai tuổi 15-24 (Hallett và cộng sự, 2006)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV cũng giảm tại
Tanzania Thông tin gần đây nhất cho
biết tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ đến khám thai tại Zanzibar thay đổi từ 0,7%
ở Unguja đến 1,4% ở Pemba (Salum và cộng sự, 2003), trong khi tại Tanzania lục địa tỷ lệ này là 8,7% ở phụ nữ đến khám thai trong năm 2003-2004, giảm từ 9,6% trong năm 2001-2002 (Swai và cộng sự, 2006) Tại lục địa, điều tra HIV theo dân
số quốc gia năm 2003-2004 cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV người trưởng thành là 7% năm 2003-2004 (Ủy ban AIDS Tan-zania, Cục Thống kê Quốc gia & ORC Macro, 2005)
Tại Burundi, giám sát HIV gần đây ở
phụ nữ đi khám thai cho thấy xu hướng giảm bắt đầu cuối thập kỷ 1990 đã không tiếp tục sau năm 2005, khi tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại tăng lên tại hầu hết các vùng giám sát (Ministère de la Santé Publique du Burundi, 2005)
Tại Rwanda, giám sát tại cơ sở khám thai
năm 2005 cho thấy 4,1% phụ nữ có thai
có HIV dương tính, tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất ở Kigali (13%), nhưng trung bình
Trang 272007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | CẬN SAHARA - CHÂU PHI
khoảng 5% tại các vùng thành thị khác
và hơn 2% tại vùng nông thôn Tỷ lệ hiện
nhiễm HIV giảm đáng kể tại Rwamagana
(từ 13% xuống 4% trong năm
1998-2005) và ở Gikondo tại thành phố Kigali
(14% xuống 8%) (Ministère de la Santé
Rwanda, 2005) Tỷ lệ hiện nhiễm HIV
ở phụ nữ có thai vùng thành thị giảm
mạnh nhất cuối những năm 1990 và mức
độ lây nhiễm do đó dường như chậm lại
(Kayirangwa và cộng sự, 2006)
Tại Ethiopia, Điều tra Y tế và Dân số
ước tính tỷ lệ hiện nhiễm HIV của nước
này là 1,4% với mức độ lây nhiễm cao
nhất ở khu vực Gambela (6%) và Addis
Ababa (4,7%) (Cơ quan Thống kê Trung
ương & ORC Macro, 2006) Dịch tại
Ethiopia đã bình ổn trong những năm
1996-2000, sau thời kỳ đó mức độ lây
nhiễm HIV giảm chậm, nhất là các khu
vực ở thủ đô Addis Ababa Ở vùng nông
thôn Ethiopia, nơi phần lớn dân cư nước
vùng nông thôn), và đi từ mức cao 7,4%
tại thành phố cảng Assab ở miền cực
nam, đến 4,2% ở thủ đô Asmara, và 3,3%
ở Massawa, một thành phố cảng khác
(Bộ Y tế Eritrea, 2006)
Tại Somalia, điều tra ở phụ nữ khám
thai cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao
đến 2,3% ở Berbera (WHO, 2005) Tuy
nhiên do tình hình căng thẳng ở nước
này, việc giám sát trọng điểm bị hạn chế
Tây và Trung Phi
Dịch tại các nước Tây và Trung Phi nhìn
chung thấp hơn, và tỷ lệ hiện nhiễm HIV
quốc gia ở hầu hết các nước này cũng
không có biến động nhiều Tuy nhiên dấu
hiệu cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV đang
giảm tại ngày càng nhiều quốc gia, nhất
là Bờ biển Ngà, Malia và vùng thành thị Burkina Faso Tại những nước này, cũng như tại Benin, có nhiều bằng chứng cho thấy sự chuyển đổi sang hành vi an toàn hơn đang ngày càng phổ biến.
Nigeria vẫn là nước có dịch lớn nhất tại
tiểu khu vực này Tỷ lệ hiện nhiễm quốc gia trong nhóm phụ nữ khám thai tại Nigeria dường như ổn định, nhưng giữ các vùng và các bang lại có sự khác nhau
rõ rệt (Utulu & Lawoyin, 2007) Ví dụ tỷ
lệ hiện nhiễm toàn bang ở phụ nữ có thai thay đổi từ mức thấp 1,6% ở Ekiti (miền Tây) lên 8% ở Akwa Ibom (miền Nam)
và 10% ở Benue miền Đông Nam (Bộ Y
tế Liên bang Nigeria, 2006)
Tại Benin, điều tra trọng điểm ở phụ nữ
khám thai cho thấy dịch ở nước này khá
ổn định, với tỷ lệ hiện nhiễm HIV dừng
ở mức khoảng 2% kể từ năm 2003 Theo Điều tra Y tế và Dân số 2006, 1,2% số người trưởng thành nước này bị nhiễm HIV, và tỷ lệ hiện nhiễm ở phụ nữ (1,5%) cao gần gấp hai tỷ lệ ở nam giới (0,8%) (Institut National de la Statistique et de l’Analyse Economique & ORC Macro, 2007)
Tỷ lệ hiện nhiễm ở Togo là một trong
những tỷ lệ nhiễm cao nhất Tây Phi: tỷ
lệ hiện nhiễm ở phụ nữ có thai được xét nghiệm HIV tại các cơ sở khám thai trong năm 2006 là 4,2%, thể hiện mức giảm lây nhiễm tại quốc gia này đã giảm xuống (Trong năm 2003, 4,8% phụ nữ khám thai đã xét nghiệm HIV dương tính; con số này giảm xuống còn 4,6%
năm 2004.) (Ministère de la Santé du Togo, 2007 & 2006)
Dịch HIV tại Burkina Faso tiếp tục giảm
ở vùng thành thị Ở nhóm phụ nữ trẻ
có thai đi khám thai tại vùng thành thị,
tỷ lệ hiện nhiễm HIV giảm xuống một nửa trong giai đoạn 2001 – 2003 (xuống khoảng dưới 2%) (Présidence du Faso , 2005; Institut National de la Statistique
Trang 28Adult HIV prevalence % 6.0 – 8.0%
Cameroon
Central African Republic
Chad
Côte d’Ivoire
Democratic Republic of the Congo
Guinea Liberia
Nigeria Senegal
Sierra Leone
Togo
Niger Gambia
Guinea-Bissau
Equatorial Guinea
Gabon Congo Ghana
Nguồn: (Central African Republic) [1] Institut Centrafricain de la Statistique et des Études Économiques et Sociales; [2] United Nations Population Fund; [3] MEASURE DHS, Macro International Inc Enquête de sérologie VIH en République Centrafricaine, 2006 (Cameroon) [1] Institut National de la Statistique, Ministère de la Planification de la Programmation du Développement et de l’Aménagement du Territoire; [2] ORC Macro Enquête Démographique et de Santé Cameroun 2004 (Côte d’Ivoire) [1] Project RETRO-CI, Institut National de la Statistique, Ministère de la Lutte contre le Sida; [2] ORC Macro Enquête sur les Indicateurs du Sida Côte d’Ivoire 2005 (Chad) [1] Institut National de la Statistique, des Études Économiques et Démographiques; [2] ORC Macro Enquête Démographique et de Santé Tchad 2004 (Equatorial Guinea) Programa Nacional de Lucha Contra el SIDA, Proyecto Centro de Referencia para el Control de Endemias en Guinea Ecuatorial Informe Final de la Encuesta de Seroprevalencia del VIH en Guinea Ecuatorial 2004 (Ghana) [1] Ghana Statistical Service; [2] Noguchi Memorial Institute for Medical Research; [3] ORC Macro Ghana Demographic and Health Survey 2003 (Burkina Faso) [1] Institut National de
la Statistique et de la Démographie; [2] ORC MacroBurkina Faso Enquête Démographique et de Santé 2003 (Liberia) [1] Liberia Institute of Statistics and Geo-Information Services; [2] Ministry of Health and Social Welfare; [3] National AIDS Control Program; [4] MEASURE DHS, Macro International Liberia Demographic and Health Survey 2007 (Guinea) [1] Direction Nationale de la Statistique; [2] ORC Macro Démographique et de Santé Guinée 2005 (Sierra Leone) [1] Nimba Research and Consulting Company; [2] Statistics Sierra Leone; [3] Ministry of Health and Sanitation; [4] National HIV/AIDS Secretariat Na- tional Population Based HIV Seroprevalence Survey of Sierra Leone 2005 (Mali) [1] Cellule de Planification et de Statistique, Ministère de la Santé; [2] Direction Nationale de la Statistique et de l’Informatique, Ministère du Plan et de l’Aménagement du Territoire; [3] MEASURE DHS Enquête Démographique et de Santé EDSM-IV, Mali 2006 Rapport Préliminaire (Benin) [1] Institut National de la Statistique et de l’Analyse Économique; [2] Programme National de Lutte contre le Sida; [3] Demographic and Health Surveys, Macro International, Inc Enquête Démographique et de Santé (EDSB-III) Bénin 2006 Rapport Préliminaire (Niger) [1] Institut National de la Statistique, Ministère de l’Économie et des Finances; [2] Macro International Inc Enquête Démographique et de Santé et à Indicateurs Multiples 2006 (Senegal) [1] Ministère de la Santé et de la Prévention Médicale Centre de Recherche pour le Dévelop¬pement Humain; [2] ORC Macro Enquête Démographique et de Santé Sénégal 2005.
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV từ các cuộc điều tra theo dân số quốc gia tại các nước vùng Tây
và Trung Phi, 2003 – 2007
Biểu đồ 7
et de la Démographie & ORC Macro,
2004)
Số liệu gần đây nhất về Mali, thu thập
được từ Điều tra Y tế và Dân số năm
2006, cũng thể hiện khả năng dịch đã
giảm xuống Tỷ lệ hiện nhiễm HIV người
trưởng thành ở nước này là khoảng 1,2%
năm 2006 (Ministère de la Santé du Mali
& ORC Macro, 2007), thấp hơn so với
con số trong một điều tra tương tự năm
2001, khi tỷ lệ nhiễm HIV người trưởng
thành được ước tính là 1,7% (2% ở phụ
nữ và 1,3% ở nam giới) (Cellule de
Plani-fication et de Statistique du Ministère de
la Santé và cộng sự, 2002) Ở đây số ca
tử vong cũng đóng vai trò làm giảm tỷ lệ
hiện nhiễm Ở phụ nữ khám thai, tỷ lệ
năm 2005 là 3,4%, tương tự với tỷ
lệ các năm trước (Ministère de la Santé
du Mali, 2005)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trung vị ở phụ nữ
khám thai tại Ghana dao động từ 2,3%
đến 3,6% giữa năm 2000 và 2006 (Bộ Y
tế Ghana, 2007)
Tại Bờ biển Ngà, tỷ lệ hiện nhiễm HIV
người trưởng thành từ cuộc Điều tra
Y tế và Dân số gần nhất được ước tính 4,7% (Institut National de la Statistique
et Ministère de la Lutte contre le Sida Bờ Biển Ngà & ORC Macro, 2006) Giám sát HIV ở phụ nữ có thai cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm đang giảm, ít nhất ở khu vực thành thị, nơi tỷ lệ hiện nhiễm giảm
từ 10% năm 2001 xuống còn 6,9% năm
2005 (Ministère de la Santé et de
Trang 292007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | CẬN SAHARA - CHÂU PHI
l’Hygiène Publique Bờ Biển Ngà và cộng
sự, 2007)
Tại Senegal, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong
dân cư nói chung là 0,7% năm 2005
(Ndiaye & Ayad, 2006) Tuy nhiên phần
lớn HIV lây truyền được cho là liên quan
đến mại dâm không an toàn: ví dụ tại
Zi-guinchor tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ
mại dâm cao tới 30% (Gomes do Espirito
Santo & Etheredge, 2005)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV-1 ở phụ nữ mang
thai tại Gambia đã tăng từ 0,7% lên 1%
từ năm 1994 đến năm 2000, trong khi tỷ
lệ hiện nhiễm HIV-2 giảm từ 1% xuống
còn 0,8% trong cùng thời kỳ (van der
Loeff và cộng sự, 2003)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại Guinea biến
động nhiều tại các vùng của nước này,
và dường như đã đạt đỉnh 2,1% tại thủ
đô Conakry, theo kết quả điều tra dân số
quốc gia năm 2005 (Direction Nationale
de la Statistique & ORC Macro, 2006)
Tại Liberia, kết quả ban đầu từ cuộc điều
tra Y tế và Dân số 2007 cho thấy tỷ lệ
hiện nhiễm HIV ở người trưởng thành
(15-49 tuổi) của nước này là 1,5%, với
mức độ lây nhiễm dao động từ 2,5%
ở thành thị đến 0,8% ở nông thôn Tỷ
lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành
cao nhất ở vùng Monrovia, 2,6% (Viện
Thống kê và Thông tin Địa lý Liberia &
Macro International, 2007)
Tại Sierra Leone, giám sát trọng điểm
quốc gia lần hai cho biết tỷ lệ hiện nhiễm
HIV ở phụ nữ khám thai (phần lớn ở
thành thị) năm 2006 là 4,1% So với tỷ lệ
hiện nhiễm HIV 3% ở phụ nữ có thai tại
một cuộc điều tra tương tự năm 2003, số
liệu gần đây nhất cho thấy dịch ở Sierra
Leone có thể đang gia tăng (Bộ Y tế và
Vệ sinh Sierra Leone, 2007) Một cuộc
điều tra theo dân số năm 2005 cho thấy
tỷ lệ hiện nhiễm người trưởng thành ở
nước này là 1,5% (Ban AIDS Quốc gia và
Ban Nghiên cứu Nimba, 2005)
Tại Chad, điều tra dân số quốc gia cho
thấy 3,3% người trưởng thành nước này đang sống với HIV trong năm 2005
Dịch dường như tập trung chủ yếu tại thành thị nơi tỷ lệ hiện nhiễm HIV trung bình là 7%, cao hơn gấp ba lần ở nông thôn (Institut National de la Statis-tique, des Etudes Economiques et Dé-mographiques et Programme National
de Lutte contre le Sida, 2006)
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại nước láng
giềng Niger tương đối thấp hơn; điều
tra Y tế và Dân số ước tính 0,7% người trưởng thành ở nước này bị nhiễm HIV
Tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất tại khu vực Agadez và Diffa lần lượt là 1,6% và 1,7%
(Institut National de la Statistique du Niger & Macro International Inc, 2007)
Tại Cameroon, một cuộc điều tra theo
dân số quốc gia năm 2004 cho thấy tỷ
lệ hiện nhiễm ở đây có sự khác biệt lớn theo địa lý, từ 1,7% ở miền Bắc và 2%
miền Cực Bắc, tới tỷ lệ nhiễm cao hơn đáng kể tại thủ đô Yaoundé (8,3%) và các tỉnh miền Tây Nam (8%), Đông, (8,6%),
và Tây Bắc (8,7%) (Institut National de la Statistique & ORC Macro, 2005) Giám sát ở phụ nữ có thai không được tiến hành trong những năm gần đây, gây khó khăn cho việc đánh giá các xu hướng dịch
Tại Cộng hòa Dân chủ Congo, tỷ lệ hiện
nhiễm HIV ở phụ nữ khám thai vẫn giữ khá ổn định tại thủ đô Kinshasa (giữa 3,8% năm 1995 và 4,2% năm 2005), nhưng tỷ lệ hiện nhiễm đã tăng cao tại thành phố lớn thứ hai của nước này, Lubumbashi (từ 4,7% lên 6,6% giữa năm
1997 đến năm 2005), cũng như ở layi (từ 0,6% lên 2,2% giữa năm 1990 và năm 2005) (Kayembe và cộng sự, 2007)
Mika-Tỷ lệ hiện nhiễm cũng cao ở các thành phố Matadi, Kisangani và Mbandaka (nơi 6% phụ nữ đến khám thai có HIV dương tính trong năm 2005), cũng như
ở Tshikapa (nơi tỷ lệ hiện nhiễm là 8%) (Programme National de Lutte contre le
Trang 30thành tại Cộng hòa Trung Phi là một
trong những tỷ lệ cao nhất ở Tây và Trung Phi, được ước tính là 6,2% theo một cuộc điều tra dân số quốc gia năm
2006 (Ministère de l’Economie, du Plan
et de la Coopération internationale de la Reespublique centrafricaine, 2007) Trên toàn quốc tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ
nữ cao gần gấp đôi ở nam giới (7,8% so với 4,3%) và tỷ lệ hiện nhiễm HIV có sự khác biệt đáng kể theo vùng
Trang 31CHÂU Á
Tại Châu Á, Đông Nam Á là nơi có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất, với nhiều xu hướng
dịch khác nhau tại các nước khác nhau Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm tại Cam-pu-chia,
Myanmar và Thái Lan đều có dấu hiệu giảm, thì tại In-đô-nê-xi-a (đặc biệt tại tỉnh
Papua) và Việt Nam những con số này lại đang tăng Mặc dù tỷ lệ người đang sống
cùng HIV tại Ấn Độ thấp hơn ước tính trước đây, dịch ở đây vẫn tiếp tục ảnh hưởng
đến một bộ phận dân cư lớn Trong năm 2007 ước tính trên toàn châu Á có 4,9 triệu
[3,7 – 6,7 triệu] người đang sống với HIV, trong đó có 440.000 [210.000 – 1 triệu] người
nhiễm mới Ước tính 300.000 [250.000 – 470.000] người đã tử vong vì các bệnh liên
quan đến AIDS trong năm 2007.
Mặc dù tất cả các tỉnh của Trung Quốc
đều công bố có các ca nhiễm HIV, phần
lớn số người sống với HIV tại nước này
được coi là tập trung nhiều nhất tại các
tỉnh Hà Nam (Henan), Quảng Đông
(Guangdong), Quảng Tây (Guangxi), Tân
Cương (Xinjiang) và Vân Nam
(Yun-nan) (Bộ Y tế Trung Quốc, 2006) Ước
tính khoảng gần một nửa số người đang
sống với HIV tại Trung Quốc năm 2006
bị nhiễm qua tiêm chích ma túy không
dùng dụng cụ tiêm chích sạch, trong
khi tỷ lệ tương tự bị nhiễm qua tình dục
không an toàn (Bộ Y tế Trung Quốc,
2006; Lu và nhóm tác giả, 2006)
Cho dù nguyên nhân chính gây dịch
hiện vẫn qua đường tiêm chích ma túy,
số liệu gần đây cho thấy xu hướng lây
nhiễm qua tình dục đồng giới nam tại
các thành phố đang tăng lên và ước tính
có tới 7% số ca nhiễm là do tình dục
không an toàn giữa đồng giới nam (Lu và
nhóm tác giả, 2006) Nhiều nghiên cứu
cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm nam
quan hệ tình dục đồng giới đi từ 1,5% tại
Thượng Hải (Choi và nhóm tác giả,
2007), lên đến 1,7 ở vùng phía nam (Tao
và nhóm tác giả, 2004; Zhu và nhóm tác giả, 2005), và 3,1% - 4,6% tại Bắc Kinh (Choi và nhóm tác giả, 2003; Ma và nhóm tác giả, 2006) Sự chồng chéo giữa tiêm chích ma túy và mại dâm là một yếu
tố quan trọng gây ra dịch ở Trung Quốc
Ngày càng có nhiều phụ nữ tiêm chích
ma túy và tại một số vùng có đến một nửa trong số này hoạt động mại dâm
Nhiều đàn ông tiêm chích ma túy cũng đồng thời là khách mại dâm và thường không dùng bao cao su (Hesketh và nhóm tác giả, 2006)
Các ước tính về HIV mới và chính xác hơn cho thấy có khoảng 2,5 triệu [2 –
3,1 triệu] người tại Ấn Độ đang sống
với HIV trong năm 2006, với tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia là 0,36% Mặc dù tỷ
lệ người nhiễm HIV thấp hơn so với ước tính ban đầu, dịch tại Ấn Độ vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến một phận lớn người dân
Những số liệu ước tính mới được chỉnh sửa là kết quả của việc áp dụng hệ thống giám sát mới được nâng cấp và mở rộng, cùng với việc áp dụng những phương
2007 CẬP NHẬT TÌNH HÌNH DỊCH AIDS | CHÂU Á
Trang 32Jammu and Kashmir
Andhra Pradesh Karnat aka
Maharashtra
Go a Gujarat
Chandiga rh
West Bengal
Haryana
Uttar Pradesh
Uttaranchal Delh i
Bihar Jhar kand
Tripura
Punjab
Sikkim Meghalaya
0.0 0.5 1.0 1.5 2.0
pháp hiệu quả hơn Đó cũng là kết quả
của việc đưa vào quá trình ước tính
những thông tin thu được từ cuộc điều
tra hộ gia đình trên phạm vi toàn quốc
tiến hành gần đây (Điều tra Sức khỏe
Gia đình Quốc gia 3, thực hiện năm
2005-2006) Hơn 100.000 người đã được
xét nghiệm HIV trong cuộc điều tra này,
là cuộc điều tra dân số quốc gia trong đó
lần đầu tiên nội dung về HIV được đưa
vào (NFHS – 3, 2007)
Ngoài ra, Ấn Độ cũng mở rộng hệ thống
giám sát theo dõi trong những năm gần
đây và số vùng được giám sát đã tăng từ
155 năm 1998 lên 1.120 năm 2006 Số liệu về phụ nữ có thai đến thăm khám trước sinh tại các cơ sở y tế, số người dùng dịch vụ y tế cho các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và các nhóm dân số có nguy cơ phơi nhiễm HIV cao đều được đưa vào quá trình giám sát
Xu hướng tỉ lệ hiện nhiễm rất khác nhau
ở các bang và khu vực khác nhau ở Ấn
Độ Thậm chí tại bốn bang miền Nam (Andhra Pradesh, Karnataka, Maharash-tra, và Tamil Nadu) nơi phần lớn số
Biểu đồ 8
Ước tính tỷ lệ nhiễm HIV người lớn (15-49 tuổi), theo bang, Ấn Độ 2006
Tỷ lệ nhiễm HIV người lớn ước tính % 1,0 - 2,0 % 0,5 - <1,0 % 0,2 - <0,5 %
0 - <0,2 % Không có số liệu
Các xu hướng tỷ lệ nhiễm HIV trong phụ
nữ có thai tại các khu vực trong một số bang nhất định, Ấn Độ, 2003 - 2006
Các bang được chọn
Năm
Nguồn: Tổ chức Phòng chống AIDS Quốc gia, 2007.
Pondicherry Tamil
Nad u Kerala Lakshadweep
Manipur Nagaland
Mizoram
ades hal Pr ac