Tiểu luận ĐỘC CHẤT TRONG MÔI TRƯỜNG. TÍNH BỀN VỮNG VÀ SỰ TÍCH LŨY SINH HỌC CỦA ĐỘC CHẤT. Chất độc là một khái niệm mang tính định lượng. Mọi chất đều độc ở một liều nào đó và cũng vô hại với liều rất thấp. Giới hạn giữa 2 liều đó là phạm vi các tác dụng sinh học. Theo Paracelsus (1493 1541): “tất cả mọi chất đều là chất độc, không có chất nào không phải là chất độc. Liều lượng thích hợp sẽ phân biệt được một chất độc và một thuốc”. Aspinrin (acid acetyl salicylic) là thuốc hạ sốt chống viêm được dùng trong điều trị từ nhiều năm nay, nhưng có thể gây chết người với liều 0,2 0,5 gKg. Sắt, đồng, magie, kẽm là những nguyên tố vi lượng cần thiết trong thành phần thức ăn chăn nuôi, nhưng nếu quá liều thì có thể gây ngộ độc. Về mặt sinh học, một chất có thể độc với loài này nhưng lại không độc với loài khác. Carbon tetraclorid gây độc mạnh cho gan trên nhiều loài, nhưng ít hại hơn đối với gà. Một số loài thỏ có thể ăn lá cà độc dược có chứa belladon. Một chất có thể không độc khi dùng một mình, nhưng lại rất độc khi dùng phối hợp với chất khác. Piperonyl butoxid rất ít độc với loài có vú và côn trùng khi dùng một mình, nhưng có thể làm tăng độc tính rất mạnh của các chất dùng cùng do nó có tác dụng ức chế các enzym chuyển hoá chất lạ (xenobiotic metabolizing enzymes) của cơ thể. Độc tính của một chất độc có thể thay đổi khi xâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau như: qua đường uống, đường hô hấp, qua da, qua đường tiêm...
Trang 1Mục lục
Lời nói đầu 2
Lý do chọn đề tài 2
1 Sơ lược về chất độc 2
1.1 Khái niệm về chất độc 2
1.2 Phân loại độc chất 2
1.3 Tính độc của chất độc 3
2 Chất độc trong môi trường 3
2.1 Chất độc trong môi trường đất 3
2.1.1. Sơ lược về chất độc trong môi trường đất 3 2.1.2. Cơ chế xâm nhập và lan truyền của chất độc vào đất 4 2.1.3. Con đường để chất độc xâm nhập vào cơ thể sinh vật 4 2.1.4. Các yếu tố ảnh hướng đến chất độc trong môi trường đất 5 2.2 Chất độc trong môi trường nước 5
2.2.1. Sơ lược về chất độc trong môi trường nước 5 2.2.2. Các loại chất độc có trong môi trường nước 6 2.2.3.Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất độc trong môi trường nước 7
2.3 Chất độc trong môi trường không khí 7 2.3.1. Sơ lược về chất độc trong môi trường không khí.
8
2.3.2. Tính độc của chất độc trong không khí
8
2.3.3. Nguồn gốc của chất độc trong không khí
8
2.3.4. Sự lan truyền chất độc trong không khí
9
Trang 22.3.5. Con đường xâm nhập vào cơ thể sinh vật của chất độc
9
3 Tính bền vững và sự tích lũy sinh học của chất độc trong môi trường 10 3.1 Tính bền vững trong môi trường của độc chất 10 3.2 Sự tích lũy sinh học của độc chất 12 3.2.1. Giới thiệu
12
3.2.2. Quá trình tích lũy sinh học
13
Kết luận 15
Lời nói đầu
Trong xã hội hiện nay, con người đã dần quan tâm đến chất lượng cuộc sống hơn, vì ngoài các bệnh dịch trên gia súc gia cầm, các bệnh dịch trên người ngày càng gia tăng, như các bệnh truyền nhiễm: dịch tả, thương hàn do các vi sinh vật gây bệnh gây ra, thì các căn bệnh như ung thư, dị tật bẩm sinh ở trẻ bởi các chất độc trong môi trường cũng xuất hiện và có diễn biến leo thang trên toàn thế giới
Xã hội phát triển, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn
ra ngày càng nhanh, kéo theo các chất thải độc hại do dây chuyền sản xuất công nghiệp và những ảnh hưởng bất lợi từ các hoạt động sống của con người, tác động vào môi trường cũng gia tăng một cách chóng mặt Ngoài ra việc sản xuất, lưu trữ và vận chuyển các chất độc còn nhiều hạn chế đã gây ra việc rò rỉ, phán tán chúng ra môi trường
Không chỉ vậy, ngay cả nước thẩm thấu từ các bãi rác cũng gây ảnh hưởng đến dân cư khu vực lân cận Vô số tác động ấy, ngoài ảnh hưởng đến còn người còn ảnh hưởng đến các sinh vật khác trên Trái Đất Điều này đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo về tác hại của các hóa chất
đã được sử dụng Nhằm điều tiết và hạn chế việc thải hóa chất vào môi trường, một số khuyến cáo đã được đưa ra Việc thải hóa chất vào trong môi trường đòi hỏi có một sự hiểu biết về thuộc tính của độc chất
và hậu quả chúng đối với môi trường Cũng như các chất độc khi được
Trang 3tiếp tục tương tác lại với môi trường, chúng có tác hại như thế nào đều
là những câu hỏi lớn được đặt ra Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau làm
rõ vấn đề này
Lý do chọn đề tài
Tôi- với cương vị là sinh viên ngành Sư phạm Hóa Học, là người
sẽ giảng dạy môn Hóa cho các em học sinh tương lai, không những chỉ cần kiến thức chuyên môn mà cũng còn cần nhiều kiến thức bổ trợ khác Cũng như nền tảng kiến thức của tôi về môi trường, môi liên hệ của môi trường với Hóa Học còn quá mỏng, chưa thật sự đáp ứng đủ nhu cầu kiến thức của xã hội cần Và sau nhiều chủ đề được giới thiệu cũng như bản thân tìm kiếm, tôi quyết định chọn chủ đề này, nó sẽ giúp tôi bổ trợ kiến thức về Hóa nhằm mục đích nâng cao kiến thức cho mình, và giúp học sinh sau này nếu cần
1 Sơ lược về chất độc
1.1 Khái niệm về chất độc
Chất độc là những chất có thể gây hại cho người hoặc các loài sinh vật sống khác
Các tác nhân gây ô nhiễm khi tồn tại trong môi trường đến một liều lượng nào đó thì trở nên độc Như vậy, các tác nhân ô nhiễm tồn tại lâu ngày, chúng trở thành tác nhân độc, và gây độc cho con người cũng như các loài sinh vật khác
1.2 Phân loại độc chất
Trong môi trường thường tồn tại ba loại chất độc cơ bản:
Một là chất độc không bản chất có nghĩa là, tự thân chúng
không phải là chất độc nhưng lại gây nên các hiệu ứng độc khi thâm nhập vào môi trường
Hai là chất độc bản chất hay còn được gọi là chất độc tự nhiên, chúng bao gồm các chất mà dù tồn tại ở liều lượng rất nhỏ cũng gây độ cho cơ thể sinh vật Chẳng hạn như H2S, Hg, Pb,
Ba là chất độc theo liều lượng, có thể hiểu là những chất có tính độc khi hàm lượng của chúng tăng cao trong môi trường tự nhiên Cũng
có nhiều chất, khi chúng chỉ có ở mức liều lượng thấp thì chúng là chất dinh dưỡng trong cơ thể sinh vật, tuy nhiên khi nồng độ tăng cao vượt quá ngưỡng an toàn cho phép thì chúng trở nên độc Có thể lấy ví dụ như sau: ở trong môi trường đất, ion NH4+ trong dung dịch đất là một
Trang 4chất dinh dưỡng của thực vật và một số loài sinh vật ở nồng độ thấp, tuy nhiên, khi tỷ lệ hàm lượng vượt qua 1/500 về trọng lượng lại gây độc
Trong quá trình nghiên cứu về chất độc cần lưu ý một số điểm sau:
Chất độc là một khái niệm mang tính định lượng Mọi chất đều độc ở một liều nào đó và cũng vô hại với liều rất thấp Giới hạn giữa 2 liều đó là phạm vi các tác dụng sinh học Theo Paracelsus (1493 -
1541): “tất cả mọi chất đều là chất độc, không có chất nào không phải
là chất độc Liều lượng thích hợp sẽ phân biệt được một chất độc và một thuốc” Aspinrin (acid acetyl salicylic) là thuốc hạ sốt chống viêm được dùng trong điều trị từ nhiều năm nay, nhưng có thể gây chết người với liều 0,2 - 0,5 g/Kg Sắt, đồng, magie, kẽm là những nguyên tố
vi lượng cần thiết trong thành phần thức ăn chăn nuôi, nhưng nếu quá liều thì có thể gây ngộ độc Về mặt sinh học, một chất có thể độc với loài này nhưng lại không độc với loài khác Carbon tetraclorid gây độc mạnh cho gan trên nhiều loài, nhưng ít hại hơn đối với gà Một số loài thỏ có thể ăn lá cà độc dược có chứa belladon Một chất có thể không độc khi dùng một mình, nhưng lại rất độc khi dùng phối hợp với chất khác Piperonyl butoxid rất ít độc với loài có vú và côn trùng khi dùng một mình, nhưng có thể làm tăng độc tính rất mạnh của các chất dùng cùng do nó có tác dụng ức chế các enzym chuyển hoá chất lạ
(xenobiotic - metabolizing enzymes) của cơ thể Độc tính của một chất độc có thể thay đổi khi xâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau như: qua đường uống, đường hô hấp, qua da, qua đường tiêm
1.3 Tính độc của chất độc
Tính độc của một chất là tác động có hại của chất đó đối với cơ thể sống Kiểm tra tính độc chính là xem xét, ước tính tác động có hại của chất độc lên cơ thể sống trong những điều kiện nhất định
2 Chất độc trong môi trường
2.1 Chất độc trong môi trường đất
2.1.1 Sơ lược về chất độc trong môi trường đất
Các chất độc có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau bao gồm: hữu cơ, vô cơ, các hợp chất, đơn chất, ion, chất lỏng, chất rắn hay thậm chí là chất rắn Ion là dạng tồn tại phổ biến nhất của các chất độc trong môi trường đất Cho dù chúng tồn tại ở dạng ion hay chất
Trang 5lỏng hay chất khí, thì các chất độc này đều có tác dụng xấu đến sự phát triển của cây trồng cũng như sinh vật kể cả con người
Như đã phân loại ở phần trên, trong môi trường đất cũng có độc chất theo bản chất và độc chất theo nồng độ
Đối với chất độc theo nồng độ, độc chất này có điểm giống nhau là đều có nồng độ giới hạn cho phép đối với mỗi loài cây trồng và sinh vật Khi mà nồng độ vượt qua khỏi giới hạn cho phép thì các chất này mới có khả năng gây độc
2.1.2 Cơ chế xâm nhập và lan truyền của chất độc vào đất
Trong đất tồn tại hạt vật chất là keo đất, chúng mang điện và
có cấu tạo bao gồm: nhân và lớp ion, lớp ion này có khả năng trao đổi điện tích với môi trường Chúng có khả năng hấp thụ và trao đổi ion giữa dung dịch đất bao quanh và bề mặt keo đất Chất độc xâm nhập vào môi trường đất cũng nhờ vào hoạt tính của keo đất với dung dịch đất
Các chất ô nhiễm trong đất tồn tại ở rất nhiều dạng (hay pha) khác nhau, tùy theo bản chất lý hóa của chất đó Chúng có thể hòa tan vào nước ngầm và dịch chuyển qua các lỗ xốp của đất Theo quy mô lớn hơn, quá trình này có thể mô hình hóa theo dòng chảy và hướng dòng chảy của nước ngầm, tuy nhiên xét trên quy mô nhỏ hơn, quá trình này liên quan đến kích thước hạt và độ xốp của đất Khi di chuyển trong đất, các chất độc hay nói cách khác là các dòng nước mang theo chất độc không đi xuyên qua các hạt đất mà đi qua các khoảng trống giữa các hạt
Khi chảy qua khoảng trống giữa các hạt, các dòng chảy sẽ liên tục đổi hướng hay phân dòng, dẫn đến việc dòng chảy bị khuấy trộn
Hệ quả của việc này, là phạm vi ảnh hưởng cũng như nồng độ chất độc trong đất khác ngày càng lan rộng Tuy nhiên, sự phân bố cấu trúc địa tầng sẽ ảnh hưởng đến con đường lan truyền của chất độc
2.1.3 Con đường để chất độc xâm nhập vào cơ thể sinh vật
Quá trình xâm nhập của chất độc từ môi trường này vào cơ thể sinh vật trải qua hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất là sự hấp thụ của cơ thể sinh vật bị hạn chế Giai đoạn thứ hai, là giai đoạn xảy ra quá trình hấp thụ bị động, chất độc xâm nhập phá vỡ màng tế bào, đi vào các cơ quan và lan tỏa đi khắp cơ thể sinh vật
Trang 6Đối với các loài thực vật, ta có thể đi theo hai chiều hướng như sau Khả năng đầu tiên, thông qua các quá trình hấp thụ qua rễ cây mà các chất độc từ đất được đưa vào cây theo một cách chủ động Nhưng sau một thời gian, thực vật dẫn dần sẽ có những biểu hiện nhiễm độc, thì lúc đó cây sẽ hạn chế sự hấp thu Khả năng thứ hai có thể xảy ra là, chỉ đơn thuần là sự xâm nhập do khuếch tán từ nơi có nồng độ cao về nơi có nồng độ thấp, nói cách khác là từ trong dung dịch đất sang cây trồng
Ở thực vật thì như trên, vậy còn ở động vật thì sao? Đúng thế, các loài động vật sẽ bị xâm nhập thông qua thức ăn, thông qua thực phẩm trung gian và con đường xâm nhập trực tiếp qua da, rồi đi thẳng vào cơ thể Có thể đưa ra một vài ví dụ điển hình để minh chứng như sau: khi đất bị ô nhiễm thì nguồn nước cũng bị ô nhiễm, hay nói cách khác là có chứa các chất độc vượt quá hàm lượng cho phép, đồng
nghĩa các cây trồng ở khu vực đó cũng nhiễm độc theo hai chiều hướng
đã nêu trên Các loài động vật khi sử dụng các thực vật đã nhiễm bẩn làm thức ăn lại gián tiếp đưa chất độc vào cơ thể chúng, sau thời gian tích lũy sinh học trong cơ thể, đến liều lượng nhất định, chúng- các loài động vật cũng nhiễm độc
2.1.4 Các yếu tố ảnh hướng đến chất độc trong môi trường đất Một chất tồn tại trong môi trường luôn chịu nhiều tác động từ các yếu tố của môi trường đó Chất độc trong môi trường đất cũng vậy,
có vô vàn các yếu tố ngoại cảnh cũng như nội cảnh tác động vào nó Ở đây có thể trình bày một số yếu tố như sau:
Thứ nhất là nồng độ và liều lượng của chất độc, chúng tỉ lệ thuận với tính độc của các chất độc, có nghĩa là khi nồng độ của chất độc trong đất càng cao thì càng độc
Yếu tố thứ hai được nêu ra ở đây là nhiệt độ cũng làm ảnh
hưởng đến chất độc, nhiệt độ càng cao thì tính độc càng mạnh Tuy nhiên, cũng có thể khi nhiệt độ trong đất quá cao sẽ làm phân hủy chất độc
Hay một yếu khác như ngưỡng chịu độc, các loài sinh vật khác nhau có ngưỡng chịu độc khác nhau Tuổi tác, sinh vật non trẻ thì mẫn cảm với chất độc, ngưỡng chịu độc thấp Đối với các loài sinh vật cao tuổi hơn thì ngưỡng chịu độc cao, nhưng tuổi già lại chịu độc kém Giới
Trang 7tính cũng ảnh hưởng đến ngưỡng chịu độc và giống cái thì dễ mẫn cảm với chất độc hơn là giống đực
Ngoài ra các điều kiện khác của đất như độ ẩm, độ chua trong đất cũng ảnh hưởng đến sự cung cấp oxi để giải độc và phân bố lại nồng độ của hơi độc
2.2 Chất độc trong môi trường nước
2.2.1 Sơ lược về chất độc trong môi trường nước
Môi trường nước rất đa dạng và phức tạp Chúng là tập hợp các
hệ sinh thái khác nhau như sông, suối, ao, hồ, trong đó có rất nhiều thành phần vô sinh và hữu sinh Đối với thành phần hữu sinh, nó bao gồm các loài thực vật, động vật, vi sinh vật sống Các thành phần vô sinh bao gồm môi trường vật lý trong ranh giới của hệ sinh thái
Trong hệ sinh thái nước, mỗi một loài sinh vật sống trong môi trường này đều sống ngập trong nước cả phần đời của chúng Đó là một điểm mà chúng ta cần lưu ý do các hệ sinh thái nước có thể trở thành con đường gián tiếp thu nhận nhiều loại hóa chất khác nhau
Do các hệ sinh thái tham gia vào các mối tương tác phức tạp của các tác nhân lý, hóa và sinh học nên để hiểu và xác định một phản ứng của một hệ thống đối với một hóa chất nào đó là vô cùng khó
khăn, nếu như các mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống đó không được xác định rõ ràng Mỗi hệ sinh thái dưới nước là một sản phẩm của sự thống nhất phức tạp giữa các thành phần sống và không sống
2.2.2 Các loại chất độc có trong môi trường nước
Cũng như trong các môi trường khác, môi trường nước cũng tồn tại đa đạng các chất độc từ chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, cho đến các chất hóa học vô cơ, kể cả các chất phóng xạ
Đối với chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, chúng có nguồn gốc từ các cống nước thải sinh hoạt của con người, hay chất thải công nghiệp, trại chăn nuôi gia súc, gia cầm Lúc này, nó đòi hỏi ở môi
trường một lượng oxi rất lớn để cung cấp cho các loại vi khuẩn để tự làm sạch, vô tình làm suy kiệt lượng oxi hòa tan trong nước Vì thế, không có đủ oxi hòa tan trong nước, dẫn đến hiện tượng tôm cá chết
và nổi lên mặt nước Không chỉ vậy, các loài sinh vật lây nhiễm cũng bị đưa vào nguồn nước qua con đường nước thải này
Trang 8Ở các vùng nhận nước thải sinh hoạt, công nghiệp hay nông nghiệp luôn có sự tồn dư của các chất dinh dưỡng thực vật như
nitrogen hay phosphor Khi hàm lượng tức nồng độ các chất này gia tăng, các loài thực vật nước theo đó mà phát triển mạnh, lúc chết đi lại gây ô nhiễm hữu cơ cho nguồn nước đó
Quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, hóa chất ngày càng được sử dụng nhiều vì lợi ích kinh tế chúng mang lại là cực kỳ lớn Kéo theo hiện tượng các chất tẩy rửa, thuốc trừ sâu từ quá trinh sản xuất nông nghiệp, thuốc kích sinh trưởng, thuốc diệt cor, phân hóa học, nhiều và rất nhiều cũng được đưa ra môi trường Các hóa chất này
có độc tính rất cao đối với sinh vật, một số chất tuy có độc tính thấp nhưng bù lại chúng lại có khả năng tích tụ thông qua mạng lưới thức ăn
Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp Việt Nam, chiếm từ 10% -12% GDP, đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liệu như than đá, thiếc, chì, kẽm sắt, đồng, appatit cho một số ngành kinh
tế sử dụng nguyên liệu khoáng là nhiệt điện, ximăng, hóa chất, luyện kim (Nguồn: Internet) Mặc dù vậy, việc khai thác không có quy
hoạch, không tính toán kỹ lưỡng mà chỉ chăm chăm vào lợi ích kinh tế
đã gây nhiên ô nhiễm phóng xạ Chúng bắt nguồn từ các hành động đào và khai thác các mỏ quặng phóng xạ, hoạt động của các lò phản ứng hạt nhân, các chất phóng xạ không được quản lý chặt chẽ Tác hại của chúng lại vô cùng lớn, các chất này làm chết hay làm thay đổi cấu trúc di truyền, hoạt động trao đổi chất, làm ảnh hưởng đến quá trình
và phát triển của sinh vật
Các kim loại, hay các ion vô cơ, các khí hòa tan, dầu mỏ, các chất rắn và nhiều hợp chất hóa học khác Chúng cũng được sinh ra từ công nghiệp khai thác mỏ, quá trình sản xuất, hoạt động của các dàn khoan dầu ngoài biển, hay do thiên tai, phong hóa, xói mòn, lũ lụt, Các hóa chất này làm ảnh hưởng đến quá trình làm sạch nguồn nước, hủy diệt đời sống các loài thủy sinh, ăn mòn các công trình dưới nước
Không chỉ vậy, khi các chất độc này tiến vào môi trường, tham gia các phản ứng hay tương tác qua lại sẽ có cơ chế hoạt động ngày càng phức tạp, gây khó khăn cho quá trình khống chế cũng như làm sạch chúng
Trang 92.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất độc trong môi trường
nước
Các tác nhân môi trường mà chất độc tồn tại có thể ảnh hưởng đến độc tính của một hóa chất Độc tính của hóa chất còn có thể bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của các hóa chất Tồn tại rất rất nhiều các nhân
tố ảnh hưởng đến khả năng hoạt động, độ bền vững cũng như dạng dây độc sau cùng của nó trong môi trường nước
Nhiệt độ trong nước có thể làm tăng hoặc giảm hoặc không làm ảnh hưởng đến độc tích, tùy vào loại độc tố, loài sinh vật, tùy theo điều kiện cụ thể của từng trường hợp
Ví dụ, kẽm (Zn), thủy ngân (Hg), hay phenol tính độc sẽ tăng khi chúng ở nhiệt độ thấp Nhưng lại có một số chất lại có tính độc tăng khi nhiệt độ cao như: một số loại thuốc trừ sâu (DDT, eldrin, ), muối cyanide, hydrogen sulfide (Nguồn: Tạp chí Khoa học- Công nghệ Nghệ
An số 11/2016 )
Có thể giải thích cho sự ảnh hưởng của nhiệt độ lên độc tính của chất độc như sau: khi nhiệt độ tăng cao, quá trình ion hóa cũng tăng theo, độc tố được giải phóng ở dạng không liên kết, dễ dàng xâm nhập qua tế bào
Lượng oxy hòa tan trong nước cũng góp phần làm ảnh hưởng đến tính độc của các chất độc này Nhiều người cho rằng, khi lượng oxy hòa tan trong nước giảm thì sẽ làm gia tăng tính đôc của độc chất trong môi trường nước Mặc dù vậy, do các nghiên cứu chưa thực sự đầy đủ nên kết luận chỉ là một phần trong vô số những ảnh hưởng do hàm lượng oxy hòa tan đối với chất độc mà thôi
Sự ion hóa dưới sự thay đổi pH chính là ảnh hưởng chính của pH lên độc chất trong môi trường nước Khi đó, các phân tử không liên kết trở nên độc hơn vì chúng dễ dàng tiến hành cuộc tấn công xâm lược vào tế bào của sinh vật
Một số chất độc sinh học thay đổi độc tính theo pH, một số khác lại không Độc tính của chất diệt cỏ dinitrophenol (C6H4N2O5) giảm
đi 5 lần khi pH tăng lên từ 6.9 đến 8 Hay độc tính của 2-4
dichlorophenol (C6H4Cl2O) giảm đi khi pH tăng lên Trong khi một số độc tố sinh học lại ít bị ảnh hưởng bởi pH như: rotemone (C23H22O6) và 2-4 dichclophenoxyacetic aicd (C8H6Cl2O3) (Nguồn: Tạp chí Khoa học- Công nghệ Nghệ An số 11/2016)
Trang 102.3 Chất độc trong môi trường không khí
2.3.1 Sơ lược về chất độc trong môi trường không khí
Theo báo cáo thường niên The Environmental Performance Index (EPI) của Mỹ thực hiện, Việt Nam hiện đang đứng trong top 10 các nước ô nhiễm không khí ở Châu Á Đáng lưu ý, tổng lượng bụi ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh của nước ta đang liên tục tăng cao khiến chỉ số chất lượng không khí (AQI) luôn ở mức báo động (Nguồn: Internet) Đúng vậy, các chất ô nhiễm khi được thải vào môi trường không khí với một số lượng lớn và nồng độ vượt quá khả năng tự làm sạch của khí quyển sẽ trở thành chất độc
Có thể phân loại chất độc trong không khí theo tác động của chúng Khi đó chúng ta chia thành hai loại:
Một là chất độc có tác dụng chung, có nghĩa là chúng có tác động kích thích chủ yếu là đường hô hấp như bụi, SO3, hay NH3 Kích thích các đường hô hấp trên và tổ chức phổi Chúng có khả năng gây ngạt, nói một cách đơn giản hơn là chúng pha loãng oxy trong không khí Thậm chí gây ngạt hóa học ngăn cản máu vận chuyển oxy đến các
cơ quan như CO Có thể gây tê, gây dị ứng, và hơn thế nữa là gây mê
Hai là chất độc có tác dụng hệ thống Tức là chúng chỉ gây hại lên một hệ thống chứ không phải toan diện, như chì (Pb), thủy ngân (Hg) gây hại lên hệ thống bài tiết
2.3.2 Tính độc của chất độc trong không khí
Khi các chất độc trong không khí vượt quá ngưỡng chịu
đựngcủa sinh vật thì chúng trở nên độc Có rất nhiều yếu tố làm thay đổi tác động của chất độc này đối với cơ thể sinh vật
Xét về cấu trúc hóa học của chất độc Trong hợp chất
hydrocarbon khi phân tử có số nguyên tử carbon càng nhiều thì tính độc càng lớn Một phân tử có số nguyên tử halogen thay thế cho
nguyên tử hidro càng nhiều thì càng độc, ví dụ CCl4 độc hơn CHCl3, hay những chất có cùng số nguyên tố thì phân tử nào chứa ít nguyên tử hơn thì độc hơn, chẳng hạn CO với CO2
Đồng thời tính chất vật lý của một chất như nhiệt độ sôi, nhiệt
độ nóng chảy, khả năng hấp thụ cũng ảnh hưởng đến tính độc của nó Tương tự thì, nồng độ và thời gian tiếp xúc, điều kiện môi trường cũng
có tác động mạnh mẽ đến tính độc của độc chất, thậm chí có thể làm thay đổi tính độc tùy theo từng loại chất khác nhau