1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG

105 2K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định khả năng tích lũy sinh học của kim loại nặng trong bùn lắng
Tác giả Hoàng Thị Trà My
Người hướng dẫn TS. Hoàng Thị Thanh Thủy
Trường học Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Bách Khoa
Chuyên ngành Kỹ Thuật Môi Trường
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG

Trang 1

KHOA MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC (BIOAVAILABILITY) CỦA MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG CỦA KÊNH RẠCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TP Hồ Chí Minh, 12/2006

Trang 2

Tôi xin trân trọng gửi sự biết ơn và lòng cảm tạ sâu sắc đến:

- Công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha me.ï

- Sự giúp đỡ tận tuỵ của Cô Hoàng Thị Thanh Thuỷ trong thời gian thực hiện luận văn

- Sự dìu dắt, hướng dẫn của tập thể Cô, Chú thuộc Viện Tài Nguyên và Môi Trường

- Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

- Sự quan tâm và giúp đỡ ân cần của bạn bè

- Tất cả Cô, Chú, Anh, Chị, những người mà tôi đã từng gặp, những người mà tôi không thể liệt kê hết ở đây, đã giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm quý báu

Trang 3

DANH SÁCH BẢNG BIỂU .iv

DANH SÁCH ĐỒ THỊ v

DANH SÁCH HÌNH .vi

TÓM TẮT LUẬN VĂN vii

MỞ ĐẦU 1

1.GIỚI THIỆU 1

2.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2

3.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

4.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KỸ THUẬT SỬ DỤNG 3

6.Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5

1.1 Đặc điểm hệ thống thoát nước đô thị ở TpHCM 5

1.1.1 Khái quát 5

1.1.2 Đặc điểm của 5 hệ thống kênh rạch của thành phố 7

1.1.3 Đặc điểm phân bố công nghiệp trên các lưu vực thoát nước 7

1.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường kênh rạch TpHCM 20

1.2.1 Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng 20

1.2.2 Hiện trạng ô nhiễm nước 25

1.3 Các nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước trên các kênh rạch 31

1.4 Các phương pháp giải ô nhiễm kim loại áp dụng đối với bùn lắng 32

1.4.1 Phương pháp hoá lý 33

1.4.2 Biện pháp sinh học 35

1.5 Phytoremediation 37

1.6 Cỏ Vetiver 41

1.6.1 Phân loại và phân bố 41

1.6.2 Đặc điểm hình thái của cỏ Vetiver 43

1.6.3 Đặc tính sinh thái 44

1.6.4 Đặc điểm sinh lý hạt cỏ Vetiver 44

1.6.5 Một số ứng dụng của cỏ Vetiver 45

CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn lựa chọn các vị trí lấy mẫu 47

2.1.1 Các điểm lấy mẫu 47

2.1.2 Phương pháp lấy mẫu 53

2.1.3 Bảo quản mẫu 53

2.2 Phân tích thành phần kim loại 53

2.3 Bioavailability 54

2.3.1 Khái niệm 54

2.3.2 Ý nghĩa của việc xác định bioavailability 55

2.3.3 Phương pháp xác định khả năng hấp thụ sinh học của kim loại 55

Trang 4

2.4.2 Tiến trình thí nghiệm 59

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 61

3.1 Các thông số địa hoá môi trường 61

3.2 Sự phân bố KLN trong 5 hệ thống kênh rạch 63

3.2.1 Hệ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè 67

3.2.2 Hệ Kênh Tân Hoá- Lò Gốm 68

3.2.3 Hệ Kênh Tàu Hũ- Bến Nghé 69

3.2.4 Hệ Kênh Tham Lương – Bến Cát 70

3.2.5 Hệ Kênh Đôi – Kênh Tẻ 71

3.3 Mối tương quan giữa các KLN và hàm lượng vật chất hữu cơ trong trầm tích 3.3.1 Hàm lượng vật chất hữu cơ 72

3.3.2 Thành phần hoá học của trầm tích 73

3.3.3 Mối tương quan 73

3.4 Kết quả phân tích các hợp phần kim loại 74

3.4.1 Kênh Tàu Hũ – Bến Nghé 75

3.4.2 Kênh Tân Hoá- Lò Gốm 77

3-5 Kết quả thử nghiệm khả năng tích luỹ kim loại nặng Cu, Cr, Zn của cỏ Vetiver 82

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

4.1 Kết luận 83

4.2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 87

Trang 5

MỞ ĐẦU

Giới thiệu:

Bên cạnh vấn đề ô nhiễm nguồn nước đang ở mức nghiêm trọng,việc xử lý một khối lượng lớn bùn lắng (bùn đáy) bị ô nhiễm trên các kênh rạch thành phố đang là những thách thức lớn đối với Thành phố Hồ Chí Minh Thành phần của bùn lắng chứa nhiều chất ô nhiễm như các chất hữu cơ, các kim loại nặng cùng các chất độc hại khác Bùn ô nhiễm được xác định là nguồn gây ra các tác động về mặt sinh thái trong lưu vực Các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái của các chất ô nhiễm trong bùn lắng được tổng hợp như sau:

Bảng 1:Tóm tắt các khả năng tác động tiêu cực liên quan đến bùn ô nhiễm

Tác động tiêu cực Phương thức tác động

Hạn chế tiêu thụ thuỷ sản Hấp phụ chất ô nhiễm do tiếp xúc với bùn lắng

hay thông qua chuỗi thức ăn Suy giảm hệ thuỷ sinh Làm giảm số lượng loài do ô nhiễm; tác động do

tiếp xúc trực tiếp hay thông qua chuỗi thức ăn Biến đổi thuỷ sinh (ung thư,

gen,…)

Chuyển dịch chất ô nhiễm do tiếp xúc với bùn lắng hay qua chuỗi thức ăn ; trao đổi các chất gây ung thư hay có khả năng gây ung thư

Biến đổi của chim, động vật

hay các vấn đề về sinh sản

Suy giảm số lượng cá thể do ô nhiễm; tác động do tiếp xúc trực tiếp hay thông qua chuỗi thức ăn Suy giảm động vật đáy Tiếp xúc; ăn chất độc ; dư thừa chất dinh dưỡng

dẫn đến suy giảm oxy Giới hạn các hoạt động nạo

vét Giới hạn việc đổ bùn vào nguồn do chất ô nhiễm, chất dinh dưõng và khả năng tác động đến sinh

vật nuớc Phú dưỡng hoá và bùng nổ

tảo

Tuần hoàn chất dinh dưỡng

Giảm mỹ quan Tăng độ đục; mùi do phân huỷ kị khí

Suy giảm lượng phiêu sinh

động, thực vật Thải chất độc ; tăng độ đục, chất lơ lửng và hấp phụ chất ô nhiễm vào thức ăn Giảm các loại thuỷ sinh Độc tố ảnh hưởng đến đời sống thuỷ sinh; giảm

trứng và ấu trùng Tác động môi trường chính yếu liên quan đến bùn ô nhiễm là do các ảnh hưởng xấu của chúng đến sinh vật, bao gồm cả con người Tác động do tiếp xúc trực tiếp với bùn ô nhiễm được biểu thị ở cá và động vật đáy không xương sống

Do các sinh vật đáy là nguồn thức ăn quan trọng cho các sinh vật khác trong chuỗi

Trang 6

thức ăn, sự tích luỹ hay phơi nhiễm các chất ô nhiễm của các sinh vật này có ý nghĩa rất quan trọng Bên cạnh đó (sự hấp phụ và tích tụ)ï các chất khó phân huỷ sinh học trong cơ thể các sinh vật này và sau đó các chất này sẽ di chuyển vào chuỗi thức ăn

Sự tái hoà tan của các chất ô nhiễm trong bùn do các quá trình sinh học và địa hoá trung gian trên bề mặt phân chia bùn – nước kéo dài thời gian các chất ô nhiễm tồn tại ở dạng sẵn sàng sử dụng (bioavailability) và tích tụ trong chuỗi thức ăn sinh học

Các kim loại nặng là các chất ô nhiễm thông thường hiện diện ở nồng độ rất nhỏ (ppm), tuy nhiên chúng lại gây những ảnh hưởng rất đáng kể do chúng là các chất rất khó phân huỷ sinh học, có độc tính cao, có khả năng tích luỹ và khuếch đại theo chuỗi thức ăn sinh học, một số chất có khả năng gây ung thư và biến đổi gen Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong bùn lắng tại Thành phố Hồ Chí Minh đang là một vấn đề được quan tâm

Tính cấp thiết của đề tài

Kim loại nặng trong bùn là một trong các nguồn ô nhiễm cần phải xử lý Trong khi các chất ô nhiễm hữu cơ bị phân huỷ tự nhiên nhanh hay chậm bởi các loại VSV có trong bùn thì các kim loại nặng như Cd, Cu, Hg, Pb, Zn,… thì gần như không bị phân hủy và sẽ ngày càng tích luỹ trong bùn Các kim loại nặng có thể hay tham gia vào chuỗi thức ăn, tích lũy trong các thủy sinh và cuối cùng là trong các loài động vật trong đó có con người (quá trình tích luỹ và tăng cường sinh học) Ngoài ra, từ bùn lắng các kim loại nặng có thể tái linh động, khuếch tán vào trong nước mặt, nước ngầm

Tuy nhiên, trong tổng số hàm lượng kim loại xác định được trong bùn lắng thông thường chỉ có một phần có thể có khả năng linh động, hoà tan và đi vào hệ sinh thái Kim loại nặng tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: ion, tạo phức với các oxit và hydroxit, kết hợp với các khoáng vật sét Trong đó, hợp phần có khả năng linh động nhất là các ion tự do Các hợp phần khác như phức hữu cơ, hợp chất oxit và hydroxit Fe/Mn, ….là những hợp phần khá linh động, từ đó kim loại có thể bị hấp thu bởi thực vật Ngược lại, các hợp phần kim loại bền vững như dạng tồn tại trong cấu trúc các hợp chất silicat thì rất bền vững và sẽ không bị hấp thu

Ở thành phố HCM, theo số liệu điều tra trước đây, khối lượng bùn lắng cần nạo vét của riêng lưu vực kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè đã lên tới 1,5 triệu m3 (Triết, 2000) Trong bùn thải đô thị đã tích tụ một lượng lớn các kim loại nặng so với hàm lượng nền (Maqsud, 2004, Triết, 2000) Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây mới chỉ đánh giá hiện trạng ô nhiễm kim loại chưa nghiên cứu vào độ linh động của kim loại Do đó, vấn đề xác định dạng tồn tại của kim loại nặng, độ linh động của kim loại nặng là những nghiên cứu hết sức cần thiết

Trang 7

Mục tiêu nghiên cứu :

Đánh giá rủi ro sinh thái của sự tích luỹ kim loại nặng trong bùn lắng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung nghiên cứu:

™ Xác định hàm lượng kim loại nặng trong 05 kênh rạch của Thành phố Hồ Chí Minh

™ Xác định định lượng các hợp phần kim loại trong bùn lắng và đất bằng phương pháp trích ly tuần tự (sequential extraction procedure)

™ Để kiểm định kết quả bằng thực nghiệm sẽ tiến hành trồng thử nghiệm cỏ Vetiver trên bùn lắng So với các loại thực vật khác, cỏ Vetiver là một loại cỏ được đánh giá có nhiều đặc điểm ưu việt có khả năng hấp thu các kim loại nặng Do đó, các kết quả thu được về sự tích lũy kim loại trong cỏ sẽ đồng thời phục vụ hai mục đích:

• Kiểm định kết quả thực nghiệm theo phương pháp Tessier

• Bước đầu đánh giá khả năng hấp thu kim loại nặng của cỏ vetiver để làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất khả năng xử lý ô nhiễm bằng thực vật Đây chính là tính mới của đề tài

Phương pháp nghiên cứu , kỹ thuật sử dụng:

™ Phương pháp tổng hợp các tài liệu hiện có về ô nhiễm kim loại nặng

™ Phương pháp lấy mẫu

™ Phương pháp phân tích – thí nghiệm:

- Xác định tổng hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu bùn

- Phương pháp chiết tách theo Tessier để xác định các hợp phần kim loại

- Kiểm chứng thí nghiệm phân tích các hợp phần kim loại bằng thực nghiệm trực tiếp trên cỏ Vetiver

™ Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Excel

Ý nghĩa khoa học- thực tiễn:

Từ việc xác định được các dạng tồn tại hợp phần kim loại sẽ đánh giá được khả năng linh động trong môi trường của từng kim loại để từ đó đánh giá rủi ro sinh thái và khả năng tận dụng bùn thải Khi các kim loại có độ linh động thấp thì khả năng xâm nhập vào chuỗi sinh thái là rất nhỏ và do đó rủi ro sinh thái thấp, bùn lắng có thể tận dụng cho nhiều mục đích: làm vật liệu san lấp, tận dụng làm nguồn bổ sung chất dinh dưỡng cho đất trồng thay thế các phân hoá học, góp phần giải quyết một khối lượng lớn bùn thải nạo vét hàng năm

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ thiết kế những mô hình xử lý tại chỗ các kênh rạch bị ô nhiễm bằng thực vật Đây là những nghiên cứu nhằm mục tiêu phát triển ngành công nghệ sinh học môi trường ở nước ta Các mô hình xử lý này không chỉ tạo cảnh quan cho khu vực mà còn có nhiều đặc điểm ưu việt so với phương pháp nạo vét-chôn lấp thông thường như giá thành hợp lý, công nghệ đơn giản phù hợp với điều kiện nước ta Ưu điểm nhất của phương pháp này ở chỗ đây

Trang 8

là một công nghệ thân thiện môi trường, không gây ra các hậu quả “sau xử lý” Đó là ý nghĩa thực tế của nghiên cứu

Trang 9

Bảng 1-1 Phân cấp hệ thống thoát nước đô thị TPHCM 7

Bảng 1-2 Một số đặc điểm chính của 5 hệ thống kênh rạch nội thành 12

Bảng 1-3 Sự hiện diện của một số kim loại nặng tích luỹ trong nước kênh, rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh do nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt so với nước sông bình thường không bị ô nhiễm 20

Bảng 1-4 Dư lượng của một số kim loại nặng chính trong trầm tích có dòng chảy nuớc mặt ô nhiễm nặng ở Thành phố Hồ Chí Minh 21

Bảng 1-5 Sự tích luỹ của kim loại nặng trong trầm tích kênh Nhiêu Lộc 22

Bảng 1-6 Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm kim loại trong bùn lắng kênh rạch Tp Hồ Chí Minh 23

Bảng 1-7 Tích tụ kim loại nặng trong trầm tích của một số kênh rạch dòng chảy được lựa chọn ở Tp Hồ Chí Minh 24

Bảng 1-8 Vị trí trạm trên kênh 25

Bảng 1-9 Các vi sinh vật hấp thu kim loại nặng 35

Bảng 1-10 Chi phí thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm đất 37

Bảng1-11 Phân loại các cơ chế, đối tượng thực hiện và các loài thực vật tương ứng 38

Bảng 1-12 Phân loại và phân bố cỏ Vetiver 41

Bảng 1-13 Khoảng biến thiên hàm lượng một số kim loại nặng trong môi trường đất mà cỏ Vetiver có thể phát triển Kết quả nghiên cứu tại Uùc 46

Bảng 2-1 Quy trình trích ly theo Tessier et al., 1979 59

Bảng 3-1 Kết quả của các thông số địa hoá môi trường 61

Bảng 3-2 Kết quả hàm lượng KLN trong các mẫu bùn trong các kênh 66

Bảng 3-3 Thành phần hoá học của trầm tích kênh rạch Tp Hồ Chí Minh 72

Bảng 3-4 Ma trận tương quan giữa các nguyên tố và vật chất hữu cơ 73

Bảng 3-5 Kết quả các hợp phần của Cr, Cu, Zn trên kênh Tàu Hũ- Bến Cát 75

Bảng 3-6 Kết quả các hợp phần của Cr, Cu, Zn trên cống xả Hoà Bình 77

Bảng 3-7 Kết quả các hợp phần của Cr, Cu, Zn trên cầu Hậu Giang 79

Bảng 3-8 Kết quả các dạng liên kết của Cu, Zn và Cr trong 3 mẫu phân tích 80

Bảng 3-9 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong cỏ Vetiver trong 2 tháng 82

Trang 10

thành Tp.HCM 25

Hình 1-2 Sơ đồ hoạt động kỹ thuật electrokinetic 34

Hình 1-3 Sơ đồ hoạt động kỹ thuật thuỷ tinh hoá 35

Hình 1-4 Các cơ chế của phytoremediation 39

Hình 1-5 Cơ chế phytovolatilization 39

Hình 1-6 Cơ chế phytostabilization 40

Hình 1-7 Cơ chế phytoextraction 42

Hình 1-8 Hình dạng cỏ Vetiver 42

Hình 2-1 Bản đồ vị trí các điểm lấy mẫu bùn lắng đô thị 48

Hình 2-2 Sự thay đổi về độ linh động và khả năng hấp thụ sinh học của các hợp phần khác nhau của kim loại trong pha rắn (Theo Salomons, 1995) 56

Hình 3-1 Cơ chế ảnh hưởng của kim loại nặng 64

Hình 3-2 Mối tương quan giữa hàm lượng các kim loại nặng và vật chất hữu cơ trong trầm tích sông rạch Tp Hồ Chí Minh 74

Trang 11

Minh 06 tháng đầu năm 2006 26

Biểu đồ 1-2 Diễn biến hàm lượng TSS trên hệ thống kênh rạch thành phố 06 tháng đầu năm 2005 – 2006 27

Biểu đồ 1-3 Diễn biến hàm lượng DO trên hệ thống kênh rạch thành phố 06 tháng đầu năm 2005 – 2006 28

Biểu đồ 1-4 Diễn biến hàm lượng COD trên hệ thống kênh rạch thành phố 06 tháng đầu năm 2005 – 2006 28

Biểu đồ 1-5 Diễn biến hàm lượng BOD5 trên hệ thống kênh rạch thành phố 06 tháng đầu năm 2005 – 2006 29

Biểu đồ 3-1 Giá trị pH trên các kênh rạch tiêu thoát Tp Hồ Chí Minh 62

Biểu đồ 3-2 Diễn biến hàm lượng DO trên hệ thống kênh rạch thành phố 62

Biểu đồ 3-3 Diễn biến hàm lượng Ec trên hệ thống kênh rạch thành phố 62

Biểu đồ 3-4 Phân bố hàm lượng kim loại nặng dọc kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè 67

Biểu đồ 3-5 Phân bố hàm lượng kim loại nặng dọc kênh Tân Hoá – Lò Gốm 68

Biểu đồ 3-6 Phân bố hàm lượng kim loại nặng dọc kênh Tàu Hũ–Bến Nghé 69

Biểu đồ 3-7 Phân bố hàm lượng kim loại nặng dọc kênh Tham Lương–Bến Cát 70 Biểu đồ 3-8 Phân bố hàm lượng kim loại nặng dọc Kênh Đôi–Kênh Tẻ 71

Biểu đồ 3-9 Phần trăm các hợp phần của Zn trên kênh Tàu Hũ- Bến Cát 75

Biểu đồ3-10 Phần trăm các hợp phần của Cu trên kênh Tàu Hũ- Bến Cát 75

Biểu đồ 3-11 Phần trăm các hợp phần của Cr trên kênh Tàu Hũ- Bến Cát 76

Biểu đồ 3-12 Phần trăm các hợp phần kim loại của Zn trên cống xả Hoà Bình 77

Biểu đồ 3-13 Phần trăm các hợp phần kim loại của Cu trên cống xả Hoà Bình 78

Trang 12

Biểu đồ 3-16 % dạng liên kết với cacbonat trên kênh TH-BN và TH-LG 81 Biểu đồ 3-17 Hàm lượng kim loại trong thân và rễ có Vetiver 82

Trang 13

NHIỆM VỤ LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP

HỌ VÀ TÊN: MSSV:

NGÀNH: LỚP :

KHOA: BỘ MÔN:

1 Đầu đề luận án

2 Nhiệm vụ luận án:

3 Ngày giao luận án :

4 Ngày hoàn thành luận án :

5 Họ và tên GVHD :

6 Phần hướng dẫn :

1

2

3

4

5

Nội dung và yêu cầu LVTN đã được thông qua bộ môn Ngày… tháng… năm 200… Chủ nhiệm bộ môn Giáo viên hướng dẫn chính Phần dành cho Khoa, Bộ môn: Người duyệt :

Ngày bảo vệ :

Điểm tổng kết :

Nơi lưu trữ luận án :

Trang 14

vị trí trên hệ thống kênh rạch Thành phố có sự tích tụ kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn như:

Cầu Chà Và của kênh Tàu Hũ-Bến Nghé Cống xả Hoà Bình và Cầu Hậu Giang của kênh Tân Hoá-Lò Gốm

Tuy nhiên, khi nghiên cứu sự tích luỹ kim loại nặng trong bùn lắng nếu chỉ biết hàm lượng tổng số thì chưa thể đánh giá hết độ độc của chúng đối với môi trường sinh thái Kim loại nặng trong bùn lắng có thể tồn tại ở dạng linh động hay có trong liên kết với cacbonat, liên kết với oxyt Fe-Mn, liên kết với chất hữu cơ, hoặc liên kết với các hợp chất Silicat bền vững Hiểu được các dạng liên kết của chúng, tính tan và sự biến đổi của các kim loại nặng trong bùn lắng, sẽ làm rõ thêm mức độ ảnh hưởng của chúng đối với môi trường Hiện nay đã có nhiều nhà khoa học ở trên thế giới áp dụng các phương pháp chiết tách khác nhau để tách hàm lượng tổng số của kim loại thành các dạng liên kết khác nhau Tuy nhiên, trong các tài liệu tham khảo cũng đề nghị kiểm chứng thí nghiệm bằng các thực nghiệm trực tiếp trên thực vật hoặc động vật

Với phương pháp chiết tách của Tessier và nnk,1979 và thực nghiệm trên cỏ Vetiver Luận văn đã đạt được một số kết quả sau:

- Hàm lượng dạng linh động của Zn là cao (11,55-26,47%)

- Hàm lượng dạng linh động của Cu từ 0,114%-1,5%

- Hàm lượng dạng linh động của Cr cao nhất chỉ chiếm 0,05%

Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp tính linh động của kim loại Zn, Cr, Cu và % các hợp phần mà kim loại liên kết Một tỷ lệ lớn của hàm lượng tổng của kim loại Zn được chiết tách ở dạng linh động (11,55-26,47%), kết quả này có thể dùng để đánh giá những rủi ro môi trường Tuy nhiên, có một tỷ lệ lớn hợp phần dạng liên kết với các hợp chất của sắt oxyt và mangan oxyt đây là hợp phần cũng khá linh động trong môi trường Phần trăm của kim loại nặng ở dạng liên kết với các hợp chất hữu cơ (pha dễ

bị oxy hoá) thì ít hơn và những kim loại tồn tại trong dạng này thì sự hoà tan vào môi trưòng thấp và trong môi trường acid và oxy hoá mạnh thì những kim loại này dễ bị phóng thích vào trong môi trường Cu liên kết chủ yếu với hợp chất hữu cơ trong môi trường (47,16-82,437%) tạo ra hợp chất bền Cr liên kết với hợp chất Fe oxyt và Mangan oxyt là chủ yếu (51,8-96%), đây có thể xem là cơ chế chính trong việc cố định Cr Khả năng linh động của Cr rất kémnên Cr hầu như không hoà tan vào trong nước, nếu có thì rất ít

Sau khi trồng được 2 tháng cỏ Vetiver hấp thu kim loại nặng vào rễ Zn: 4850ppm; Cu: 455ppm; Cr: 118ppm

Trang 15

một hệ thống xử lý hoàn chỉnh để xử lý trầm tích sông rạch bị ô nhiễm kim loại nặng Tác dụng của công nghệ xanh này nhằm phục hồi các con sông và kênh rạch “chết” ở Việt Nam

`

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1 1 ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ Ở TPHCM

1.1 1 Khái quát

Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống thoát nước từ đầu thời kỳ thuộc địa Hệ thống được mở rộng trong những năm chiến tranh và sau một thời gian dài không được chú ý và đầu tư thoả đáng Thành phố Sài Gòn cũ được phát triển trong một thời gian dài, có mô hình đại lộ rộng và cơ sở hạ tầng phát triển tương đối tốt nhưng chỉ giới hạn trong một phạm vi hẹp là ở các quận trung tâm Thành phố ngày nay (Quận 1,3, 5, 10, 11, Phú Nhuận, Bình Thạnh) Bắt đầu từ thập niên 1950, quá trình đô thị hoá tự phát làm mọc lên những căn nhà ổ chuột hỗn độn, những con đường chật hẹp không được quy hoạch và cơ sở hạ tầng nghèo nàn xây dựng chỉ để phục vụ những nhu cầu thoát nước cơ bản của dân cư lánh nạn chiến tranh hoặc những người di dân nghèo từ nông thôn Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá bắt đầu diễn ra với tốc độ ngày càng tăng trong khi các hệ thống thoát nước thì không được đầu tư phát triển và mở rộng tương xứng, và kết quả là quá tải các hệ thống thoát nước đô thị, thường xuyên gây ngập úng nhiều nơi trong thành phố và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nhân thức sâu sắc vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển đô thị, từ năm 1993 đến nay, các hệ thống thoát nước của thành phố đã được sự quan tâm lớn của Chính phủ và các cấp chính quyền thành phố mà điển hình là Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè Khu vực trung tâm và vùng ven thành phố hiện có 5 lưu vực thoát nước chính là lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hoá- Lò Gốm, Tàu Hũ – Bến Nghé, kênh Đôi – kênh Tẻ và Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật Nước thải trên các lưu vực này được thoát vào mạng lưới thoát nước chung dẫn ra các kênh rạch nói trên hoặc thoát trực tiếp vào kênh rạch và từ đó đổ ra sông Sài Gòn và các sông lớn khác ở phía Tây Nam thành phố Sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hoá tự phát với việc hình thành các căn nhà xây cất trên kênh rạch hoặc lấn chiếm lòng kênh rạch thải trực tiếp các chất thải sinh hoạt xuống kênh cộng với việc xử lý nước thải yếu kém đã làm cho các kênh rạch tiêu thoát nước của thành phố bị bồi lấp nhanh chóng, khả năng chuyển tải nước ra sông lớn kém cộng thêm các ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều và cường độ mưa lớn làm cho nhiều khu vực ở thành phố bị ngập úng, hôi thối và ô nhiễm vào mùa mưa

Hệ thống thoát nước đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại là hệ thống thoát chung cho cả nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và nước mưa Hệ thống này bao gồm mạng lưới cống ngầm và mương hở đảm nhận chức năng thu gom, vận chuyển và thải bỏ nước thải ra kênh, rạch và cuối cùng đổ ra sông Sài Gòn ở phía Đông khu trung tâm thành phố

Trang 17

Toàn bộ hệ thống thoát nước đô thị của thành phố được phân thành 4 cấp như sau:

™ Cấp 1: bao gồm các kênh rạch lộ thiên ở khu vực nội thành và ven đô, có

chức năng tiếp nhận các loại nước thải từ các cửa xả và nước mưa trên lưu vực thoát nước và chuyển tải chúng ra sông Sài Gòn Kênh cấp 1 còn được chia ra thành 2 loại : cấp 1A và cấp 1B Loại kênh cấp 1A là các kênh rạch hở thoát nuớc tự nhiên, sẽ chỉ cải tạo nhỏ Loại kênh cấp 1B sẽ phải được cải tạo nhiều (hoặc cải tạo thành cống cấp 2) Hệ thống kênh cấp 1 có chiều dài tổng cộng khoảng 92,5 km Bao gồm 05 hệ thống kênh rạch cùng với các chi lưu ở nội thành và ven đô, đó là: hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, hệ thống kênh Tân Hoá- Lò Gốm, hệ thống kênh Đôi – kênh Tẻ, hệ thống kênh Tàu Hũ – Bến Nghé, và hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật

nước từ các tuyến cấp 3 và chuyển tải nước vào hệ thống kênh cấp 1 Cống cấp 2 bao gồm 3 loại : cống vòm, cống bêtông cốt thép và cống hộp Các cống vòm đã quá cũ và bị hư hỏng, sụp nhiều, hiện đang được cải tạo thành cống hộp Cống cấp 2 tương đối lớn, đường kính hoặc bề rộng cống ≥ 1m và chôn sâu từ 2 –5m

năng thu nước từ các tuyến cấp 4 và đổ vào tuyến cấp 2 Các cống cấp 3 nhìn chung thường có đường kính từ 600- 800mm hoặc cống vòm 400-800mm, 600-800mm

™ Cấp 4: bao gồm các tuyến cống trong hẻm hay trên các trục đường nội bộ

nối vào cống cấp 3, có đường kính thường dưới 600mm

Một số thông tin cơ bản về hệ thống thoát nước đô thị Thành phố Hồ Chí Minh được dẫn ra trong Bảng 1-1

Trang 18

Bảng 1-1 Phân cấp hệ thống thoát nước đô thị TPHCM

- Cống Vòm

- Bêtông cốt thép

- Cống Hộp

1.054.750

300.000 690.230 64.520

xả

- 95 tuyến xả

- Cống Vòm quá cũ và hư sụp

- Các cống khác còn sử dụng được

3 Cống

cấp 3

Tiếp nhận nước thải từ cống cấp 4 và đổ vào cống cấp 2

4.250.000 24.000 Có đường kính

lớn hơn 400mm, do Cty

TNDT quản lý

4 Cống

cấp 4 Thu nước mặt và nước thải của khu

vực đổ vào cống cấp

3

huyện quản lý

Nguồn: Công ty thoát nước đô thị, 1995

1.1.2 Đặc điểm của 5 hệ thống kênh rạch tiêu thoát nước của thành phố

Khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh có 5 hệ thống kênh rạch chính với tổng chiều dài khoảng 55 km đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho khu vực nội thành, bao gồm:

• Hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè;

• Hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm;

• Hệ thống kênh Tàu Hũ – kênh Đôi – kênh Tẻ;

Trang 19

• Hệ thống kênh Bến Nghé;

• Hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật;

Độ dốc của phần lớn các kênh rạch này là rất nhỏ, đáy kênh thì bị lấp đầy bởi các vật chất lắng đọng từ nước thải đô thị và rác từ các hộ dân cư sinh sống trên và ven kênh rạch cũng như các ghe xuồng buôn bán trên sông, do đó khả năng thoát nước rất kém Nét đặc trưng của hệ thống kênh rạch thành phố là bị ảnh hưởng mạnh bởi thuỷ triều Kết quả là các chất ô nhiễm tồn đọng lại trong kênh và đang

bị tích tụ dần Sự ô nhiễm nước và tích tụ bùn lắng trên các kênh rạch này không chỉ làm xấu cảnh quan đô thị, đặc biệt khu vực gần phía trung tâm thành phố, mà còn ảnh hưởng không tốt đối với sức khoẻ cộng đồng

Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè chảy trên vùng trũng thấp của khối đất xám phát triển trên phù sa cổ có độ cao khoảng 8m, chủ yếu là cát pha sét Đây là hệ thống thoát nước chính tự nhiên cho nhiều lưư vực thuộc các quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh (Tân Bình, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh, quận 10, quận 3 và quận 1) đổ ra sông Sài Gòn Hệ thống này có lưu vực khoảng gần 3000 ha, chiều dài dòng chính của kênh là 9470m, các chi lưu có chiều dài tổng cộng 8716m Khi chưa nạo vét, ở đầu nguồn, kênh chỉ rộng từ 3 –5m, nhưng đến gần cửa sông, chiều rộng mở ra đến 60 – 80m và sâu 4 –5m Dọc theo kênh có 52 cửa xả Mặc dù có chiều dài khá xa nhưng độ chênh lệch giữa cao độ địa hình đầu nguồn (Tân Bình) và cuối nguồn (sông Sài Gòn) quá thấp, chỉ khoảng 1m Mặt khác, dòng kênh phải qua nhiều khúc uốn từ đoạn cầu Lê Văn Sỹ đến cầu Bông nên mức độ chuyển tải các chất thải ra sông Sài Gòn rất kém

Trong suốt quá trình phát triển của Thành phố, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đã từng (và vẫn tiếp tục) là nguồn tiếp nhận chất thải nói chung của mọi hoạt động dân sinh, dịch vụ, thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên lưu vực Thế nhưng tất cả các chất thải đó đến nay hầu như vẫn chưa được xử lý mà thải trực tiếp vào kênh rạch gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng Hơn thế nữa, nạn lấn chiếm lòng kênh rạch để xây cất nhà ở (hệ quả của quá trình đô thị hoá và phát triển dân số thiếu quy hoạch) của hàng vạn căn nhà ổ chuột trên hệ thống này hằng ngày đã thải trực tiếp các loại rác như phân, rác, xác súc vật xuống mặt nước càng làm tăng thêm mức độ ô nhiễm nguồn nước, thu hẹp dòng chảy gây bít tắt dòng chảy và làm mất vẻ mỹ quan đô thị một cách trầm trọng Ngoài ra do các yếu tố khách quan, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông Nên khi nước lớn , nuớc thải trên kênh rạch chưa kịp thoát ra sông Sài Gòn đã bị thuỷ triều dồn ứ đọng vào sâu trong rạch và trong đường cống, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích tụ các chất ô nhiễm và bồi lắng lòng kênh rạch, gây khó khăn lớn cho việc thoát nước của hệ thống này

Trang 20

Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn có các rạch nhánh:

- Rạch Văn Thánh: dài 2.200m, nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh Trước đây, có khả năng lưu thông thuỷ, nay đã bị bồi lấp nhiều, mất dần khả năng giao thông thuỷ và khả năng thoát nước

- Rạch Cầu Sơn – Cầu Bông : dài 3.950m, cũng nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh và ăn thông với rạch Văn Thánh Tuyến rạch này hiện nay cũng bị bồi lấp nhiều

- Rạch Bùi Hữu Nghĩa: là một tuyến rạch nhỏ dọc theo đường Bùi Hữu Nghĩa, thuộc địa bàn quận Bình Thạnh

- Rạch Phan Văn Hân: nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh Nay đã bị lấp gần kín

- Rạch Ông Tiêu: thuộc khu qui hoạch Miếu Nổi, thuộc địa bàn quận Phú Nhuận

- Rạch Miếu Nổi: thuộc khu quy hoạch Miếu Nổi, thuộc địa bàn quận Phú Nhuận

- Rạch bùng binh

Hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm nằm trong khu cận trung tâm của nội thành Thành phố Hồ Chí Minh , tuyến kênh chính có chiều dài khoảng 7,6 km chạy từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam Thành phố đi ngang qua các quận: Tân Bình, quận 11, quận 6, quận 8 và kết thúc tại điểm nối với kênh Tàu Hũ

Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm còn có các rạch nhánh:

- Rạch Đầm Sen: rộng 6-8m, dài khoảng 300m, nằm trên địa bàn quận 11 Rạch này nối với khu công viên Đầm Sen và có một nhánh là rạch Cầu Mé đảm nhận chức năng thoát nước cho khu vực Hàn Hải Nguyên- Minh Phụng- Lạc Long Quân Rạch Cầu Mé đã lập dự án đầu tư cải tạo thành cống hộp, còn rạch Đầm Sen được giữ lại sau khi thực hiện các biện pháp làm sạch, chỉnh trang kết hợp với công viên Đầm Sen phục vụ nghỉ ngơi, giải trí

- Rạch Bến Trâu: rộng 4-8m, dài 1.000m, là ranh giới hành chính giữa 2 quận: Tân Bình và quận 6, đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho Xí nghiệp Thực phẩm Cầu Tre (1200m3 nước thải/ngày) và khu vực dân cư, tiểu thủ công nghiệp lân cận Rạch này đang bị bồi lấp, lấn chiếm và ô nhiễm rất nặng Rạch Bến Trâu còn có một nhánh là kênh Hiệp Tân, hiện đang được cải tạo lại Đoạn đầu là cống kín còn đoạn sau là mương hở kè đá nhưng chưa phát huy tác dụng vì rạch Bến Trâu đã bị lấp

- Rạch Bà Lài: rộng khoảng 10m, dài 1200m, thoát nước cho khu phía Tây quận 6, nhiều đoạn bị san lấp, gây tình trạng ngập úng cục bộ do bị cắt mất

Trang 21

nguồn thoát, cần có sự nghiên cứu giải quyết gấp để phục vụ thoát nước và phù hợp với kế hoạch san lấp

- Kênh Thúi: rộng 2m, dài 720m, thoát nước cho khu vực phường 19 quận Tân Bình, hiện không còn khả năng thoát nước, gây ngập và ô nhiễm nặng nề cho khu vực, đã lập dự án đầu tư cải tạo kênh thành cống kín

- Một phần kênh Hàng Bàng: từ đường Bình Tiên đến rạch Lò Gốm, rộng 2m, dài 300m Gây ngập cho một phần khu vực quận 6

1,5-Lưu vực kênh Tân Hoá- Lò Gốm có diện tích khoảng 1.484ha, trải rộng ra 5 quận: Tân Bình, quận 11, quận 6, quận 8 và Bình Chánh Độ sâu nguyên thuỷ của kênh này là 6m, giờ đây giảm chỉ còn 2,5-3m hoặc thậm chí bị lấp gần đầy bởi bùn và rác rưởi như ở đoạn từ cầu Phú Lâm đến thượng nguồn Kênh này đảm nhận chức năng tiêu thoát nước cho các quận nói trên Đáy kênh vừa nhỏ lại hẹp và bị lấn chiếm bởi các căn hộ xây cất bất hợp pháp Kênh còn bị ảnh hưởng bởi thuỷ triều cũng như mực nước tăng lên ở sông Cần Giuộc Aûnh hưởng triều chỉ biểu hiện rõ ở phần kênh phía hạ lưu từ cầu Hậu Giang trở ra, phần còn lại của kênh đã bị tắc nghẽn cùng với nước thải gây ra vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng

Việc xây cất lấn chiếm bừa bãi ven kênh gây trở ngại lớn đến dòng chảy và là nguồn gây ô nhiễm quan trọng do tình trạng thiếu các phương tiện vệ sinh, các chất thải được xả trực tiếp xuống dòng kênh Mặt khác, công tác duy tu bảo dưỡng thường kỳ cũng khó thực hiện vì không có đường công vụ cho xe máy thi công Chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều trên sông Sài Gòn và do lưu lượng nước thải rất nhỏ so với khả năng thoát nước của kênh Vào mùa khô, phần lớn nước thải từ cầu Tân Hoá trở lên thượng nguồn bị lưu giữ nhiều ngày trên kênh, phần còn lại được thau rửa hàng ngày bởi nước sông Cần Giuộc đưa vào pha loãng Tình trạng này biến đoạn kênh từ thượng nguồn đến cầu Tân Hóa thành một hồ sinh vật tự nhiên, hoạt động chủ yếu trong môi trường kỵ khí ( lượng oxy hoà tan bổ sung qua bề mặt nước rất nhỏ do dòng chảy chậm)

Hệ thống kênh Tàu Hủ – kênh Đôi – kênh Tẻ được đào vào năm 1819 nằm ngay ở phía Nam quận thương mại trung tâm thành phố Hệ thống kênh này chảy qua 7 quận: 4, 5, 6, 7, 8 và 11 với tổng độ dài 19,5km Kênh bị giới hạn bởi rạch Cần Giuộc và sông Sài Gòn ở hai đầu, nhận nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp từ các quận đã nói ở trên Hơn nữa, việc xả trực tiếp rác từ các cư dân và ghe xuồng trong các quận này và các căn hộ lụp xụp xây cất bất hợp pháp đã làm xấu đi tình trạng môi trường của các kênh Kênh còn bị ảnh hưởng bởi thuỷ triều từ hai hướng

Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống này còn có rất nhiều các kênh, rạch nhánh và các chi lưu ăn thông ra các sông lớn: Sài Gòn, Nhà Bè

- Rạch Ụ Cây: dài 1.150m hiện đã bị lấn chiếm và bồi lắng

Trang 22

- Rạch Ông Nhỏ 1.700m

- Rạch Xóm Củi 1.100m

- Rạch Bà Tàng 2.050m

- Kênh Ngang số 1 450m

- Kênh Ngang số 2 450m

- Kênh Ngang số 3 450m

- Kênh Hàng Bàng 1.700m

Hệ kênh này chịu ảnh hưởng của thuỷ triều từ sông Sài Gòn và sông Cần Giuộc nên chế độ thuỷ văn của kênh rất phức tạp, hình thành những vùng giáp nước, ô nhiễm tích tụ lại và khó thau rửa

Hiện tại, mặt cắt kênh vẫn còn khá rộng nhưng cạn vì bị bồi lắng Tuyến kênh này ngoài nhiệm vụ thoát nước còn giữ chức năng rất quan trọng là giao thông thuỷ Nhưng lưu lượng tàu thuyền đi lại trên tuyến đã bị giảm sút rõ rệt vì rạch đã

bị cạn, không đảm bảo độ sâu chạy tàu, thời gian chờ tàu khá lâu và thường bị kẹt rác

Kênh Bến Nghé bắt đầu từ cửa sông Sài Gòn đến cầu chữ Y dài 3,15km Cao độ đáy chênh lệch là 0,61m, độ dốc đáy rạch 0,019%, tại cửa rạch Bến Nghé là sông Sài Gòn bờ trái có bãi đất bồi cao độ lên đến 1-1,2m so với đáy kênh hiện hữu

Dân sống hai bên bờ, thường dùng những mặt nước trống này trồng rau muống thành những bãi lớn làm hạn chế thoát nước của cửa rạch ra sông Sài Gòn Mặt cắt lớn nhất của kênh là 88- 92m, nhỏ nhất là 60-58m Cao độ đáy rạch từ 2,2m cho đến 1,87m Ở giữa kênh phần mặt cắt bị thu hẹp cao độ 1,75m

Như vậy kênh Bến Nghé có đặc điểm: sâu và rộng ở hai đầu; hẹp và cạn ở giữa Dọc kênh là hai con đường, đường bến Vân Đồn ở quận 4 và đường bến Chương Dương ở quận 1

Dân chúng ở hai bên bờ kênh xây cất nhà lấn chiếm lòng kênh xả rác Hơn nữa, phía quận 1 có Chợ Cầu Mối, Chợ Cầu Ông Lãnh cũng là nơi tập trung nhiều rác rưởi, và kênh lại trở thành những bãi đổ rác của chợ này ( rác của chợ này gồm các loại vỏ sò, vỏ hến, rau quả thối, cá tôm chết hay các chất thải khác) làm bồi lắng lòng kênh, cản trở dòng chảy

Dọc theo chiều dài của rạch có 21 cửa xả chính của hệ thống thoát nước đổ ra rạch Các cửa xả này hiện bị xả rác bừa bãi, chỉ hoạt động được từ 60-80% so với thiết kế ban đầu

Tuyến Tham Lương – Bến Cát- Vàm Thuật là một tuyến rạch quan trọng ở phía Bắc thành phố, nằm ngay ranh giới nội thành (cũ) của TpHCM Tuyến kênh dài 12km, trong đó đoạn Vàm Thuật hiện còn rất rộng, lưu thông thuỷ và thoát

Trang 23

nước khá tốt Riêng đoạn kênh Tham Lương, từ cầu Chợ Cầu đến thượng nguồn đã

bị bồi lấp, thu hẹp dòng chảy và ô nhiễm đến mức bao động Tại đây, có khá nhiều

xí nghiệp công nghiệp như: thực phẩm Vifon, dầu Tường An, dệt Thắng Lợi, dệt Thành Công… Xả nước thải ra kênh, thuỷ triều không đủ để thau rửa nên đã tích tụ

ô nhiễm khá trầm trọng

Các thông tin thu thập đuợc liên quan đến các hệ thống kênh rạch nội thành Thành phố Hồ Chí Minh được dẫn ra trong bảng 1-2

Bảng 1-2 Một số đặc điểm chính của 5 hệ thống kênh rạch nội thành

TT

Tên kênh, rạch Chiều

dài (m)

Số lượng cửa xả

Diện tích lưu vực

thoát nước (km2)

Các quận huyện nằm trên lưu vực

1 Nhiêu Lộc – Thị

Nghè

Các chi lưu

9.3768.716

52 31.668 Tân Bình, Phú Nhuận,

Gò Vấp, Bình Thạnh,

10, 3,1

2 Tàu Hủ- Bến Nghé

Các chi lưu

12.4293.950

34 61.726 Quận 1,4, 5, 6, 8

3 Kênh Đôi- Kênh Tẻ

Các chi lưu

13.5477.300

4 Tân Hoá – Lò Gốm

Các chi lưu 7.7734.920 13 20.224 Tân Bình, 11, 6,5

5 Tham Lương – Vàm

Thuật

Các chi lưu

14.97611.550 12 107.569 Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh, Hóc Môn

Tổng chiều dài các kênh rạch chính : 8.101 m

Tổng chiều dài các chi lưu : 6.436m

Tổng số miệng xả chính trên kênh rạch nội thành : 120

Tổng số miệng xả trực tiếp ra sông Sài Gòn : 12

Nguồn : công ty Thoát nước Đô thị – Công ty Tư vấn Quốc tế PACIFIC, 1998

Hệ thống sông ngòi, kênh rạch thành phố nhìn chung chịu tác động của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông, do đó khi nước lớn , nước thải trên kênh rạch chưa kịp thoát hết ra sông lớn đã bị thuỷ triều dồn ứ trở lại vào sâu trong kênh, rạch và thậm chí trong đường cống, gây khó khăn cho việc thoát nước, đặc biệt là vào thời điểm mưa to kết hợp với triều cường Việc ứ đọng nước ngoài việc gây khó khăn cho việc đi lại còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc trầm lắng và tích tụ các chất ô nhiễm

Trang 24

Thành phố Hồ Chí Minh cũng như nhiều thủ đô ở Đông Nam Châu Á ngày càng phát triển rộng hơn Sự phát triển đô thị và xu thế đô thị hoá với sự tăng dân số đô thị 2,3% thường xuyên ảnh hưởng đến xã hội và thành phố do nhu cầu cao hơn về dịch vụ, cơ sở hạ tầng đầy đủ, sử dụng đất đô thị, cung cấp đủ nước sạch Việc tăng dân số đô thị và phát triển đô thị đòi hỏi tăng quy mô đô thị, tăng các hoạt động kinh tế, công nghiệp Do đó, hệ thống kênh rạch ngày càng ô nhiễm trầm trọng do phần lớn nước thải sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ hầu như không được xử lý mà thải trực tiếp xuống hệ thống cống hoặc ra kênh rạch Ngoài ra, rác từ các ghe tàu đi lại và neo đậu trên kênh rạch hoặc từ các căn hộ ven kênh đổ bừa bãi xuống dòng nước làm cho kênh rạch bị bồi lắng nhanh chóng và khả năng tiêu nước của hệ thống này giảm đi khoảng 50 – 60%

1.1.3 Đặc điểm phân bố công nghiệp trên các lưu vực thoát nước

Do đặc điểm địa lý lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè nằm trên địa bàn các quận trung tâm thành phố (Quận Tân Bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Quận 3, Quận

10, Quận 1), giá đất đai rất đắt nên phần lớn đất được sử dụng cho các mục đích phát triển đô thị là chính, các hoạt động sản xuất công nghiệp được xem là kém phát triển nhất trong số 5 lưu vực thoát nước chính của thành phố Tuy vậy, theo Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thoát nước Nhiêu Lộc – Thị Nghè của Sở Giao thông Công Chánh (được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới – WB, Quỹ Viện trợ Nhật Bản, Quỹ viện trợ số 025527 – Thực hiện bởi Camp Dresser & McKee International – CDM, tháng 5/1999) thì lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè hiện có 108 nhà máy hay hợp tác xã công nghiệp và khoảng 2000 cơ sở TTCN Hầu hết các cơ sở này đều có quy mô nhỏ cho đến vừa thuộc các thành phần kinh tế tư nhân và cá thể là chính, do các gia đình quản lý, được phân bố rải rác xen lẫn các khu dân cư đông đúc Trên lưu vực đang xét, không có các xí nghiệp , nhà máy qui mô lớn vì không có đủ tiền cho một mặt bằng đủ lớn vốn rất đắt đỏ để sử dụng cho các quy trình sản xuất lớn, cũng như để xây dựng các hệ thống xử lý nước thải công nghiệp Cũng vì các lý do này mà hầu hết các cơ sở công nghiệp trên lưu vực đều không tiến hành xử lý nước thải mà xả thẳng vào hệ thống cống thoát nước của thành phố hoặc xả trực tiếp ra kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè

Một số cơ sở công nghiệp có tải lượng ô nhiễm nước thải cao nằm trên lưu vực thoát nước của hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè:

Quận 3:

- Công ty Nước giải khát TRIBICO (121 – Bà Huyện Thanh Quan)

- Công ty Chế biến hàng XK Tân Định (chế biến hải sản) – 266 Nam Kỳ Khởi Nghĩa;

Trang 25

Quận Phú Nhuận:

- Xí nghiệp bánh kẹo Grival – 144 Nguyễn Văn Trỗi

- Xí nghiệp chế biến thực phẩm Phú Nhuận (Mì ăn liền) – 573 Nguyễn Kiệm

- Xí nghiệp Mì ăn liền Seaprodex – Khu công nghiệp phường 9

- Công ty chế biến thực phẩm Nguyễn Hồng (Mì ăn liền) – 145 Nguyễn Đình Chính

- Xí nghiệp Cao su Y tế – 38 Trương Quốc Dung

- Công ty Sapina Denzo Saigon ( Hoá chất – sơn nuớc) – 92 Nguyễn Trọng Tuyển

Quận Bình Thạnh:

- Nhà máy Bia VICCO Saigon – 2W Xô Viết Nghệ Tĩnh

- Phân xưởng Nước giải khát Bến Thành – 169 Nơ Trang Long

- Công ty liên doanh Vinabico – Kotobuki(bánh kẹo) – 436 Nơ Trang Long

- Công ty Vissan (giết mổ và chế biến thực phẩm) -420 Nơ Trang Long

- Công tyTNHH Hải Vương (chế biến hải sản) – 48/10 Điện Biên Phủ

- Công ty Dệt may Gia Định (dệt nhuộm)

- Xí nghiệp Sơn Bạch Tuyết – 414 Nơ Trang Long

Thành phần và tính chất của nước thải đô thị thuộc lưu vực này chủ yếu bị ảnh hưởng bởi nước thải sinh hoạt mà ít bị ảnh hưởng bởi nước thải công nghiệp như các lưu vực khác Sự dao động thành phần và tính chất nước thải đô thị theo không gian và thời gian không nhiều

Lưu vực này tập trung khá nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (TTCN) Các cơ sở này phân tán rộng trên khắp lưu vực với qui mô vừa và nhỏ và có lịch sử phát triển rất khác nhau, thay đổi rất linh hoạt (về số lượng và mặt hàng) theo nhu cầu thị trường, chủ yếu là các nghành sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong các lĩnh vực hàng tiêu dùng và thực phẩm Hầu hết các cơ sở công nghiệp trên lưu vực đều không có công trình xử lý ô nhiễm, đặc biệt là nước thải với lưu luợng lớn và nồng độ ô nhiễm cao, thải ra từ các nghành công nghiệp có công nghệ lạc hậu, lượng nguyên liệu thất thoát theo nước thải lớn như công nghiệp đường, cồn, rượu, dệt nhuộm…., từ đó gây ô nhiễm nặng nề cho hệ thống kênh Tân Hoá – Ông Buông – Lò Gốm

Địa bàn công nghiệp và TTCN trên lưu vực Tân Hoá – Lò Gốm ( phần chủ yếu trải dài trên địa bàn 3 quận: Tân Bình, Q11 và Q6) có mặt hầu như đầy đủ các loại hình sản xuất công nghiệp tiêu biểu của thành phố Việc phân loại các cơ sở sản xuất gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân ( các cơ sở sản xuất nhiều khi không có mặt hàng cố định hoặc sản xuất nhiều mặt hàng trong cùng một cơ sở,…)

Trang 26

‰ Hiện trạng sản xuất TTCN trên lưu vực

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp là một thế mạnh tại khu vực đang xét Đặc điểm của sản xuất tiểu thủ công nghiệp như qui trình công nghệ, nguyên liệu, sản phẩm, … đều mang tính đặc trưng của một nghành sản xuất nhỏ, qui mô gia đình và mang tính thủ công cao Hầu hết các loại hình TTCN đều có mặt tại khu vực này và tạo nên một bức tranh kha đa dạng về nền sản xuất TTCN của thành phố Hầu hết các cơ sở sản xuất đều đã tồn tại từ lâu (từ trước giải phóng), trải qua nhiều thăng trầm trong việc sản xuất kinh doanh đưa đến việc giải thể một vài cơ sở hoặc phát triển mạnh mẽ hơn ở một số cơ sở khác Đây cũng là nguồn sống chính của nhân dân trong khu vực, trong số này có một số nghành sản xuất mang tính cha truyền con nối (tiêu biểu là ở bộ phận cư dân người Hoa ), hình thành nên các

“làng nghề” truyền thống như: Làng Cồn – Rượu, Bún, Miến, Dệt Nhuộm,…

Qui mô và doanh thu ở các cơ sở sản xuất TTCN ngày càng được nâng cao và song song với điều này là việc đổi mới dần dần công nghệ hầu hết các nghành sản xuất, trước tiên là các nghành như dệt, nhuộm, nhựa,….Tuy vậy, nhìn chung nền sản xuất TTCN ở khu vực đang xét vẫn còn ở trong tình trạng lạc hậu và không đồng bộ Phần lớn các hoạt động sản xuất vẫn còn là thủ công, sử dụng sức lao động là chính Các cơ sở sản xuất TTCN trong khu vực vẫn là nguồn giải quyết công ăn việc làm chính cho phần lớn ngưòi dân sở tại

‰ Hiện trạng sản xuất công nghiệp

Hiện trạng các nghành công nghiệp trên lưu vực kênh Tân Hoá – Lò Gốm rất

đa dạng Cùng với sự hình thành và phát triển của khối TTCN tại khu vực, các xí nghiệp công nghiệp cũng đã dần dần đi vào hoạt động, trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau và ngày nay, nơi đây đã hình thành một khu công nghiệp tập trung với nhiều loại hình sản xuất đa dạng và phong phú

• Kết quả điều tra khảo sát tại các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp lớn nhỏ trên địa bàn khu vực do Trung ương và Thành phố quản lý cho thấy một vài điểm đặc trưng cho các nghành công nghiệp ở khu vực này:

- Các loại hình công nghiệp ở khu vực này rất đa dạng, có mặt gần như đầy đủ các loại hình công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước Tuy nhiên, các nghành sản xuất có cùng tính chất lại thường phân bố rất phân tán ( không mang tính tập trung cao);

- Nguyên liệu và sản phẩm khá đa dạng và thay đổi theo tình hình và nhu cầu của thị trường, thích ứng với cơ chế mới Các nhà máy, xí nghiệp đã năng động trong việc hoạch định hướng sản xuất của cơ sở mình;

- Trình độ công nghệ và máy móc thiết bị cũng khá đa dạng, từ rất thô sơ đến hiện đại, tiên tiến

Trang 27

- Các cơ sở công nghiệp có nhiều nơi nằm đan xen trong khu dân cư đông đúc, mặt bằng chật hẹp, gây ra những ảnh hưởng môi trường cho cư dân xung quanh

Các khu vực công nghiệp mang tính tập trung nhất trên lưu vực kênh Tân Hoá – Lò Gốm là dọc hai bên Hương Lộ 14 (phường 19 và 20 – quận Tân Bình), cụm công nghiệp phường 13 – Tân Bình, ven trục đường Aâu Cơ từ Hương Lộ 2 đến Bà Quẹo

Việc phân loại các xí nghiệp công nghiệp cũng gặp phải nhiều khó khăn Tuy nhiên, về mặt ô nhiễm nặng do nước thải công nghiệp, có thể phân chia ra một số nhóm nghành sau:

9 Ngành dệt nhuộm: các cơ sở công nghiệp lớn trong khu vực này là:

- Công ty Dệt Chấn Á (Hương lộ 14, P20 và đường Aâu Cơ, P10 – Tân Bình);

- Công ty Dệt nhuộm Tân Bình (Hương lộ 14, P10 – Tân Bình);

- Xí nghiệp Dệt khăn Sài Gòn (Hương 14)

( Cả 3 cơ sở công nghiệp trên cùng với Xí nghiệp Dệt 6 đã hợp nhất lại và thành lập nên Công ty Dệt Sài Gòn )

- Công ty tư nhân Dệt nhuộm Phú Hoà (Hương lộ 2 – P13 – Tân Bình)

- Công ty Dệt Đông Á (đường Aâu Cơ, P5 – Q11)

- Công ty Dệt Đông Phương (đường Aâu Cơ, P17 – Tân Bình)

- Công ty Dệt Đông Nam,

9 Ngành công nghiệp thực phẩm: các cơ sở công nghiệp lớn trong khu vực này là:

- Xí nghiệp quốc doanh chế biến thực phẩm xuất khẩu Cầu Tre ( Hương lộ 14, P20– Tân Bình);

- Công ty chế biến thuỷ đặc sản Seaspimex (đường Hoà Bình – P20 – Tân Bình)

- Xí nghiệp Đông Lạnh 1(đường Bình Thới – P14 – Quận 11)

- Nhà máy đồ hộp Mỹ Châu (Hương Lộ 14- P20- Tân Bình)

- Xưởng đông lạnh của Công ty Animex (Hương Lộ 14 – P20 – Tân Bình)

- Xí nghiệp chế biến Hải sản chợ lớn (góc đường Lạc Long Quân – Tân Hoá – Q11)

- Công ty Chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương (đường Hùng Vương – Q6)

- Xí nghiệp liên doanh đông lạnh hải sản Viettrosco (đường Bình Thới – Q11)

- Công ty TNHH Nông hải sản Nhan Hoà (đường Hoà Bình – P20 – Tân Bình)

- Các Công ty chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu thuộc địa bàn các quận Tân Bình, quận 6, quận 11,

9 Ngành giấy – bột giấy: các cơ sở công nghiệp lớn trong khu vực này là:

- Xí nghiệp Giấy Mai Lan (đường Aâu Cơ – P19 – Tân Bình)

- Công ty Giấy Viễn Đông (đuờng Aâu Cơ – P19 – Tân Bình)

Trang 28

- Xí nghiệp Giấy Thanh Bình (đường Nguyễn Văn Luông – Quận 6)

- Công ty Bông Bạch Tuyết (đường Aâu Cơ – Tân Bình)

- Công ty liên doanh Visingpack (Hương lộ 14 – P20 – Tân Bình)

- Và một số cơ sở sản xuất giấy – bột giấy khác

9 Ngành hoá chất công nghiệp: các cơ sở công nghiệp lớn trong khu vực này là:

- Công ty Bột giặt TICO (Hương lộ 14 – P20 – Tân Bình)

- Xí nghiệp thí nghiệm hoá màu (Sở Công Nghiệp) (Hương Lộ 14 – P20 – Tân Bình)

- Xí nghiệp mực in hoá chất (đường Hùng Vương – Q11)

Ngoài ra, trên lưu vực Tân Hoá – Lò Gốm còn có nhiều nhà máy, xí nghiệp qui mô vừa và lớn thuộc các nghành: Chế biến Cao Su, Nhựa, Cơ Khí,… Nằm phân tán trên khắp địa bàn Tuy nhiên, nước thải của các nghành công nghiệp này thường có lưu lượng nhỏ và mức độ ô nhiễm thấp nên không đề cập đến

Lưu vực này tập trung khá nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc địa bàn các quận Tân Bình, Bình Chánh, Gò Vấp, Hóc Môn và quận 12 Các nhà máy nằm trên lưu vực này thường có qui mô lớn do có điều kiện về mặt bằng

Một số cơ sở công nghiệp có tải lượng ô nhiễm nước thải cao nằm trên lưu vực thoát nước của hệ thống kênh Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật:

Quận Tân Bình:

- Nhà máy thực phẩm xuất khẩu Tân Bình ( đồ hộp) – 1/1 Cách mạng tháng 8

- Nhà máy Dầu Tân Bình (dầu ăn) – 6 Cách mạng tháng 8

- Nhà máy Dầu Tường An ( dầu ăn) 48/5 Hương Lộ 11

- Nhà máy Hoá chất Tân Bình – Hương lộ 11

- Công ty kỹ nghệ thực phẩm VIFON – 6/1 Cách mạng tháng 8

- Công ty TNHH Dệt Đông Hoà (dệt nhuộm) – 306/8 Cách mạng tháng 8

- Công ty Dệt Thắng Lợi (dệt nhuộm) - Cách mạng tháng 8

- Công ty Dệt Thành Công (dệt nhuộm) - Cách mạng tháng 8

Quận Gò Vấp:

- Công ty Kỹ nghệ Việt Tân (mì ăn liền) – 2 Nguyễn Oanh

- Công ty Chế biến thực phẩm XK Phú Cường (mì ăn liền) - 2 Nguyễn Oanh

- Công ty Chế biến thực phẩm Phú Mỹ (mì ăn liền) - 2 Nguyễn Oanh

- Công ty Chế biến thực phẩm Việt Trung (mì ăn liền) - 2 Nguyễn Oanh

- Công ty công nghệ thực phẩm Việt Hưng (mì ăn liền) – 12 Phan Văn Trị

- Xưởng Mì ăn liền (Cty Lâm Sản 7) - 12 Phan Văn Trị

- Công ty TNHH Mekong Gò Vấp (nước giải khát) – 161/807 Nguyễn Oanh

- Công ty công nghiệp Cửu Long (rượu nhẹ có gas) - 74/807 Nguyễn Oanh

- Xí nghiệp Hoá thực phẩm (nước tương) – 18 Nguyễn Hồng

Trang 29

- Xưởng nước tương (Cty Việt Tiến) – 90/2 Phạm Văn Chiêu – P12

- Cụm cơ sở sản xuất giấy Tân Hưng Thịnh

- Cụm cơ sở sản xuất giấy Thái Bình

- Cụm cơ sở sản xuất giấy Hưng Thịnh

- Cụm cơ sở sản xuất giấy Đại Thành Công

- Cụm cơ sở sản xuất giấy Huỳnh Ngọc

Một số cơ sở công nghiệp có tải lượng ô nhiễm nước thải cao nằm trên lưu vực thoát nước của hệ thống kênh Tàu Hũ – kênh Đôi:

Quận 5, 10:

- Nhà máy bia Sài Gòn

- Cty TNHH Sao Mai ( chế biến hải sản) – 120 Lý Thái Tổ

Quận 6:

- Nhà máy Rượu Bình Tây – 621 Phạm Văn Chí

- Nhà máy Mì ăn liền Bình Tây – 634 bis Phạm Văn Chí

- Doanh nghiệp tư nhân Cát Tường (men bánh mì) – 241/1/24 bis Nguyễn Văn Luông

- Xí nghiệp Pin 1/5 – 445 – 449 Gia Phú

- Nhà máy Lưới thép Bình Tây – 660 Phạm Văn Chí

Quận 8:

- Xí nghiệp nước chấm Nam Dương – 467 – 469 Bến Bình Đông

- Cty TNHH Rừng Hương (nước giải khát) – 125/53 Aâu Dương Lân

- XN Quốc doanh chế biến hàng XK (hải sản) – 49 Bến Bình Đông

- Cty Đông lạnh thuỷ sản 4 – 320 Hưng Phú

- Xí nghiệp Đông lạnh Việt Long (hải sản ) – 208 Nguyễn Duy

- Xí nghiệp Đông lạnh Thắng Lợi (hải sản ) - 157 Hưng Phú

- Xí nghiệp Sơn Đông Á ( sơn dầu hoá chất) – 1387 Bến Bình Đông

- Doanh nghiệp tư nhân May Đại Khánh (giặt , wash quần áo) – 2623 Phạm Thế Hiển

- Cụm cơ sở sản xuất giấy Phường 7

Lưu vực này có rất ít cơ sở sản xuất công nghiệp có tải lượng ô nhiễm nước thải lớn Phần lớn đất đai được sử dụng chủ yếu cho các mục đích nhà ở và thương mại, chỉ có một số nhỏ cơ sở tiểu thủ công nghiệp

Trang 30

NHẬN XÉT CHUNG:

Lưu vực kênh Tân Hoá- Lò Gốm là khu vực có nền sản xuất công nghiệp –

TTCN rất đặc trưng cho Thành phố Hồ Chí Minh Nơi đây tập trung tất cả các ngành sản xuất công nghiệp- TTCN tiêu biểu cho nền sản xuất công nghiệp của thành phố Các sản phẩm công nghiệp của khu vực này có một ý nghĩa hết sức quan trọng và góp phần đáng kể vào việc nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp trong cơ cấu GDP của thành phố Mặt khác, hệ kênh này có lợi thế là ở các quận vùng ven của thành phố gần nguồn nguyên liệu ngoại thành và các nguồn tiêu thụ sản phẩm (khu vực trung tâm thành phố), tình hình sản xuất công nghiệp- TTCN ở khu vực này đã liên tục phát triển và thích ứng với các đòi hỏi của nền kinh tế đất nước qua từng thời kỳ Việc hình thành và phát triển của nền sản xuất công nghiệp – TTCN trong khu vực này đã có từ trước giải phóng và không tuân theo nguyên tắc quy hoạch đô thị và hậu quả là gia tăng dân số và đô thị hoá như hiện nay Vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất công nghiệp kể trên ảnh hưởng đến cư dân trong khu vực đã trở thành một vấn đề thời sự Với mật độ phân bố dày đặc và rộng khắp các cơ sở công nghiệp – TTCN trên lưu vực kênh Tân Hoá- Lò Gốm đã có ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần và tính chất nước thải đô thị thuộc lưu vực này Các loại nước thải công nghiệp trên lưu vực hầu như chưa được xử lý thích đáng mà xả thẳng ra hệ thống thoát nước của thành phố hoặc xả trực tiếp ra kênh làm cho chất lượng nước kênh bị ô nhiễm trầm trọng Theo kết quả DO từ các đợt khảo sát từ năm 2001 đến năm 2006 nhận thấy giá trị DO tại các trạm cống Hoà Bình và Cầu Ông Buông luôn bằng 0 chứng tỏ ô nhiễm trên hệ thống kênh này đã kéo dài và không được cải thiện

Lưu vực kênh Tham Lương – Bến Cát tập trung khá nhiều cơ sở sản xuất

công nghiệp như nhà máy Dầu ăn, công ty dệt nhuộm, chế biến thực phẩm.Tại cầu Tham Lương có phân bố công nghiệp đa dạng nhất, các cơ sở này có quy mô lớn như: Bột ngọt và Mì ăn liền Vifon, Dầu Tưòng An, Dầu Tân Bình, Dệt Thành Công,… Các cơ sở này có hệ thống xử lý chất thải nhưng không nghiêm ngặt Vì vậy ô nhiễm tại đây rất cao Tuy nhiên, ô nhiễm trên hệ kênh này tăng nhẹ

Lưu vực kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè: tại đây tập trung các cơ sở sản xuất chủ

yếu về thực phẩm, hải sản với quy mô nhỏ và vừa Vì vậy, thành phần và tính chất của nước thải đô thị thuộc lưu vực này chủ yếu bị ảnh hưỏng bởi nước thải sinh hoạt mà ít bị ảnh hưởng bởi nước thải công nghiệp Ô nhiễm trên hệ kênh này giảm dần từ thượng nguồn xuống hạ lưu

Lưu vực kênh Tàu Hũ – kênh Đôi – kênh Tẻ: Lưu vực này tập trung khá

nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc địa bàn các quận 5, quận 6, 8 và một phần các quận 10, 11, 4, 8 Các cơ sở công nghiệp nằm trên lưu vực này rất đa dạng về quy mô và nghành nghề sản xuất Phần lớn có lịch sử hình thành lâu đời do cộng đồng người Hoa ở khu vực Chợ Lớn làm chủ Mức độ ô nhiễm của hệ thống kênh gia tăng từ 19 – 95000 lần so với 06 tháng đầu năm 2005

Trang 31

1.2 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KÊNH RẠCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.2.1 Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trên các kênh rạch

Một trong những khó khăn của Thành phố với mật độ dân số cao nhất và sự phát triển nhanh về kinh tế là thiếu về số và chất lượng nước mặt sạch cho các hoạt động nông nghiệp và công nghiệp, là việc nạo vét các kênh rạch và chuyên chở rác và thoát nước thải Các kênh rạch hiện có trong thành phố đuợc nạo vét và sử dụng để thoát nước do nhiều hoạt động công nghiệp trong các khu vực đô thị và nhiều sông nhánh nơi có mật độ cao nhất lại thiếu Oxy (O 2) Mức độ cao hơn của BOD5 ,COD và có số lượng amonium (NH4+) cao , một chỉ thị ô nhiễm phân và trên

10 triệu tác nhân gây bệnh trên 100ml nước ô nhiễm là chỉ thị về nhiễm khuẩn Hàng loạt kênh rạch và dòng chảy chứa các kim loại nặng độc hại: Cd, Co, Cu, As,

Ad, Ag, Zn, Cr, Ni, Pb, và Hg Điều này được thể hiện trên các bảng sau:

Bảng 1-3 : Sự hiện diện của một số kim loại nặng tích luỹ trong nước kênh, rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh do nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt so với nước sông bình thường không bị ô nhiễm

1995 - 1997 Kênh rạch Nồng độ kim loại - μg/l

Hệ thống Nhiêu Lộc– Thị Nghè 1-3 15-20 12-30 5-140 100-500Các hệ thống Tham Lương 3-7 20-22 20-72 10-20 150-800Hệ thống Tân Hoá – Lò Gốm 5-6 10-15 10-35 20-150 30-250

Kênh Đôi-Tẻ – Tàu Hũ – Bến

Nghé

2-7 12-19 10-180 10-160 200-850

Giá trị chuẩn: nước sông, rạch

Nguồn: Maqsud, 2004 Từ bảng 1-3 ta biết được nồng độ các kim loại nặng độc hại trong nước ô nhiễm của các kênh vượt quá giá trị cho phép so với nước sông rạch không ô nhiễm , tăng từ 16 đến 700 lần Đặc biệt nước ở các kênh rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hoá – Lò Gốm, kênh Đôi – kênh Tẻ – Tàu Hũ – Bến Nghé đều ô nhiễm nặng bởi hàm lượng các kim loại nặng So với các giá trị tiêu chuẩn thì các chỉ tiêu dưới đây có trị số cao hơn: Cd gấp 16 lần; Cr gấp 22 lần, Cu gấp 60 lần, Zn gấp 90 lần, Pb gấp 700 lần (Tích luỹ tối đa)

Từ bảng 1-4 cho thấy kết quả nghiên cứu địa hoá của trầm tích các dòng chảy với sự tích tụ các kim loại nặng khác nhau

Trang 32

Bảng 1-4: Dư lượng của một số kim loại nặng chính trong trầm tích có dòng chảy nuớc mặt ô nhiễm nặng ở Thành phố Hồ Chí Minh

Kênh rạch Nồng độ kim loại - ppm

Đôi- Kênh Tẻ-Bến

3 11,7

0,3

24

19 1,84

90 6,7

45 18,2

0,4 12,5

2,6 7,7

68 2.1

20 27.5

95 14.1 Nguồn: Maqsud, 2004

Trang 33

Từ bảng 1-4 chỉ rõ nồng độ As, Cd, Cr, Cu, Hg, Ni, Pb, và Zn đều cao ở các kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè, Tham Lương và Tân Hoá- Lò Gốm, ở mức độ trung bình và thấp hơn ở hệ thống Kênh Đôi-Kênh Tẻ và Tàu Hũ- Bến Nghé Khi so sánh với các giá trị chuẩn ở địa phương và nền địa hoá “ giá trị trung bình của phiến thạch”, kết quả nghiên cứu trầm tích kênh rạch chỉ rõ sự gia tăng ô nhiễm kim loại nặng So sánh với giá trị chuẩn của vùng, chúng ta có thể thấy sự tích luỹ tối đa và hệ số tích luỹ Ag: 175; As: 11,7; Cd: 36; Co: 14; Cr: 24; Cu: 54,7; Hg: 25; Mo: 10; Ni: 17; Pb: 61; và Zn: 83,7 Nồng độ cao của các kim loại nặng đều phản ảnh bởi nồng độ của các kim loại độc hại như: Ag; Cd; Cu; Hg; Pb; và Ni ở hầu hết các mẫu trầm tích trong đa số kênh rạch của TpHCM

Hàm lượng rất cao của As và các kim loại đã được phát hiện khi phân tích mẫu trầm tích ở kênh Nhiêu Lộc Phân tích địa hoá các mẫu trầm tích màu đen lấy

ở độ sâu 50cm bùn đáy vào tháng 5/1996 cho thấy sự ô nhiễm nặng nề của kênh Nhiêu Lộc, thể hiện trong bảng 1-5

Bảng 1-5: Sự tích luỹ của kim loại nặng trong trầm tích kênh Nhiêu Lộc

Hàm lượng kim loại nặng trong cấp hạt <0.063mm

% ppm

Nguồn: Maqsud, 2004 Sự tích luỹ cao hơn rất nhiều của As (18,3%) và Pb (7416ppm); Cu (1090 ppm), Zn (2200ppm) đều là các chất gây ô nhiễm cao hơn nguồn gốc tồn đọng từ thời gian trước để lại Nhiều dòng chảy chứa chất thải công nghiệp, khai mỏ và các chất thải thể rắn, lỏng trong quân sự trước đây đều là nguyên nhân đặc biệt cho việc tích luỹ cao hơn của các kim loại nặng độc hại

Theo công trình nghiên cứu của GS Lâm Minh Triết bùn lắng ở các kênh rạch đã tích tụ một lượng lớn các kim loại nặng Đều này được thể hiện trên bảng 1-6

Trang 34

Bảng 1-6: Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm kim loại trong bùn lắng kênh rạch

Tp Hồ Chí Minh

Năm 2000

Kim loại Kết quả phân tích tại các kênh rạch (mg/kg) Tiêu

chuẩn so sánh

Nhiêu

Lộc-Thị

Nghè

Tân Lò Gốm

Hoá-Tham Lương –Bến Cát

Kênh Đôi-Kênh Tẻ

Tàu Hũ –Bến Nghé

WAC 173-204 (1)

(1) Giá trị giới hạn của kim loại trong bùn lắng cần phải xử lý (WAC 173-204)

Từ kết quả của bảng 1-6 và so với tiêu chuẩn WAC ta nhận thấy hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè , Tân Hoá-Lò Gốm và Tàu Hũ –Bến Nghé có nồng độ

Zn vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,4 lần Sự tích tụ và làm ô nhiễm của kim loại nặng trong bùn lắng là điều đáng quan tâm hiện nay

Các phân tích địa hoá trầm tích và nước mặt đồng thời và sau các quá trình phục hồi và làm sạch ở một số kênh rạch được lựa chọn ở Tp HCM trong những năm 2002-2002 và do sự cải thiện về phương pháp sản xuất kỹ thuật – công nghiệp cũng như liên quan đến việc di dời các nhà máy xí nghiệp công nghiệp gây ô nhiễm từ nội ô ra ngoại thành hoặc khu công nghiệp đã cho thấy sự tích tụ trung bình và thấp hơn đáng kể của các kim loại nặng và chất ô nhiễm khác Điều này được thể hiện trên bảng 1-7

Trang 35

Bảng 1-7: Tích tụ kim loại nặng trong trầm tích của một số kênh rạch dòng chảy được lựa chọn ở Tp Hồ Chí Minh

Kết quả phân tích giai đoạn 2000 - 2002

Hàm lượng kim loại - ppm

Hệ thống Tân Hoá-

Ông Buông-Lò Gốm 3,5-9 1,8-5,0 13-25 120-295 80-512 1,5-2,2 3-7,2 65-125 95-210 110-685

Hệ thống

K.Doi-K.Tẻ-Tàu Hũ- Bến

9

2,7 25,5

16

5,3 46,9

Giá trị chuẩn địa

0,3

1 16,6

19

0,31 1,31

90

0,22 3,27

45

0,6 11,4

0,4

0,5 5,5

2,6

0,46 3,84

68

0,14 1,83

20

1,25 11,5

95

0,89 7,9 Nguồn: Maqsud, 2004

Trang 36

Các kết quả nghiên cứu trên đây đã chỉ ra môi trường bùn lắng đã bị ô nhiễm kim loại nặng

Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng mới chỉ đánh giá tổng hàm lượng kim loại nặng chưa đi vào nghiên cứu chi tiết độ linh động, dạng tồn tại cũng như khả năng xâm nhập vào hệ sinh thái của các kim loại nặng ô nhiễm

1.2.2 Hiện trạng ô nhiễm nước kênh rạch nội thành 6 tháng đầu năm 2006

Các vị trí lấy mẫu để đánh giá chất lượng nước kênh rạch nội thành được thể hiện trên hình 1-1

Hình 1-1: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành

Tp.HCM

Nguồn: Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường

Vị trí các trạm trên kênh được mô tả trong bảng 1.8

Bảng1.8 Vị trí trạm trên kênh

STT Kí

hiệu

1 C01 C.Lê Văn Sĩ K Nhiêu Lộc – Thị Nghè

2 C02 C.Điện Biên Phủ K Nhiêu Lộc – Thị Nghè

3 C03 C.An Lộc K.Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật

4 C04 C.Tham Lương K.Tham Lương – Bến Cát – Vàm Thuật

Trang 37

5 C05 Cống Hòa Bình K.Tân Hoá – Lò Gốm

6 C06 C.Ông Buông K.Tân Hoá – Lò Gốm

7 C07 Rạch Ngựa K.Tàu Hủ – Bến Nghé

10 C10 C Nhị Thiên Đường K.Tàu Hủ – Bến Nghé

Tần suất lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu định kỳ 04 lần/năm vào các tháng 2, tháng

4, tháng 9 và tháng 11 hằng năm

™ pH

Trong 06 tháng đầu năm 2006 cho thấy giá trị pH trung bình tại các vị trí khảo sát nằm trong khoảng 6,5 – 7,8, đạt tiêu chuẩn cho phép của nước mặt dùng cho các mục đích không phải cấp nước sinh họat (cột B) (Biểu đồ1-1)

pH tại các trạm kênh Đôi Tẻ - Tàu Hũ Bến Nghé

06 tháng đầu năm 2006

Nguồn: Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường

Qua 06 tháng đầu năm 2006 cho thấy hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng tại các trạm dao động trong khoảng 52 – 137 mg/l (nước lớùn) và từ 7 – 137 mg/l (nước ròng), vượt tiêu chuẩn cho phép loại B (TCVN 5942 – 1995 TSS = 80 mg/l) khoảng từ 1,1 -1,7 lần So với cùng kỳ 06 tháng đầu năm 2005 thì giá trị TSS tại các vị trí cầu Lê văn Sỹ (C02), cầu An Lộc (C03), cầu Tham Lương (C04), cầu Rạch Ngựa (C07) và cầu Chà Và (CO9) có xu hướng gia tăng khoảng từ 1,2 – 2,2 lần (Biểu đồ 1-2)

Trang 38

TSS tại các trạm kênh rạch 06 tháng đầu năm 2005 - 2006

2005 2006 TCVN 5942 - 1995 loại B

Biểu đồ 1-2 Diễn biến hàm lượng TSS trên hệ thống kênh rạch thành phố 06 tháng đầu năm 2005 – 2006

Nguồn: Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường

Biến thiên độ dẫn điện trên các kênh rạch tiêu thoát thuộc khu vực thành phố Hồ Chí Minh cho thấy mức độ ảnh hưởng của thủy triều là tương đối lớn Ảnh hưởng của triều rõ rệt vào mùa khô Qua đợt khảo sát 06 tháng đầu năm 2006 cho thấy chênh lệch độ dẫn điện tại đỉnh triều và chân triều có điểm lên đến gần 328mS/m (tại vị trí cầu Nhị Thiên Đường - C10) Nhìn chung, độ dẫn cao vào nước lớn, giảm vào lúc nước ròng nhờ sự pha loãng do lượng nước tăng lên

Hàm lượng oxi hoà tan tại các vị trí khảo sát đều rất thấp Mùa khô (tháng 2 và tháng 4) tất cả các trạm đều có hàm lượng oxi hoà tan dưới 6 mgO2/l, một số vị trí DO bằng 0 ngay cả khi nước lớn như: cầu Lê Văn Sỹ (C01), cầu tham Lương (C04), cống Hòa Bình (C05) và cầu Ông Buông (C06) Xem xét các kết quả DO từ các đợt khảo sát từ năm 2001 đến năm 2006 nhận thấy giá trị DO tại các trạm cống Hòa Bình (C05) và cầu Ông Buông (C06) thuộc hệ thống kênh Tân Hoá – Lò Gốm luôn bằng 0 mg/l, chứng tỏ ô nhiễm trên hệ thống kênh này đã kéo dài và không được cải thiện Tuy nhiên, các vị trí khác đều cho thấy sự gia tăng DO so với cùng kỳ 06 tháng đầu năm 2005 (Biểu đồ 1-3)

Trang 39

DO tại các trạm kênh rạch 06 tháng đầu năm 2006

TCVN 5942 - 1995 loại B L R

Biểu đồ 1-3 Diễn biến hàm lượng DO trên hệ thống kênh rạch thành phố 06 tháng đầu năm 2005 – 2006

Nguồn: Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường

Nhu cầu oxi hoá học đo được trong cả hai đợt khảo sát 06 tháng đầu năm

2006 đều rất cao Giá trị COD đo được cao nhất là 324 mg/l (nước lớn ) và 359 mg/l (nước ròng), vượt tiêu chuẩn cho phép loại B khoảng 9,3 lần (nước lớn) và 10,3 lần (nước ròng) (TCVN 5942 – 1995 COD 35 mg/l)(tại vị trí C05)

Tuy nhiên, hầu hết các vị trí, hàm lượng các chỉ tiêu này đều giảm so với cùng kỳ 06 tháng đầu năm năm 2005 (Biểu đồ 1-4)

Hàm lượng COD tại các trạm kênh rạch 06 tháng đầu năm 2005 - 2006

Trang 40

™ Nhu cầu oxi sinh hoá (BOD 5 )

Giá trị BOD5 có xu thế diễn biến tương tự COD Hầu hết các giá trị BOD5 đo được trong hai đợt khảo sát 06 tháng đầu năm 2006 đều vượt tiêu chuẩn cho phép của nước thải sinh hoạt loại B (TCVN 5942 – 1995 BOD5 25 mg/L) Thông thường, giá trị BOD5 tại thời điểm đỉnh triều thấp hơn tại thời điểm chân triều trong cùng một đợt đo Giá trị BOD5 cao nhất là 155 mgO2/1 lúc nước lớn và 172 mgO2/1 lúc nước ròng (tại vị trí cống Hòa Bình - C05)

Nhìn chung, trung bình giá trị COD và BOD5 cao vào 06 tháng đầu năm

2006 đã giảm hơn so với cùng kỳ 06 tháng đầu năm 2005 Mức độ ô nhiễm giảm trong nước lớn là do lượng nước trên các kênh gia tăng, lưu lượng dòng chảy lớn hơn làm pha loãng nồng độ các chất ô nhiễm, đồng thời tăng khả năng làm sạch của dòng chảy trên các kênh tiêu thóat (Biểu đồ 1-5)

Hàm lượng BOD 5 tại các trạm kênh rạch 06 tháng đầu năm 2005 - 2006

1.2.2.1 Đánh giá mức độ ô nhiễm trên các hệ thống kênh tiêu thoát

Ngày đăng: 25/04/2013, 20:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:Tóm tắt các khả năng tác động tiêu cực liên quan đến bùn ô nhiễm - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 Tóm tắt các khả năng tác động tiêu cực liên quan đến bùn ô nhiễm (Trang 5)
Bảng 1-1. Phân cấp hệ thống thoát nước đô thị TPHCM - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 1. Phân cấp hệ thống thoát nước đô thị TPHCM (Trang 18)
Bảng 1-4: Dư lượng của một số kim loại nặng chính trong trầm tích có dòng chảy nuớc mặt ô nhiễm nặng ở Thành phố  Hoà Chí Minh - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 4: Dư lượng của một số kim loại nặng chính trong trầm tích có dòng chảy nuớc mặt ô nhiễm nặng ở Thành phố Hoà Chí Minh (Trang 32)
Bảng 1-5: Sự tích luỹ của kim loại nặng trong trầm tích kênh Nhiêu Lộc - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 5: Sự tích luỹ của kim loại nặng trong trầm tích kênh Nhiêu Lộc (Trang 33)
Bảng 1-6: Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm kim loại trong bùn lắng kênh rạch  Tp. Hoà Chí Minh - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 6: Kết quả nghiên cứu về ô nhiễm kim loại trong bùn lắng kênh rạch Tp. Hoà Chí Minh (Trang 34)
Bảng 1-7: Tích tụ kim loại nặng trong trầm tích của một số kênh rạch dòng chảy được lựa chọn ở Tp - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 7: Tích tụ kim loại nặng trong trầm tích của một số kênh rạch dòng chảy được lựa chọn ở Tp (Trang 35)
Hình 1-1: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 1: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng nước kênh rạch nội thành (Trang 36)
Hình 1-2. Sơ đồ hoạt động kỹ thuật electrokinetic - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 2. Sơ đồ hoạt động kỹ thuật electrokinetic (Trang 45)
Hình 1-3. Sơ đồ hoạt động kỹ thuật thuỷ tinh hoá  1.4.1.3 Oxy hoá khử các chất ô nhiễm: - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 3. Sơ đồ hoạt động kỹ thuật thuỷ tinh hoá 1.4.1.3 Oxy hoá khử các chất ô nhiễm: (Trang 46)
Bảng 1-11: Phân loại các cơ chế, đối tượng thực hiện và các loài thực vật tương  ứng. - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 11: Phân loại các cơ chế, đối tượng thực hiện và các loài thực vật tương ứng (Trang 49)
Hình 1-4. Các cơ chế của phytoremediation - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 4. Các cơ chế của phytoremediation (Trang 50)
Hình 1-5. Cô cheá phytovolatilization - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 5. Cô cheá phytovolatilization (Trang 50)
Hình 1-6. Cô cheá phytostabilization - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 6. Cô cheá phytostabilization (Trang 51)
Hình 1-7. Cô cheá phytoextraction  1.6 CỎ VETIVER - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Hình 1 7. Cô cheá phytoextraction 1.6 CỎ VETIVER (Trang 52)
Bảng 1-12 Phân loại và phân bố cỏ Vetiver - XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ SINH HỌC CỦA KIM LOẠI NẶNG TRONG BÙN LẮNG
Bảng 1 12 Phân loại và phân bố cỏ Vetiver (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w