1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

30 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 157 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều sản phẩn được đăng ký ở một nước nhưngtham gia sản xuất nó có hàng trăm công ty ở hàng chục nước, ví dụ: Hãng Bô-ing có 650 công ty ở 30 nước, hãng Pho có 165 công ty ở 20 nước tha

Trang 1

và đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đưa đất nước thoát rakhỏi tình trạng nghèo và kém phát triển; nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thếcủa nền kinh tế đất nước trên thị trường quốc tế Đó là kết quả của sự lãnh đạođúng đắn của Đảng trong xác định đường lối, chủ trương, chính sách thực hiệnquan hệ kinh tế quốc tế Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã tác động sâu sắc đếntoàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó lĩnh vực quốc phòng - an ninhcũng không phải là một ngoại lệ Nhằm nâng cao nhận thức trong quán triệtđường lối, quan điểm của Đảng cũng như sự cần thiết mở rộng quan hệ kinh tế

quốc tế và tác động của nó đến quốc phòng - an ninh Tác giả chọn vấn đề “Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh ở nước ta hiện nay” là chủ đề tiểu luận Đây là vấn đề rộng, có ý nghĩa to lớn cả

về lý luận và thực tiễn; có thể nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ thuộcvào cách tiếp cận của chủ thể nghiên cứu Với góc độ tiếp cận nó là một nội dungcủa môn kinh tế chính trị (phần xã hội chủ nghĩa), tác giả tập trung làm rõ cácvấn đề sau: Tính tất yếu khách quan của mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế; quan

Trang 2

điểm của Đảng ta về vấn đề này; tác động của quan hệ kinh tế quốc tế đến quốcphòng - an ninh; trên cơ sở đó rỳt ra ý nghĩa thực tiễn đối với nhiệm vụ xây dựngQuân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn hiện nay.

NỘI DUNG

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNGQUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Quan hệ kinh tế quốc tế và sự cần thiết phải mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm, khái niệm về quan hệ kinh tếquốc tế, tuỳ thuộc vào cách thức tiếp cận Theo quan điểm chính thống của các

nhà kinh tế Việt Nam thì quan hệ kinh tế quốc tế được định nghĩa là “Quan hệ kinh tế quốc tế là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và nhóm quốc gia dựa trên cơ sở phân công lao động và được thực hiện trên những hình thức khác nhau, ở các cấp độ khác nhau.” Như vậy quan hệ kinh tế quốc tế là quan

hệ của một nước đối với các nước khác trên thế giới, các tổ chức kinh tế, cácvùng lãnh thổ Phạm vi hoạt động cả ở trong nước (các đối tác nước ngoài đanghoạt động ở trong nước) và ở nước ngoài; bao gồm nhiều cấp độ (cấp doanhnghiệp, cấp chính phủ, cấp liên chính phủ), nhiều hình thức khác nhau ( thươngmại quốc tế, đầu tư quốc tế, hợp tác khoa học kỹ thuật, hợp tác sản xuất, tín dụngquốc tế và các dịch vụ thu ngoại tệ quốc tế) Bản chất, nội dung, qui mô và hìnhthức của quan hệ kinh tế quốc tế do trình độ phát triển của lực lượng sản xuấttrong nước quyết định (mà cụ thể là quan hệ sản xuất thống trị quyết định),nhưng đến lượt nó quan hệ kinh tế quốc tế lại làm phong phú thêm quan hệ kinh

tế trong nước và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Ngày nay

Trang 3

quan hệ kinh tế quốc tế được coi là một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục đíchcủa họ Do vậy xu hướng kinh tế hoá các quan hệ chính trị và chính trị hoá cácquan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phổ biến Nên trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế mỗi quốc gia dân tộc không thể không xem xét những tác động của xuhướng này Đặc biệt sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âusụp đổ thì quan hệ kinh tế quốc tế đã có những chuyển biến, thay đổi so với quanniệm truyền thống như; vượt qua hàng rào liên minh chính trị quân sự đã hìnhthành trong lịch sử, không phân biệt ý thức hệ chế độ chính trị; tốc độ tăng ngoạithương lớn, cơ cấu hàng hoá thay đổi; có sự gặp gỡ giữa các hình thức tài chính,tín dụng, pháp lý khác nhau; sự tác động của giá cả, dịch vụ bất lợi cho các nướcđang phát triển; đan xen tự do hoá và bảo vệ mậu dịch; có sự khống chế của các

tổ chức độc quyền xuyên quốc gia

Khi thế giới vẫn còn điều kiện để sản xuất hàng hoá tồn tại và phát triểnthì vẫn còn nhu cầu về trao đổi hàng hoá và hoạt động của quan hệ hàng-tiền.Lực lượng sản xuất phát triển đẩy nhanh quá trình phân công lao động, chuyênmôn hoá trên phạm vi toàn thế giới thì mỗi quốc gia trở thành một bộ phận, mộtmắt khâu của quá trình đó Chính quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã manglại những lợi ích kinh tế cho tất cả các nước khi tham gia; với nước phát triểngiúp cho việc bành trướng mau lẹ sức mạnh kinh tế ra nước ngoài thông qua mởrộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, tìm nơi đầu tư có lợi nhuận cao, giảm chiphí do giá nhân công, tài nguyên rẻ ở các nước chậm phát triển; với các nướcchậm phát triển có lợi trong tiếp nhận kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động;thu hút vốn để hiện đại hoá quá trình kinh tế; tập trung phát triển các thế mạnhcủa đất nước Do vậy mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quancủa thời đại, mỗi quốc gia dân tộc không thể đứng ngoài Tuy nhiên sự biểu hiệncủa nó ở các nước là khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, quanđiểm chính sách của chính phủ về quan hệ kinh tế quốc tế; ở Việt Nam sự mở

Trang 4

rộng quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan được qui định bở các lý dosau.

Một là; Xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, toàn cầu hoá kinh tế đã tạo

khả năng và điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

Nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi các chủ thể sản xuất kinh doanh phảigiải quyết các vấn đề đặt ra như; thị trường tiêu thụ, nguồn vốn, nguyên liệu,nguồn lao động và vấn đề hợp tác với ai Việc giải quyết các vấn đề này đã thúcđẩy phân công lao động xã hội phát triển trên phạm vi toàn thế giới làm cho xuhướng thị trường thế giới luôn có những biến đổi sâu sắc Mặt khác do đặc điểmphát triển về lịch sử của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, gắn với điều kiện địa lý tựnhiên của mỗi quốc gia dân tộc không giống nhau; sự phát triển mạnh mẽ củacách mạng khoa học - công nghệ; sự xuất hiện những vấn đề mang tính toàncầu Tất cả những vấn đề trên đã làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nềnkinh tế các nước Quốc tế hoá, toàn cầu hoá là kết quả tất yếu của phát triển lựclượng sản xuất, mà lực lượng sản xuất phát triển là cơ sở của phân công lao độngtạo ra sự chuyên môn hoá ngày càng cao, làm tăng tính sự phụ thuộc lẫn nhauvề; kinh tế, khoa học, ký thuật Nhiều sản phẩn được đăng ký ở một nước nhưngtham gia sản xuất nó có hàng trăm công ty ở hàng chục nước, ví dụ: Hãng Bô-ing có 650 công ty ở 30 nước, hãng Pho có 165 công ty ở 20 nước tham gia.Chính quá trình toàn cầu hoá đã mở ra những cơ hội để chúng ta hội nhập kinh tếquốc tế, đặc biệt sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ đã mang lạinhững thách thức vô cùng to lớn đối với nền kinh tế, nhưng cũng trong hoàncảnh khó khăn đó đã tạo ra cho chúng ta cơ hội để thực hiện quan hệ kinh tếquốc tế với những nội dung, hình thức, đối tác phong phú hơn, linh hoạt hơn

Hai là; Xuất phát từ yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất

nước, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trang 5

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm của thời

kỳ quá độ, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Với xuấtphát điểm từ nền sản xuất nhỏ là chủ yếu, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ quagiai đoạn chế độ tư bản chủ nghĩa; muốn phát triển kinh tế phải tiến hành côngnghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội đó lànền đại công nghiệp cơ khí hoá, điện khí hoá toàn quốc Quá trình đó không thểdiễn ra tuần tự, mà phải đi tắt đón đầu để rút ngắn thời gian và thu hẹp khoảngcách tụt hậu về kinh tế đối với các nước trong khu vực, nên cần đến nguồn lựclớn về; vốn, khoa học công nghệ, kỹ thuật, trình độ quản lý Những yếu tố nàychúng ta có thể huy động và có được trong quá trình thực hiện quan hệ kinh tếquốc tế Đồng thời, việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế sẽ góp phần khai thôngcác nguồn lực, thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào, thu hút vốn,thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàtham gia vào phân công lao động hợp tác quốc tế Thu hút vốn đầu tư nước ngoàigóp phần khắc phục tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp, giải quyết việclàm cho người lao động, tạo điều kiện nâng cao mức sống người dân Thông qua

mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta đã thu hút ngày càng nhiều lượng vốnđầu tư trực tiếp của nước ngoài, được biểu hiện qua số liệu sau;

(Nguồn bộ kế hoạch đầu tư)

Ba là; Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế còn góp phần xây dựng nền kinh

tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 6

Nền kinh tế độc lập tự chủ không đồng nhất với nền kinh tế tự cung tựcấp, đóng cửa khép kín không giao lưu với bên ngoài Đó là nền kinh tế vừa bảođảm tính chủ động, linh hoạt trong hội nhập, vừa bảo đảm tính độc lập trong quátrình thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế Theo quan điểm của Đảng ta nền

kinh tế độc lập thự chủ được định nghĩa như sau “Nền kinh tế độc lập tự chủ trước hết là độc lập tự chủ về đường lối chính trị phương hướng phát triển , chính sách thể chế, qui mô phát triển kinh tế Đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh có mức tích lũy cao từ nội bộ nền kinh tế, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cả ở trong nước và ngoài nước, có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, giữ ổn định kinh tế tài chính vĩ mô; có lực lượng vật chất đảm bảo an toàn và điều kiện cơ bản cho cuộc sống xã hội và phát triển kinh tế như an ninh lương thực an toàn năng lượng an toàn tài chính, an toàn môi trường, xây dựng

cơ sở hạ tầng ngày càng hiện đại và một số ngành công nghiệp then chốt đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng không ngừng trên cơ sở kỹ thuật ngày càng cao”1 Thực chất là nền kinh tế mà có thể duy trì được mức độ tăng trưởng trongmọi hoàn cảnh, là quá trình xây dựng thực lực kinh tế, tiềm lực kinh tế mạnh đủsức cạnh tranh, dành quyền chủ động trong quan hệ kinh tế quốc tế, tự chủ vềđường lối chính trị và chính sách phát triển kinh tế Độc lập tự chủ về kinh tế lànền tảng vật chất cơ bản để củng cố và duy trì độc lập tự chủ về chính trị Sẽkhông có độc lập tự chủ về chính trị nếu bị lệ thuộc về kinh tế Xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lựctổng hợp để phát triển đất nước Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bốicảnh toàn cầu hóa mở rộng quan hệ đối ngoại hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề

có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng nền kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay Nền kinh tế độc lập tự chủ là điều kiện quan trọng giữ

Trang 7

vai trò quyết định để thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, ngược lại quan

hệ kinh tế quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta xây xựng nền kinh tế độclập tự chủ Giữa nền kinh tế độc lập tự chủ và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tếkhông có sự khác biệt mà đó là quá trình thống nhất biện chứng

Bốn là; do yêu cầu xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh trong điều

kiện mới.

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta nhất quán quan điểm phát triển kinh tế phảigắn với tăng cường quốc phòng - an ninh Sức mạnh về kinh tế là cơ sở cội nguồn củasức mạnh của quốc phòng - an ninh, đến lượt nó, một nền quốc phòng - an ninh vữngmạnh là điều kiện tiên quyết để xây dựng và phát triển kinh tế Hiện nay Việt Nam cólợi thế vượt trội so với các nước trong khu vực và trên thế giới về sự ổn định chính trị

xã hội, đây là kết quả trực tiếp của hoạt động quốc phòng - an ninh Muốn xây dựngđược nền quốc phòng - an ninh vững mạnh đòi hỏi cần phải có thực lực kinh tế đểtrang bị về phương tiện vật chất cho quốc phòng - an ninh, mà thực lực kinh tế chỉ cóthể mạnh lên khi chúng ta mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Đồng thời thông qua cácquan hệ kinh tế quốc tế cho phép chúng ta tiến cận công nghệ quân sự tiên tiến, kỹchiến thuật của cuộc chiến tranh công nghệ cao, để tăng cường và củng cố sức mạnhquốc phòng - an ninh Trong tình hình quốc tế có những biến đổi phức tạp, khó lường,Đảng ta đã đưa ra quan điểm mới về quốc phòng - an ninh (NQ TW 8 khoá IX), nênchỉ có thông qua quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta mới khai thác triệt để những thuậnlợi từ đối tác và khắc phục, đấu tranh có hiệu quả những trở ngại từ đối tượng Vớiquan điểm đối tượng có thể có những nội dung của đối tác và đối tác cũng bao hàmnhững nội dung của đối tượng cần đấu tranh, đã khắc phục được khuynh hướng, tưtưởng đơn thuần về quân sự trước đây, tạo điều kiện cho việc xác định và mở rộng đốitác trong thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế

Những cơ sở trên khẳng định tính tất yếu khách quan mở rộng quan hệ

Trang 8

kinh tế đối ngoại ở nước ta trong thời đại ngày nay Mở rộng quan hệ kinh tếquốc tế vừa là một tất yếu khách quan vừa là nhu cầu nội sinh của mọi nền kinh

tế Quan hệ kinh tế quốc tế đem lại nhiều nội dung tích cực cho phát triển kinh tế

- xã hội, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều nhân tố tiêu cực làm ảnh hưởng tới anninh quốc phòng, bản sắc văn hóa dân tộc Để nâng cao hiệu quả của quan hệkinh tế quốc tế và hạn chế những nhân tố tiêu cực có thể có nhằm làm cho nềnkinh tế đất nước ngày càng hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới cầnphải có đường lối, quan điểm chỉ đạo đúng đắn để chúng ta xác định chiến lược,sách lược, hình thức, biện pháp phù hợp trong từng thời kỳ

1.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

Quan điểm của Đảng ta về chỉ đạo thực hiện quan hệ kinh tế quốc tế theotinh thần Đại hội X, đã được nghiên cứu trong kinh tế chính trị Trong phạm vi,đối tượng của tiểu luận, tác giả tiếp cận nghiên cứu các quan điểm của Đảng vềquan hệ kinh tế quốc tế gắn với từng giai đoạn lịch sử phát triển của nền kinh tếđất nước, để thấy được tính hệ thống, tính phát triển về tư duy lý luận trong nhậnthức quan hệ kinh tế quốc tế của Đảng kể từ khi nước nhà độc lập (1945) đếnnay

Ngay từ năm đầu nước nhà dành được độc lập Đảng ta, mà đứng đầu làChủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế với tất

cả các nước trên thế giới Biểu hiện trong "lời kêu gọi Liên Hợp Quốc" tháng 12 năm 1946 Người đã nêu rõ “ Đối với các nước dân chủ, nước Việt nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực

a: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà

tư bản trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.

Trang 9

b: Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế

c: Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc

tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc".

Như vậy, quan điểm tư tưởng về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế củaĐảng và Bác đã được xác định rất rõ ràng về quy mô, đối tác, hình thức thựchiện quan hệ kinh tế quốc tế Đây chính là cơ sở lý luận trực tiếp để Đảng ta xâydựng và hoàn thiện quan điểm về quan hệ kinh tế quốc tế Tuy nhiên do nhiềunguyên nhân trong đó có hai cuộc chiến tranh kéo dài, ảnh hưởng sâu sắc bởi sựphân biệt ý thức hệ của thời cuộc, sau khi nước nhà được thống nhất chúng ta lại

bị bao vây cấm vận, nên chúng ta chưa thực hiện được quan hệ kinh tế quốc tếmột cách đầy đủ theo tinh thần, nội dung trong lời kêu gọi Liên Hợp Quốc củaBác, mà chỉ giới hạn quan hệ với các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa,bằng hình thức nhận viện trợ là chủ yếu Từ khi thống nhất (1975) đến trước đổimới (1986) vấn đề về quan hệ kinh tế quốc tế chỉ được đề cập thông qua các nghịđịnh, qui chế của chính phủ (lúc đó là hội đồng bộ trưởng) về kêu gọi đầu tư củanước ngoài, nhưng do điều kiện lịch sử nên không đạt được hiệu quả như mongmuốn

Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnhvực, được bắt đầu kể từ khi Đại hội VI đề ra đường lối đổi mới, trong đó xác

định quan điểm về quan hệ kinh tế quốc tế là; “Tranh thủ mở mang quan hệ kinh

tế và khoa học với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi” như vậy chúng ta đã xác định được các đối tác, nội dung và nguyên tắc thực

hiện trong quan hệ kinh tế quốc tế Đây là cơ sở cho các chủ thể kinh tế triển

Trang 10

khai bước đầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đã thu được những kếtquả nhất định làm cơ sở cho quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế tiếp theo.

Sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã có những khởi sắc

về quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng cũng là lúc khó khăn thách thức lớn đối vớinước ta khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ Trong hoàncảnh đó Đại hội VII của Đảng đã thông qua “cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ” và xác định chủ trương " Mở rộng, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi".

Như vậy điều kiện kinh tế đất nước đã cho phép chúng ta thực hiện quan hệ kinh

tế quốc tế dưới nhiều hình thức, đa dạng và phong phú, với các đối tác ngày càngđược mở rộng, không phân biệt chế độ chính trị Nguyên tắc giữ vững độc lập,chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi giữ vai trò chỉ đạo xuyên suốt trong tổ chứctriển khai thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế Thực hiện chủ trương trên,chúng ta đã thu được những thành quả to lớn, tạo tiền đề cần thiết cho để chuyểnsang giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Quan điểm về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của Đại hội VII được

Đại hội VIII kế thừa, tiếp tục phát triển và đưa ra quam điểm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới” Điều kiện thực tiễn

của nền kinh tế đã chín muồi, mở ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện hộinhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế Hội nhị lần thứ tư BCH trương ương khoá

VIII về kinh tế đối ngoại đã nhấn mạnh: " Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ APTA" Có nghĩa là chúng ta đã thành công trong xác định chủ trương

Trang 11

cũng như hành lang pháp lý để hội nhập, đến lúc này cho phép chúng ta xác địnhnội dung, biện pháp, hình thức thực hiện quan hệ kinh tế quốc tế một cách cóhiệu quả nhất, với một lộ trình phù hợp

Đại hội IX của Đảng đưa ra chủ trương "Phỏt huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững", “Việt Nam sẵn sàng là bạn ”.

Cụ thể hoá chủ trương của Đại hội IX, ngày 27 tháng 11 năm 2001 Bộ chính trị

đã ra nghị quyết số 07-NQ/TW "Về hội nhập kinh tế quốc tế", đã xác định mục

tiêu, quan điểm, nhiệm vụ cụ thể để hội nhập kinh tế quốc tế

Về mục tiêu, nghị quyết xác định; “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xó hội chủ nghĩa, thực hiện dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh, trước mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong Chiến lược phát triển kinh tế -

xó hội năm 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 – 2005” Để thực hiện được

mục tiêu đó cần phải quán triệt và triển khai thực hiện tốt các quan điểm; “Quỏn

triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xó hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ớch dõn tộc; an ninh quốc gia, giữ gỡn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dõn; trong quỏ trỡnh hội

nhập cần phỏt huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, củatoàn xó hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trũ chủ đạo Hội nhập kinh tế quốc

tế là quá trỡnh vừa hợp tỏc, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội,vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử

lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ

Trang 12

thể; vừa phải đề phũng tư tưởng trỡ trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giảnđơn, nôn nóng Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kếhoạch và lộ trỡnh hợp lý, vừa phự hợp với trỡnh độ phát triển của đất nước, vừađáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia; tranhthủ những ưu đói dành cho cỏc nước đang phát triển và các nước có nền kinh tếchuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường Kết hợp chặt chẽquỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế với yờu cầu giữ vững an ninh, quốc phũng,thụng qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng

cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội

nhập để thực hiện ý đồ "diễn biến hoà bỡnh" đối với nước ta”.

Đại hội X của Đảng xác định " Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực" 2 Kết quả của thực hiện quan

hệ kinh tế quốc tế đã mang lại những thành công rực rỡ Để tiếp tục duy trì vàphát huy hơn nữa hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế, Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành Trung ương Đảng khoỏ X, đó ra Nghị quyết về một số chủ trương,chính sách lớn để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam

là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, xác định; “Quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế là giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lónh thổ, hội nhập vỡ lợi ớch đất nước, giữ vững định hướng xó hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh; hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lónh đạo của Đảng; phát huy tối da nội lực, coi trọng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; gắn tốc độ tăng trưởng với chất lượng và hiệu quả, tăng trưởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ và công bằng xó hội; giữ

Trang 13

vững và tăng cường sự lónh đạo của Đảng, nâng cao vai trũ của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xó hội; phỏt huy quyền làm chủ của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”3 Để hội nhập kinh tế quốc tế thànhcông, phải tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng,toàn dân, tạo được sự đồng thuận cao trong toàn xó hội; khẩn trương bổ sung,hoàn thiện hệ thống phỏp luật và thể chế kinh tế; hỡnh thành nhanh và đồng bộcác yếu tố của nền kinh tế thị trường, phát huy tối đa và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực; đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao năng lực cạnh tranh của nềnkinh tế, của doanh nghiệp và của sản phẩm; bổ sung nguồn lực và chăm lo pháttriển nông nghiệp, nông thôn; giải quyết tốt các vấn đề xó hội; bảo vệ và cảithiện mụi trường sinh thái; giữ gỡn và phỏt huy bản sắc văn hoá dân tộc; giữvững quốc phũng, an ninh; tăng cường sự lónh đạo của Đảng, phát huy vai trũquản lý của Nhà nước, hoàn thiện các thiết chế dân chủ để bảo đảm và phát huyquyền làm chủ của nhân dân

Đối với nước ta, với quyết tâm xây dựng nền kinh tế thị trường địnhhướng xó hội chủ nghĩa, Đảng ta đó ý thức rừ, ngày nay khụng một quốc gia nàotách khỏi thị trường quốc tế mà có thể phát triển nền kinh tế của mỡnh Bởi vậy,thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả cácnước trong cộng đồng thế giới…”; Văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rừ chủtrương, đường lối kinh tế đối ngoại của nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Xâydựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định,đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để pháttriển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”

3 Nghị quyết BCH TW 4 khoá X, Nxb CTQG, H 2007, tr 109

Trang 14

Gắn liền với mục tiêu chung của dân tộc là nhằm từng bước thực hiệndân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta xác định mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại ngày nay là một nhân tố không thể thiếu trong xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, mà cụ thể là nhằm đẩy mạnh tái sản xuất mở rộng, đẩynhanh tốc độ phát triển, rút ngắn và thu hẹp khoảng cách tụt hậu về kinh tế sovới các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, từng bước thoát khỏi tỡnhtrạng nghốo nàn, lạc hậu

Xuất phát từ những mục tiêu trên, chính sách kinh tế đối ngoại của nước

ta hiện nay được thực hiện theo những định hướng đa dạng hoá, đa phương hoáquan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế không phân biệt chế độchính trị, chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới, phát huy ý chớ tự lực, tựcường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở nguyên tắc cơbản là bỡnh đẳng và cùng có lợi Nguyờn tắc bỡnh đẳng có ý nghĩa nền tảng choviệc thiết lập và lựa chọn đối tác trong quan hệ kinh tế quốc tế, bắt nguồn từ yêucầu phải coi mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế là một quốc gia độc lập cúchủ quyền Nếu nguyờn tắc bỡnh đẳng tạo nền tảng nói chung cho việc hỡnhthành và phỏt triển quan hệ đối ngoại, thỡ nguyờn tắc cựng cú lợi lại là cơ sởkinh tế để thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau.Nguyên tắc cùng có lợi phải trở thành động lực kinh tế để thiết lập và duy trỡquan hệ kinh tế bền vững lõu dài giữa cỏc quốc gia Trong quỏ trỡnh hội nhập,thiết lập quan hệ kinh tế đối ngoại với nhau, các nước đều phải tuân thủ nguyêntắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào cụng việc nội bộ của nhau.Nguyờn tắc này bắt nguồn từ nguyờn tắc bỡnh đẳng trong quan hệ kinh tế đốingoại; nó cũng bắt nguồn từ nguyên tắc cùng có lợi, mà xét đến cùng là cùng cólợi về kinh tế, tạo ra cơ sở để cùng có các lợi ích khác

Trang 15

Như vậy, cú thể núi quan điểm của Đảng ta về quan hệ kinh tế quốc tếchủ yếu được hỡnh thành và đi vào thực tiễn trong giai đoạn đổi mới đất nước.

Trước xu thế khách quan toàn cầu hóa kinh tế, chúng ta chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” theo tinh thần phát huy tối đa nội

lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xóhội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ớch dõn tộc, an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc vănhóa dân tộc, bảo vệ môi trường Đảng ta cũng nhận rừ khả năng vừa hợp tác, vừađấu tranh trong tồn tại hũa bỡnh giữa cỏc nước có chế độ chính trị - xó hội khỏc

nhau; đổi mới nhận thức trên vấn đề “địch - ta”, “đối tượng - đối tác” theo tinh thần “thờm bạn bớt thự”, khẳng định “những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bỡnh đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta, bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh” Chúng ta đó nhiều lần và từng bước tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn”, “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy” của các nước trong cộng đồng quốc tế; “là thành viờn tớch cực và cú trỏch nhiệm của cỏc tổ chức quốc tế”, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, phấn

đấu vỡ hũa bỡnh, độc lập và phát triển

PHẦN II TÁC ĐỘNG CỦA MỞ RỘNG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC

TẾ ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG-AN NINH

2.1 Tác động của mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đối với quốc phòng - an ninh.

Trong hơn hai mươi năm thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tếcủa Đảng chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn, tiêu biểu như; ký hiệpđịnh khung với Liên minh Châu Âu EU (1992); tham gia Khu vực Thương mại

Ngày đăng: 19/05/2021, 09:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w