1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ CHÍNH SÁCH KINH tế đối NGOẠI của một số nước ASEAN

14 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay quan hệ Việt Nam – ASEAN đang phát triển tốt đẹp với những mục tiêu chung vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của Đông Nam Á. Sự phát triển mối quan hệ này là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế hội nhập khu vực hoá và toàn câu hoá. Bởi vì trong điều kiện hiện nay bất kỳ một nước, một quốc gia, đều không thể tự mình tăng trưởng và phát triển nếu không thiết lập được các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác. Do đó cho nên quá trình hội nhập của Việt Nam vào ASEAN vừa mở ra cho Việt Nam những vận hội mới và cả những thách thức mới. Vấn đề hiện nay được đặt ra cho Việt Nam là “Trong quá trình hội nhập khu vực,

Trang 1

Lời nói đầu

tốt đẹp với những mục tiêu chung vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của Đông Nam á Sự phát triển mối quan hệ này là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế hội nhập khu vực hoá và toàn câu hoá Bởi vì trong điều kiện hiện nay bất kỳ một nớc, một quốc gia, đều không thể tự mình tăng trởng và phát triển nếu không thiết lập

đợc các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với các nớc khác Do

đó cho nên quá trình hội nhập của Việt Nam vào ASEAN vừa mở ra cho Việt Nam những vận hội mới và cả những thách thức mới Vấn đề hiện nay đợc đặt ra cho Việt Nam

là “Trong quá trình hội nhập khu vực, tuy chúng ta có nhiều tiềm năng về đất đai,về tài nguyên thiên nhiên, về nguồn nhân lực dồi dào, nhng thực tế tiềm lực và hiệu quả kinh tế,năng suất lao động xã hội, cơ sở hạ tầng và dịch vụ nhìn chung còn thấp so với các thành viên ASEAN khác Vì vậy Việt Nam phải tìm ra đợc cho mình chính sách kinh tế đối ngoại thích hợp trong từng thời kỳ phát triển đối với từng quốc gia, từng thành viên kinh tế của ASEAN để có thể phát huy những lợi thế so sánh vốn có của Việt Nam, khắc phục những yếu điểm của nền kinh

tế trong nớc đồng thời tận dụng triệt để những cơ hội bên

ngoài nhằm hớng tới mục tiêu mà Đại hội Đảng IX đã đề ra:

“Chiến lợc đẩy mạnh công nghiệp hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm

2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp ”

Xuất phát từ những suy nghĩ nh vậy, em đã quyết

Trang 2

của một số nớc ASEAN ” Qua đó, phân tích một số khía

cạnh của chính sách kinh tế đối ngoại Singapore và Myanma nhằm đánh giá đúng những thế mạnh và hạn chế của các chính sách đặc biệt là chính sách thơng mại quốc

tế và chính sách đầu t quốc tế của 2 nớc để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

PHầN 1

Chính sách kinh tế đối ngoại của Singapore

Chơng i: Những điều kiện kinh tế –xã hội của

Singapore

I/ Đặc điểm chung

- Diện tích: 641 km2

- Dân số: 3.87 triệu ngời

- Dân tộc: Ngời Hoa(chiếm 78%),ngời Mã Lai (chiếm 14%), ngời ấn (chiếm 7%), và các dân tộc khác (chiếm 1%)

- Các ngôn ngữ chính: Tiếng Anh,tiếng Trung Quốc, tiếng Mã Lai và tiếng Tamin

- Tôn giáo: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo và đạo Hinđu

- Văn hoá: Singapore không có truyền thống văn hoá riêng mà do nguồn gốc dân tộc nên văn hoá nớc này là sự tiếp nhận văn hoá của các dân tộc khác mà chủ yếu là văn hoá của Trung Quốc, đặc biệt là đạo Khổng

- Lịch sử: Singapore là thuộc địa của Anh, sau khi giành đợc quyền tự trị năm 1959 Năm 1963 Malaixia ra

đời,Singapore liên hợp với Malaixia Đến ngày 09/08/1965

Trang 3

tách ra khỏi Malaixia và tuyên bố độc lập, thành lập cộng hoà Singapore

- Thể chế: Cộng hoà

II/ Đặc điểm kinh tế

Singapore đợc đánh giá là nớc đứng thứ hai thế giới về sức mạnh cạnh tranh (sau Hoa Kỳ).Năm 1995 kinh tế nớc nàyđạt tỷ lệ tăng trởng là 7,9% giảm so với 10,4% của năm

1994, đợc coi là phát triển nóng.Năm 1995 GDP của Singapore đạt 92,3 tỷ USD Singaporelà nớc giàu thứ hai ở Châu á sau Nhật Bản và đứng thứ 9 trên thế giới, nớc này

đang đợc xác định là “ quốc gia đang phát triển tiên tiến hơn ”

Cơ cấu kinh tế của Singapore có sự khác biệt hẳn so với nhiều nớc trong khu vực Khu vực công nghiệp hết sức nhỏ bé bao gồm cả lâm nghiệp và ng nghiệp Năm 1994 khu vực này chỉ tạo ra có 0,17% tổng sản phẩm trong nớc

Do vậy công nghiệp và dịch vụ giữ vai trò lớn trong nền kinh tế với t cách là nghành then chốt

*Công ngiệp

Trong 2 thập kỷ gần đây, khu vực công nghiệp (bao gồm cả xây dựng cơ bản) thờng chiếm đến 36 – 37% tổng sản phẩm trong nớc, trong đó nghành xây dựng cơ bản chiếm trên dới 7%, khai khoáng 0,5%, điện nớc và hơi

đốt khoảng 2%, còn lại là các nghành công nghiệp chế biến Trong những năm gần đây tỷ trọng của nghành công nghiệp chế biến trong tổng sản phẩm trong nớc đã

Trang 4

đợc trên 26%, năm 1992 là 26,3%, năm 1993 là 27%, và năm 1994 là 27%

Công nghiệp chế biến của Singapore tập trung vào các lĩnh vực lọc dầu Singapore đầu t vào nghành này khoảng 1,8 tỷ USD để phát triển Năng lực lọc dầu của Singapore hiện nay là 1,1 triệu thùng/ ngày,đa Singapore thành trung tâm lọc dầu lớn thứ 3 trên thế giới Ngoài ra công nghiệp điện tử và thiết bị điện cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Singapore

Bảng 1: Một số chỉ tiêu của các nghành công nghiệp

(theo giá hiện hành) – triệu đô la Singapore

CN chế biến 26505 27310 28541 28398

Điện, hơi đốt,

nớc

CHƯƠNG II: Một số đặc điểm của Chính sách kinh tế

đối ngoại của Singapore

I /.Trong lĩnh vực ngoại thơng:

1) Ngay từ khi tuyên bố độc lập Singapore đã theo

đuổi một chính

sách thơng mại tự do, tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hàng hoá và các dịch vụ hoạt động theo cơ chế thị trờng Một mặt Singapore khuyến khích xuất khẩu bằng việc miễn giảm thuế, u đãi đối với tín dụng xuất khẩu, hỗ trợ bằng việc bảo hiểm xuất khẩu …Mặt khác, Singapore lại thi hành chính sách tự do hoá nhập khẩu bằng việc cắt bỏ

Trang 5

dần thuế quan bảo hộ đối với hàng hoá nhập khẩu, và cho tới nay Singapore đã hầu nh dỡ bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan Đây là một đặc điểm nổi bật của thị trờng Singapore trong hoạt động thơng mại

Singapore là nớc có trình độ ngoại thơng đã phát triển đến trình độ cao Năm 1993 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt đợc gần 74,1tỷ USD, gấp trênn 3,8 lần năm 1980

Đáng chú ý là do công nghiệp phát triển nên trong cơ cấu nghành hàng xuất khẩu thì hàng sản xuất trong nớc tăng dần về tỷ trọng, ngợc lại hàng tái xuất tuy vẫn tăng về lợng tuyệt đối, nhng về tỷ trọng lại giảm đi

Bảng 2: Mặt hàng xuất khẩu chính

Triệu đô la Singapore

Năm Sản phẩm

dầu

Cao su thô

Phơng tiện viễn thông

Hàng may mặc

Dâu thực vật

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Singapore, hàng tái xuất thờng chiếm trên dới 40% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm Chính vì vậy mà Singapore thờng có mức nhập siêu mặc dù kim nghạch xuất khẩu lớn

2)Trong đờng lối phát triển của mình Singapore khẳng định tiếp tục duy trì và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với các bạn hàng truyền thống nh Mỹ, Nhật Bản,

EU, Ôxtrâylia và các thành viên ASEAN

Trang 6

Đối với Mỹ, Singapore tiếp tục duy trì mối quan hệ kinh tế song phơng đã có từ trớc Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Singapore và Mỹ hiện nay ở mức cao Năm

1995 đạt khoảng 25 tỷ USD, chiếm trên 20% tổng kim ngạch ngoại thơng của Singapore Thặng d thơng mại với

Mỹ luôn đạt trên 2 tỷ USD /năm

Bạn hàng lớn thứ hai của Singapore là Nhật Bản (sau Mỹ) Mặc dù do sự chạy đua giành giật thị trờng tại các nớc

đang phát triển ở Đông á

diễn ra một cách hết sức quyết liệt, song quan hệ kinh té thơng mại vẫn không hề giảm xút Lợng hàng hoá nhập khẩu từ Nhật Bản luôn chiếm 20% tổng kim ngạch nhập khẩu của Singapore Năm 1993, Singapore và Nhật Bản đã

có cam kết thơng mại với nhau, sẽ dành cho nhau qui chế tối huệ quốc

Ôxtrâylia đợc Singapore coi là một đối tác láng giềng, tiếp tục thực hiện chính sách thơng mại hợp tác và hữu nghị Trong lĩnh vực kinh tế thơng mại, quan hệ hợp tác giữa hai nớc tiếp tục phát triển Nừu năm 1985, tổng kim nghạch thơng mại giữa 2 nớc chỉ đạt khoảng 1,44 tỷ USD thì tới năm 1992 đã tăng lên 2,1 tỷ USD, trong đó xuất siêu của Singapore đạt gần 500 triệu USD

Singapore luôn thể hiện sự chú trọng của mình trong các quan hệ thơng mại đối với các đối tác trong ASEAN Một trong những biểu hiện rõ nét là tốc độ buôn bán giữa Singapore và các nớc trong khối ASEAN tăng rất nhanh Năm

1990, buôn bán của Singapore và ASEAN đạt giá trị 39,7 tỷ

Trang 7

USD và tỷ trọng buôn bán của ASEAN trong tổng kim ngạch buôn bán của Singapore là cha đầy 1/5 chiếm khoảng 19,4% đến năm 1996, buôn bán của Singapore với các nớc ASEAN đã lên tới 87,5 tỷ USD chiếm 24% tỏng kim ngạch ngoại thơng của Singapore

Một trong những bạn hàng trong khối ASEAN đợc Singapore hết sức quan tâm là Việt Nam Ngày 1/8/1973 Singapore chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Cùng với quá trình mở cửa và đổi mới ở Việt Nam, quan hệ hợp tác kinh tế thơng mại giữa 2 nớc đang ngày càng đợc củng cố và mở rộng

Bảng 3: Cơ cấu xuất nhập khẩu Việt Nam –

Singapore

Triệu đô la Singapore

Nhập khẩu 722,2 821,6 1058,3 1145,8

Sau khi hai nớc thiết lập quan hệ ngoại giao, các thơng nhân Singapore nhập khẩu hàng của Việt Nam không phải nộp thuế 0,5% trị giá hàng nhập khẩu nữa Hiện nay, Singapore là bạn hàng lón nhất của Việt Nam trong khối ASEAN nói riêng lớn thứ hai sau Nhật Bản Giá trị xuất nhập khẩu giữa 2 nớc tăng nhanh từ 619,5 triệu USD năm 1990 lên 3.322,6 triệu USD năm 1996 Do khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997, giá trị ngoại thơng có xu hớng giảm đạt

1080 triệu USD năm 1998 và 822 triệu USD năm 1999

Trang 8

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Singapore bao gồm: dầu thô, lạc nhân, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao

su, đậu các loại, hải sản chè, rau quả, gạo, đỗ, đồ gốm, dày dép, quần áo may sẵn, thiếc …Một số mặt hàng trong số

đó xuất sang Singapore để làm trung chuyển sang các nớc thứ 3 nh Inđônêxia, các nớc Tây âu, và Bắc Mỹ Ngoài ra Singapore còn không thể sản xuất đợc và phải nhập khẩu

đều đặn hàng năm một số mặt hàng nông sản nh gạo, thịt lợn, rau quả tơi, …Đó lại là những thế mạnh vốn có của nền nông nghiệp Việt Nam Vì vậy Việt Nam đã và đang

có chính sách kinh tế đối ngoại phù hợp để tận dụng tối

đa lợi thế này Đây là một thị trờng tơng đối ổn định

nh-ng cũnh-ng đòi hỏi chất lợnh-ng sản phẩm rất khắt khe Tronh-ng khi

đó Singapore xuất khẩu sang Việt Nam 10 nhóm hàng, chủ yếu là máy móc, ô tô, xăng dầu thành phẩm,nhựa đờng, các hoá chất cơ bản, hạt nhựa, giấy làm vỏ bao ximăng, xe máy, đồ uống, đặc biệt là các sản phẩm linh kiện điện

tử, các sản phẩm có hàm lợng chất xám cao

Nền kinh tế Singapore cha đợc chuẩn bị đầy đủ để bớc vào năm 2001, những tín hiệu giảm xút xuất hiện chủ yếu trong lĩnh vực thơng mại Tháng 12 năm ngoái, xuất khẩu phi dầu mỏ của Singapore đã giảm 4,9% Sản phẩm

điện tử chiếm 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Singapore bị ứ đọng, do cầu thế giới về mặt hàng này giảm.Cơ quan Phát triển thơng mại của chính phủ dự báo, tổng kim ngạch thơng mại của Singapore sẽ chỉ tăng từ 7 – 9% vào năm 2001, kém xa mức tăng kỷ lục 22,9 % (kể từ năm 1988) của năm ngoái

Trang 9

Trớc hiện tợng xuất khẩu hàng điện tử 3 tháng đầu năm 2001 giảm 3,8% và khu vực kinh tế t nhân chỉ đạt mức tăng trởng khoảng 5% thậm chí có nơi còn xuống còn 4,1%, nên Bộ Thơng Mại và Công nghiệp Singapore đã dự báo: năm 2001, tăng trởng GDP chỉ đạt 5% - 7%, tơng ứng với dự báo 5% của ADB và cao hơn mức dự báo chính thức

đã đợc sửa đổi 3,5% - 5,5 % của chính phủ, thấp xa so với mức tăng trởng 10,1% của năm 2000 (số liệu của ADB là 9,9%)

Các nhà phân tích cho rằng: mức tiêu dùng cá nhân tăng chậm do nền kinh tế bị thu hẹp lại, xuất khẩu hàng

điện tử sang Mỹ giảm kéo theo chỉ số thơng mại nói chung giảm, sẽ buộc giới tài phiệt Singapore trở lại chính sách trung dung trong năm nay Nhng trong cuộc trả lời phỏng vấn báo ASSOCIATED PRESS hồi tháng 1/2001, thủ t-ớng Goh Chok Tong đã nói: “ Chúng tôi không bao giờ sủ dụng đồng tiền yếu để thúc đẩy xuất khẩu ”, chính sách tiền tệ sẽ đợc giữ ổn định Suốt thập kỷ 90, thặng d ngân sách của Singapore chiếm 3% GDP, điều đó cho phép chính phủ sử dụng một khoảng ngân sách một cách uyển chuyển ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu đi xuống

Và nếu giá năng lợng chỉ tăng vào khoảng 0,6% trong năm nay, Singapore vẫn còn khả năng để điều chỉnh chính sách tiền tệ Bên cạnh đó với môi trờng chính trị ổn định, quốc đảo này tiếp tục là địa chỉ thu hút hàng đầu ở Châu á Thêm vào đó, thặng d tài khoản vãng lai lớn là chỗ dựa cho đồng đô la Singapore, bất chấp sự yếu kém của các đồng tiền khác trong khu vực ADB tiên đoán, nhịp độ

Trang 10

tăng trởng kinh tế của Singapore có thể chậm lại trong năm

2001, nhng với việc tăng cờng đầu t vào giáo dục và hạ tầng cơ sở viễn thông, cùng các biện pháp tự do hoá, nền kinh tế của nớc này trong tơng lai vẫn phát triển mạnh mẽ 2.Trong lĩnh vực đầu t

Một trong những Chính sách kinh tế đối ngoại của Singapore đặc biệt quan tâm đó là lĩnh vực đầu t Trong thời kỳ 1965 – 1990 Singapore đã rất chú trọng tói việc thu hút các nguồn vốn đầu t để phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá ở nớc này, đặc điểm khác biệt của chính sách đầu t ở Singapore so với các chính sách đầu t ở các nớc đang phát triển bấy giờ là chính phủ Singapore đã không đi vay nợ nớc ngoài để phục vụ công nghiệp hoá mà chính phủ này đã sớm tìm ra giải pháp khá hữu hiệu, đó

là tạo lập một môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định, hấp dẫn các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào trong nớc

Chính phủ đã đa ra hàng loạt những u đãi đối với các nhà

t bản nớc ngoài, trong đó ví dụ nh: Cho phép các nhà đầu

t đợc tự do di chuyển các khoản lợi nhuận về nớc, có chế độ

u đãi về thuế đối với nhũng nghành, những lĩnh vực mà chính phủ muốn u tiên đầu t phát triển nh các khoản đầu

t cho nghiên cứu khoa học công nghệ, đào tạo tay nghề cho công nhân và nâng cấp cho các thiết bị sản xuất Nhờ

đó mà Singapore đã rất thành công trong việc thu hút vốn

đầu t nớc ngoài và lợng vốn này thực sự là động lực quan trọng đa nền kinh tế Singapore hội nhập với khu vực và thé giới Cụ thể từ năm 1970 đến 1985 Mỹ đã đầu t trực tiếp vào Singapore 7,9 tỷ USD Vào đầu những năm 90 tuy

Trang 11

đầu t của Mỹ vào thị trờng Singapore có giảm đi song Mỹ vẫn dẫn đầu danh sách các nớc đầu t nhiều nhất vào Singapore Tổng số vốn đầu t của Mỹ vào Singapore vẫn tăng đều theo các năm: 1994 đầu t đạt 10.310 triệu USD, năm 1995 đạt 12.570 triệu USD Về phía các nhà đầu t ngời Nhật Bản thì đầu t của họ vào Singapore từ năm

1991 đến nay vẫn đạt khoảng 400 triệu USD / năm

Bớc sang thập kỷ 90, Chính sách kinh tế đối ngoại của Singapore đã có nhiều thay đổi, do có những thay đổi rất lớn tình hình kinh tế chính trị ở Singapore cũng nh trên thế giới Trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài, Singapore đã không còn trông chờ nhiều vào các khoản viện trợ và đầu t nớc ngoài từ các nớc phát triển nh Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu

mà đã tìm kiếm thị trờng mới

Trong xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới, cùng với sự phát triển bên trong của mình, Singapore khẳng

định rằng khu vực Châu á mà đặc biệt là các nớc trong khối ASEAN là một trong những đối tác đầu t hết sức quan trọng của Singapore Điều đó thể hiện, xét riêng khu vực Đông Nam á,vào năm 1990 đầu t của Singapore vào khu vực này chiếm cha đầy 1% Nhng đến năm 1997 Singapore cùng Malaixia đã trở thành những nhà cung cấp vốn lớn trong khu vực bên cạnh một số các cờng quốc nh Mỹ, Nhật, và một số nớc Châu Âu.Cũng trong năm 1997 tổng vốn đầu t của Singapore vào khu vực là 8,1 tỷ USD (chiếm 60,3% tổng lợng vốn đầu t nội bộ khu vực)

Ngày đăng: 11/04/2018, 10:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w