Will Durant Lịch sử văn minh Ấn Độ Người dịch: Nguyễn Hiến Lê CHƯƠNG IX (B) V. PHONG TRÀO QUỐC GIA Các sinh viên Âu hoá – Thần linh hoàn tục – Quốc dân hội nghị. Năm 1923 có trên ngàn người Ấn du học ở Anh;
Trang 1Will Durant
Lịch sử văn minh Ấn Độ Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
CHƯƠNG IX (B)
V PHONG TRÀO QUỐC GIA Các sinh viên Âu hoá – Thần linh hoàn tục – Quốc dân hội nghị
Năm 1923 có trên ngàn người Ấn du học ở Anh; có thể đoán phỏng chừng rằng ở Mĩ số sinh viên Ấn cũng xấp xỉ như vậy, và rải rác khắp các nước khác cũng có một số tương đương Họ lấy làm ngạc nhiên rằng công dân mạt hạng ở Tây Âu và Mĩ cũng có được đủ các quyền lợi; họ học về các cuộc cách mạng Pháp và Mĩ, vùi đầu đọc các sách viết về các cuộc cải cách và cả các cuộc nổi loạn nữa; họ say mê nghiên cứu bản Tuyên ngôn nhân quyền, bản Tuyên ngôn độc lập của Huê kì và Hiến pháp Huê kì; họ trở về nước truyền bá những ý tưởng dân chủ và tự do mà họ quí như lời trong Thánh kinh Những ý tưởng đó được hoan nghênh nhiệt liệt nhờ những tấn bộ của phương Tây về kĩ nghệ và khoa học, nhờ sự thắng trân của Đồng minh trong thế chiến [thứ nhất]; chẳng bao lâu mỗi sinh viên ở ngoại quốc về đó đều cho tiếng “tự do” là lời hô hào xung phong Người Ấn hấp thụ tinh thần tự
do trong các trường học Anh và Mĩ
Những sinh viên phương Đông sống ở phương Tây đó chẳng phải chỉ chấp nhận một lí tưởng chính trị nào đó mà thôi, họ còn mất cả tín ngưỡng tôn giáo nữa Trong đời sống một cá nhân cũng như trong lịch sử một dân tộc, hai sự tiến hoá đó thường đi đôi với nhau Bọn thanh niên đó, khi mới đặt
Trang 2chân lên châu Âu còn rất kính tín, còn thờ phụng các thần Krishna, Shiva, Vichnou, Kali, Rama…, nhưng rồi tiếp xúc với khoa học, các tín ngưỡng cổ truyền của họ sụp đổ hết ráo Tín ngưỡng tôn giáo đó là linh hồn của dân tộc, bọn người Ấn Âu hoá không còn tín ngưỡng nữa, nay trở về nước, vừa buồn rầu vừa mất hết ảo tưởng: đối với họ thì các thần linh đã chết và rớt từ trên trời xuống[1] Như vậy thì làm sao một thế giới không tưởng chẳng thay thế giới thần linh, quan niệm dân chủ chẳng thay quan niệm Niết Bàn, thần
Tự Do chẳng tiếm ngôi Thượng Đế? Phong trào tư tưởng mới đã xảy ra ở châu Âu giữa thế kỉ XVIII, bây giờ đang diễn lại ở phương Đông
Tuy nhiên các tư tưởng mới đó truyền bá không lấy gì làm mau Năm 1855 vài người Ấn trong giai cấp lãnh đạo họp nhau ở Bombay, thành lập “Quốc dân hội nghị Ấn”, nhưng lúc đó có lẽ họ chưa nghĩ tới cái chuyện đòi độc lập Vì Huân tước Curfon dùng chính sách chia xứ Bengale (nghĩa là phá sự thống nhất mà làm suy nhược miền tấn bộ nhất của Ấn về phương diện chính trị), nên các nhà ái quốc nổi dây và phong trào của họ có tính cách gây loạn Trong cuộc hội nghị năm 1905, Tilak cương quyết, không chịu nhượng
bộ đòi được chính thể Swaraj Ông ta dùng những ngữ căn sancrit tạo ra từ
ngữ mới đó mà người Anh dịch là “seft rule” (tự trị) Cũng trong năm có nhiều biến cố đó, Nhật thắng Nga và phương Đông từ một thế kỉ rồi, sống sợ sệt dưới cái ách của phương Tây, bây giờ bắt đầu nghĩ tới sự giải phóng châu Á Sau đó, Trung Hoa đứng sau Tôn Dật Tiên cầm khí giới, bắt tay với Nhật[2] Ấn Độ không có khí giới, quân đội, bầu một nhân vật kì dị nhất trong lịch sử làm thủ lãnh, và thế giới được mục kích một cảnh chưa từng xảy ra, cảnh một cuộc cách mạng do một vị thánh lãnh đạo, chẳng cần súng ống gì cả
Trang 3
VI MAHATMA GANDHI
Chân dung một vị thánh – Nhà tu hành khổ hạnh – Tín đồ Ki Tô giáo – Cuộc nổi loạn năm 1921 – “Tôi là con người” – Những năm ở tù – “Tân Ấn Độ” – Cuộc cách mạng bằng guồng quay sợi – Sự nghiệp của Gandhi
Xin độc giả thử tưởng tượng con người xấu xí, ốm o, yếu ớt nhất châu Á, mặt và mình mẩy như đồng đen, tóc hoa râm nhưng đầu cạo trọc, lưỡng quyền nhô, cặp mắt nhỏ, màu nâu, hiền từ, miệng rộng, móm, gần rụng hết răng, tai như tai voi, mũi cực to, tay chân lòng khòng; rồi tưởng tượng con người loắt choắt đó chỉ quấn mỗi chiếc sà-rông, đứng trước mặt một thẩm phán Anh, trả lời cuộc chất vấn về tội hô hào đồng bào “bất hợp tác” với Anh Rồi bạn lại rán tưởng tượng thêm nữa con người đó ngồi trên một chiếc thảm nhỏ trong một phòng hoàn toàn trống của trường
Satyagrahashram – Trường Chân lí – của ông ở Almedabad; hai ống chân khẳng khiu quặp lại theo kiểu ngồi kiết già, tay quay một cái guồng quay sợi, mặt nhăn nheo, má hóp vì lo lắng về trách nhiệm nặng nề của mình, trí
óc lúc nào cũng nghĩ cách đối đáp cho mau và thích đáng hết thảy những ai muốn tìm sự tự do Từ năm 1920[3], người thợ dệt gầy gò, cực khổ đó làm thủ lãnh tinh thần và cả chính trị nữa của 320 triệu người Ấn Khi ông ta ra trước quần chúng thiên hạ chen lấn chung quanh ông để được rờ cái sà-rông của ông, hôn bàn chân ông
Mỗi ngày bốn giờ, ông dệt thứ vải thô khaddar, hy vọng thuyết phục được
đồng bào noi gương mình dùng thứ vải nội hoá đó, tẩy chay các hàng Anh
đã làm chết ngành dệt Ấn Tất cả của cải của ông chỉ gồm ba cái khăn vải thô, hai cái để thay đổi quấn mình, một cái để thay giường và nệm Trước
Trang 4kia ông là một luật sư giàu có, sau phân phát hết gia sản cho người nghèo; bà
vợ lúc đó đã đứng tuổi, hơi do dự - điều đó rất dễ hiểu – rồi sau theo ông Ông ngủ ngay trên sàn hoặc trên mặt đất Sống toàn bằng trái cây (hạt dẻ, cam, chanh, chà là…), cơm và sữa dê; nhiều khi suốt mấy tháng chỉ uống sữa và ăn trái cây; trong đời ông chỉ có mỗi một lần ăn thịt; có khi suốt mấy tuần tuyệt thực Ông bảo: “Sự tuyệt thực đối với tôi cũng cần thiết như cặp mắt Mắt quan trọng cho đời sống bên ngoài ra sao thì tuyệt thực cần cho đời sống nội tâm như vậy” Ông cho rằng máu càng trong sạch thì trí óc càng minh mẫn, nhận định được đúng ngoại vật; và các chân lí cốt yếu – đôi khi
có thể thấy được cả linh hồn của vũ trụ - hiện ra phía sau cái Maya cũng như
ngọn núi Everest sau đám mây vậy
Trong khi tuyệt thực để rán chiêm vọng thần linh, ông vẫn không xa lánh cõi trần, vẫn khuyên môn đệ những lúc nhịn ăn phải tắm mỗi ngày một lần để gột hết chất dơ trong cơ thể tiết ra – cơ thể lúc đó sống bằng chất tự dưỡng của nó Thấy người Hồi và người Ấn chém giết nhau vì tín ngưỡng cuồng nhiệt, không nghe lời ông khuyên phải hoà hảo với nhau, ông tuyệt thực trong ba tuần để họ động lòng Sau những lần tuyệt thực như vậy, ông suy nhược quá, tới nỗi phải ngồi trên một cái ghế dựa kê hơi cao thì đám đông bao vây ông mới bắt được những lời phào phào của ông Về tình dục, ông cũng theo phép khổ hạnh như vậy, và ước ao như Tolstoi rằng vợ chồng chỉ khi nào cùng muốn có con thì mới nên ái ân với nhau Chính ông, hồi trẻ, sống quá phóng túng, và được tin thân phụ mất đúng lúc ông đương hoan lạc với một người đàn bà Bây giờ nhớ lại ông rất hối hận, giữ đúng lời khuyên
Brahmacharya, bỏ hết nhục dục Ông thuyết phục được bà sống với ông như
em gái sống với anh và theo ông thì “từ đó, mọi mối bất hoà tiêu tan hết” Khi ông thấy sự giảm mức sinh con đẻ cái là điều tối cần thiết cho Ấn, thì
Trang 5ông không theo những phương pháp châu Âu hiện nay đang dùng, mà dùng những thuyết của Malthus và Tolstoi
Đã biết tình cảnh ra sao rồi thì chúng ta có quyền sanh con nữa không? Đã yếu đuối lại bơ vơ mà cứ tiếp tục sanh đẻ thì chỉ làm tăng thêm số người khổ
sở và nô lệ thôi… Chừng nào Ấn Độ chưa thành một quốc gia độc lập thì chúng ta không có quyền sanh con nữa… Tôi chắc Ấn Độ thành một quốc gia gồm đàn ông và đàn bà sung sướng, khoẻ mạnh, mà không tự ý chế dục, không sanh đẻ nữa
Người ta bảo rằng ngoài những nét đặc biệt đó, tính tình Gandhi còn có nhiều điểm giống vị Sáng lập ra Ki Tô giáo một cách lạ lùng Ông không nhắc tới tên Chúa Ki Tô nhưng hành động đúng theo lời dạy của Chúa trong
bài Thuyết giáo trên Núi Từ thời thánh François d’Assise tới nay, trong lịch
sử nhân loại chưa có một người nào mà tâm hồn cao thượng, hi sinh, giản dị như vậy, dĩ đức báo oán như vậy Lòng nhân từ, khoan dung bất tuyệt của ông làm cho chính kẻ thù cũng phải tỏ ra lễ độ, nhã nhặn: chính quyền Anh mời ông vô khám mà tái tam xin lỗi ông Tuyệt nhiên ông không tỏ một vẻ nào là oán hận hay bất bình Ba lần ông bị bọn lưu manh nào đó đánh cho té xỉu, rồi bỏ đi, tưởng chết; vậy mà ông không hề báo cho cảnh sát để truy tố,
và khi một kẻ hành hung ông bị bắt, ông yêu cầu chính phủ tha cho hắn Trong một cuộc bạo động dữ dội nhất giữa Ấn và Hồi, bộ lạc Moplah của Hồi giết mấy trăm người Ấn tay không, lột da bọc qui đầu để dâng chúa Allah; vậy mà ít lâu sau, chính những người Hồi đó bị nạn đói thì Gandhi quyên tiền khắp Ấn Độ để cứu họ và trái với tất cả các thủ tục từ trước, quyên được bao nhiêu ông đưa cho họ hết, không thiếu một xu, phí tổn ông chịu cả
Trang 6
Mohandas Karamchand Gandhi sanh năm 1869 Gia đình ơng thuộc tập cấp
Vaisya và theo giáo phái Jạn, thực hành giới luật ahimsa, khơng làm thương
tổn sinh mệnh một lồi vật nào cả dù là con sâu cái kiến Thân phụ ơng là một nhà cai trị giỏi[4] nhưng về tài chính thì theo chính sách thực khác đời:
vì quá lương thiện mà bỏ lỡ hết các cơ hội, và chỉ giữ lại một chút gia sản cho vợ con cịn bao nhiêu bố thí cho người nghèo hết Mohandas hồi nhỏ tởm về sự dâm đãng của một số thần Ấn Độ, nên chủ trương thuyết vơ thần
và ăn thịt để tỏ lịng khinh tơn giáo Rồi ơng lại ghét thịt mà trở về tơn giáo
Hồi tám tuổi gia đình dạm hỏi cho ơng một thiếu nữa, tên là Kasturbai, và mười hai tuổi ơng làm lễ cưới; bà trung thành theo ơng trong suốt cuộc đời sĩng giĩ của ơng, trong cảnh giàu cũng như trong cảnh nghèo, trong khám cũng như trong khi diệt dục Mười tám tuổi ơng thi đậu vơ Đại học rồi qua Londres học luật Ngay trong năm đầu ở Londres, ơng đã đọc hết tám mươi
cuốn sách về Ki Tơ giáo Bài Thuyết giáo trên Núi làm ơng xúc động liền
Ơng thấy khơng cĩ gì cao cả hơn là dĩ đức báo ốn và yêu cả kẻ thù của mình và ơng quyết định thà chết để giữ đúng qui tắc đĩ chứ khơng chịu thành cơng mà vi phạm nĩ
Trở về Ấn năm 1891, ơng làm đại tụng ở Bombay trong một thời gian,
nhưng ơng khơng chịu truy tố một người thiếu nợ và luơn luơn tự cho mình cái quyền khơng biện hộ cho thân chủ nữa nếu thấy người đĩ trái Vì một vụ kiện, ơng phải qua Nam Phi, rồi thấy đồng bào của ơng ở đĩ bị người Anh ngược đãi[5], ơng khơng trở về Ấn, ở lại Nam Phi, hi sinh hồn tồn, khơng chút vị lợi cho đồng bào, cố giải thốt họ khỏi tình cảnh lệ thuộc khốn khổ, tủi nhục của họ Trong hai chục năm ơng khơng ngớt chiến đấu cho họ tới
Trang 7khi chính quyền Anh phải nhượng bộ mới thôi Lúc đó ông mới chịu hồi hương
Ông đi khắp nước Ấn và lần đầu tiên nhận thấy nỗi điêu đứng cùng cực của đồng bào Ông kinh hoảng khi thấy những nông dân chỉ còn xương với da làm việc quần quật ở ngoài đồng, thấy những “tiện dân” thấp hèn nhất làm những công việc tởm nhất trong các thành phố Ông có cảm tưởng rằng vì người Anh thấy người Ấn ở trong xứ đói khổ, đê tiện quá nên khinh luôn cả những người Ấn ở nước ngoài, kì thị họ, coi họ như tôi mọi Nhưng trong thế chiến [thứ nhất], ông trung thành với Anh, tính khuyến khích cả những người Ấn không theo giới luật bất bạo động đầu quân giúp Anh nữa Hồi đó ông chưa gia nhập nhóm người Ấn đòi độc lập, ông tưởng rằng chính sách cai trị xấu xa của Anh ở Ấn chỉ là một ngoại lệ chứ xét chung thì chính quyền của Anh tốt, ở Ấn nó hoá xấu vì bọn thực dân không theo những qui tắc thi hành ở chính quốc; và nếu dân tộc Anh hiểu được trường hợp của Ấn thì không do dự gì cả, tất cho Ấn sáp nhập vào cộng đồng các quốc gia “tự trị” dưới sự lãnh đạo của Anh liền Ông hi vọng rằng khi chiến tranh chấm dứt, Anh nhận định được đúng sự hi sinh của Ấn cho đế quốc, hi sinh về nhân mạng và tiền bạc, thì có lẽ nào Anh không cho Ấn được tự do
Nhưng hết chiến tranh, phong trào đòi độc lập bị đàn áp; sắc lệnh Rowland bãi bỏ hết mọi tự do ngôn luận, tự do báo chí, thành lập một Quốc hội bù nhìn, đưa ra những cải cách Montagu-Chelmsford, rồi sau cùng tàn sát người
Ấn ở Amritsar, Gandhi tức thì hành động Ông gởi trả Phó vương Ấn tất cả những huy chương mà chính phủ Anh đã tặng ông, rồi ông hô hào toàn dân
Ấn bất phục tùng chính quyền Anh ở Ấn Dân chúng hưởng ứng nhưng không đúng với ý ông: ông muốn dùng chính sách bất bạo động mà họ lại
Trang 8bạo động, gây ra nhiều cuộc đổ máu; chẳng hạn ở Bombay người ta giết năm mươi ba người Parsi không gia nhập phong trào Gandhi đã nguyện giữ giới
luật ahimsa, lại tạo ra một thông cáo khác bảo ngưng ngay mọi cuộc bạo
động, nổi loạn, hoãn cuộc vận động bất phục tòng lại vì dân chúng chưa hiểu
ý nghĩa của nó Trong lịch sử hiếm có một người can đảm hành động theo qui tắc của mình như ông, khinh miệt sự hoạt đầu và danh vọng Dân chúng thấy phong trào phát động mạnh, tưởng gần thành công rồi nên ngạc nhiên
về thái độ đó của ông; họ không nghĩ như ông rằng phương tiện cũng có thể quan trọng ngang với cứu cánh Danh tiếng của ông lúc đó xuống cực thấp
Đúng lúc đó, chính quyền ra lệnh bắt ông[6] Ông không chống cự, không chịu lựa luật sư mà cũng chẳng thèm tìm cách tự biện hộ cho mình nữa Khi viên Phó Chưởng lí buộc tội rằng những hành động của ông đã gây ra cuộc nổi loạn 1921, và ông phải chịu hết trách nhiệm, ông đáp bằng những lời lẽ cho ta thấy rõ tâm hồn cao thượng của ông:
Tôi xin được một mình chịu hết trách nhiệm mà ông Phó Chưởng lí học thức uyên bác muốn trút lên vai tôi, nhân những vụ xảy ra ở Bombay, Madras và Chauri-Chaura Trong bao nhiêu đêm trường tôi đã suy nghĩ kĩ về những biến cố đó và tôi không thể nào không nhận rằng tôi phải chịu trách nhiệm
về những tội ác ghê gớm đó Ông Phó Chưởng lí hoàn toàn có lí khi ông bảo rằng một người có thể lãnh trách nhiệm, một người có kiến thức như tôi thì trước khi hành động phải cân nhắc kĩ hậu quả đã Tôi đã biết rằng tôi chơi với lửa đấy, sẽ nguy hiểm đấy, nhưng nếu bây giờ tôi được phóng thích thì tôi cũng sẽ hành động như trước nữa Sáng nay tôi có cảm tưởng rằng nếu tôi không tuyên bố những lời tôi đương tuyên bố đây thì tôi sẽ không làm tròn phận sự của tôi
Trang 9
Trước kia tôi muốn tránh sự bạo động, bây giờ tôi cũng vẫn muốn tránh sự bạo động Điều căn bản trong tín ngưỡng của tôi là ghê tởm sự bạo động Nhưng tôi phải lựa chọn: một là phục tòng một chế độ cai trị mà tôi tin là hoàn toàn có hại cho quốc gia tôi, hai là thấy đồng bào tôi cuồng nhiệt nổi loạn lên khi họ hiểu được sự thực Tôi biết rằng đồng bào tôi đã có một thái
độ vô lí trong nhiều trường hợp Tôi ân hận về điều đó lắm, cho nên hôm nay tôi tới đây để xin chịu hình phạt, không phải nhẹ, mà nặng nhất Tôi không xin được khoan hồng Tôi không viện ra những trường hợp giảm khinh Tôi lại đây để can đảm xin lãnh cái án nặng nhất vì một hành động
mà luật pháp coi là một tội ác cố ý, còn tôi thì tôi coi là bổn phận thiêng liêng của một công dân
Viên Chánh án tỏ ý rất ân hận rằng phải nhốt khám một người được hằng triệu đồng bào coi là “một nhà đại ái quốc, đại lãnh đạo quần chúng” Ông ta nhận rằng cả những người bất đồng ý với Gandhi cũng phục Gandhi là “hi sinh cho một lí tưởng rất cao, sống một cuộc đời cao thượng, đức độ như một vị thánh nữa” Rồi ông ta tuyên án: sáu năm tù
Gandhi vô khám mà không phàn nàn một lời Ông viết: “Tôi không thấy một
tù nhân nào khác mặc dầu tôi không sao tưởng tượng nổi rằng sống chung với họ, tôi có thể làm hại cho họ được” Nhưng “tôi sung sướng, tánh tôi quen với cảnh cô độc rồi Tôi thích sự yên lặng Và ở đây tôi tha hồ học hỏi
vì sống ở ngoài đời, tôi đã phải bỏ bê việc đó” Ông đọc rất kĩ những tác phẩm của Bacon, Carlyle, Ruskin, Emerson, Thoreau và Tolstoi, lúc nào muốn nghĩ ngơi thì ông đọc Ben Jonson và Walter Scott Ông đọc đi đọc lại
bộ Bhagavad-Gita Ông học các tiếng sanscrit, tamil, urdu để có thể trao đổi
Trang 10thư từ với các người có học và nói trước đám đông nữa Ông lập một chương trình học cho mấy năm ở trong khám, theo đúng chương trình cho tới khi có một việc bất thường bắt ông phải ngưng lại Ông bảo: “Tôi thường cầm cuốn sách lên mà trong lòng sung sướng như một thanh niên hai mươi bốn tuổi, quên rằng mình đã năm mươi bốn tuổi và sức khoẻ quá suy nhược”
Ông bị một cơn đau bụng nặng vì chứng ruột dư và chính quyền phải thả ông ra; ông thường mạt sát Tây y, lần này nhờ Tây y mà ông thoát chết Một đám đông vĩ đại bu lại ở cửa khám để hoan hô ông khi ông bước ra, nhiều người hôn chiếc sà-rông bằng vải thô của ông Nhưng ông xa lánh mọi hoạt động chính trị, không tiếp xúc với đại chúng, viện lẽ rằng sức khoẻ suy nhược, nên về trường Ahmedabad của ông, sống mấy năm trong cảnh an tĩnh, cô liêu với các môn đệ Nhưng mỗi tuần ông cũng viết một bài trong tờ
Ấn Độ trẻ trung trình bày triết lí của ông về cách mạng và đời sống Ông năn
nỉ những người theo ông phải tránh sự bạo động, chẳng những vì bạo động
là tự tử - Ấn Độ không đủ phương tiện vật chất để ứng chiến – mà còn vì bạo động chỉ là thay một sự độc tài bằng một sự độc tài khác Ông bảo: “Đọc lịch sử chúng ta thấy rằng những người – có lẽ do một thiện ý giải thoát cho dân khỏi bị áp bức – dùng bạo động để lật đổ những kẻ quyền hành, rốt cuộc cũng hoá ra độc tài, và dân chúng quá phẫn uất lại lật đổ họ… Nếu Ấn Độ dùng phương tiện bạo động thì tôi không muốn giải thoát Ấn Độ nữa vì những phương tiện đó không đưa tới tự do mà chỉ đưa tới nô lệ”
Điểm thứ nhì trong thuyết của ông là khinh miệt tân kĩ nghệ Ông chịu ảnh hưởng của Rousseau, hô hào trở về đời sống nông nghiệp, tiểu công nghệ, đời sống giản dị ở thôn quê Theo ông, nhốt đàn ông và đàn bà vào trong các xưởng rồi bắt họ dùng những máy móc để chế tạo một bộ phận của những