1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử văn minh Ấn Độ CHƯƠNG III (B) potx

20 448 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 276,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG KIM THỜI ĐẠI Các cuộc xâm lăng – Các vua Kushan – Đế quốc Gupta – Pháp Hiển qua Ấn Độ - Văn học phục hưng – Hung Nô vô Ấn Độ - Harsha đại độ - Huyền Trang qua Ấn Độ thỉnh kinh Suốt

Trang 1

Will Durant

Lịch sử văn minh Ấn Độ Người dịch: Nguyễn Hiến Lê

CHƯƠNG III (B)

III HOÀNG KIM THỜI ĐẠI

Các cuộc xâm lăng – Các vua Kushan – Đế quốc Gupta – Pháp

Hiển qua Ấn Độ - Văn học phục hưng – Hung Nô vô Ấn Độ -

Harsha đại độ - Huyền Trang qua Ấn Độ thỉnh kinh

Suốt một thời gian gần sáu trăm năm từ khi vua Açoka băng cho tới khi Đế quốc Gupta thành lập, các kí tái và tài liệu Ấn Độ rất hiếm, thành thử cả một đoạn sử còn chìm trong bóng tối Như vậy không có nghĩa rằng thời đó là thời các nhà cầm quyền theo chính sách ngu dân; nhiều trường Đại học như trường Taxila vẫn tiếp tục hoạt động, trong khi ở Tây Bắc Ấn Độ, ảnh

hưởng của Ba Tư về kiến trúc, của Hi Lạp về điêu khắc, gây nên được một nền văn minh phồn thịnh theo dấu vết của vua Alexandre Hai thế kỉ thứ II

và thứ I trước Công nguyên, các dân tộc Syrie, Hi Lạp, Scythe tràn vào miền Pendjab, làm chủ miền này và tạo nên nền văn minh Hi Lạp – Bactriane[1] tồn tại ba trăm năm Ở thế kỉ thứ I kỉ nguyên mà chúng ta có óc hẹp hòi gọi

là kỉ nguyên Ki Tô, một bộ lạc ở Trung Á, bộ lạc Kushan, cùng một huyết thống với dân tộc Thổ (Turc), xâm chiếm Kaboul, rồi từ đô thị đó, thống ngự lần lần tất cả miền Tây Bắc Ấn Độ và một phần lớn Trung Á Dưới triều vua Kanishka, ông vua hùng cường nhất của họ, nghệ thuật và khoa học rất tấn

bộ, ngành điêu khắc Hi lạp – Phật giáo sản xuất được vài công trình đẹp nhất; ngành kiến trúc cũng tạo được những đền đài rực rỡ ở Peshawar,

Trang 2

Talixa và Mathura Charaka cĩ cơng lớn với Y khoa, cịn Nagarjuna và

Ashvaghosha đặt cơ sở cho phái Mahayama (Đại thặng hoặc Đại thừa), nhờ

đĩ mà đạo Phật truyền bá mạnh ở Trung Hoa và Nhật Bản Kanishka chấp nhận mọi tơn giáo, mới đầu thờ đủ các thứ thần, sau cùng theo một phái Tân Phật giáo cĩ tính cách thần thoại, thờ Thích Ca như một vị thần tối cao, dưới

Ngài cĩ vơ số Bodhisattwa (Phật Bồ Tát) và Arhat (La Hán); ơng ta lập một

đại hội nghị Phật giáo, triệu tập các nhà thần học Phật giáo tới để thảo luận

và định những tín điều cho tân tín ngưỡng, rồi ơng cho truyền bá tín ngưỡng này; cĩ thể coi ơng là Açoka thứ nhì của Ấn Độ Hội soạn 300.000 sutra (cách ngơn, lời kinh), hạ thấp triết lí Phật xuống cho bình dân hiểu được và tơn Đức Phật thành một vị thần

Trong khoảng thời gian đĩ, Chandragupta I (khơng nên lộn với Chadragupta Maurya, cũng gọi là Chandragupta I) đã sáng lập triều đại các vua bản thổ Gupta Người kế vị ơng, Samudragupta, trị vì năm chục năm, nổi danh là một trong những minh quân bậc nhất suốt trong mấy ngàn năm lịch sử Ấn

Độ Ơng thiên đơ từ Pataliputra tới Ayodhya, chỗ xưa kia của Rama[2] trong thần thoại; xua quân và phái các quan thu thuế vơ miền Bengale, miền

Assam, miền Népal và miền Nam Ấn, ơng dùng số tiền các nước chư hầu nộp cống để phát triển văn học, tơn giáo, khoa học và nghệ thuật Chính ơng, khi nào khơng cầm quân thì làm thơ và chơi đàn, vào hạng cĩ tài Con trai ơng, Vikamaditya (Mặt trời của Uy quyền) tiến xa hơn nữa về võ bị cũng như về văn hĩa, nâng đỡ kịch tác gia danh tiếng Kalidasa và qui tụ được ở kinh đơ Ujjạn một đám đơng thi sĩ, triết gia, nghệ sĩ, bác học, học giả ưu tú Dưới hai triều vua đĩ, Ấn Độ đạt tới một trình độ văn minh chưa hề cĩ từ thời Phật Thích Ca và một sự thống nhất chính trị ngang với các triều đại Açoka và Akbar

Trang 3

Trong tập kí sự về lần qua Ấn thỉnh kinh ở đầu thế kỉ thứ V sau Công

nguyên, nhà sư Pháp Hiển đã ghi lại ít nét về văn minh Gupta Ông là một trong số nhiều nhà sư Trung Hoa qua Ấn Độ trong thời đại hoàng kim đó,

mà số người hành hương đó còn ít hơn số các thương nhân, sứ thần từ đông hoặc từ tây vượt các dãy núi cao để vô Ấn Độ, có người từ La Mã tới, làm cho Ấn được cái lợi tiếp xúc với các phong tục và tư tưởng ngoại quốc Sau khi liều mạng vượt qua được các tỉnh phía Tây Trung Hoa, nhà sư Pháp Hiển ngạc nhiên rằng ở Ấn Độ, người ta yên ổn đi khắp nơi được, không gặp một tên trộm cướp, không bị ngăn cản, ức hiếp Ông cho chép trong tập nhật

kí rằng ông mất sáu năm mới tới Ấn Độ, ở Ấn sáu năm nữa, rồi mất ba năm nữa để trở về Trung Hoa theo đường biển, đi ngang qua Tích Lan và Java Ông thán phục sự giàu có, thịnh vượng, đức hạnh và hạnh phúc của dân Ấn, thán phục sự tự do mà họ được hưởng về phương diện xã hội và tôn giáo Ông ngạc nhiên về sự rộng lớn, đông đúc của các đô thị, nhất là đâu đâu cũng có những nhà thương thí và mọi cơ quan từ thiện[3].[4] Bức tranh ông lưu lại về Ấn Độ thực là nên thơ, trừ chuyện chặt bàn tay mặt:

Dân trong xứ đông mà sung sướng, không phải theo một nghi thức hành chánh nào cả mà cũng chẳng phải tuân một vị phán quan nào; chỉ những người cày cấy đất của nhà vua là phải nộp cho Quốc gia một phần lợi tức thôi Muốn đi đâu thì đi, muốn ở đâu thì ở Nhà vua trị dân mà không bao giờ xử trảm ai, cũng không phải dùng đến thể hình Tội nhân chỉ phải đóng một số tiền phạt, ngay như tái phạm tội phản nghịch mà cũng chỉ bị chặt bàn tay mặt thôi… Trong khắp nước, không một người nào giết một sinh vật nào,

và họ không ăn tỏi, ăn hành Chỉ trừ những người Chadala… Xứ đó không nuôi heo, gà mái, cũng không bán gia súc, ở chợ không thấy bán thịt, quầy

Trang 4

rượu

Pháp Hiển còn nhận thấy rằng các tu sĩ Bà La Môn, từ thời Açoka không còn các vua triều đại Maurya hậu đãi nữa, lại bắt đầu giàu có, hống hách trở lại dưới triều đại Gupta Họ phục hồi lại truyền thống văn học thời tiền - Thích Ca và đương làm cho tiếng Sanscrit thành một thứ “thế giới ngữ” cho khắp các nhà trí thức Ấn Độ Nhờ ảnh hưởng của họ và nhờ sự khuyến

khích, bảo trợ của Triều đình, mà các anh hùng ca Mahabharata và

Ramayana được viết thành hình thức lưu lại hiện nay Cũng ở dưới triều đại

đó, nghệ thuật Phật giáo đạt tới mức cao nhất nhờ các bích hoạ trong các hang Ajanta Theo ý kiến một học giả Ấn hiện đại thì “nội những tên

Kalidasa và Varahamihira, Gunavarman và Vashubandu cũng đủ làm cho thời đại đó thành hoàng kim thời đại của văn minh Ấn Độ rồi” Havell bảo:

“Một sử gia vô tư, không thể nào không nghĩ rằng sự cai trị của người Anh nếu làm cho Ấn Độ được hưởng lại những lợi ích tổ tiên họ đã hưởng ở thế

kỉ thứ V sau Công nguyên, chỉ làm được bấy nhiêu thôi thì cũng là thành công nhất rồi”

Kỉ nguyên rực rỡ của văn hóa Ấn Độ đó bị cuộc xâm lăng của Hung Nô làm gián đoạn, dân tộc này thời đó tàn phá châu Á và châu Âu, diệt trong một thời gian Đế quốc Ấn Độ và Đế quốc La Mã Trong khi Attila (A-Đề-Lạp) tàn phá châu Âu thì Toramana chiếm Malwa, và Mihiragula tàn nhẫn kinh khủng, cướp ngôi của các vua Gupta Ấn Độ phải chịu cảnh nô lệ và hỗn loạn trong một thế kỉ Rồi một hậu vệ của giòng Gupta, vua

Harsha-Vardhana giành lại được Bắc Ấn, dựng kinh đô ở Kanauj và trong bốn mươi hai năm, lặp lại được cảnh thanh bình trong một vương quốc rộng lớn, văn học và nghệ thuật lại bắt đầu đâm bông Theo truyền thuyết thì khi bọn xâm

Trang 5

lăng Hồi giáo chiếm Ấn Độ vào năm 1018 sau Cơng nguyên, chúng tàn phá một vạn ngơi đền ở Kanauj, như vậy thì kinh đơ Kanauj rộng rãi, thịnh

vượng và rực rỡ biết bao – nhưng truyền thuyết đĩ khĩ tin được Những cơng viên đẹp đẽ, những hồ tắm miễn phí chỉ là một phần những ân huệ của triều đại mới Chính Harsha là một trong số rất hiếm minh quân làm cho người ta nghĩ rằng chế độ quân chủ là chế độ hồn hảo nhất – trong một thời gian Ơng là một người đủ tài đức, đẹp trai, làm những bài thơ, soạn những

vở kịch mà hiện nay người Ấn cịn đọc Nhưng tài văn thơ đĩ khơng làm hại tài trị nước của ơng Huyền Trang bảo: “Ngài làm việc khơng biết mệt, thấy ngày ngắn quá, Ngài tận tuỵ với việc nước tới nỗi quên ngủ” Mới đầu ơng theo giáo phái Shiva, sau cải giáo, theo đạo Phật, thành một Açoka, cũng mộ đạo và cĩ cơng với đạo như Açoka Ơng cấm dân chúng ăn thịt, dựng trong lãnh thổ của ơng những tha-la cho khách bộ hành nghỉ chân, và cất trên bờ sơng Gange mấy ngàn điện Phật nhỏ gọi là “tope”

Huyền Trang, nhà sư đi thỉnh kinh nổi tiếng nhất của Trung Hoa, bảo rằng Harsha cứ năm năm lại tổ chức một đại lễ để bố thí Ơng mời đại diện tất cả các tơn giáo, gọi tất cả những người nghèo khổ trong nước lại Ơng cĩ thĩi quen, trong quốc khố cịn chứa bao nhiêu tiền thuế dành dụm từ đại lễ lần trước (nghĩa là năm năm trước), lần này đem ra bố thí hết Huyền Trang ngạc nhiên thấy biết bao nhiêu vàng bạc, tiền và nữ trang, tơ lụa gấm vĩc chất đống trong một khoảng rộng, chung quanh cĩ cả trăm cái lều chứa cả ngàn người Ba ngày đầu cúng bái, tụng kinh, ngày thứ tư bắt đầu bố thí Theo lời vị cao tăng đĩ – cĩ vẻ khơng tưởng tượng nổi – hàng vạn tăng được cấp thức ăn thức uống, rồi được tặng mỗi người một viên ngọc trai, y phục, hoa, dầu thơm và trăm đồng tiền Các tu sĩ Bà La Mơn cũng được hậu tặng gần như vậy, rồi tới các tu sĩ Jạn, rồi tới các tu sĩ khác, sau cùng tới lượt các

Trang 6

người nghèo không theo một tôn giáo nào, những trẻ mồ côi trong nước Có khi bố thí tới ba bốn tháng mới hết Sau cùng chính nhà vua Harsha cởi hết y phục rực rỡ, lột hết vàng bạc châu báo đeo trong mình để phân phát

Theo kí sự của Huyền Trang thì dân Ấn thời đó mộ đạo một cách hoan hỉ, ai thấy cũng thích Danh tiếng Ấn Độ thời đó vang lừng ở ngoại quốc, chẳng vậy mà một nhà vọng tộc Trung Hoa từ bỏ cảnh phú quí, mạo hiểm qua các tỉnh miền Tây Trung Hoa, thời đó còn bán khai, qua Tachkent và

Samarcande (một thành phố rất phồn thịnh), vượt dãy núi Hymalaya để tới

Ấn Độ siêng năng học trong ba năm ở tu viện Nalanda (Na-Lan-Đà) Ông vừa là một nhà quí phái, vừa nổi danh học rộng biết nhiều, nên tới đâu cũng được các vua chúa tiếp rước long trọng

Khi Harsha hay tin Huyền Trang đương ở triều đình Kumara, quốc vương

xứ Assam, ông ra lệnh cho Kumara cùng với Huyền Trang lại yết kiến ông ở Kanauj Mới đầu Kamura từ chối, bảo Harsha có thể chặt đầu mình chứ không thể cướp vị quốc khách của mình được Harsha đáp: “Ta muốn cái thủ cấp của nhà vua đấy” Thế là Kamura phải tới Thấy cử chỉ, ngôn ngữ cao nhã, sức hiểu biết siêu quần của Huyền Trang, Harsha kính trọng liền, tập hợp một đám cao tăng Ấn để nghe Huyền Trang thuyết pháp về Đại thặng Huyền Trang viết luận đề rồi treo ở cửa đền, chỗ sẽ có cuộc tranh biện, và theo thói thời đó, thêm một câu rằng: “Ai thấy trong luận đề có chỗ nào không vững, và bác được thì tôi xin đưa đầu cho mà chặt” Cuộc tranh biện kéo dài mười tám ngày, và theo lời Huyền Trang, ông thắng được mọi

người, làm cho những kẻ theo tà giáo phải luống cuống (Theo một thuyết khác thì các người tranh biện với ông thấy thắng không được, nổi lửa đốt ngôi đền) Sau biết bao gian nan nữa, ông trở về tới Trung Hoa[5], được một

Trang 7

minh quân Trung Hoa [vua Đường Thái Tôn] tiếp đón long trọng, các kinh Phật mà vị thánh kiêm Marco Polo đó thỉnh ở Ấn Độ về, được chứa trong một ngôi chùa đẹp đẽ và ngày đêm, một nhóm Cao tăng bác học được nhà vua phái tới, giúp ông cùng dịch[6]

Nhưng danh vọng của triều đại Harsha phù du và giả tạo vì chỉ dựa vào sự khôn khéo và đức độ của một ông vua, mà vua chẳng phải chết? Harsha băng rồi, một kẻ tiếm ngôi, và cái bề trái của chế độ quân chủ lại hiện rõ Ấn

Độ phải trải qua gần một ngàn năm hỗn loạn Ấn Độ cũng có thời Trung cổ suy đồi như châu Âu, cũng bị các rợ xâm lăng, chia cắt, tàn phá Phải đợi tới khi đại vương Akbar xuất hiện, cảnh thái bình và thống nhất mới được phục hồi

IV LỊCH SỬ RAJPUTANA

Các “võ sĩ” Ấn Độ - Thời đại các hiệp sĩ – Thành Chitor thất thủ

Trong suốt thời đại u ám đó, chỉ có công nghiệp anh hùng của miền

Rajputana là chiếu bừng lên một lát Miền đó gồm những tiểu quốc tên rất

du dương: Mewar, Marwar, Amber, Bikaner vân vân… Dân chúng, một nửa

là người bản xứ, một nửa là hậu duệ các dân tộc xâm lăng Scythe hay Hung

Nô, đã dựng nên một nền văn minh phong kiến, các “rajah” (tiểu vương Ấn Độ) của họ hiếu chiến và chỉ nghĩ tới nghệ thuật hưởng thụ chứ không nghĩ tới bồi dưỡng nghệ thuật Mới đầu họ chịu phục tòng các vua Maurya và Gupta, rồi sau biết bảo vệ sự độc lập của họ, và của toàn thể Ấn Độ khi các

rợ Hồi giáo vô cõi Các thị tộc của họ chiến đấu rất anh dũng, ít miền khác nào bằng[7] Theo Tod, sử gia tán dương họ, thì mỗi người đàn ông là một

Trang 8

Kshatriya bất khuất và mỗi đàn bà là một nữ kiệt Tên của dân tộc họ,

Rajput, có nghĩa là “con vua”, và đôi khi họ gọi xứ họ là Rajasthan, tức “xứ

của vua chúa”

Tất cả cái điên khùng và tất cả cái thi vị của thời hiệp sĩ Trung cổ châu Âu – can đảm, trung tín, mê nhan sắc phụ nữ, tranh nhau, chém giết nhau, đầu độc, ám sát nhau – tất cả những cái đó đều có đủ trong lịch sử của xứ anh dũng Rajputana Sử gia Tod bảo: “Các thủ lãnh Rajpute có đủ các đức hiệp

sĩ châu Âu mà trí tuệ còn hơn nhiều” Phụ nữ của họ rất khả ái, đàn ông sẵn sàng hi sinh cho đàn bà mà đàn bà cho sự tự hỏa thiêu để chết theo chồng là một phép lịch sự chứ không có gì đáng khen Một số ít phụ nữ có văn hóa cao, vài rajah là thi sĩ hoặc nhà bác học nổi danh, thỉnh thoảng vẽ những bức hoạ rất đẹp bằng màu pha nước theo kiểu Ba Tư thời Trung cổ Trong bốn thế kỉ họ gom góp được không biết bao nhiêu vàng bạc châu báo tới nỗi có thể trong một ngày tiêu một số tiền bằng bốn trăm triệu quan hiện nay[8] vào

lễ đăng quang

Họ hãnh diện rằng coi chiến tranh là nghệ thuật tối cao và một số nhà quí phái Rajpute thì không nên làm nghề gì khác nghề võ, đó là bi kịch của lịch

sử họ Nhờ tinh thần thượng võ đó họ chống cự nổi với bọn Hồi giáo và khét tiếng là anh dũng[9], nhưng đồng thời họ cũng ham gây lộn với nhau quá, nội chiến lung tung, các tiểu quốc chia rẻ nhau, yếu đi, và khi gặp nạn ngoại xâm, mặc dầu họ chiến đấu can đảm mà cũng không tự cứu được Chuyện thành Chitor – một trong những kinh đô của họ - thất thủ, do Tod kể lại, đọc cũng say mê như truyện hoang đường Athur hoặc truyện Charlemagne, vì tài liệu đều mượn của các sử gia Rajpute, những người quá yêu nước, chắc là

không chép hết sự thực, cho nên bộ sử Rajasthan có lẽ cũng chỉ là những

Trang 9

truyện hoang đường như La Mort d’Arthur hoặc La chanson de Roland

Theo người chép sử, tướng Hồi xâm lăng Alau-d-din không muốn chiếm thành Chitor mà muốn chiếm công chúa Pudmini – “danh hiệu này chỉ để tặng người đẹp nhất trong nước” – Viên tướng Hồi bảo sẽ rút quân, không bao vây thành Chitor nữa nếu viên phụ chánh chịu dâng công chúa cho hắn Viên phụ chánh không chịu, hắn lại đề nghị sẽ rút quân nếu chỉ cho hắn được thấy mặt công chúa thôi, cũng lại từ chối nữa, sau cùng hắn chỉ xin được thấy cái bóng của công chúa trong gương thôi, như vậy mà cũng bị từ chối nữa Chẳng những vậy, các phụ nữ Chitor cũng tiếp sức chồng con để bảo vệ đô thành và đàn ông Rajpute thấy mẹ và con gái chết trong chiến tranh bên cạnh mình thì càng hăng mà chiến đấu tới người cuối cùng Khi Alau-d-din vô được Chitor thì trong thành không còn lấy một người sống sót, bao nhiêu đàn ông đều chiến đấu mà chết hết, còn những phụ nữ nào

không ngả gục bên cạnh chồng con thì theo tục Jokur ghê gớm, tự chất củi,

châm lửa để thiêu mình

V THỜI CỰC THỊNH CỦA PHƯƠNG NAM

Các vương quốc miền Deccan – Vijayanagar - Krishna Raya – Một Mẫu quốc thời Trung cổ - Luật pháp – Nghệ thuật – Tôn giáo – Hí kịch

Bọn xâm lăng Hồi càng tiến sâu vô thì văn hóa Ấn Độ càng lùi xuống

phương Nam, thành thử tới cuối thời Trung cổ, chỉ ở miền Deccan là còn thấy những nét cao nhã nhất của nền văn minh Ấn Độ Trong một thời gian,

bộ lạc Chalyuka còn duy trì được nền độc lập của vương quốc vắt ngang qua Trung Ấn, từ bờ biển bên đây qua bờ biển bên kia, dưới triều Pulakeshin II, vương quốc đó khá vinh quang và hùng cường để thắng được Harsha, làm

Trang 10

cho Huyền Trang phải phục và sứ thần Ba Tư Chosroès II phải tỏ lòng tôn kính Chính dưới triều đại đó, trong vương quốc của Pulakeshin, xuất hiện những bức hoạ quan trọng nhất của Ấn Độ, tức những bích họa Ajanta Ngai vàng của Pulakeshin bị vua Pallava lật đổ, và ông vua này thống trị Trung

Ấn trong một thời gian ngắn Ở cực Nam, và từ thế kỉ thứ I, các bộ lạc

Pandya đã thành lập một vương quốc gần Madura, Tinnevelly và vài phần của Travancore, họ xây cất ở Madura một đền thờ vĩ đại và vô số công trình kiến trúc nhỏ hơn, làm cho Madura thành một trong những đô thị đẹp nhất thời Trung cổ Ấn Độ Nhưng rồi họ bị các bộ lạc Chola đánh tan, sau bị bọn Hồi xâm chiếm Người Chola cai trị cả hai miền từ Madura tới Mabras, phía Tây tiến tới Mysore Họ đã xuất hiện từ thời Thượng cổ vì trong các sắc lệnh của Açoka có nói tới họ, nhưng tới thế kỉ thứ IX chúng ta không biết gì về

họ cả, thế kỉ này họ mới thịnh lên, mở màn cho một loạt xâm lăng và tất cả các tiểu vương Nam Ấn, cả Tích Lan nữa, phải triều cống họ Rồi họ suy lần

và phải lệ thuộc quốc gia lớn nhất miền Nam, Vijayanagar[10]

Vijayanagar – tên này vừa là tên một vương quốc, vừa là tên một kinh đô – gợi cho ta niềm hoài cảm về sự phù du của vinh quang và tính mau quên của loài người Thời cực thịnh, nó gồm các tiểu quốc hiện nay của bán đảo, kể cả Mysore và Madras Muốn biết thời đó nó thịnh ra sao chỉ cần nhớ rằng vua Krishna Raya, trong trận Talikota, chỉ huy 703.000 bộ binh, 32.600 kị binh

và 551 thớt voi, chưa kể mấy trăm ngàn người, nào là con buôn bán đồ vặt, theo quân đội, gái điếm và cả một bọn giang hồ thời xưa thường bu chung quanh một đạo quân ra mặt trận Chính sách chuyên chế dịu bớt nhờ cái lệ cho các làng tương đối tự trị và nhờ thỉnh thoảng có được một minh quân nhân từ Krishna Raya thống trị Vijayanagar ngang thời vua Henri VIII ở Anh[11] và có thể so sánh với ông vua cực đa tình này Ông công bằng, đại

Ngày đăng: 09/07/2014, 12:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w