Cảm quan về xã hội trong dòng chảy tự nhiên của đời sống sinh hoạt, phong tục.. a..[r]
Trang 1MAI THỊ NHUNG
phong cách nghệ thuật
TÔ HOÀI
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC - 2006
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU
Trong số các tên tuổi hàng đầu của văn xuôi hiện đại Việt Nam, Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng vào bậc nhất Ông chiêm kỷ lục về số đầu sách - đến nay ông đã cho in trên 160 cuốn Tô Hoài là cây bút rất đa dạng về đề tài và thể loại Ông viết nhiều, viết hay về Hà Nội xưa và nay, từ vùng quê ven thành đen cuộc sống của nhiều tầng lớp cư dân thành phố Ông là người có đóng góp to lớn cho sự thành công của văn xuôi viết về miền núi và các dân tộc thiểu số Tô Hoài từng đặt chân đến nhiều đất nước, xứ sở ở gần hết các châu lục và đem đến cho bạn đọc nhiều trang viết hấp dẫn về cảnh sắc, sinh hoạt phong tục vừa xa lạ vừa gần gũi ở nhiều nơi trên thế giới Tô Hoài là nhà văn yêu quý của nhiều thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Đến nay đã có trên 65 năm lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai nhưng ngòi bút Tô Hoài vẫn cần mẫn, sáng tạo dường như thách thức cả thời gian và tuổi tác
Một nhà văn lớn có sự nghiệp sáng tác đồ sộ và đặc sắc như Tô Hoài tất phải thu hút sự chú ý và hứng thú tìm hiểu, khám phá của giới nghiên cứu, phê bình Kể từ bài viết của Vũ Ngọc Phan trong bộ Nhà văn hiện đại (1943) đến nay, đã có trên dưới một trăm bài viết lớn, nhỏ vào Hoài và tác phẩm của ông Càng ngày, người ta lại càng tìm thấy nhiều điều hấp dẫn, thú vị và có ý nghĩa từ đời văn, đời người của nhà văn này "Khám phá về ông cả về văn lẫn về đời là một say mê với chúng ta, những người
có hạnh phúc được cùng thời với ông, và chắc cả thế hệ sau Khám phá về ông là cả một vấn đề khoa học lớn lao nhưng trước hết với chúng tôi là đòi hỏi của tình cảm, của tòng biết ơn, sự noi gương" (Vũ Quần Phương - Tô Hoài - văn và đời)
Nghiên cứu văn nghiệp phong phú, đồ sộ của Tô Hoài cần đến nhiều công trình và nhiều cách tiếp cận Chuyên luận Phong cách nghệ thuật Tô Hoài của Mai Thị Nhung
là một hướng tiếp cận cần thiết và có ý nghĩa quan trọng để khám phá về sự nghiệp văn học của nhà văn Tìm ra được những đặc điểm trong phong cách nghệ thuật một nhà văn tà đã nắm được đặc trưng cơ bản và bền vững của cách thụ cảm, của cái nhìn
về con người và đời sống, những đặc điểm tạo nên tính thống nhất và độc đáo trong thế giới nghệ thuật của nhà văn ấy Nhưng khám phá phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhất là với những tác giả mà sự nghiệp sáng tác hết sức đa dạng, phong phú như
Tô Hoài không phải là công việc dễ dàng Trên cơ sở kê thừa và phát triển nhiều nhận định chính xác của các nhà văn, nhà nghiên cứu, công trình của Mai Thị Nhung đã khái quát được một hệ thống những đặc điểm của phong cách nghệ thuật Tô Hoài, từ hạt nhân cơ bản là cảm quan hiện thực đời thường đến thê giới nhân vật đa dạng bình
dị, giọng điệu dí dỏm và ngôn ngữ dung dị tự nhiên đậm tính khẩu ngữ Có thể còn có những đặc điểm khác nữa của phong cách nghệ thuật Tô Hoài cần được tìm hiểu thêm, ví như những đặc điểm trong nghệ thuật trần thuật, kết cấu Cũng có thể có những cách khái quát khác về đặc điểm phong cách nghệ thuật Tô Hoài Nhưng sự
Trang 3khái quát và phân tích về phong cách nghệ thuật Tô Hoài của tác giả công trình này là những cố gắng rất đáng ghi nhận, góp phần nghiên cứu sâu hơn về Tô Hoài và khẳng định tài năng cũng cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn Xin trân trọng giới thiệu chuyên luận Phong cách nghệ thuật Tô Hoài với bạn đọc, đặc biệt là với những người quan tâm và mến mộ nhà văn Tô Hoài
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2006
PGS Nguyễn Văn Long TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 4Lời nói đầu
Thế kỷ XX đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền văn học hiện đại Việt Nam
Ở đó đã có bao nhà văn tự khẳng định vị trí và phong cách nghệ thuật của mình
Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn học hiện đại nước nhà Hơn 65 năm miệt mài sáng tạo, ông đã đóng góp cho kho tàng văn học dân tộc hơn 160 đầu sách Các chặng đường sáng tác của ông gắn bó chặt chẽ với từng bước đi của nền văn học hiện đại Việt Nam Từ khi xuất hiện trên văn đàn đến nay, sáng tác của Tô Hoài đã được nghiên cứu về nhiều phương diện, nhiều phạm vi trên nhiều hướng tiếp cận Tuy nhiên, hầu hết những công trình nghiên cứu về Tô Hoài mới chỉ dừng lại ở một phương diện nào đó hoặc trong một tác phẩm, hoặc trong sự nghiệp sáng tác của tác giả Chúng tôi nghĩ rằng với một tác giả có vị trí và sự cống hiên đặc biệt cho nền văn học dân tộc như Tô Hoài, không thể chỉ dừng lại ở đó Với suy nghĩ như thế, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề Phong cách nghệ thuật Tô Hoài
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một tác giả văn học quả là một việc làm không dễ dàng, đặc biệt là với Tô Hoài, khi ông đã có hơn 65 năm lao động nghệ thuật nghiêm túc với hơn 160 đầu sách được sáng tác trong nhiều giai đoạn, nhiều thể loại, nhiều đề tài Tuy vậy, chúng tôi vẫn mong muốn tìm hiểu vấn đề này - một vân đề gai góc mà lại thật lý thú
Để nghiên cứu vấn đề đặt ra, chúng tôi đã cố gắng đi tìm hạt nhân phong cách nghệ thuật Tô Hoài Hạt nhân đó sẽ chi phối toàn bộ thê giới nghệ thuật của tác giả Tất cả sẽ được quy tụ vào một bình diện đặc sắc làm nên phong cách nghệ thuật nhà văn
Với hướng đi và cách tiếp cận vấn đề như thế, bước đầu chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đặt ra Mặc dù rất cố gắng, song việc nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Tác giả xin chân thành đón nhận mọi ý kiên phê bình, góp ý của bạn đọc và kính mong bạn đọc lượng thứ
Tác giả
Trang 5MỞ ĐẦU
Với hơn 85 năm tuổi đời, hơn 65 năm tuổi nghề và hơn 160 đầu sách đã xuất bản, cho đến nay, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại nước ta đạt được nhiều con số
kỷ lục trong sự nghiệp sáng tác của mình Tô Hoài là một nhà văn lớn của nền văn học
hiện đại Việt Nam Trên hành trình sáng tạo hơn 65 năm không ngừng nghỉ, Tô Hoài
đã trải qua những mốc lịch sử và văn học đặc biệt: trước và sau Cách mạng tháng Tám; trong chiến tranh và trong hoà bình; trước và sau thời kỳ đổi mới văn học Sáng tác của Tô Hoài lại đa dạng về đề tài và thể loại: từ đề tài miền xuôi đến đề tài miền núi, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện đồng thoại đến kịch bản phim, tiểu luận Ở đề tài và thể loại nào, ông cũng ghi lại những dấu ấn riêng rõ nét "Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng" (Hà Minh Đức), luôn thể hiện đầy đủ bản lĩnh của người cầm bút…
Tô Hoài là một nhà văn lớn, một nhà văn "vừa vào nghề soát lại vừa kéo dài tuổi nghề - một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải lê lết trong tẻ nhạt" (Vương Trí Nhàn) Trên nhiều trang viết của mình, ông luôn có "một giọng điệu riêng, một cách nói riêng" (Phong Lê) sáng tạo độc đáo Đóng góp của ông cho nền văn học hiện đại Việt Nam là không thể phủ nhận Lâu nay các nhà nghiên cứu văn học đã dành nhiều
sức lực, tâm huyết cho những sáng tác có giá trị của Tô Hoài, nhưng những công trình
coi phong cách Tô Hoài là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt lại chưa được chú trọng
Chúng tôi nghĩ rằng, Tô Hoài là một nhà văn lớn, sừng sững đứng trên cánh đồng văn chương hiện đại nước nhà, rất xứng đáng được dành một đề tài chuyên biệt để nghiên cứu phong cách nghệ thuật của ông
Tô Hoài chính thức vào nghề văn từ truyện ngắn Nước lên (1940) Tác phẩm của
nhà văn lâu nay đã trở thành đối tượng nghiên cứu cho nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học trong và ngoài nước
Trước năm 1945, Tô Hoài đã có một số lượng đầu sách đáng kể tiểu thuyết Quê
người, Giăng thề, tập truyện ngắn O Chuột, hồi ký Cỏ dại, tập truyện ngắn Nhà nghèo ), nhưng số lượng công trình nghiên cứu về tác giả chưa nhiều Người đầu tiên
nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan Trong
Nhà văn hiện đại (1943 ) Vũ Ngọc Phan đã xếp: "Tiểu thuyết của Tô Hoài thuộc loại
tả chân, có khuynh hướng về xã hội" Ngay từ những tác phẩm giai đoạn này, Tô Hoài
đã bộc lộ nét riêng độc đáo trong cách nhìn và giọng điệu văn chương Từ tiểu thuyết
Quê người, ông tỏ ra là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc, phát hiện "cả
những cách sống cùng cực, rất đáng thương của người dân quê”, cả "những màu tươi tắn ở cái tính rất nhẹ nhàng, ở cái tính chất phác và không lo xa của người dân quê nữa" Tô Hoài là một nhà văn có tài quan sát nên "từ ngôn ngữ, cử chỉ, thói tục cho đến những cảnh sinh hoạt của những người dân quê Tô Hoài đều đã tả với nghệ thuật
chân xác" Không những thế, ngay từ tập truyện ngắn O Chuột.( 1942), Tô Hoài đã "tỏ
Trang 6ra không giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông" Ông có một "lối văn" đặc biệt, "một lối văn dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị và màu sắc của thôn quê"
Sau năm 1945, những công trình nghiên cứu về văn chương Tô Hoài khá nhiều Các tác giả tâm huyết với văn chương Tô Hoài tiêu biểu là Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Vân Thanh, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Vương Trí Nhàn, Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Đăng Điệp Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất nhận thấy, Tô Hoài có năng khiếu quan sát nổi trội Ông quan sát vừa có diện, vừa có điểm Cái nhìn tinh tế sắc sảo mang tính ổn định và in đậm dấu ấn riêng Phan
Cự Đệ đã nhận thấy "Tô Hoài có một khả năng quan sát đặc biệt, rất thông minh hóm hỉnh và tinh tế Nhất trí với ý kiến đó, Nguyễn Đăng Mạnh chỉ rõ: "Nhà văn có một
khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sao tài hoa" Hà Minh Đức trong đi giới thiệu
Tô Hoài cũng đã khẳng định: "Tô Hoài có một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh
chóng thế giới khách quan" Trần Hữu Tá chỉ rõ năng lực đặc biệt của Tô Hoài chính
là "nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén sắc sảo, Nguyễn Văn Long nhấn mạnh: "ở
Tô Hoài, cảm quan hiện thực nghiêng về phía sinh hoạt và phong tục" Vương Trí Nhàn quả quyết: "Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt" Nguyễn Đăng Điệp khái quát: "Cái nhìn không nghiêm trọng hoá là nét trội trong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài"
Như vậy là, khả năng quan sát, cái nhìn hiện thực tinh tế sắc sảo của Tô Hoài là một yếu tố nổi trội thuộc năng khiếu bẩm sinh của nhà văn Nó là hạt nhân phong cách nghệ thuật tác giả bởi chính năng khiếu này đem đến chất liệu hiện thực riêng trong sáng tác của Tô Hoài
Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài là một trong những phương diện được các nhà nghiên cứu nhìn nhận khá thống nhất Phan Cự Đệ cùng với những phát hiện về khả năng quan sát của Tô Hoài đã khẳng định: "Anh quen viết về những nhân vật, những cảnh đời hồn nhiên như hơi thở của sự sống, khoẻ mạnh, thuần phác, lạc quan như những con người trong truyện cổ tích Trữ tình, trong sáng đẹp và ý nhị như
ca dao"
Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh rằng, thế giới nhân vật của Tô Hoài còn có những hạn chế nhất định: "Anh chưa thật thành công khi thể hiện những bước ngoặt của tính cách" "Anh ít khai thác nhân vật của mình ở góc độ trí tuệ, ở sự bừng tỉnh trí tuệ và hầu như cũng chưa có nhân vật trí tuệ nào được miêu tả thành công trong tác
phẩm của anh" Đáng chú ý là ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Tô Hoài
với quan niệm "con người là con người ", tác giả khẳng định: "Tô Hoài quan niệm con
người là con người, chỉ là con người, thế thôi" Vì thế, nhân vật của ông được khai thác "toàn chuyện đời tư, đời thường" Ngay cả "nhân vật cách mạng, nhân vật anh hùng của ông thường ít được lý tưởng hoá Tô Hoài không thích che đậy phương diện người thường, đời thường của những chiến sỹ cách mạng Ngay cả thế giới loài vật của
Trang 7Tô Hoài cũng vậy thôi, chẳng có những phượng hoàng, kỳ lân, chẳng có hổ, báo, sư tử ghê gớm gì, chỉ toàn những con vật tầm thường vẫn sinh sống hằng ngày quanh ta" Đặc điểm riêng này khiến thế giới nhân vật Tô Hoài phong phú, đa dạng và gần gũi với mỗi chúng ta
Đặc biệt là văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ Tô Hoài, những phương diện đã được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhận diện Vân Thanh khẳng định: "Ngôn ngữ Tô Hoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao động" Ý kiến đó được phân Cự Đệ tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: "Tô Hoài đã chú ý học tập ngôn ngữ nghề nghiệp và ngôn ngữ địa phương" "Trong tác phẩm của Tô Hoài nhìn chung ngôn ngữ của quần chúng đã được nâng cao, nghệ thuật hoá" Cùng với Phan Cự Đệ, Bùi Hiển thấy rằng: "Văn phong Tô Hoài chủ yếu làm bằng những nét nhẹ, mảnh, nhuần nhị, tinh tế, đôi khi hơi mờ ảo nữa"
Nhất trí với nhận định ấy, Hà Minh Đức, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Vũ
Quần Phương, Trần Đình Nam, Lê Phòng, Nguyễn Đăng Điệp, trong các công trình
nghiên cứu của mình tiếp tục có những nhận xét sắc sảo: "Khi miêu tả thiên nhiên cũng là lúc văn của Tô Hoài đậm màu sắc trữ tình và giàu chất thơ" (Hà Minh Đức);
"Tô Hoài có khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả sinh động Người, vật, thiên nhiên, cảnh sinh hoạt tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái "thán" của đối tượng và thường bàng bạc một chất thơ" (Trần Hữu Tá); "Tô Hoài có biệt tài miêu tả sinh hoạt và phong cảnh miền xuôi cũng như miền núi và có một lối kể truyện rất tự nhiên, dí dỏm, có khi tinh quái, (Nguyễn Văn Long); "Viết về cái của mình, quanh mình là định hướng nghệ thuật và cũng là kênh thẩm Mỵ của Tô Hoài Đúng hơn, đây là yếu tố cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông Nó khiến cho văn Tô Hoài có được phong cách, giọng điệu riêng Đó là một giọng kể nhẩn nha, hóm hỉnh và tinh quái" (Nguyễn Đăng Điệp)
Các nhận xét trên, tuy đã đề cập đến một số phương diện thể hiện phong cách nghệ thuật Tô Hoài, nhưng chủ yếu mới là những nhận định nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu mang tính khái quát, giới thiệu Phong cách nghệ thuật tác giả được coi là một đối tượng chuyên biệt thì chưa có một công trình khoa học nào Chính vì thế, việc nghiên cứu dưới góc độ phong cách học toàn bộ sáng tác của Tô Hoài là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa Đặc biệt là với Tô Hoài khi ông đã cống hiến cho nền văn học hiện đại nước nhà hơn 1 60 đầu sách trong một thời gian dài hơn nửa thế kỷ đã qua
Tìm hiểu phong cách nghệ thuật Tô Hoài là tìm hiểu một trong những phương diện
cơ bản nhất nhằm ghi nhận những thành tựu sáng tạo của nhà văn Chúng tôi nghĩ rằng, tìm hiểu phong cách nghệ thuật Tô Hoài là phải đi từ yếu tố hạt nhân chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác giả - từ cảm quan hiện thực đến việc xây dựng hình tượng nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ, để chỉ ra những đặc sắc làm nên nét riêng độc đáo ở tác giả
Trang 8Trong quá trình nghiên cứu sáng tác của Tô Hoài, chúng tôi nhận thấy, phong cách nghệ thuật của ông được hình thành và phát triển trong từng giai đoạn sáng tác, tuy nhiên, do áp lực của thời đại, có chặng đường các yếu tố thể hiện phong cách nhà văn chìm dưới mạch ngầm nhưng không hoàn toàn mất đi Công việc của chúng tôi là, tìm
ra được phong cách nghệ thuật Tô Hoài thể hiện qua toàn bộ các chặng đường sáng tác, các thể loại, các đề tài của nhà văn Vì thế, đối tượng khảo sát của chúng tôi là toàn bộ sáng tác của tác giả Tuy nhiên, số lượng tác phẩm của Tô Hoài rất phong phú, cho nên, khi nghiên cứu chúng tôi sẽ tập trung nhiều hơn vào những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn trong mỗi thể loại qua từng chặng đường sáng tác Để tìm hiểu phong cách Tô Hoài, chúng tôi còn đặt tác giả trong sự tương quan với các nhà văn có phong cách khác để thấy rõ những yếu tố làm nên nét đặc trưng riêng trong sáng tác của ông Phong cách là một thuật ngữ không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà còn được dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã hội Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, thuật ngữ phong cách được sử dụng rộng rãi và ngày càng
có ý thức Xung quanh thuật ngữ này, lâu nay có rất nhiều định nghĩa, quan niệm phong phú, đa dạng
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, với các đại biểu xuất sắc như Platon, Aristote, khái niệm phong cách đã được nghiên cứu vận dụng Bước sang thế kỷ XIX, đặc biệt
là thế kỷ XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc Chỉ ngay ở
Liên Xô, viện sỹ M.B Khrapchenkô trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự
phát triển văn học đã thống kê tới gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách [121,
129- 152] Ngoài ra còn phải kể đến công trình của V.V.Vinôgrađôp [198], của
D.X.Likhatsep [134], các công trình của M.B Khrapchenkô [121], [122], [123]
Ở nước ta, tuy muộn màng hơn, nhưng những năm gần đây, các nhà lý luận nghiên cứu văn học đã dành nhiều công sức tìm hiểu vấn đề phong cách Từ những sách công
cụ như: Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên [54], Từ điển thuật ngữ văn học do
Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên [46], 150 thuật ngữ văn học
do Lại Nguyên Ân biên soạn [2], Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên[36], Lý
luận văn học - ván đề và suy nghĩ của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương [48], Lý luận văn học của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La
Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình [143]; Các công trình khoa học: Dẫn luận phong
cách học [56], Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hoà [57], Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử [176], Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng của
Nguyễn Văn Dân [12] đến các công trình đi sâu nghiên cứu phong cách tác giả cụ thể: Tác phẩm và chân dung của Phan Cự Đệ [22], Thơ và mấy vân đề trong thơ Việt
Nam hiện đại của Hà Minh Đức [31], Nhà văn tư tưởng và phong cách của Nguyễn
Đăng Mạnh [148], Văn học và học văn của Hoàng Ngọc Hiến [52], Văn học Việt Nam
trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long [139], Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc [156], Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
cua Tôn Phương Lan [129] Có thể nhận thấy, qua các công trình nghiên cứu trên, có
Trang 9hai cách nhìn nhận về phong cách: một từ góc độ ngôn ngữ học, một từ góc độ văn
học Tiêu biểu là ý kiến của V.V.Vinôgrađôp ông thấy rằng: cần chia phong cách học
về văn học thành phong cách học thuộc ngôn ngữ học và phong cách học thuộc nghiên cứu văn học [1984] Nhất trí với ý kiến đó, D.X.Likhatsep cũng đề nghị phân biệt hai khái niệm phong cách: "phong cách như là hiện tượng ngôn ngữ văn học và phong
cách như là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định" [1944] Như vậy về cơ bản,
các nhà lý luận và nghiên cứu văn học đều thống nhất có phong cách ngôn ngữ học và phong cách văn học Trong đó, mỗi phạm trù có con đường tiếp cận riêng Nhận thấy vai trò của việc nghiên cứu phong cách văn học, DX Likhatsep viết: "Cái gọi là phong cách học vãn học" là kiểu nghiên cứu phong cách duy nhất, thích ứng, phù hợp với những đặc điềm về chất của đối tượng của nó của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ”
Vậy phong cách thuộc khoa học văn học là gì ?
Viện sỹ Nga D.X.Likhalsep trong cuốn Thi pháp văn học Nga cổ định nghĩa:
phong cách "là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định", là "nguyên tắc thẩm
Mỵ để cấu trúc toàn bộ nội dung và toàn bộ hình thức" Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật Trong khi đó V Đnepôp lại cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có lính nội dung ông phát biểu: "phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ
đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật"
Viện sỹ M.B Khrapchenkô sau khi thống kê một số định nghĩa xung quanh phạm trù phong cách cá nhân, đã đưa ra ý kiến của riêng mình: "Phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đội với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả" [121, 152] Như vậy, cùng với việc quan tâm đến yếu tố hình thức có tính nội dung, tác giả còn đặc biệt coi trọng sự thu hút độc giả ông cho rằng mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và những hình tượng
ấy trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả Và điều đó cũng có nghĩa là nhà văn tạo ra được phong cách Trên cơ sở phân tích như vậy, Viện sỹ rất nhất trí với nhận xét của Gôlxuôrxy "Phong cách - đó là khả năng các nhà văn khắc phục những chướng ngại vật giữa mình và độc giả, còn sự thành công cao nhất của phong cách là ở sơ giao tiếp chặt chẽ với độc giả"
Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách còn có những quan điểm khác nhau Tựu trung lại có hai ý kiến cơ bản: một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội
dung và những yếu tố tạo hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách được coi
như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung Mặc dù tách bạch như váy nhưng trong đó
có sự thống nhất bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố bộc lộ tài năng độc đáo của người nghệ sỹ - nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương
Trang 10Trước những quan niệm như vậy, M.B.Khrapchenkô nhấn mạnh: "Không nên thần thánh hoá những thuật ngữ và những định nghĩa, không nên cho rằng chúng là chiếc chìa khoá duy nhất để khám phá tất cả những bí mật của nghệ thuật" Vấn đề là ở chỗ
"những định nghĩa không phải là mục đích tự thân và không phải là chiếc gậy thần có thể làm ra những điều kỳ diệu, chúng chỉ là phương tiện nhận thức những hiện tượng, những quá trình" [121,130]
Các nhà lý luận, nghiên cứu văn học nước ta cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội hàm thuật ngữ phong cách Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyên Khắc Phi trong
cuốn Từ điển thuật ngữ văn học trên cơ sở thừa nhận hai phạm trù phong cách ngôn
ngữ và phong cách nghệ thuật, đã định nghĩa: "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chịu sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc" Và khẳng định: "Trong chỉnh thể "nhà văn" (hiểu theo nghĩa là các sáng tác của một nhà
văn), cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận
độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy"
Thống nhất với quan điểm đó, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, La
Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình trong cuốn Lý luận văn học định nghĩa: "Phong cách
là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm Mỵ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” Quả thật tính độc đáo là yếu tố quyết định tạo
phong cách nghệ thuật Từ lâu khi nghiên cứu Ý niệm cái đẹp trong nghệ thuật hay lý
tưởng, G.W Pa.Hê ghen đã khẳng định: "Phong cách nói chung bao hàm tính chất độc
đáo của một chủ thể nhất định Chủ thể này sẽ biểu lộ ở trong phương thức biểu đạt, trong cách nói năng " Ông nhấn mạnh, hạt nhân của phong cách nghệ thuật là "tính chất độc đáo của một chủ thể nhất định" Và theo G.W Hê ghen "tính chất độc đáo chân chính" là "sự sáng tạo duy nhất của một tinh thần không lấy những tài liệu và chắp vá tài liệu gồm từng mảnh ở bên ngoài Trái lại, nó tạo nên một thể hoàn chỉnh nhất phiến gắn liền với nhau chặt chẽ, nói lên một điều duy nhất và được phát triển thông qua bản thân phù hợp với cách chính đối tượng được hợp nhất ở trong chủ thể" Nhìn chung các nhà lý luận và nghiên cứu văn học đều nhấn mạnh cá tính sáng tạo, độc đáo mang tính thẩm Mỵ của nhà văn Cụ thể hoá các yếu tố tạo phong cách nghệ thuật tác giả, các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhà văn muốn có phong cách riêng,
trước hết phải có tư tưởng độc đáo, có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có cảm hứng
độc đáo, có hệ thống phương thức riêng độc đáo lẽ dĩ nhiên phải là tính chất độc đáo chân chính" (Hê ghen) Xung quanh khái niệm phong cách tác giả, vấn đề còn đặt ra là phong cách tác giả có quan hệ với phong cách thời đại, phong cách trào lưu văn học như thế nào? Giữa phong cách với thi pháp liên quan với nhau ra sao?
Nghiên cứu phong cách, ngoài phong cách tác giả, người ta còn nghiên cứu phong cách thời đại, phong cách trào lưu, nghĩa là cái chung, cái tạo nên sự gần gũi nhau của
Trang 11những phong cách cá nhân Quan tâm đến mối quan hệ này, A.Xôkôlôv viết: "Hình thức chủ yếu của sự thống nhất phong cách là khuynh hướng nghệ thuật - phạm trù cơ bản của quá trình nghệ thuật Phong cách của khuynh hướng- đó là tính cộng đồng của những đặc điểm phong cách khiến cho sáng tác của những nghệ sỹ thuộc một khuynh
hướng nhất định gần gũi nhau phong cách riêng lẻ không thể tồn tại nếu thiếu cái
chung, thiếu phong cách của khuynh hướng Phong cách bao giờ cũng bắt nguồn từ cái chung" Đành rằng phong cách khuynh hướng có ảnh hưởng, tác động trực tiếp tới phong cách cá nhân nhưng không thể đề cao một cách tuyệt đối phong cách của khuynh hướng khi mà tác giả cho rằng "phong cách riêng lẻ không thể tồn tại nếu thiếu cái chung, thiếu phong cách của khuynh hướng Phong cách bao giờ cũng bắt nguồn từ cái chung" ấy Bởi lẽ một khi đề cao tuyệt đối như vậy đã vô hình làm giảm ý nghĩa của phong cách cá nhân
Giữa phong cách học và thi pháp học cũng có những mối quan hệ qua lại Có trường phái cho rằng phong cách và thi pháp đều thuộc một phạm trù, chúng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ như một điều hiển nhiên Lại có trường phái tuyệt đối hoá hai khái niệm này một cách cực đoan cho rằng, giữa phong cách và thi pháp không có quan hệ ràng buộc gì với nhau Thực ra phong cách và thi pháp là hai phạm trù khoa học có nội hàm riêng
V.V.Vinôgrađôp định nghĩa thi pháp học như là khoa học "về các hình thức, các phương tiện và phương thức tổ chức của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học", như là một khoa học có xu hướng bao quát
"không chỉ các hiện tượng ngôn từ thi ca mà còn cả những phương diện rất đa dạng của các tác phẩm văn học thành văn và phong cách của sáng tác ngôn từ dân gian" Ông nhấn mạnh: "Thi pháp học không thể không nghiên cứu cấu tạo bên trong các tác phẩm nghệ thuật, các thể loại văn học không thể không nghiên cứu sự phát triển của các thể loại cũng như các nguyên tắc chung của việc thể hiện đời sống trong sáng tác" Tuy vậy, tác giả mới chỉ dừng lại ở hình thức, phương tiện, phương thức, chưa đề cập đến những nguyên tắc, phương pháp sáng tác mà thiếu những yếu tố này thì chưa thể hiểu được cấu trúc của các tác phẩm văn học
M.B.Khrapchenkô rất thận trọng khi phát biểu quan niệm về thi pháp học Ông viết
"không thể kỳ vọng một định nghĩa thật đầy đủ, thật bao quát", nhưng có thể xác định
"Thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng" Theo ông đối tượng của thi pháp học, phạm vi những hiện tượng chủ yếu mà thi pháp học nghiên cứu bao gồm các phương diện và thuộc tính khác nhau của sự lĩnh hội thế giới bằng hình tượng Do vậy "việc nghiên cứu các phong cách cũng được bao gồm vào đây trên bình diện chung"
"Chẳng có căn cứ chặt chẽ nào để đồng nhất thi pháp học và phong cách học, hoặc
để chia tách dứt khoát chúng với nhau [123, 236] Theo M.B Khrapchenkô, phong
Trang 12cách học và thi pháp học có "tính độc lập tương đối", có "sự liên hệ năng động" Vì vậy chúng có quan hệ rất mật thiết với nhau Nghiên cứu phong cách không thể không nghiên cứu những yếu tố thuộc phạm trù thi pháp và ngược lại, thi pháp là cơ sở khoa học, là bằng chứng đầy sức thuyết phục để làm nên phong cách tác giả Mối liên quan
ấy được viện sỹ M.B.Khrapchenkô tiếp tục khẳng định: "Thi pháp và phong cách là những hiện tượng liên quan mật thiết với nhau, tuy nhiên những nguyên tắc của thi pháp có tính chất chung hơn so với những đặc điểm của phong cách"
Trở lại khái niệm phong cách, chúng tôi nhất trí với quan niệm cho rằng: "Nói đến phong cách là nói đến những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tương đối ổn định, được "lặp đi lặp lại" trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người" [24, 16]
Như vậy, căn cứ duy nhất để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi bật (về nội dung và hình thức) trên từng tác phẩm văn học tạo nên tính độc đáo và giá
trị của một nhà văn, một hiện tượng văn học Theo chúng tôi, những biểu hiện độc đáo
và giá trị thể hiện tài năng sáng tạo nghệ thuật ấy, đều được chi phối từ tư tưởng nghệ thuật của tác giả Tư tưởng nghệ thuật ấy lại được cụ thể hoá trong cảm quan hiện
thực, cảm hứng sáng tác chủ đạo, thế giới nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ Trong
đó cảm quan hiện thực là yếu tố hàng đầu có vị trí quan trọng Nhà văn Nguyên Tuân
đã từng khẳng định: "Mỗi người viết có một cái vision (nhỡn quan) riêng Nó đẻ ra phong cách"
Phong cách nhà văn là một quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác Mặc dù vậy, cái riêng độc đáo có giá trị mang tính thẩm Mỵ - cốt lõi phong cách, dù ở điều kiện hoàn cảnh nào cũng ổn định, thống nhất Nó phải được
"lặp đi lặp lại, một cách có hệ thống và luôn bị chi phối bởi cái nhìn độc đáo của nhà văn Chúng thường xuyên ở thế vận động, phát triển và chịu ảnh hưởng của thế giới quan, môi trường xã hội và xu thế chung của thời đại Nhưng dù ở môi trường nào, xu thế xã hội ra sao, yếu tố thường xuyên được "lặp đi lặp lại" ấy vẫn xuất hiện cho dù chúng ở thế lộ thiên hay dưới mạch ngầm
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật Tô Hoài sẽ được chúng tôi nhìn nhận trên cơ sở định hướng như vậy Yếu tố nổi trội vừa mang tính ổn định, độc đáo, vừa chi phối các
yếu tố khác làm nên thế giới nghệ thuật riêng của Tô Hoài là cảm quan hiện thực đời
thường
Trang 13Chương 1
CẢM QUAN HIỆN THỰC ĐỜI THƯỜNG - HẠT NHÂN
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TÔ HOÀI
Văn học phản ánh hiện thực Hiện thực khách quan hiện diện trong tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng thẩm thấu qua lăng kính chủ quan của người nghệ sỹ Lý giải vấn
đề này, Gót đã chỉ rõ: "Nghệ thuật không cố gắng đua với tự nhiên trong toàn bộ bề rộng và chiều sâu của tự nhiên, nó bám vào mặt ngoài các hiện tượng của tự nhiên, nhưng nó có cái chiều sâu riêng của nó, cái sức mạnh riêng của nó, nó ghi lại những khoảnh khắc sâu sắc nhất của các hiện tượng bên ngoài ấy, làm phát lộ những gì có tính quy luật ở chúng, sự hoàn thiện của những cân đối hợp lý, đỉnh cao của cái đẹp, giá trị của ý nghĩ tư tưởng, độ mạnh của say mê
Vậy để tỏ lòng biết ơn tự nhiên đã sản sinh ra cả bản thân mình, người nghệ sỹ dâng trả lại cho tự nhiên một tự nhiên thứ hại nào đó Song đây là một tự nhiên được sinh ra từ tình cảm và tư tưởng, một tự nhiên được hoàn thiện bởi con người"
Như vậy, mỗi nghệ sỹ có sự cảm nhận về thế giới hiện thực khách quan khác nhau nên sự tái hiện, "dâng trả" cho hiện thực khách quan cũng khác nhau Sự "dâng trả" ấy thể hiện trong từng tác phẩm nghệ thuật, trong cả gia tài nghệ thuật của họ Căn cứ duy nhất để khảo sát, nhận diện bức tranh hiện thực của người nghệ sỹ là tác phẩm nghệ thuật
Các tác giả A.Ja Gurevich khi bàn về Các phạm trù Văn hoá Trung cổ, Mai Nauđôp - tác giả cuốn Tâm lý học sáng tạo văn học đều chú ý đến sự cảm thụ và nhận
thức thế giới Mai Nauđôp cho rằng, người nghệ sỹ là người "cực kỳ nhạy cảm", nên
"anh ta nhanh chóng nhận xét, tóm bắt trúng được tất cả những gì thu hút sự chú ý của mình, để lại những dấu ấn khống gì xoá nổi trong tâm khảm"
Chu Văn Sơn khi nghiên cứu cảm quan nghệ thuật Xuân Diệu đã có ý kiến xác đáng: "Có thể hiểu cảm quan như là lối cảm nhận riêng trong đó chứa đựng quan niệm
và cách cắt nghĩa riêng về thế giới của người nghệ sỹ Trong những trường hợp thật điển hình, cảm quan ấy thường đọng lại trong những hình mẫu tổng quát nào đó Nó khiến cho cảnh quan thế giới đi vào tâm hồn người nghệ sỹ được khúc xạ qua hình mẫu ấy Do đó, khi hiện hình trong sáng tạo thế giới xung quanh sẽ hiện ra như những biến thể, những hoá thân, phân thân khác nhau của cái hình mẫu ấy" Chúng tôi nhất trí với quan niệm: cảm quan hiện thực chính là "lối cảm nhận riêng" của người nghệ sỹ về thế giới hiện thực khách quan "Lối cảm nhận riêng" này được huy động tổng lực từ những phẩm chất trí tuệ, phẩm chất tâm hồn, tài năng bẩm sinh của mỗi nhà văn "Lối cảm nhận riêng" này vừa thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về thế giới khách quan, vừa ghi lại dấu ấn riêng sáng tạo không thể phai mờ của người nghệ sỹ Dấu ấn riêng là xuất
Trang 14phát điểm, nền tảng để họ xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, để tạo ra những dấu hiệu thẩm Mỵ độc đáo và có giá trị làm nên phong cách nhà văn
Trong sáng tác của Tô Hoài, chúng lôi nhận thấy, trước cuộc sống hiện thực muôn
màu muôn vẻ, nhà văn đặc biệt quan tâm và có niềm say mê mãnh liệt với con người
và cuộc sống đời thường - đó là cuộc sống sinh hoạt, quan hệ thế sự, là những sinh
hoạt phong tục, tập quán trong cuộc sống bình thường của lớp người lao động bình dân
và lớp dân nghèo thành thị Yếu tố thể hiện tư tưởng nghệ thuật và có tính chất quyết
định được coi là hạt nhân phong cách nghệ thuật Tô Hoài là cảm quan hiện thực đời
thường
I CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM QUAN HIỆN THỰC ĐỜI THƯỜNG Ở TÔ HOÀI
1 Hoàn cảnh gia đình, xã hội và bản thân
a Hoàn cảnh gia đình và xã hội
Tô Hoài sinh ra và lớn lên tại quê ngoại, trong một gia đình nghèo làm nghề thủ công ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy,
Hà Nội Hoàn cảnh đó khiến nhà văn khi được sống trong những niềm vui bình dị, khi lại phải chứng kiến những nỗi buồn thấm thía xót xa Ngay từ nhỏ, ông đã sớm hoà mình trong cuộc sống của gia đình lúc phong lưu cũng như khi sa sút, túng quẫn Tô Hoài cũng đã cảm nhận được niềm vui sum họp và nỗi buồn trong cảnh chia ly Người cha vô cùng yêu quý, rất cưng chiều anh em "thằng cu" sớm phải từ giã quê hương vào đồng đất Sài Gòn kiếm sống, vì đã đi tìm việc nhiều nơi ở Hà Nội nhưng không được Người mẹ hiền lành, tần tảo, suốt một đời cam chịu số phận nhọc nhằn là mảnh đời sống động ảnh hưởng sâu sắc đến đôi mắt thơ ngây của nhà văn Hình ảnh người mẹ
"có buổi chiều ( ) rối rít cuống queo xua con chó vện của nhà cứ lăn xả vào cắn", bởi
"bữa ấy u tôi chỉ thử cái áo vải gốc rồi mai đem nấu nâu" [90, 23-24] ám ảnh day dứt mãi trong nỗi niềm thương cảm của Tô Hoài Cái nghèo, cái đói cứ bám riết lấy gia đình, cho dù quanh năm, suốt tháng "mẹ làm đến khuya lắm Nhiều lúc thức giấc, nhìn
ra vách hãy còn ánh đèn lung linh" [90, l08], thế mà cuộc sống vẫn hoàn túng thiếu Nhưng nỗi gian truân về vật chất của người mẹ chưa thấm thía bằng nỗi đau về linh thần Bởi đứa con gái xấu số đã chết vì bệnh sởi, lại "có tới mấy năm rồi, không tin tức
bố tôi", "người làng đồn bố tôi đã lấy vợ ở bên Sài gòn" [90, 168], để lại nỗi buồn trống trải trong tâm hồn người mẹ đáng thương
Tuổi thơ Tô Hoài rất gần gũi với ông bà ngoại và các dì Ông ngoại "nghiện rượu ngữ", khi thì ông sinh sự, đay nghiến chửi bà rằng "chỉ vì con mẹ trời đánh kia mà ông
không có con trai" [90, 15], để rồi cuối cùng ông tìm gậy vừa hét vừa đập tất cả ; khi
lại rất hiền lành âu yếm kể biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa
Bà ngoại vừa cam chịu, cũng vừa lắm điều nhiều lời "không bao giờ im được" nên những cuộc xô xát thường xuyên xảy ra Mặc dù vậy, với "thằng cu" bà lại là người
Trang 15mát tính và chiều chuộng hết lòng Nhớ những ngày đầu đi học, bà dỗ dành đưa cháu đến tận trường, thậm chí còn phải vào lớp ngồi cạnh cháu đến khi trống tan, bà lại dắt cháu về nhà
Và các dì, cuộc sống quẫn bách nên cũng không còn thuần khiết như xưa, cũng cãi lại cha mẹ, cũng tình ý với thầy giáo làng để bị đánh ghen giữa nơi Kẻ Chợ, cũng đánh chửi con cái Không khí gia đình đến ngày phiên chợ thật nặng nề: "Nhà người ta phiên chợ bán được hàng thì vui, nhà tôi, ngày chợ không sinh chuyện này thì sinh chuyện khác Hàng ít lại hàng xấu, không đều, mặt hàng gùn gụt lên, không ai mua Thế là xảy ra những trận xô xát giữa bà ngoại tôi và các dì tôi" Vậy nên, "nhà tôi còn
êm ấm sao được nữa, trong khi sự túng thiếu càng gô cổ mỗi con người lại và mỗi người đều cứ ngày càng bẳn gắt nhau hơn, càng lúc thương lúc ghét nhau, thật hết sức thất thường" [90, 164]
Họ hàng bên nội của Tô Hoài cũng nghèo lắm, đến độ ngày sinh của con cháu cũng không biết, không nhớ Ông bà nội lam lũ, nghèo khó quanh năm, bà ngoại già còm cõi một mình buôn thúng bán mẹt lần hồi, dành tất cả tình thương cho đứa cháu hờ Vậy là, hai bên gia đình nội - ngoại của Tô Hoài đều không có truyền thống văn chương, mà chỉ "trang bị" cho nhà văn cảnh nghèo đói, quẫn bách, tuy chưa tới tận cùng dưới đáy xã hội nhưng cũng đủ thấm thía nỗi khổ vì túng thiếu cơm áo gạo tiền
Là người con của tầng lớp lao động bình dân, lại được chứng kiến cảnh buồn nhiều hơn vui của gia đình mình, Tô Hoài sớm chan hoà trong cuộc sống gian truân đời thường để cảm nhận nó Có lẽ vì vậy chăng mà cảm quan hiện thực của nhà văn "thấm được và thấm nhanh cái buồn" (Vân Thanh)
Tô Hoài vào nghề từ những năm 40 của thế kỷ XX Hoàn cảnh xã hội trong những năm này cũng có nhiều sự kiện không thể bao giờ quên - vui có, buồn có, đau khổ xót
xa cũng có Xã hội Việt Nam dưới thời thuộc Pháp mang tính chất thực dân nửa phong kiến, trong đó chứa đựng nhiều mâu thuẫn - giữa dân tộc với đế quốc; giữa nông dân với địa chủ Những mâu thuẫn đó ngày càng gay gắt quyết liệt đặc biệt là mâu thuẫn giữa dân tộc với đế quốc Những năm này, dân tộc ta chịu hậu quả nặng nề của nhiều cuộc chiến tranh và khủng hoảng: chiến tranh thế giới thứ Nhất (1914- 1918); cuộc khủng hoảng kinh tế (1929- 1933) và cuộc đại chiến thế giới lần thứ Hai (1939- 1945)
Để phục vụ chiến tranh, thực dân Pháp ra sức bóc lột nhân dân ta, khiến đời sống người dân vô cùng điêu đứng Rồi Pháp đầu hàng Đức rồi mở cửa Đông Dương cho Nhật nhảy vào nước ta, từ đó, dân ta một cổ hai tròng Hai tên đế quốc Pháp, Nhật với những chính sách tàn bạo khốc liệt đã trở thành nguyên nhân trực tiếp gây ra nạn đói
vô cùng khủng khiếp trong lịch sử dân tộc - hơn hai triệu người dân chết đói
Những năm này, không khí ngột ngạt bao trùm cả xã hội và lan dần vào từng ngõ xóm Làng quê Tô Hoài chưa bao giờ lại "tiêu điều khốn khổ đến như thế Nghề dệt lụa đã lụi bại chết hẳn Khung cửi người ta đem chẻ củi, bán làm củi Người đi tha hương bơ vơ những đâu, vãn cả làng Trông trước thấy cái đói, cái chết mà không biết
Trang 16làm thế nào" [90, 311] Từ đó, những mối quan hệ xã hội, những nét đẹp văn hoá làng quê bị xáo trộn, tàn phá dữ dội "Người ta chơi chắn cạ, xóc đa, thò lò suốt ngày, suốt đêm Sát phạt nhau từ một xu trở lên, và cái sự mất trộm vặt thì thường xảy ra Con chó, con gà đi tha thẩn ngoài ngõ, vô ý không ai trông mất ngoan ngay Cái váy, cái quần phơi ngoài sân, biến là thường Thậm chí, ngoài vườn có mấy quả đu đủ xanh cũng bị vặt trụi Không hôm nào là không có người vác gậy, cầm mõ đi dong ra dong vào để chửi nhưng đứa ăn cắp vặt" [61, 220] Xã hội, làng quê ngày càng xơ xác tiêu điều "Trên chợ Bưởi, người lang thang ở đâu đến càng nhiều Buổi tối lăn vào ngủ trong các cầu chợ, sáng ra nhiều người nằm lại, không còn sức bò đi kiếm được nữa" [90, 317] Cảnh đau lòng ấy không chỉ ở một nơi nào, một vùng nào, mà "ở đâu bây giờ cũng như ở chợ Bưởi, những chức việc trong làng cả đêm phải đi rình đuổi không cho người đói đứng lại ở địa phận mình Sợ đêm nó chết Và hễ gặp cái xác nào, lập tức kẻo vứt sang làng kia Người ta sợ phải chôn Chôn xác trần trụi không có cả chiếu
bó, cũng phải mất tiền thuê người đào huyệt Tiền đâu ra mà hôm nào cũng thuê đào hàng chục cái huyệt Mà người đào huyệt bây giờ cũng hiếm" [90, 338]
Chứng kiến bao cảnh đời thảm thương bất hạnh ấy, nhà văn sớm trĩu nặng một nỗi lòng, một tâm trạng buồn Nhưng cũng ở ngay trong những năm tháng đen tối này, cách mạng lan rộng, phong trào vùn vụt lên, vươn trên cả cái chết - Phong trào Cách mạng dân chủ (1936 - 1 939); Phong trào Cách mạng phản đế Đông dương (1939 - 1941) Những hoạt động ái hữu thợ dệt, Thanh niên dân chủ, Văn hoá cứu quốc lan rộng Cái đói cái nghèo không thể dập tắt khao khát lý tưởng của thanh niên Tổ chức cách mạng dù bị lùng soát dữ dội nhưng đã thu hút không ít thanh niên tích cực Trong khổ đau, bắt bớ, tù đày, tra tấn, họ vẫn một lòng tin vào cách mạng Bởi họ hiểu rằng cách mạng đã gắn bó với tuổi trẻ chúng tôi, với làng tôi Cách mạng là đường sống, dù
gian nguy, nhưng là đường đưa tới thay đổi" [90, 311] Và thế là, trong mỗi con người
được thắp sáng một niềm tin Họ vượt qua tất cả để tìm đến một cuộc sống với ý nghĩa đích thực của nó
Tô Hoài tâm sự: "Tôi lớn lên giữa những buồn vui, những gian truân trong vòng mọi tập tục, thói quen của lớp tuổi lôi trong làng Lúc đó, đương thời kỳ Mặt trận bình dân Lý tưởng cộng sản như giấc mơ đẹp đến với những người thanh niên cùng lứa, cùng cảnh như tôi" [90, 271] Vốn gắn bó với làng quê, chứng kiến mọi vui - buồn, hay - dở cùng những bước thăng - trầm, thịnh - suy của làng nghề truyền thống, Tô Hoài hơn bao giờ hết cảm nhận thấm thía về đời sống xã hội từ nhiều chiều của nó
b Hoàn cảnh bản thân
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 trong một gia đình thợ thủ công nghèo Ông chỉ được học hết bậc tiểu học, rồi cũng như mọi thanh niên trai làng khác, Tô Hoài sớm trở thành anh thợ cửi Nhưng cảnh nhà nghèo, nghề dệt lại lụi bại dần, Tố Hoài lận đận trong mưu kế sinh nhai Ông phải đi kiếm sống bằng nhiều nghề: thợ cửi, bán hàng, phụ kế toán, coi kho cho hiệu buôn giày, dạy học
Trang 17và còn sống qua những ngày thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính túi Tô Hoài đến với nghề văn hết sức tự nhiên và bắt đầu bằng một số bài thơ lãng mạn Ông sớm nhận ra rằng đây không phải là mảnh đất "canh tác" của mình và nhanh chóng chuyển sang "cánh đồng" văn xuôi Ở mảnh đất này, ông đã chuyển tải mọi chuyện vui - buồn, hay - dở lên trang sách để trở thành một nhà văn yêu quý của con người và cuộc sống đời thường
Tô Hoài sớm giác ngộ cách mạng Trước Cách mạng tháng Tám, ông đã tích cực tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, Thanh niên Dân chủ, vào tổ Văn hoá cứu quốc Sau cách mạng, ông đến với đồng bào Tây Bắc và đắm mình trong cuộc sống của các dân tộc miền núi Ông cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với họ Cũng "ăn thịt ngựa, thịt chó nhạt, ăn rêu đá nướng và bọ hung xào như bà con, cùng vác cửi, thổi sáo, bắt chuột, bắt con túi và đêm trăng sáng theo thanh niên Hmông đi "cướp vợ" [124, 22] Không những thế, Tô Hoài còn rất quý trọng những người "bạn" nơi núi rừng này Tô Hoài tâm sự: "Tôi thích những người ấy lắm Cô thì nhận là em Cô thì nhận là con Qua họ, mình biết được người thật, việc thật, người bình thường, việc bình thường Vì thế, trước kia tôi có biết tý gì về miền núi đâu Nhưng bây giờ tôi dám viết về miền núi Tôi đã viết say sưa về miền núi Tôi đã để công phu vào việc học tiếng miền núi,
và đã tha thiết yêu người miền núi, coi miền núi như quê hương mình vậy" [132, 532]
Từ đó, ông rất dễ thông cảm với các phong tục và những tình cảm riêng của các dân tộc Thế là con mắt quan sát tinh tế thấm đượm tình đời lại có dịp thể hiện trên một mảnh đất mới Từ đây, hai mảnh đất máu thịt trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật được nhà văn cảm nhận theo một lăng kính hoàn toàn nhất quán ông cứ bám riết lấy cuộc sống trong một cảm quan hiện thực đời thường để tung hoành ngòi bút
Tô Hoài vốn có khiếu quan sát tinh quái, đến "con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt"(Vương Trí Nhàn) Chính vì vậy, mọi cảnh đời, mọi số phận, mọi vui- buồn, hay -
dở trong cuộc sống đều được nhà văn cảm nhận ở chiều nhân bản Viết về cái dở, cái xấu không phải để dè bỉu, chê bai mà sự hiện diện của nó đem lại sự trọn vẹn trong thế giới vô cùng sinh động và phong phú của chúng ta
Cùng với nhu cầu thôi thúc tự bên trong, Tô Hoài còn rất say mê học tập và ham hiểu biết Để tự trau dồi kiến thức cho mình, ông rất chăm chỉ đọc sách báo, ghi chép hằng ngày một cách tỷ mỹ, chi tiết, từ giá cả sinh hoạt chợ búa, đến tiếng nhà nghề, tiếng địa phương Tất cả đã giúp ông có vốn sống ngày càng phong phú, đa dạng Không những thế, ông còn hay đến các quán ăn ở Hà Nội, từ đại lầu Hoan lạc viên, bà bún thang, bà nem chua giò chả, đến ông Văn Phú ếch tẩm bột rán, bà cụ chả cá phố Hàng Lược để quan sát và ghi chép Ông còn đọc "thượng vàng hạ cám, cái gì đến tay cũng đọc" Ông học trong sách, học ngoài cuộc đời và học nhân dân Học ở trường đời là môi trường rộng lớn bất tận mà lâu nay tác giả tâm niệm Nhận biết rõ tầm quan trọng của việc quan sát, tích luỹ vốn sống, nhà văn còn tích cực tham gia vào công việc viết báo Công việc này giúp ông nắm bắt nhanh nhạy và chính xác hiện thực cuộc sống Không những thế, Tô Hoài còn tham gia rất nhiều công việc chính quyền,
Trang 18đoàn thể, hết làm chủ bút Tạp chí Cứu quốc Uỷ viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương trong Hội Văn nghệ Việt Nam, Thư ký toà soạn Tạp chí Văn nghệ, Tổng thư ký rồi Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn, Giám đốc Nhà xuất bản Hội nhà văn, Bí thư Đảng đoàn rồi Uỷ viên Đảng đoàn Hội nhà văn, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng Văn học thiếu nhi, lại còn tham gia vào nhiều công tác xã hội khác: đại biểu Quốc hội khoá VII của Hà Nội, Phó chủ tịch Uỷ ban đoàn kết Á Phi của Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội hữu nghị Việt Xô, ngoài ra ông còn tham gia hoạt động tại phố phường, sinh hoạt tổ dân phố Các hoạt động không biết mệt mỏi ấy đã giúp nhà văn bắt rễ sâu hơn vào cuộc sống thường nhật muôn màu muôn vẻ
2 Quan niệm về văn chương của Tô Hoài
Yếu tố cất lõi tạo cơ sở hình thành cảm quan hiện thực của Tô Hoài không chỉ là hoàn cảnh gia đình, xã hội và bản thân mà còn là quan niệm về văn chương của tác giả Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã có một quan niệm văn chương riêng Dù quan niệm về văn chương của ông chưa được thể hiện một cách có hệ thống
và chiều sâu như Nam Cao, nhưng trong nhiều tác phẩm của mình, nhà văn đã bộc lộ một cách khá rạch ròi Từ khi mới cầm bút, Tô Hoài đã nhận thấy: "Chưa bao giờ tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh Mặc dù tôi cũng thích đọc những truyện ấy Bởi lẽ giản dị: viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì đời và người trong truyện của mấy ông nhà giàu con quan và có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người ấy, không bắt chước được" [90, 285] Ý thức sâu sắc về ngòi bút của mình, về cái "tạng" của riêng mình, Tô Hoài đã sớm nhận ra con đường sáng tạo riêng Ông tâm sự: những ngày đầu cầm bút, "đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình" [90, 236] Vậy là, viết những chuyện viển vông giang hồ kỳ hiệp không phải là sở trường của nhà văn, mà cuộc sống bình dị của mình, quanh mình mới là mảnh đất để nhà văn khai phá Chính một "gã" văn sĩ nghèo trong truyện ngắn Hết một buổi chiều của Tô Hoài đã nghĩ rằng: "mỗi khi cấm bút lên mà
kể chuyện một dòng nước, một cánh hoa, một làn mây trắng, thì gã thấy như mình đương làm một việc gì trào phúng quá Gã ngượng với bút Gã ngượng với chính cái mặt gã soi thấy ở trong gương" [tr 195] Thế là, viết về cái của mình, quanh mình đã
là định hướng nghệ thuật của Tô Hoài Từ đó, một cách tự nhiên, ông đã hướng ngòi bút của mình vào "những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và người của một vùng công nghệ đương sa sút nghèo khó" [97, 66] Hơn nữa, những năm này, Tô Hoài chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào Mặt trận dân chủ Đông dương, chịu sự tác động của Hội văn hoá cứu quốc, vậy nên, đi vào con đường chủ nghĩa hiện thực, Tô Hoài không rơi vào sự bế tắc tuyệt vọng Chính từ quan niệm văn chương ấy, từ ý thức nghệ thuật ấy, nhà văn luôn gắn bó với con người và cuộc sống để tìm nguồn cảm hứng và chất liệu cho ngòi bút
Trang 19II CÁC PHƯƠNG DIỆN THẾ HIỆN CẢM QUAN HIỆN THỰC CỦA TÔ HOÀI
1 Cảm quan nhân bản đời thường về con người
a Con người bình thường với những phẩm chất, cá tính và thói tật
Xây dựng thế giới nhân vật, mỗi nhà văn đều xuất phát từ cảm quan về con người
của riêng mình Dưới con mắt của Nguyễn Tuân, nhà văn luôn cảm nhận con người ở phẩm chất nghệ sỹ tài hoa tài tử ở họ ít có những dung tục đời thường Đó là ông nghè,
ông cử với những tài nghệ thưởng thức thú vui tao nhã một thời (Vang bóng một thời),
là những anh bồ đội, những chị dân công, những người lái đò (Sông Đà) mang trong
mình chất vàng mười của tâm hồn con người Tây Bắc Nam Cao trước cách mạng cũng đến với con người trong cái "vặt vãnh" đời thường, nhưng ở đó con người luôn tự
ý thức rõ rệt về chính mình, về cuộc sống, đến độ họ phải dằn vặt đau đớn trước những
bi kịch xót xa của kiếp người, phải gánh chịu những kết cục hết sức bi thảm (Chí Phèo,
Lang Rận, lão Hạc ) Tô Hoài, sau hơn nửa thế kỷ miệt mài sáng tạo nghệ thuật trên một cảm quan nhất quán về con người, năm 1992 trong cuốn hồi ký Cát bụi chân ai,
ông phát biểu thật rành rõ: "người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ" Vậy là theo Tô Hoài, con người trước hết phải là chính mình, phải là tất cả những gì thuộc quyền sở hữu riêng mà "thượng đế" đã ban phát trao tặng: phải có phẩm chất, cọ thói tật; có hay, có dở; có tốt, có xấu; có ý thức và vô thức; có bản năng và không bản năng trong sự thăng bằng tự nhiên để làm nên sự trọn vẹn trong một con người bình thường ông cho rằng con người không phải là thánh nhân, càng không thể siêu phàm Con người không thể hoàn toàn được gạn lọc bởi những tinh tuý trong suốt như pha lê, mà
ở họ còn tiềm ẩn cái xấu, cái dở, thậm chí cả cái phần đen tối lẩn khuất trong tâm hồn Thế nhưng, từ sâu thẳm mỗi con người, cái tốt, cái hay vẫn là cơ bản làm nền tảng đạo đức bền vững
Trong sự nghiệp sáng lác của mình, Tô Hoài viết trên nhiều thể loại Thể loại in đậm dấu ấn cảm quan con người của nhà văn là thể hồi ký Trong khi nhiều người viết hồi ký mong muốn "dựng lên dấu ấn muôn đời của bản thân vượt qua thời gian và ký
ức cá nhân", thì Tô Hoài lại quan niệm hết sức bình thường - có sao viết vậy cả chuyện mình lẫn chuyện người, cả phẩm chất, cá tính và thói tật ông sống đến đâu viết đến đấy, "không đặt vào sách quá nhiều ý nghĩa như những người khác" (Vương Trí
Nhàn) Vì thế, từ Cỏ dại (1944), Tự truyện (1978), Cát bụi chân ai (1992), đến Chiều
chiều (1999), người ta thấy một Tô Hoài những ngày thơ ấu như dám cỏ dại "nó leo
hoang trong đám cỏ bên lề đường đi Cái giống cỏ dại, cỏ không tên rườm rà, ken khít
bò ngẩn ngơ trong mấy khoảng đất rác rưởi", qua những năm tháng bước vào trường đời vật vã kiếm sống, tìm việc làm, tìm miếng ăn và đến với cách mạng trong những năm đấu của cuộc kháng chiến, để mở ra một giai đoạn mới với tư cách một anh cán
bộ kháng chiến, một nhà báo, một nhà văn
Trang 20Trong thể hồi ký của Tô Hoài, người đọc còn thấy chân dung đời thường của những nhà văn tên tuổi trong nền văn học hiện đại nước nhà: Xuân Diệu "tình trai" lai láng, những đêm hoan lạc với người bạn tình" khiến hậu thế phải bàng hoàng sửng sốt; Nguyễn Tuân kỹ tính, lịch lãm theo phong cách riêng thà cũng không kém phần hóm hỉnh, biết đùa; Nguyên Hồng dễ dãi trong sinh hoạt và ăn uống, lại hay khóc và thường vui buồn đột nhiên khó hiểu; Ngô Tất Tố có tật quệt nước mũi vào gốc cây; Tú Mỡ
vừa ngơ ngác vừa thâm thuý lại không biết đùa (Cát bụi chân ai) Được làm quen với
các nhà văn qua cảm quan về con người của Tô Hoài khiến khoảng cách giữa họ với độc giả gần như được xoá nhoà Người đọc ngỡ ngàng nhận thấy họ đâu phải là thánh nhân, họ cũng là con người bàng xương bằng thịt, cũng có phẩm chất, có thói tật, có
dở, có hay Phải là người gần gũi, thấu hiểu, cảm thông nhiều lắm với đồng nghiệp, nhà văn mới có được những trang văn đời thường như thế
Tô Hoài không phải là người đầu tiên, cũng không phải là người cuối cùng có cảm quan về con người đời thường Nhưng khác với Nam Cao, Nguyễn Minh Châu (sau 1975) , Tô Hoài thường ít tìm đến chiều sâu nhân bản trong những triết lý nhân sính
sâu sắc Cảm quan về con người đời thường, Tô Hoài muốn gửi bức thông điệp đến
chúng ta - hãy trân trọng mỗi phẩm chất, cá tính của con người, bởi chính nó mới đúng là cuộc sống
b Con người trong cuộc sống với niềm vui và nỗi buồn, niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau
Trên từng trang viết của Tô Hoài, con người thường được đặt trong môi trường thế
sự Ở đó, nhà văn quan tâm đến từng mảnh đời từng số phận, đến "cả những cái đau khổ xót xa cũng như những niềm vui nho nhỏ mà người nông dân có được trong cuộc sống hằng ngày" (Hà Minh Đức)
Cùng quan tâm tới mỗi mảnh đời, mỗi số phận, Nam Cao (trước cách mạng) thường dạy con người tới tận cùng của nỗi khổ đau, tận cùng của những bi kịch xót xa đau đớn Hơn thế, Nam Cao không dừng lại ở một số phận, một con người mà đây là
cả một vấn đề nhức nhối trong xã hội cũ (Chí Phèo, Lang Rận, Binh Chức, lão Hạc )
Tô Hoàn không đẩy con người tới tận cùng sự bi thảm tuyệt vọng như thế Trong cảm quan của ông, con người có khổ đau, có bất hạnh, có tha hoá, nhưng họ vẫn còn giữ
được chính mình Anh Duyên (Nhà nghèo) phải tận mắt chứng kiến cảnh đứa con gái chẳng may bị rắn độc cần chết vào một buổi chiều đi bắt nhái; "mụ Hối" (ông cúm bà
co) bỏ lại hai đứa con thơ vì bệnh nặng nhà nghèo "không có lấy một đồng xu nhỏ"
chữa bệnh; "lão lái Khẽ (Khách nợ) chết vì bị chó dại cắn, "nằm còng queo" trong bốn ngày Tết; anh Thoại (Quê người) trong cảnh nhà nghèo tiền hết, gạo hết, đứa con nhỏ
lại ốm nhách, "hai mắt cam dịp hẳn lại", "trong nhà không có cái gì đáng giá được một hào" Chiều ba mươi Tết, anh đi đòi nợ ông cả Thóc có năm hào tám tiền công dệt lĩnh, vậy mà chỉ được "thanh toán" công nợ bằng một trận đánh nhau kịch liệt Trông vào gia cảnh nhà anh sao mà xót xa đến vậy! "Ngày mai mùng một Tết, chẳng có xôi,
Trang 21chẳng có thịt, chẳng có hương, chẳng có nến, nghĩa là chẳng có một thứ gì để cúng
Vợ chồng đều ăn cơm gạo đỏ với sung muối như thường ngày" Bức bí vì tiền không,
gạo hết, người vợ lại cứ "nhai nhải day dứt mãi", không ghìm nén được, anh vừa đánh, vừa chửi vợ:
"Mày muốn kêu giời phỏng?"
"Bom Bốp! Huỵch! Huỵch! Huỵch!"
"- Mày cứ kêu, ông cứ đánh xem đằng nào được"
Nhưng rồi anh lại xót xa, thương cảm cho cái thân phận của mình, của vợ, của con
"Anh nằm ngửa mặt, im lặng, vắt hai tay lên sau gáy, mà ngẫm nghĩ về cái nghèo, cái đói, cái rắc rối, cái khổ sở trong cuộc đời cơ cực của mình" Cực chẳng đã, anh đành đánh liều ra đồng bắt trộm chó Việc không thành khiến vợ chồng anh không còn mặt mũi nào ở lại làng quê, mùng một Tết đùm dúm nhau ra đi lang bạt nơi đất khách quê người Rõ ràng là, con người tha hoá của Tô Hoài không hoàn toàn biến chất, anh Thoại trong cảnh bần cùng đánh vợ nhưng rồi lại xót xa đau đớn; đi ăn trộm, nhưng ở
anh vẫn có lòng tự trọng nên chẳng còn dám nhìn thấy mặt ai Lão lái Khế (Khách nợ)
hạch sách, doạ nạt, moi tiền con nợ bằng nhiều mẹo vặt, nhưng lão vẫn còn nhận ra cảnh cùng kiệt nhà Hương Cay: "Con chó nhà nó cũng đói xúi bọt mép ra thế kia mình
còn hòng ăn cóc gì"
Trong cảm quan của Tô Hoài, mỗi gia đình, mỗi con người một hoàn cảnh, một số phận, nhưng họ không chỉ phải chịu nỗi bất hạnh mà trong khổ đau họ còn có niềm vui, niềm hạnh phúc cho dù niềm vui nhiều khi chỉ như một cơn gió thoảng
Đó là niềm vui của ba cha con anh Hối vào một Buổi chiều ở trong nhà, người cha
ngồi đàn hát, hai đứa con thích chí ngồi nghe Rồi họ cùng im lặng, cùng thưởng thức những chiếc kẹo bột ngọt lịm mà có lẽ từ trước đến giờ họ chưa bao giờ có được Cái niềm vui nho nhỏ ấy sớm bị dập tắt, vì sự xuất hiện của chị Hối cùng những lời bù lu
bù loa bởi anh đã "bán tào bán huyệt" cái chai đựng dầu của chị để mua kẹo Lời qua tiếng lại, vợ chửi chồng, chồng đánh vợ, con cái thi nhau khóc vì những cái bạt tai của bố Chỉ có giấc ngủ mới xoa dịu được tình cảnh của gia đình anh Cho tới sáng hôm sau, cuộc sống của cái gia đình đáng thương ấy lại trở về sự bình yên khi người vợ đi làm vắng, còn người chổng cặm cụi ngồi gắn lại cái chén vỡ, vừa làm vừa hát cùng hai
đứa con thơ Anh Duyên trong cảnh Nhà nghèo quanh năm điêu đứng vì miếng cơm
manh áo, vợ chồng lại thường cãi nhau, thậm chí đánh chửi nhau Biết bao lần như thế, chiều nay như một sự ngẫu nhiên, cái gia đình nhỏ bé ấy được xoa dịu bằng cơn mưa rào Cơn mưa cuốn phăng tất cả những xô xát, nóng nảy của vợ chồng anh và đem lại niềm vui nho nhỏ cho mọi người Sau trận mưa, chẳng ai bảo ai, vợ chồng con cái xách giỏ ra đồng bắt nhái Nhưng người cha tội nghiệp ấy chẳng bao giờ được hưởng niềm vui trọn vẹn Khi anh đang nghĩ đến "bữa nhắm thú vị chiều nay" thì là lúc anh phải đi tìm cái Gái Rồi chỉ trong khoảnh khắc, anh nhìn thấy đứa con gái lớn "nằm gục trên cỏ, hai tay ôm khư khư giỏ nhái Lưng nó trần xám ngắt Chân tay nó co queo
Trang 22lại", khiến người cha "rú lên một tiếng quái gở" trước sự đau đớn đến tột cùng Đúng
là lúc giận con, anh có thể đánh chửi, thậm chí còn nạt nộ: "Bắt được đứa nào thì ông giết tươi" Còn lúc này, bao nhiêu tình yêu thương của người cha nghèo trỗi dậy trong lòng Anh thương con và vô cùng hối hận Anh nhận ra rằng: "bấy lâu nó vào cửa vợ chồng anh, cực khổ trăm đường Trong người nó có bao nhiêu xương sườn, giơ ra hết
cả ( ) Bây giờ nó bỏ nó đi" Bất lực trước sự thật tàn nhẫn quá đột ngột, anh chỉ còn biết cúi ẵm xác con hai hàng nước mắt rỏ ròng ròng Đến đây, chúng ta không thể
không nhớ tới người cha trong Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao Miếng
ăn đáng nguyền rủa kia đã làm huỷ hoại nhân cách một người cha và đang tàn phá
băng hoại đạo đức của một con người Nếu người cha trong Nhà nghèo của Tô Hoài
còn giữ được lương tâm và tình thương của một tấm lòng phụ tử, thì người cha trong
Trẻ con không được ăn thịt chó của Nam Cao đã đánh rơi mất những đứa con của
mình vì miếng ăn - miếng nhục, vì những dục vọng khoái khẩu tầm thường, thành thử giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, cái nhân tính và phi nhân tính nhiều khi chỉ còn trong gang tấc và thật quá mong manh Trong cảm quan của Tô Hoài, mọi quy luật của tình cảm luôn được giữ ở mức thăng bằng, tự nhiên vốn có Từng cuộc đời, từng số phận dẫu có muôn ngàn cung bậc vui - buồn, nhưng tất cả đều được Tô Hoài tìm thấy trong quy luật của tạo hoá và trong khung cảnh giản dị đơn sơ rất đỗi Việt Nam Ở đó, những con người bình dị, nhỏ bé, chất phác lúc khổ đau, khi vui sướng họ ít nghĩ đến bản thân mà muốn dành tất cả cho những người thân yêu ruột thịt Sau cách mạng, trong gia tài đồ sộ của mình viết về đề tài miền núi, Tô Hoài có những thành công đáng kể Ở đây, cảm quan nhân bản đời thường về con người vẫn hoàn toàn nhất quán.Viết về đề tài cách mạng nhưng con người bươn chải trong cuộc sống sinh hoạt với những niềm vui và nỗi buồn vẫn đem đến dấu ấn mạnh mẽ trong nhiều tác phẩm
của ông Truyện ngắn Cứu đất cứu mường, Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ (1953), tiểu thuyết Miền Tây (1958), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Họ Giàng ở Phìn Sa (1984),
Nhớ Mai Châu (1988) là những tác phẩm như thế Môtíp phổ biến viết về đề tài này
là: cuộc đời cũ khổ đau tăm tối, cuộc đời mới nhờ có Đảng, có cách mạng, con người được hồi sinh Thể hiện nỗi khổ đau, bất hạnh của cuộc đời cũ vì cường quyền và thần quyền, nhà văn tập trung bút lực miêu tả số phận dân nghèo, đặc biệt là người phụ nữ Người đọc làm sao quên được hình ảnh một cô Ảng "mười bảy tuổi phải đem thân đi nâng giấc ông lão sáu mươi", một cô Mỵ lấy A Sử "không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau", một cô Mát vào ban xoè lên châu, lên đồn lấy chồng quan, khiến
"ông Mang ( ) ruột đau như hôm trở về làng nghe tin mất ruộng", một bà Giàng Súa
cô đơn trong tuyệt vọng, khiến bà luôn nghĩ rằng: "dù sao thì ngày hôm qua còn tết tươi hơn ngày hôm nay và đời người thì ngày càng tàn, tàn dụi như cái củi nào rồi cũng cháy thành than" Khi ánh sáng của cách mạng chiếu rọi trên khắp các bản làng
miền Tây, cuộc đời của mỗi con người thay đổi Niềm vui của họ lớn lao, ý nghĩa khôn
cùng Bao nhiêu năm khổ đau đã qua, bà ảng không còn là một bà lão Ảng ăn mày năm xưa nữa Bà được lên khu du kích cùng đứa con trai năm nào phải đứt ruột bán lấy mười đồng bạc trắng về nộp vạ, trong lòng bồi hồi xúc động nghĩ rằng: "một đời
Trang 23không biết mặt cái ruộng, cái nương Bây giờ sắp chết mới được biết ở lều canh nương thế này" Cô Mỵ tìm được hạnh phúc khi tới Phiềng Sa, "từ những hôm ấy Mỵ mới thật thấy được có chồng"
Tiếp tục viết về đề tài Hà Nội, cảm quan con người trong cảnh đời thường với
những vui buồn được thể hiện qua tập truyện và ký Người ven thành (1972), tiểu thuyết Quê nhà (1980), Những ngõ phố người đường phố (1982), Kẻ cướp bên Bãi (1996), tập truyện ngắn Người một mình (1998), tập ký sự Chuyện cũ Hà Nội (1998)
Cuộc đời có muôn vàn éo le trắc trở, biết bao số phận con người còn bất hạnh bởi tạo hoá bất công Cái nhìn nhân bản của Tô Hoài trước khổ đau nhọc nhằn của đời
người khiến độc giả phải động lòng trắc ẩn Cuộc sống của mẹ con Mái ( Nước mắt)
rồi sẽ ra sao khi mà cô vừa câm, vừa điếc, vừa có tới sáu mặt con mà vẫn chẳng biết bố chúng là ai? Sống trong một túp lều tồi tàn ngoài bụi tre đầu làng làm thuê, làm mướn nuôi con quả là một thử thách nhọc nhằn đè nặng lên đôi vai người đàn bà bất hạnh ấy Thế nhưng trong nỗi lo âu khắc khoải, cô vẫn được tận hưởng niềm vui được làm mẹ, được nuôi con và được hy vọng vào con
Biết bao chuyện vui buồn của đời người được nhà văn cảm nhận trong cảm quan
nhân bản đời thường như thế, Một "cô Hậu (Hoa bìm biển), một "cô Tứ" (Tình buồn)
cô đơn khắc khoải chờ "người xưa" cho đến tận cuối đời Một cán bộ Tần (Cối! Cối
ơi!) khi "lên voi" khi "xuống chó" để cuối cùng phải lĩnh trọn hai mươi năm tù Một
"thằng Ếp - tiến sỹ Trần Hùng" (Con ngựa) vênh vang, háo danh, háo lợi, ham địa vị
tiếng tăm, sống buông thả để rồi phải từ giã cõi đời trong một căn bệnh vô phương cứu chữa Một nỗi đau đớn chia lìa của những đứa trẻ bất hạnh trong một hoàn cảnh éo le
(Hai đứa trẻ đợi đi)
Dù sáng tác của Tô Hoài có giai đoạn còn bị áp lực bởi thời đại, nhưng cảm quan
về con người của nhà văn luôn được thể hiện nhất quán Đây là hạt nhân cơ bản làm nên phong cách nghệ thuật Tô Hoài
2 Cảm quan về xã hội trong dòng chảy tự nhiên của đời sống sinh hoạt, phong tục
a Cảm quan về xã hội qua cảnh sinh hoạt đời thường
Sinh hoạt xã hội là một phương diện tồn tại khách quan trong đời sống hiện thực ở bất kỳ một xã hội nào, một thời đại nào, một quốc gia nào, một vùng nào và một địa phương nào Đời sống sinh hoạt xã hội đi vào trường nhìn của nhà văn này hay nhà văn khác ở phương diện nào, phần lớn phụ thuộc vào cảm quan hiện thực của họ Bức tranh xã hội trong cảm quan của mỗi nhà văn có thể được phản ánh từ những mâu thuẫn, những xung đột xã hội quyết liệt, gay gắt, hoặc từ những cảnh sinh hoạt bình dị Với "một nhãn quan phong tục đặc biệt" (Trần Hữu Tá), Tô Hoài rất nhạy cảm với những cảnh sinh hoạt, những tập tục quen thuộc của từng vùng quê, từng gia đình, từng con người Có thể nói, từ những cảnh sinh hoạt đặc thù ấy, Tô Hoài vừa phản ánh
Trang 24sinh động đời sống vật chất và tinh thần của mỗi vùng, mỗi miền, vừa thể hiện đời sống lịch sử xã hội rộng lớn
Trước cách mạng, phản ánh hiện thực cuộc sống, Tô Hoài ít tập trung vào những mâu thuẫn xã hội mang tính đối kháng quyết liệt Nếu làng Đông Xá trong tiểu thuyết
Tắt đèn của Ngô Tất Tố náo động trong tiếng trống, tiếng tù và thúc sưu, tiếng chửi
mắng quát tháo của kẻ "chức quyền" , khiến mâu thuẫn gay gắt giữa nông dân và địa
chủ, giữa dân tộc với đế quốc càng thêm quyết liệt; làng Vũ Đại trong truyện ngắn Chí
Phèo của Nam Cao ầm ĩ tiếng gào làng rạch mặt ăn vạ của kẻ cùng đường, thể hiện bi
kịch thảm thương của người nông dân nghèo trong tuyệt vọng ; thì làng Nha trong nhiều tác phẩm của Tô Hoài khá êm ả bình yên Ở đó, có những người cùng ở một làng, cùng làm một nghề, cùng sinh hoạt với những phong tục, tập tục, cùng quan tâm đến những vui - buồn, hay - dở trong cuộc sống theo quy luật tự nhiên của nó
Trong tiểu thuyết Quê người, người đọc không gặp cảnh những người dân nghèo
bị đánh đập, bị cùm kẹp hay bắt bớ tù đày Mà ở đó có muôn cảnh sinh hoạt đời thường: cảnh chửi bới nhau (của bà Ba với những ai bêu xấu cháu bà, của bà Thủ Dân với bà Ba, của ông ba Cần với ông Nhượng, của ông Nhượng với ông ba Cần ); cảnh bêu xấu nhau ("thằng Khói" bêu xấu cô Ngây, anh Thìn nói xấu "thằng Toàn" ); cảnh tan tác chia lìa (anh trưởng Khiếu bỏ làng đi phu cao su, vợ chồng anh Thoại ra đi vào ngày mùng một Tết ); cảnh trai gái yêu nhau, hẹn hò (Hời - Ngây, Thoại - Bướm); cảnh những thanh niên làng vui vẻ rủ nhau đi xem hội ; cảnh "vào chập tối, những ngày phiên chợ, thợ tơ thợ cửi đi chơi dong nhan nhản ngoài đường, đứng họp chuyện
ở những ngã ba ngã tư, vui vẻ đông đủ như hội"; cảnh "buổi chiều những người trong làng lũ lượt đi chợ về Tay ai cũng xách các thức ăn Người này một xâu cá mè, người kia một dây những miếng thịt trâu bạc nhạc, hoặc vài ba miếng mỡ lợn Có người lại đựng lên trên nón một ôm rau muống, một gói đậu, mấy cái bánh đa, mấy bánh đậu phụ"; cảnh "làng vắng tanh, những khung cửi, guồng tơ xếp cả lại Nhiều nhà túng, bán cả đi, không hòng sinh nhai gì về nghề nữa" Từ đó sinh ra trộm cắp, tệ nạn xã hội hoành hành: "Người ta chơi chắn cạ, xóc (ra, thò lò suốt ngày suốt đêm Sát phạt nhau
từ một xu trở lên Và cái sự mất trộm vặt thì thường xảy ra luôn không hôm nào là không có người vác gậy cầm mõ đi dong ra dong vào để chửi những đứa ăn cắp vặt" Bức tranh xã hội trong cảm quan của Tô Hoài bắt đầu từ bao cảnh sinh hoạt đời thường như thế Mỗi bước thăng trầm trong mưu kế sinh nhai cùng niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống sinh hoạt của người dân là minh chứng đầy thuyết phục phản ánh cuộc sống nghèo đói lạc hậu, bấp bênh của người dân nghèo trước cách mạng
Sau cách mạng, Tô Hoài phản ánh cuộc sống trong một giai đoạn lịch sử xã hội mới, nhưng cảm quan hiện thực của nhà văn vẫn hoàn toàn nhất quán Những tác phẩm viết về đề tài cách mạng, phản ánh cuộc sống mà cách mạng đem đến cho người dân của Tô Hoài vẫn bắt đầu từ cái nền của cuộc sống sinh hoạt Ở đó, người đọc ít
được hoà mình trong âm vang hào hùng của thời đại như kiểu Dấu chân người lính
Trang 25của Nguyễn Minh Châu, Đất Quảng của Nguyễn Trung Thành, Mẫn và tôi của Phan
Tứ, Hòn đại của Anh Đức Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc sáng tác của Tô Hoài thoát ly hiện thực cách mạng Bắt đầu từ cuộc sống sinh hoạt, phong tục làng
quê, gia đình, bản thân, Tô Hoài đã tái hiện sinh động bia tranh xã hội trong một giai đoạn lịch sử mới theo phong cách riêng Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Cứu đất cứu mường, tiểu thuyết Miền Tây từ cảnh cho vay nặng lãi, cảnh phạt vạ xử kiện,
cảnh làm người ở trừ nợ, cảnh đi làm cuồng, làm người hầu chăn đệm, cảnh đi tải hàng cho khách buôn, cảnh bị xua đuổi vào rừng đào củ mài củ sắn sống khốn khổ qua ngày đến cảnh uống rượu thề, cảnh đón Tết, cảnh trông nương bẫy chuột trên khu du kích, cảnh làm đường, làm mậu dịch, làm trạm xá , khiến người đọc cảm nhận rõ cuộc sống khổ đau, bất hạnh của người dân miền núi dưới chế độ cũ và sự đổi đời của
họ nhờ có Đảng, có cách mạng Rõ ràng, Tô Hoài không thoát ly cuộc sống cách
mạng, không bàng quan với hiện thực trong tính thời sự Ông bám sát cuộc sống, hoà
mình với cuộc sống và phản ánh nó theo một phong cách riêng
Bức tranh hiện thực còn được Tô Hoài cảm nhận qua cảnh sinh hoạt ngày chợ -
một phương diện đặc trưng của cuộc sống sinh hoạt đời thường
Có thể thấy, bức tranh sinh hoạt xã hội đặc thù này ở Tô Hoài trải ra trong một không gian rộng lớn - từ miền xuôi đến miền ngược, từ trong nước đến ngoài nước và trong một thời gian rộng mở, từ quá khứ đến hiện tại Viết về Hà Nội, chỉ riêng ba tiểu
thuyết Quê người (1942), Mười năm (1967), Quê nhà (1980), bức tranh sinh hoạt xã
hội đặc thù ấy đã xuất hiện đều đặn và trở thành một phương diện phản ánh cuộc sống đầy hữu hiệu Qua cảnh chợ, người ta cảm.nhận thấm thía từng giai đoạn lịch sử xã hội Bám sát từng bước đi của đời sống dân tộc, Tô Hoài không chạy theo sự kiện, biến cố, mà nhà văn ghi lại dấu ấn qua cảnh sinh hoạt ngày chợ Mấy ai quên được hậu quả khủng khiếp của cuộc khủng hoảng kinh tế, của cuộc Chiến tranh thế giới thứ Hai, của tội ác mà Pháp - Nhật gieo rắc cho đồng bào ta Cuộc sống ấy được nhà văn tập trung khắc hoạ qua cảnh chợ quê:
"Bói không thấy một hàng gạo Chỉ có vài mẹt cám là thức ăn sống người nhất chợ Người mua tranh nhau húc vào Mẹt cám hết ngay Còn lại toàn là hàng củ chuối Từng động củ chuối cao ú ụ bằng cây rơm, chỉ một lúc đã vợi Có những củ chuối thái mỏng, trộn muối bỏ vào chậu, rắc rau húng lên trên, mỗi bát bán một hào Nhưng khách mua cũng chẳng mấy, toàn người vêu vao, lượn lờ như gà quanh thúng thóc Đám đông quằn quại, lúc nhúc, rách rưới, tanh hôi từ đống bùn rãnh ao ngoi lên, đông
là thế mà chỉ lào xào, phờ phạc, đều đều như sóng đánh, tịnh không một tiếng quát tháo, cười giòn, mặc cả, chửi bới, say rượu, bò rống, lợn éc" [68, 240- 241] Đau thương hơn, nhà nhà còn đem ra chợ từ cái khung cửi, cột nhà, khán thờ bài vị, hòm sơn then, ống quyển đựng bằng sắc gia phả Nhưng nào có ai mua Người bán, người xem đờ đẫn không một ai cất nhời hỏi một câu, rồi dần dần lảng cả Chỉ ở một đống rác cạnh đấy thì bâu nhâu người ra bới tìm kiếm miếng ăn Đặc tả cảnh chợ quê trong những năm nạn đói hoành hành, Tô Hoài đi vào những hình ảnh, những chi tiết cụ thể
Trang 26đến nao lòng trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật, mà có lẽ chỉ với cảm quan đời thường nhà văn mới có những chất liệu hiện thực như thế Rõ ràng là cùng với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao tuy "Tô Hoài không đề cập đến những mâu thuẫn giai cấp sục sôi quyết liệt, (Trần Hữu Tá), nhưng người đọc vẫn cảm nhận thấm thía bức tranh hiện thực đen tối, ảm đạm trước cách mạng
Trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, đề tài đem lại nhiều vinh quang cho nhà văn là đề tài miền núi Với sự am hiểu sâu sắc và tường tận cuộc sống sinh hoạt của mảnh đất xa xôi ấy, tác giả đã khắc hoạ thành công những cảnh quan sinh hoạt đặc thù mang ý nghĩa xã hội Và chính nó đã góp phần thể hiện bước chuyển mình lớn lao của
đất nước và con người nơi đây Viết tiểu thuyết Miền Tây, Tô Hoài đã dồn bút lực thể hiện cuộc sống của người dân Phìn Sa xưa và nay qua cảnh quan ngày chợ Xưa, chợ
đến, đàn ông phải bỏ cày đi thồ hàng.cho khách buôn, bởi "mùa nương nhà dân sao bằng mùa thuốc nhà quan" Số phận của họ như ngàn cân treo sợi tóc Biết bao người phải bỏ mạng nơi vực thẳm, đề lại đằng sau những thảm cảnh xót xa, đau đớn; các cô gái nghèo, chẳng có váy áo mới để đi chợ, vẫn nếp váy cũ rách toả ra, khiến "cô không dám bước Con mắt xấu hổ, cứ nhìn quanh dưới đất, không biết nhìn đâu trốn đâu Đành đứng lại cho người ta đi qua rồi mới lại đi Đến cửa chợ ( ) lén bước vào" Đáng chú ý hơn là cảnh trong chợ: người hút thuốc phiện nằm ngổn ngang trong các lều, người mua muối "cứ nghìn nghịt xô vào, leo lên nhau, chồng đống như đá đè Tiếng chửi rủa, tiếng kêu khóc lúc nào cũng vang một góc núi Chẳng mấy hôm không
có người chen mua muối bị chết bẹp, phải lôi xác ra"
Như một thước phim quay cận cảnh, cảnh quan ngày chợ được hiện lên qua nhiều hình ảnh cụ thể, sống động Ở đó người ta cảm nhận sâu sắc cuộc sống nhọc nhằn của người dân nghèo Bao nhiêu năm tháng trôi qua, chỉ khi có ánh sáng của Đảng, của cách mạng, cuộc sống ở đây mới thực sự được hồi sinh Tiếp tục thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm, ngòi bút Tô Hoài lại tập trung phản ánh cảnh quan ngày chợ trong một không khí hoàn toàn đổi mới Vẫn là không gian ấy, là con người ấy mà cảnh chợ bây giờ nhộn nhịp đầy mong ước Các cụ về chợ, vào hàng rượu để mời cụ bạn ở làng
xa về, cách mấy chợ mới được gặp Quanh hàng rượu, mọi chuyện ríu rít: chuyện hợp tác xã đương lập, chuyện đổi công lên hợp tác, chuyện đóng móng ngựa ở lò rèn, chuyện con trai đi nghĩa vụ quân sự Sôi nổi nhất, hầu như cả chợ ai cũng bàn tán, đoán trước đố xem chuyến hàng mậu dịch sắp lên có những gì Còn trai gái đợi ngày chợ để "mong thương mong nhớ", để trổ tài nhảy Cảnh quan ngày chợ bây giờ tươi vui, nhộn nhịp khác thường Hàng hoá của người Hà Nhì đem xuống chợ sớm nhất, nào là bó chân hương tăm mọc, nào là xâu men rượu; nào là ghế và mâm mây Bánh ngô, bánh dầy, người thì đem đi chợ bán, người thì đeo đi ăn tuỳ thích Đổi mới nhất là trong nhà mậu dịch đầy ắp các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu của mọi người dân Người Xá lên chợ mua chân chài, mà như chưa tin thật mắt mình, bởi "những điều cả đời người Xá nghèo mong ước và tìm kiếm đã thấy đây" Đáng kể hơn, bây giờ chợ Phìn Sa có cả lò rèn Chủ tịch Toả và những người thợ lão luyện vừa làm vừa truyền
Trang 27nghề cho thanh niên Người Thái, người Lừ, người Dao cả châu Yên, Nậm Ma đều gửi người về cuộc
Cuộc sống đã thực sự thay đổi Lẽ dĩ nhiên, khắc hoạ bước chuyển mình mang ý nghĩa sống còn của người dân miền núi, không phải chỉ đơn thuần miêu tả hai cảnh quan ngày chợ như thế, mà còn là quá trình đổi thay của bản làng, của mỗi gia đình, mỗi con người; quá trình trưởng thành của người dân cùng những thử thách, ý chí, nghị lực để vượt qua gian khổ trên con đường còn đầy rẫy chông gai khó nhọc; là niềm tin vào Đảng vào cách mạng; là sự cống hiến sức người sức của xây dựng quê hương Thế nhưng, không thể phủ nhận một minh chứng đầy thuyết phục cho quá trình đổi thay đó - ấy là cảnh quan sinh hoạt ngày chợ xưa và nay Đây là những trang văn thành
công nhất của Tô Hoài trong tiểu thuyết Miền Tây
Tiểu thuyết Họ Giàng ở Phìn Sa phản ánh một giai đoạn lịch sử dữ dội đau thương
của dân tộc Bọn đế quốc Hoa kỳ muốn thôn tính nước ta, đầu độc nòi giống ta, thay đổi diện mạo, phong cách sinh hoạt văn hoá ta Vấn đề đặt ra có ý nghĩa lịch sử to lớn như vậy dã được Tô Hoài thể hiện theo một cảm quan hiện thực nhất quán Ngoài bức tranh sinh hoạt, nhà văn tập trung bút lực miêu tả cảnh quan ngày chợ Xưa các bà, các chị đi chợ lủng củng đeo lù có tay tước sợi lanh như một thói quen sinh hoạt chẳng khi nào để đôi bàn tay ngơi nghỉ Còn bây giờ đi chợ "hai tay không có việc, đi rù rù như con gà rũ cánh chạy nước mưa" Bởi "thời này, con gái về nhà chồng, không đeo túi về
xe lanh làm vải" nữa Người buôn dưới xuôi đem lên chợ biết bao nhiêu thứ khác lạ:
quần áo, giày dép, thắt lưng lính Hoa kỳ và còn đủ các kiểu súng Trong chợ hàng
đúc lưỡi cày, lưỡi cuốc ế quá Các lò đúc không thấy ra chợ nữa: Người ta không còn cần cày, cần cuốc, không phát rẫy làm nương, bởi nhà có người đi lính mũ xanh, được tàu bay về thả ngô Cuộc sống đâu còn thuần chất như xưa Ở chợ bây giờ "các chiếu bàn đèn thuốc phiện cũng khác trước Có người cầm hộp tiêm, nói là tiêm thuốc phiện lối Hoa kỳ Chọc mũi kim vào cánh tay, chớp mắt đã thấy trong người chập chờn như
có cánh bay qua núi Đàn ông đi chợ, thử vào cho chọc một mũi thấy phảng phất thế thật" Ngay cả "văn hoá ẩm thực" của đồng bào các dân tộc cũng khác trước Bây giờ
ít người ăn thắng cố với bánh ngô Người ta trộn bột ngọt vào nước thắng cố, ăn với miền của người Tàu bán Cảnh quan ngày chợ dần dần thay đổi, người ta bàng hoàng nhận ra rằng: "cái gì bây giờ cũng khác", mà rõ rệt nhất là "cái chợ đổi khác" quá Phiên chợ các nơi đều như thế, chợ Long Chẹng cũng như chợ Phìn Sa, muốn có muối họ phải đem cả lạng thuốc đi đổi, muốn có súng trong tay phải có tới cả ba cân thuốc Cuộc sống của người dân bị o ép đủ điều, "suốt ngày lính sục sạo chợ thuế Mười lạng thuốc cắt lấy một lạng Con lợn thịt, nộp thuế hai chân sau, chặt đến kheo"
Là người đã từng chứng kiến những bước chuyển mình lớn lao của dân tộc, Tô Hoài luôn theo sát từng bước đi của cách mạng Việt Nam và ghi nhận sự thăng trầm của lịch sử Nhưng cảm quan đời thường khiến nhà văn ít cảm nhận sự vật, hiện tượng
Trang 28"ở cái bề sâu ở cái bề sau, ở cái bề xa" (Chế Lan Viên) Trên từng trang văn của ông, người ta thấy những bức tranh sinh hoạt đời thường luôn gần gũi gắn bó với mọi người, qua đó bức tranh xã hội vẫn hiện diện nhẹ nhàng mà không kém phần sâu sắc Khi có dịp ra nước ngoài, dù thời gian ngắn ngủi, nhưng Tô Hoài vẫn kịp ghi nhận
những cảnh sinh hoạt đời thường Đó là thành phố Nông Pênh (bút ký Mùa thu ở
Luông - Pha - Băng) có những tháp đài cổ kính, có nhiều khu phố giáp mặt sông, đêm
đêm lấp lánh ánh đèn huyền ảo Một đất nước đã được hồi sinh sau thảm hoạ mà bọn Pôn Pốt gieo rắc Tuy chưa thật phồn thịnh nhưng phiên chợ bây giờ cũng đã thay da đổi thịt: "chợ đầu xóm mỗi lúc một đông Cái chợ như người ốm vừa được vực lại, còn xào xạc, nhưng đã ra cái chợ Các chị bắc bếp nướng chuối, rán chuối Người bán mớ
cá và những bó mùng chua Một khay mật thốt nốt trắng sủi bọt Có người bày trên mảnh lá buông những chiếc gương soi Con chỉ đỏ và kim bông Có những cái chùm cái nơm bắt cá, chiếc chảo đất hũ đựng nước cũng được để ra dọc đường cái" Trong chợ, "quán hủ tiếu khói lên ngào ngạt thơm mùi nước dùng và mùi chuối rán" Cuộc sống nơi đây đã hồi sinh: "chợ thị xã Kông - Rong Chàm, chợ ngã ba Xuồng, ngã ba Kông - Bông Tham, chợ cây số sáu Pnông Pênh hay chợ trên bến Niết Sương, đâu cũng như vậy"
Bút ký Kỷ niệm Ấn Độ được Tô Hoài hoàn thành sau một chuyến thăm nước bạn
năm 1980 Cuộc sống trù phú nơi đây được hiện diện ngay trong cảnh quan ngày chợ:
"Giữa chợ, chất đống những quả xoài đỏ hồng như đào chín Những cụm phong lan mọc cả trong khe đá trước cửa Giống lan núi, lá cứng như cành quả thông, hoa vàng rực - lan Ta - dát chân Hy - ma - lay - a giống hệt phong lan trên núi đá Vằn Chải ở cao nguyên Đồng Văn" Phong cảnh rực rỡ sắc màu tạo không khí no ấm tươi vui, không chỉ trong cuộc sống vật chất mà còn cả trong cuộc sống tinh thần
Mỗi vùng quê có đặc trưng riêng đậm đà bản sắc dân tộc Chỉ với cảm quan đời thường, Tô Hoài mới chuyển tải được những cảnh, những người ở nhiều vùng quê trong sự gần gũi bình dị như thế Trong từng giai đoạn sáng tác, Tô Hoài đều gắn bó nghĩa tình với cuộc sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc Ông coi đó là trách nhiệm, là lương tâm của người cầm bút Chính vì thế, trên nhiều trang viết của ông, người đọc luôn cảm nhận được cuộc sống bình dị trong thế giới muôn màu muôn vẻ của con người
b Cảm quan về xã hội qua những phong tục, hủ tục
Sinh hoạt phong tục là một phương diện nhạy cảm nhất trong sinh hoạt xã hội Phong tục chính là "thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo" [168, 756] Mỗi nhà văn viết về phong tục dưới một cảm quan hiện thực của riêng mình Nguyễn Tuân cảm nhận phong tục trên một giá trị thẩm Mỵ đặc sắc, gắn với truyền thống văn hoá dân tộc, gắn với một lớp người thuộc giai tầng xã hội đặc biệt - một lớp nghệ sỹ tài hoa tài tử Kim Lân đến với phong tục trong thú chơi
tao nhã đồng quê Tô Hoài lại cảm nhận phong tục trên mọi phương diện tồn tại tự
Trang 29nhiên của nó: từ phong tục đến hủ tục, từ nét đẹp văn hoá đến những sinh hoạt lạc hậu
ấu trĩ Với "nhãn quan phong tục đặc biệt", Tô Hoài phản ánh hiện thực cuộc sống một
phần từ phong tục, hủ tục Những phong tục, hủ tục từ cuộc sống đi vào trang văn của
ông để đến với bạn đọc trên một tầm khái quát mới về cuộc đời, về con người
Những ngày lễ hội đầu xuân, đất quê tưng bừng trong tiếng trống chèo, chơi cờ
bỏi, đấu vật, thi bắn nỏ, thi nấu cơm, gói bánh chưng, bánh dày, (truyện ngắn Mùa
ăn chơi, tiểu thuyết Quê người, Nỏ thần, Nhà Chủ, Đảo hoang ) Món ăn tinh thần ấy
không thể thiếu trong đời sống làng quê Việt Nam, khiến họ tạm quên đi những nhọc nhằn lo âu vất vả hằng ngày Con mắt tinh quái của Tô Hoài còn cảm nhận cả những
"phong tục đã lỗi thời" - những hủ tục như nạn tảo hôn (truyện ngắn Vợ chồng trẻ
con), nạn đòi nợ (truyện ngắn Khách nợ), nạn chữa bệnh bằng lối mê tín dị đoan
(truyện ngắn ông cúm bà co), nạn cho vay nặng lãi, nạn ma chay cưới xin, nạn chửi bới bêu xấu nhau (tiểu thuyết Quê người), khiến bao gia đình điêu đứng, bao số phận
bi thảm, bao tình làng nghĩa xóm rạn nứt Không những thế, thói sĩ diện thường tình tiềm ẩn trong mỗi con người nhiều khi cũng trở thành mảnh đất cho hủ tục hoành
hành, để lại kết cục bi thảm cho con người Lệ khao vọng làng (tiểu thuyết Quê nhà)
khiến những người nghèo khó càng điêu đứng, họ vừa lo sợ, vừa ước ao, vừa áy náy đăm chiêu Không hiếm người cùng đường phải trẫm mình, phải thắt cổ Còn ông tổ
họ Lê lại tính đến một nước khác: gà gáy một đêm kia, cái ông họ Lê không thể lo được bò lợn trình làng lên ảnh năm ấy, lủi thủi dắt vợ con ra khỏi luỹ tre cổng làng Chẳng một ai trông thấy" Chuyện "xấu hổ" ấy cụ tổ đầu tiên trên đất Sơn này không dối dăng lại Nó như một nỗi đau của những người tha thiết với quê hương nhưng rồi lại phải lìa xa nó trong tủi nhục
Những năm gần đây, Tô Hoài lại trở về với nét đẹp tao nhã của mảnh đất Hà thành
Chuyện cũ Hà Nội là tập ký sự đặc sắc vinh dự nhận giải thưởng Thăng Long 1997 -
1998 Tập ký có 114 bài, ghi lại "muôn mặt đời thường" của mảnh đất Hà Nội Trong
đó phong tục được coi là phương diện nổi bật nhất của tập ký Từ tục hội làng, giỗ tết,
tảo mộ, đến tục Cưới - "phong tục, nếp sống, nét văn hoá lâu đời của dân tộc và xã hội từ quê ra tỉnh"; tục ăn cơm ăn cỗ nghiêng về phép tắc trong cuộc sống sinh hoạt ở mỗi người, mỗi nhà; tục chào hỏi nhau đi chào cao hơn mâm cỗ) dù "ngoài đường,
trong làng hay trong phố cũng thế( ), khi gặp đều chào hỏi nhau được phản ánh với thái độ trân trọng
Cảm quan phong tục được nhà văn tiếp tục thể hiện trên những trang viết về đề tài miền núi Những năm tháng sống nhiều cùng với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Tô Hoài cảm nhận phong tục trong sự hiện diện đa chiều Từ tục làm cuồng mỗi năm cho
nhà quan, tục tìm nàng hầu trong đám người tới ở cương, cô Ảng (truyện ngắn Cứu đất
cứu mường) trở thành vật chuyên tay hầu chăn đệm cho quan lang, quan châu Tục ngả
vạ người đàn bà chửa buộm, tục không có chồng, trong nhà không có đàn ông, thế thì phép quan cũng không chia cho đàn bà được phần ruộng, khiến cuộc đời cô Ảng bước sang một trang đầy nước mắt: "mẹ đành phải ôm con đi la liếm vét cối giã gạo ngoài
Trang 30suối", năm tháng trôi đi, mười mấy năm đã qua, "rách quá, ốm quá, già quá Chẳng mấy lâu mà người Mường Cơi đều gọi cô Ảng là bà lão ảng, bà lão ảng ăn mày"
Cô Mỵ (truyện ngắn Vợ chồng A Phủ) xinh đẹp, hiếu thảo, có tài, đã từng là ước
mơ của bao chàng trai - "trai đứng nhẵn cả vách đầu buồng Mỹ" Số phận cô gái xinh đẹp ấy cũng không thể trốn chạy khỏi hiện thực nơi này Tục cho vay nặng lãi, tục cướp vợ trình ma, buộc Mỵ phải chấp nhận số phận đã an bài Tục phạt vạ, xử kiện, trình ma người vay nợ, khiến A Phủ lặng lẽ cúi đầu cam chịu cuộc đời trâu ngựa nhà thống lý Trong xã hội cũ, sức mạnh của thần quyền đã quy phục hoàn toàn sức phản kháng của mỗi con người Sống dưới bàn tay tàn bạo của chúa đất, chúa rừng, người dân nghèo lương thiện mãi mãi chỉ là con sâu cái kiến Nhưng cuộc đời của họ đâu phải chỉ bị trói chặt trong những hủ tục khổ đau Và Tô Hoài đã cảm nhận nó ở thế cân bằng vốn có Từ hủ tục lạc hậu, nhà văn đưa người đọc đắm mình trong những phong tục đượm chất thơ ở mảnh đất xa xôi này Những ngày Tết vùng cao, trai gái thổi khèn, thổi sáo, đánh trao, đánh còn trong sắc trời mùa xuân đượm vẻ trữ tình nồng nàn say đắm Mấy ai đã quên phút giây hạnh phúc của Mát, của Sạ khi họ "vào rừng
bắt con hiu hiu, nòng nọc, săn con nai, con sơn dương" về ăn Tết (truyện ngắn Mường
Giơn); những ngày Tết "vợ đi trước thổi sáo, chồng đằng sau hát theo Tiếng hát ú dài
mênh mông trong đồi tranh"(truyện ngắn Vợ chồng A Phủ); những điệu khèn xuân dập dìu trong ngày chợ (tiểu thuyết Miền Tây); những điệu xoè Thái rực rỡ sắc màu trong phong tục đón người khách quý (tiểu thuyết Nhớ Mai Châu) mãi mãi trở thành món
ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc nơi đây
Dấu chân Tô Hoài đi đến đâu, phong tục tập quán mọi miền quê đi vào trường nhìn của nhà văn đến đó Chỉ với cảm quan hiện thực đời thường, với một khả năng quan sát đặc biệt, mọi phương diện phong tục trong cuộc sống sinh hoạt mới đi vào trang văn của Tô Hoài trong sự phong phú; sinh động như thế
3 Cảm quan sinh hoạt phong tục về loài vật
a Thê giới loài vật có "đời sống nội tâm ", có "tính cách" và "số phận"
Thế giới loài vật phong phú, đa dạng đã từng hấp dẫn bao nhà văn trên thế giới và
ở Việt Nam: Laphôngten, Anđécxen, L.Tônxtôi , Kim Lân, Võ Quảng, Phạm Hổ, Tô Hoài Viết về thế giới loài vật, mỗi nhà văn có một thế mạnh riêng, một sở trường riêng trên một cảm quan hiện thực riêng Nếu Laphôngten đến với thế giới loài vật bằng những bài thơ ngụ ngôn; Kim Lân tìm thấy "tài năng" của những con vật đáng yêu ở nhiều vùng nông thôn thuần phác Việt Nam: chó săn, chim bồ câu, gà chọi , thì
Tô Hoài lại đến với thế giới loài vật trong sự cảm nhận đặc biệt - cảm nhận như đời
sống con người
Cảm quan đầu tiên về thế giới loài vật của Tô Hoài là sự phong phú, đa dạng thế giới những con vật nhỏ bé; "xoàng xĩnh" (chữ dùng của Nguyễn Đăng Mạnh) rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt bình thường của con người Đó là Dế Mèn, Dế Trũi, Xiên Tóc, Kiến Chúa, Bọ Ngựa, Gà Ri, Gà Chọi, Chuột Bạch, Cá Chép, Cá Trê, Bồ Nông,
Trang 31Mèo, Chó, Ngan, Lợn Với một khả năng quan sát đặc biệt rất thông minh, hóm hỉnh, tinh tế, lại có những ngày thơ ấu gần gũi với thế giới loài vật ngộ nghĩnh đáng yêu ở bãi cơm thi đầu làng, cùng một tình cảm đặc biệt dành cho những "người bạn thân tình", ông đã cảm nhận thế giới loài vật nhỏ bé đáng yêu trong sự tồn tại tự nhiên của
nó Trong cảm quan của Tô Hoài, thế giới loài vật tuy nhỏ bé, "xoàng xĩnh" nhưng lại
có "đời sống phong tục" phong phú, có "đời sống tình cảm" đa dạng Đó chính là cái
nhìn ẩn dụ về người nông dân lao động Việt Nam
Trong thế giới loài vật của Tô Hoài, mỗi con vật có một "cá tính" riêng: Dế Mèn thích phiêu lưu,"sống" có " lý tưởng", có " hoài bão"; Dế Trũi "dũng cảm" trong công việc, "thuỷ chung" trong "tình bạn"; chị Nhà Trò yếu đuối hay bị "bắt nạt"; bác Xiên Tóc "chán đời" thích rong chơi; lão Cóc "khoác lác, huênh hoang"; lão ếch Cốm đại vương "dở hơi"; Ri Đá "cần cù, chịu khó"; Mèo già "thâm độc"; Chuột Nhắt "huênh hoang"; Bọ Ngựa "khệnh khạng"; vợ chồng Trê "gian ác xảo quyệt"
Không những thế, thế giới loài vật của Tô Hoài còn có "đời sống tinh thần" phong phú, đa dạng Mỗi loài, thậm chí mỗi con vật bé nhỏ đều có tốt - xấu, dở - hay, vui -
buồn trong trạng thái tự nhiên của nó Con Mỵ (Con mèo lười) là giống mèo mũi đỏ
không biết bắt chuột, chỉ biết ăn vụng, suốt ngày nó rong chơi, lười nhác Đã lười còn
hay đòi ăn ngon - phải ăn cơm với cá và nằm tro bếp ấm Mụ Ngan (Mụ Ngan) thì
"đần độn" quá, "đần độn đến phát ghét lên được", "thật là một thứ đàn bà đồ tồi", tranh
ăn với cả lũ con, bất chấp tiếng kêu thảm thiết của con ngan nhỏ, mụ chẳng biết, chẳng đoái hoài gì Không những thế, mụ còn "dí chặt chân lên lưng nó mà xốc ngô như thường", để đến nỗi ngan con bị gẫy xương lưng Thậm tệ hơn nữa là, đến lúc ấy mụ lại rong chơi để mặc thây đứa con bị trọng thương đang kêu khắc khoải "Mụ làm như
không biết rằng có một đứa con mình vừa mới chết" Trong khi đó Gà Mái (Một cuộc
bể dâu) vừa là "một người đàn bà giỏi giang", vừa là "người đàn bà rất đa tình" Khi
chưa vướng vào bổn phận "nuôi nấng dạy dỗ con trẻ", "người đàn bà ấy" "yêu hết mình" Nhưng khi đã được "làm mẹ", nó lại là một "bậc mẹ hiền gương mẫu" Mụ không dám rời lũ con thơ đến nửa bước Chăm chỉ kiếm ăn nuôi con, có khi chỉ bới được một hạt đền nhỏ mụ cũng gọi chúng đến, cho chúng ăn Mụ vừa "nhìn các con
ăn, vừa nói chuyện vui vẻ" Chẳng may con mụ gặp hiểm nguy, mụ "cong chòm đuôi lên, sù vành lông cổ", "nhảy lên như choi choi", bảo vệ cho kỳ được những đứa con yêu quý của mình
Mỗi loài mỗi "tính nết", cũng có khi cùng một loài mà tuỳ theo giới tính chúng biểu hiện những sắc thái khác nhau Nếu Gà Mái là "người đàn bà mẫu mực", "yêu
thương chăm sóc con cái hết mình" thì Gà Trống Ri (Tuổi trẻ) tuy nhỏ nhưng lại rất
"đa tình" Chẳng nghĩ đến việc gì ngoài chuyện "tình ái" "Nó có tật mê gái", khi "yêu thì "yêu" rất ham cho dù "đường tình ái của nó rất khó khăn và gặp nhiều trở ngại lớn"
Chú Chuột Nhắt (Đám cưới chuột) cũng "vui vì danh", "hám vì lợi", như bất kỳ
"ai" trên đời Chú "vui" khi nghe tin được dân làng sang đón "rước cử nhân tân khoa
Trang 32Chuột Nhắt" - "Chuột Nhắt ta mừng hý hửng Chú mừng và sướng chẳng khác lúc đứng nghe gọi loa xướng danh đến tên mình trúng tuyển" Khi bị "khước từ hứa hôn", chú cũng "buồn" và tìm cách "báo thù cho hả giận", bởi "chú cũng nhỏ nhen" như "ai" Dưới con mắt Tô Hoài, họ hàng nhà Chuột, mỗi loài mỗi tính
Nếu Chuột Nhắt huênh hoang, có thói sĩ diện và nhỏ nhen, Chuột Chù "đỏng đảnh, khinh người, làm bộ, làm tịch", thì Chuột Cống lại là "một lay lão luyện giang hồ Ông
ta có nghĩa khí, có chí làm việc lớn Ông lại võ nghệ cao cường Ông giao du với nhiều bạn bè lắm phường thiên hạ" Mỗi "kẻ" mỗi "tính" làm nên một thế giới loài Chuột với tất cả cái "tốt", cái "xấu', cái "hay", cái "dở' của nó
Dưới cảm quan của Tô Hoài, mỗi con vật không chỉ có "cá tính" riêng mà chúng còn có "cuộc sống gia đình" với những "vui" - "buồn" như cuộc sống của con người
Vợ chồng đôi Ri Đá (Đôi Ri Đá) có "vợ", có "chồng", rồi "sinh con đẻ cái" Trong
mái ấm "gia đình", "người chồng" cũng là trụ cột gánh vác mọi công việc nặng nhọc, còn "người vợ" "đảm đang trách nhiệm" và "bổn phận" duy trì nòi giống Vợ chồng Ri
Đá rất "yêu thương nhân" Động viên vợ trong những ngày sinh nở, anh chồng "đứng cạnh nàng, tỏ vẻ âu yếm Chàng xích lại một chút Chị vợ cũng dân dún đôi chân và rung rung đôi cánh Hai cái mỏ chúi vào nhau Đôi chim hoan hỉ nhìn nhau" Lúc "vui vẻ" "hạnh phúc", vợ chồng Ri Đá cùng "hát nho nhỏ" và chỉ có mỗi một điệu hót ke ke như thế mà chúng làm xôn xang cả "cái tiểu gia đình này" Tai nạn bất ngờ ập đến, vợ chồng Ri Đá chịu khó và nhẫn nại kia, cùng bốn con thơ dại tan tác bay đi, không bao giờ còn trở về nữa
Mỗi con vật trong thế giới loài vật của Tô Hoài còn có những "số phận" khác nhau: cũng "gian truân vất vả", cũng "khổ đau bất hạnh", cũng "tan tác chia ly", thậm chí còn kết thúc "cuộc đời" bằng những cái chết thật thương tâm
"Số phận" của tiểu thư Chuột Chù (Đám cưới chuột) có "bước đi yểu điệu", "áo
(…) lúc nào cũng thơm lừng mùi nước hoa" thật bất hạnh Khi cha mẹ "cô"- ông bà viên ngoại đoán biết rõ mười mươi căn bệnh của công tử Chuột Nhắt, rồi hôm sau, ông viết thư sang khước hôn cho con gái, khiến Thử ông và Thử bà giận lắm, còn công tử Chuột Nhắt thì thở dài thườn thượt Tiểu thư Chuột Chù cuối cùng cũng "héo hắt đi rồi chết già, chẳng ai buồn lấy, chẳng ai rước đi cho Là vì cô đỏng đảnh khinh người làm
bộ quá
Làm bộ mãi thì đời làm bộ trả Ở đời kiêu kỳ bắc bậc, chỉ tổ làm cho ai nấy sinh ghét"
Vợ chồng lão Trê (Trê và cóc) "gian ngoan, xảo quyệt", hiếm hoi "có đẻ chẳng có
nuôi, sinh năm bảy bận, cũng chẳng được bận nào", bèn "lập mưu nham hiểm để chia lìa mẹ con Cóc, nhằm cướp không đàn con của vợ chồng Cóc Mọi mưu mô, tính toán đều không thành "Số phận" không mỉm cười với chúng, chúng vừa không có con, vừa phải chung thân ở trong bùn lầy đáy ao, không bao giờ được ăn nổi trên mặt nước
Trang 33Trong khi đó, vợ chồng Cóc "hiền lành thật thà" trải qua bao "gian nan vất vả, oan ức" được đem lũ con về, cả làng đến thăm hỏi đầy nhà "Người ta gom tiền lại mở tiệc đoàn viên Nghe nói cả ngả trâu và mời nhà trò, phường chèo về hát mừng" "ở hiền gặp lành, ác giả ác báo" "số phận" mỗi con vật cũng không đi chệch ngoài quỹ đạo chung đó
Thế giới loài vật trong cảm quan của Tô Hoài sinh động, ngộ nghĩnh, có "thế giới nội tâm", có "số phận", có "phẩm chất", "cá tính" và "thói tật" như con người Chính cảm quan ấy đem lại một sắc thái riêng trên từng trang sách viết về loài vật của ông
b Thế giới loài vật có "suy nghĩ" và "hành động ", có "phong tục" và "tập quán "
Trong con mắt của Tô Hoài, thế giới loài vật không những có "đời sống nội tâm" phong phú mà còn rất "hoạt bát", "năng động" Chúng cũng có "suy tính" và "hành
động", có "phong tục" và "tập quán" như con người Vậy nên viết về loài vật, truyện
của Tô Hoài không phải là truyện ngụ ngôn, mà là truyện đồng thoại
Chú Bọ Ngựa (Võ sĩ bọ ngựa) không biết nghe lời mẹ, bỏ "nhà" đi chơi bời lêu
lổng Chú còn thích ra oai, thích ra vẻ quan dạng, vì thế "mỗi khi nhấc chân lên, chú lại giơ hai càng ra đằng trước Làm điệu múa mênh, gạt đỡ cái gì cản trở vướng víu
Ra lối ta đây con nhà vũ nghệ Cái mặt thì nghênh lên vênh vác, đưa sang bên nọ, đưa sang bên kia, để xem có ai ở xung quanh nhìn thấy mình đương đi bằng một dáng oai hùng nhất thiên hạ không", khiến chú càng trở nên kệch cỡm, đáng ghét
Chú Dế Mèn đáng yêu được sống trong vòng tay âu yếm của mẹ có hai hôm, rồi tới hôm thứ ba, mẹ đi trước, ba đứa tôi tấp tểnh, khấp khởi nửa lo, nửa vui theo sau, vào một cái hang đất ở bờ ruộng để "sống độc lập", bởi đó là "tục lệ lâu đời trong họ
Dễ Tục lệ ấy khiến chúng phải sớm tự "bươn chải" với "cuộc đời" Cuộc phiêu lưu đưa chú đến vùng hoa cỏ may, trở thành chánh phó thủ lĩnh tổng Châu Chấu Dế Mèn
và Dế Trũi trưởng thành nhanh chóng ngày càng làm được những việc hữu ích Hình ảnh chú Dế Mèn hách dịch ngông cuồng đã lùi vào dĩ vãng Giờ đây chỉ còn một chú
Dế Mèn "nhân hậu", "thuỷ chung" biết "lo lắng" và "giúp đỡ, "người" khác Đặc biệt là đối với "gia đình", cái nền nếp trước sau được anh em nhà Mèn coi trọng Sau bao nhiêu ngày tháng xa "gia đình", trở về "quê hương", mẹ và anh hai đã mất, Mèn đau xót đến "viếng mộ người bên đầm nước", thăm anh cả, thăm "bà con" âu cũng là một nét phong tục của họ nhà Dế
Họ nhà Cóc lại có "phong tục" riêng không giống với bất kỳ một giống loài nào Theo lệ của họ Cóc, đến ngày "sinh nở", Cóc "vợ" phải từ biệt "chồng" ra cái ao ngoài đầu xóm Chính cái "tục lệ" này mà "vợ chồng" Cóc lao đao theo kiện để đòi đàn con với lão Trê Và cũng chính cái "tục lệ" này mà bao nan giải trong vụ kiện mới được sáng tỏ, bởi nòng nọc đã đến hạn đứt đuôi Nòng nọc đã thành chú cóc con chững chạc Cái "tục lệ" của họ nhà Cóc lạ lùng khiến "vợ chồng" Trê gian ngoan, xảo quyệt định cướp không đàn con của họ đã thất bại "Vợ chồng" Trê không biết rằng có ngày chúng nó lại hoá ra Cóc con được
Trang 34Mỗi loài một "tập tục" riêng rất phong phú và đa dạng Có lẽ những nhà văn quan sát tinh tế, tỷ mỷ, nắm được từng "đặc điểm", "phong tục" của loài vật như Tô Hoài không nhiều và cảm nhận một cách cặn kẽ như thế lại càng hiếm, vẫn biết rằng tất thảy loài vật ấy đều hiện diện xung quanh chúng ta Cảm quan về loài vật của Tô Hoài thật đặc biệt, chẳng giống ai và cũng chẳng ai theo kịp Chính nó tạo tiền đề để "Tô Hoài ( ) viết thành công nhất, hấp dẫn nhất về các loài vật" (Hà Minh Đức)
4 Cảm quan thiên nhiên bình dị mang màu sắc tự nhiên, khách quan
a Bức tranh thiên nhiên có giá trị độc lập tự thân, gần với đời sống sinh hoạt của con người
Cảm quan hiện thực đời thường đưa ngòi bút của Tô Hoài đến với mọi phương diện trong cuộc sống bình dị Nó không chỉ là thế giới của con người với đời sống sinh hoạt phong tục, mà còn là thế giới loài vật và phong cảnh thiên nhiên Thiên nhiên hầu như thường xuyên có một trong sáng tác của Tô Hoài Đối với nhiều nhà văn, thiên nhiên là "phương tiện nghệ thuật để nắm bắt cuộc sống bên trong của con người" Tô
Hoài cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy, thế nhưng cảm quan hiện thực đời
thường đưa ngòi bút của nhà văn đến với thiên nhiên ở mọi miền quê trong dáng vẻ tồn tại tự nhiên của nó Vì vậy, thiên nhiên trong sáng tác của ông vừa phù hợp với
cảnh ngộ, tâm trạng của nhân vật, vừa là bức tranh mang giá trị độc lập tự thân, nó có thể "bước" ra khỏi văn cảnh mà vẫn "sống", vẫn tồn tại Miêu tả thiên nhiên, Tô Hoài quan sát lựa chọn âm thanh, hình ảnh, màu sắc, mùi vị vừa cụ thể, vừa chân thực khách quan, rất gần với hiện thực cuộc sống Khác với nhà văn Nguyên Tuân - một nghệ sỹ của sự hoàn thiện tuyệt mỹ, từ con người đến phong cảnh thiên nhiên trong con mắt của ông đều phải đạt tới vẻ đẹp tinh khôi của tạo hoá Vì thế, bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Tuần luôn có vẻ đẹp rực rỡ, toàn bích Từ màu sắc của nước biển
Cô Tô đến cảnh đất trời Tây Bắc, nơi có dòng sông Đà "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo", nơi có bạt ngàn là hoa: hoa gạo đỏ, hoa ban trắng, hoa đào hồng rực rỡ tạo nên cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp khác thường; Khác với Nguyên Hồng, nhà văn đặc biệt nhạy cảm trước những khung cảnh rộng lớn, hùng vĩ - trời cao, biển cả, sông dài, nước rộng, nắng mênh mông ; Và cũng khác với Vũ Trọng Phụng, thiên nhiên quay cuồng trong dông tố, thiên nhiên khốc liệt, dữ dội luôn báo hiệu sự bất thường trong cuộc đời con người.:.; thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài mang đậm hình ảnh bình dị khách quan: có ánh sáng và bóng tối, có mặt trời và mặt trăng, có nắng và mưa, có cỏ cây hoa lá chim muông như trong cuộc sống thực Mỗi bức tranh thiên nhiên trên từng trang sách của ông lại luôn gần gũi, gắn bó, theo sát với cuộc sống sinh hoạt của con người Giáo sư Hà Minh Đức nhận xét rất có lý rằng: "Tô Hoài miêu tả thiên nhiên theo một cách nhìn ngắm tự nhiên, nhẹ nhàng, không có dấu vết ngăn cách khung cảnh thiên nhiên và bức tranh xã hội ( ).Trong tác phẩm của ông, thiên nhiên luôn có mặt
và dường như là một nhân vật có cuộc sống, có tâm hồn"
Trang 35Gắn với cuộc sống sinh hoạt đời thường, Tô Hoài lựa chọn hình ảnh, âm thanh tự nhiên, khách quan không nghiêng về một sắc thái cực điểm nào đó của đối tượng
Ngay từ những dòng đầu của tiểu thuyết Quê người, người đọc đã gặp ánh trăng
mười sáu rực một màu vàng ối trong khung cảnh yên bình ở một vùng quê dệt cửi Ánh trăng nhuốm vàng cả làng quê tạo không gian rộng lớn thanh bình êm ả Ánh trăng soi đường cho cả bọn có bốn năm anh kéo đến nhà Hời ngồi chơi vui, nói chuyện gẫu Ánh trăng soi sáng cho Hời hái bông hoa ngọc lan đến nhà Ngây Ánh trăng in
bóng Hời trên thảm cỏ đợi người yêu ngoài bờ ao Ánh trăng gắn bó thân thiện với
con người trong những cảnh sinh hoạt bình thường của họ
44 trang đầu của tiểu thuyết Miền Tây là cảnh sống khổ đau, tăm tối, bấp bênh của
người dân Phìn Sa dưới chế độ cũ Trong 44 trang sách này, Tô Hoài đã miêu tả thiên nhiên 7 lần Nét bao trùm toàn cảnh là âm thanh gào rú của gió và không gian của bóng tối: gió gào quẩn", gió "chồm lên rồi chết đứng từng đợt ngang giữa các triền đồi tranh mênh mông lặng im" Bóng tối bao trùm khắp nơi, hoạ chăng chỉ còn sót một chút nắng loang lổ hoặc "mặt trời buổi chiều tưởng đã chìm hẳn lại rầu rĩ phô ra" phù hợp với những cảnh đời khổ đau, bất trắc, những hiểm hoạ đang rình rập con người
229 trang sau của tác phẩm, Tô Hoài miêu tả thiên nhiên 44 lần trong nhiều cung bậc, phù hợp với từng bước thăng trầm trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mảnh đất xa xôi còn biết bao gian truân vất vả nhưng.đã có niềm tin vào ngày mai tươi sáng Nét bao trùm toàn cảnh là màu sắc thiên nhiên tươi tắn Ở đó có rừng sa-mu xanh mờ, cam chín vàng ối trên bờ rào trúc thưa, những khoảng xanh rừng, lốm đốm có những miếng nương vàng ngọt, báo hiệu cuộc sống người dân Phìn Sa đã thay đổi
Với 244 trang sách của tiểu thuyết Nỏ thần, Tô Hoài đã miêu tả 61 bức tranh thiên
nhiên Cả 61 bức tranh ấy đều gắn với cuộc sống sinh hoạt của con người Trong những ngày xây thành đắp luỹ, ánh mắt vua Thục lúc nào cũng rực rỡ, sảng khoái Cảnh vật xôn xao, rì rào gió thổi "Những đàn chim ríu rít bắt sâu ( ) Quanh nhà sực nức mùi hoa chanh, hoa bưởi" Khắp nơi người dân sống trong không khí lễ hội truyền thống: hội võ, hội hát, hội thi rượu cần tất cả đều diễn ra dưới ánh trăng vằng vặc vàng như chiếc chiêng đồng nhà trời Khi Triệu Đà đem quân xâm chiếm nước ta, nhờ thành quách kiên cố, lòng dân muôn người như một, vua chủ đã chiến thắng lẫy lừng,
bờ cõi yên vui, non nước thanh bình, phong cảnh thiên nhiên càng rực rỡ sắc màu Dưới nước, những cánh hoa súng nở trắng Những chiếc lá trang tròn xanh lát mặt nước "Trên trời, từng đám chim công lượn ( ) cả trăm, cả nghìn con công đậu Đuôi công nở ra lung linh múa Tròn xoe, rực rỡ biếc xanh, trắng bạch, vàng rực, đỏ hồng " Nhưng rồi cảnh vật bỗng nhiên tối sầm lại, bốn phía trời đất xám ngăn ngắt khi quân Triệu Đà tràn sang xâm lược Một nỗi ân hận trào dâng trong lòng vua chủ vì những ngày đã qua mất cảnh giác, bất đồng ý kiến vua - tôi để các tướng lĩnh giỏi phiêu bạt khắp bốn chân trời góc bể Trong bối cảnh đó vua Thục không còn cảm nhận được mùi hoa mộc, hoa cau ngoài hiên đưa vào thơm nhẹ, mà chỉ thấy gây gây khó chịu như hoa ngái Cảnh trời mây non nước bây giờ chỉ còn là "một vùng mênh mông
Trang 36suốt ra tận bể Những dãy núi tởm nhóm sừng sững Tiếng sóng ì oàm dội quanh tưởng không bao giờ dứt Trần gian thăm thẳm"
Rõ ràng là bức tranh thiên nhiên trong sáng tác của Tô Hoài vừa gần gũi với phong cảnh khách quan, vừa gắn bó, theo sát cuộc sống sinh hoạt và tâm trạng của con người Ngòi bút tinh tế tài hoa của Tô Hoài đã đem đến vẻ đẹp tự nhiên mà tạo hoá đã ban phát trao tặng cho chúng ta
b Thiên nhiên trong vẻ quyên rũ đầy sức sống
Trong cảm quan của Tô Hoài, thiên nhiên còn thể hiện vẻ quyến rũ đầy sức sống
Vẻ quyến rũ hiện diện trong nhiều cung bậc, khi là khoảnh khắc thiên nhiên dữ dội vận động theo quy luật của tự nhiên, khi lại rất hiền hoà, thơ mộng
Mở đầu tiểu thuyết Miền Tây là hình ảnh đoàn ngựa thồ của khách Sìn lên Phìa Sa:
"Đàn ngựa thồ hàng đi kéo dài qua những vùng vàng rượi cỏ tranh, mỗi ngày đi mỗi cảm như người ngựa cứ xoay tròn trên lưng trời, cả ngày trông xuống vẫn chỉ thấy đỏ
ối độc một vết dốc lầy lội vượt hôm trước Không một tiếng người, chỉ nghe vó ngựa
và từng roi quất dứ qua quãng kẹt hai bên núi dựng, tiếng gió gào quẩn rồi thúc lên trên đầu sóng cỏ tranh, lấp hết cả người, cả đoàn ngựa" Bức tranh thiên nhiên có hình ảnh, màu sắc, âm thanh đặc biệt gợi khung cảnh hoang rợn, hiểm trở có thể gây hiểm hoạ bất kỳ cho con người
Đó còn là những cơn lũ vào mùa mưa: "Mưa núi, mưa thung, mưa rừng thúc con suối Nậm Ma toả ra cuồn cuộn ( ) Những con lũ gối lên nhau, gầm thét đuổi theo nhau Chân lũ này chưa dứt, đỉnh lũ khác đã tràn lên mấp mé doạ lôi đi xoá đi cả xóm,
cả những cánh rừng âm u" Dù chưa một lần đến miền Tây, nhưng qua những bức tranh thiên nhiên dữ dội này, người đọc thực sự được biết, được hiểu và được chứng kiến sự khắc nghiệt của thiên nhiên đầy bí hiểm
Trong nhiều trang sách của Tô Hoài, thiên nhiên khắc nghiệt, hung dữ còn được thể hiện ở những dáng vẻ khác Đây là cảnh đất rừng Mai Châu ngày ấy khi nhân vật
"Tôi" được tận mắt chứng kiến:
- "Rừng nứa ẩm lại sương, vắt nhiều không biết thế nào Không ai dám nhìn xuống, vắt nhựa nhúa hoa vòi lên " [95, 75]
- "Sáng ra, đêm mưa còn ướt cỏ, vẫn qua rừng nứa, mặt đất lại múa lên những cái vòi vắt tím hút máu chân người Trên cây, vắt xanh nhảy bám vào tay vào cổ, chốc lại phải dứt vứt ra Rừng nứa ẩm ướt, càng vào sâu vắt càng đen ngòm mặt đất "[95, 76]
- "Vào quá nửa đêm trông thấy rõ ràng con hổ trong rừng cỏ bái ra, bóng đi loang loáng như ánh trăng lướt Chắc hổ đánh hơi thấy mùi người, lượn lờ tìm mồi" [95, 79]
Rõ ràng là thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài hoàn toàn mang đậm dấu ấn hiện thực khách quan Nhà văn không tô hồng hiện thực, cũng không né tránh sự thật cho dù đó là sự thật khắc nghiệt khiến cuộc sống con người càng gian truân, vất vả hơn Từ tấm lòng gắn bó với cuộc sống, với đất trời, Tô Hoài đã cảm nhận phong cảnh
Trang 37thiên nhiên từ những dáng vẻ hoang sơ nhất
Cảm nhận thiên nhiên, Tô Hoài luôn hướng tới mọi phương diện tồn tại khách quan của nó Do vậy thiên nhiên không chỉ có vẻ dữ dội, khắc nghiệt, mà còn có vẻ đẹp nên thơ của cỏ cây hoa lá chim muông - mang chất liệu nguyên sơ và tinh tuý của tạo hoá Chắc hẳn mỗi chúng ta đều không thể quên mùi thơm dìu dịu trong nắng của
bó hương nhu (Mương Giơn); mùi hương hồi thấm đẫm không gian xứ Lạng, bởi ở đó
"một mảnh lá gẫy cũng dậy mùi thơm" (Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ); mùi hoa chanh hoa bưởi sực nức, mùi hoa mộc, hoa cau ngoài hiên đưa vào thơm nhẹ (Nỏ thần)
Và ánh trăng, nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên không thể không nhắc đến ánh trăng Ánh trăng trên mảnh đất vùng cao gợi vẻ đẹp lung linh huyền ảo:
"Đêm ấy, sáng trăng trên Phìn Sa
Những đêm đầu mùa hè, mây dày từng mớ, từng lớp vàng đẫm ánh trăng ủ khắp trên những cánh rừng tít tắp, những thung lũng làng mạc xa lạ, những cánh đồng rải rác đâu trong hóc núi không ai biết
Tất cả im lìm dưới kia Tưởng trên mặt đất chỉ còn có Phìn Sa thức cao gần trời Tiếng sáo người đi chơi khuya thấp thoáng ánh trăng Khi trăng ngang đỉnh đầu, ngỡ
có thể với tay tới như trong cổ tích người già thường kể" [82, 100] Ánh trăng trên đất Phìn Sa lan toả khắp cánh rừng, thung lũng, làng bản, cánh đồng và tất cả được sống dậy bởi âm thanh của tiếng sáo gọi bạn, khiến phong cảnh thiên nhiên miền núi như huyền diệu hơn, thấm đẫm chất thơ hơn Cảnh sắc thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài luôn tràn đầy sức sống Sức sống mà tạo hoá ban phát được nhà văn cảm nhận qua hình ảnh, màu sắc, mùi vị và âm thanh
Sẽ là thiếu sót nếu không đến với bức tranh thiên nhiên kỳ diệu do chính bàn tay lao động của con người tạo dựng nên Trong một dịp đi thực tế về vùng nông thôn giữa ngày mùa, Tô Hoài cảm nhận thấy: "Mùa đông, giữa những ngày mùa, làng quê toàn
màu vàng, những màu vàng rất khác nhau ( ) Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt ngả màu vàng hoe Trong vườn lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm ( )
Từng chiếc lá mít vàng ối Tàu đu đủ chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi
Buồng chuối đốm quả chín vàng Những tàu lá chuối vàng ối ( ) Bụi mía vàng xong ( ) Dưới sân, rơm và thóc vàng dòn Quanh đó, con gà con chó cũng vàng mượt Mái
nhà phủ một màu rơm vàng mới ( ) Tất cả đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng" [97, 26]
Bức tranh nông thôn những ngày mùa được Tô Hoài miêu tả trong khung cảnh tràn
ngập màu vàng Nhà văn đã cảm nhận qua 12 gam màu vàng khác nhau Màu vàng
xuộm của lúa, vàng hoe của nắng, vàng lịm của quả xoan, vàng xong của bụi mía tất
cả được phân biệt tinh tế, sắc sảo Phải có một tâm hồn gắn bó tha thiết với quê hương
xứ sở biết nhường cào, Tô Hoài mới cảm nhận thấm thía mọi cảnh, mọi tình như thế Bức tranh thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài hiện diện trong cả chất thơ lẫn
Trang 38chất "bụi lầm" của sự sống Dù ở cung bậc nào, bức tranh thiên nhiên cũng in đậm dấu
ấn hiện thực khách quan và luôn gần gũi, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt của con người
Tô Hoài cảm nhận hiện thực đời sống trong mọi dạng vẻ tồn tại tự nhiên khách quan Trong đó, con người là yếu tố trung tâm thể hiện cảm quan độc đáo và là nhân tố
cơ bản tạo thế giới nhân vật mang đậm dấu ấn sáng tạo riêng của nhà văn Với ý nghĩa
đó, chúng tôi dành trọn Chương 2 nghiên cứu thế giới nhân vật Tô Hoài
Trang 39Chương 2
THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐA DẠNG, BÌNH DỊ
I ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA TÔ HOÀI
1 Thế giới nhân vật đa dạng, bình dị, đời thường
a Những nhân vật nhỏ bé, " xoàng xĩnh"
Thế giới nhân vật của Tô Hoài khá đông đúc Dựa theo tiêu chí nghề nghiệp, thế giới nhân vật của Tô Hoài có hai kiểu loại chủ yếu: những người thợ thủ công và những người nông dân Đó là lực lượng lao động đông đảo trong xã hội Trong sáng tác của Tô Hoài, người ta còn thấy hình ảnh của những ông giáo (ông giáo Kền, ông giáo Câu, ông giáo Hoạnh, ông giáo Răng), nhưng cuộc sống sinh hoạt của họ hết sức bấp bênh, nghèo nàn, đơn điệu; cũng có những cô đào hát (cô Muội, cô Tình, cô Huệ) nhưng khi vắng khách thì các cô có thể ra đồng làm cỏ lúa, bắt ốc, hái rau muống hoặc cấy thuê; có những nhà văn tầm cỡ trong nền văn học hiện đại nước nhà (Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng, Xuân Diệu ) nhưng sự nghiệp văn chương của họ ít là đối tượng thẩm Mỵ của tác giả, mà niềm say mê của nhà văn lại là những chân dung đời thường, những cá tính, phẩm chất và thói tật ở mỗi người
Tô Hoài ít xây dựng hệ thống nhân vật trong sự đối kháng giai cấp dân tộc Trước cách mạng, nhân vật của ông thường sống bình yên trong làng quê nghèo bình dị Họ cùng làm một nghề, cùng vui - buồn với sự thăng - trầm của làng nghề truyền thống
Có những nhân vật "tai to mặt lớn" trong làng (ông lý Kha, bác bếp Trạch) nhưng không gian ác, hách dịch, dâm ô như Nghị Quế của Ngô Tất Tố, Nghị Lại của Nguyễn Công Hoan, Nghị Hách của Vũ Trọng Phụng mà bác bếp Trạch sẵn sàng ngồi chung
xe tay với anh Hời, ông lý Kha đi xe đạp trước lên tỉnh lĩnh lơ - com - măng - đê cho anh Hời Công việc xong xuôi, anh Hời biếu bác bếp Trạch năm hào, "ông lý Kha và Hời ra chợ Đơ, chén một bữa rượu thịt chó Hai người cùng say chuếnh choáng Hời đưa biếu ông lý hai đồng", có chăng ông chê ít, "Hời đưa thêm một đồng ông mới bằng lòng" [61, 118]
Sau cách mạng, nhân vật của Tô Hoài hoà mình trong dòng chảy chung của sự nghiệp cách mạng Một kiểu nhân vật mới xuất hiện - nhân vật loại hình - nhân vật
người Đảng (cán bộ Đức Xuân - Núi cứu quốc, cán bộ A Châu - Vợ chồng A Phủ, cán
bộ Nghĩa - Miền Tây, cán bộ Nguyên - Họ Giàng ở Phìn Sa ), nhưng ở Tô Hoài, kiểu
nhân vật này chỉ mang tính thời sự Nhân vật người Đảng của Tô Hoài như chiếc cầu nối đưa người dân đến với Đảng, với cách mạng Loại nhân vật này như kiểu nhân vật chức năng trong truyện dân gian Nó sinh ra để thực hiện một nhiệm vụ cao cả và do vậy hầu như còn sơ lược, công thức, ít đời sống nội tâm
Trong giai đoạn lịch sử xã hội "không bình thường" (1945 - 1 975), khi nhiều nhà
Trang 40văn tập trung xây dựng hình tượng nhăn vật người lính, người thanh niên xung phong
(Nguyệt, Lữ của Nguyễn Minh Châu; Chín Kiên, út Hảo của Phan Tứ; Đông,
Hảo của Hữu Mai; Huy của Nguyễn Khải ), thì Tô Hoài "không muốn nhô lên làm người lĩnh xướng hoặc trong đội ngũ những người lĩnh xướng" (Phong Lê) Nhất quán với cảm quan hiện thực của mình, nhân vật tích cực của Tô Hoài ở giai đoạn này vẫn được đặt trong môi trường sinh hoạt, lao động với những bươn trải nhọc nhằn (Lạp,
Trung, Lê trong Mười năm; Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Chi, Mã Hợp trong Tuổi trẻ
Hoàng Văn Thụ ) Chính vì thế, Tô Hoài rất gần gũi với thế giới nhân vật của mình
ông không "đóng cũi sắt tình cảm" để gọi nhân vật bằng các đại từ: "hắn", "y", "thị",
"gã" như Nam Cao; không đặt nhân vật lên cao để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoàn hảo mang tính lý tưởng như Nguyễn Trung Thành, Anh Đức ,Tô Hoài rất thân mật, thậm chí suồng sã với nhân vật, tạo ra trạng thái thăng bằng trong cảm xúc Nhà văn dùng
đại từ để phân biệt thứ bậc một cách gần gũi tự nhiên - bác Xiên Tóc, chị Niềng Niễng, cô Nhà Trò, chú Dế Mèn, thím Vịt, cậu Miu ông còn đặt cho nhân vật những cái tên rất dân dã - cái Gái, thằng Cẳng, thằng Chân (Nhà nghèo), thằng Bò, thằng Ếch
(Quê người), Ếp, Thóc, Gạo, Vằn, Vện (Con ngựa), bà Giàng Súa, cô Mỵ, Thào Khay,
Soá Toả, chủ tịch Pàng (Miền Tây), Giàng A Thào, Vàng Trở Ký (Lên Sùng Đô)
b Nhân vật gắn với công việc, nghề nghiệp bình dị
Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, hình ảnh người nông dân bước vào trang văn khá sớm và không ít nhân vật đã trở thành hình tượng bất tử (chị Dậu, Chí Phèo ) Xây dựng hình tượng bất tử ấy, các nhà văn đã lựa chọn những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình Ngô Tất Tố chọn thời điểm căng thẳng nhất của một làng quê Việt Nam trước cách mạng vào mùa sưu thuế Một mình chị Dậu tất
tả ngược xuôi lo toan suốt sưu cho chồng, cho người em chồng đã mất Trong hoàn cảnh tuyệt vọng nhất, chị đã chiến thắng mọi cám dỗ của đồng tiền để giữ trọn hai chữ thuỷ chung với người chồng nghèo chốn quê hương Nam Cao chọn thời điểm bi đát nhất trong cuộc đời Chí Phèo - khi ra tù trở thành nỗi lo sợ cho cả làng Vũ Đại, để người nông dân cùng đường ấy quằn quại giữa cuộc đời, và khao khát trở thành con người lương thiện Viết về người nông dân, Tô Hoài thường đặt nhân vật trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật Ông ít để nhân vật của mình thoát ly công việc, thoát ly lao động, thoát ly môi trường sinh hoạt Công việc gắn với họ như nguồn sinh khí nuôi dưỡng bản thân Trong mọi hoàn cảnh, nhân vật của Tô Hoài đều gắn với công việc, từ công việc "bếp núc" đến những công việc lao động nghề nghiệp nặng nhọc
Đó là công việc tạo dựng nơi ăn chốn ở cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Người nông dân lao động Việt Nam trong hoàn cảnh nào cũng rất chú trọng đến nơi ăn chốn
ở bởi họ luôn nghĩ rằng có "an cư" thì mới "lạc nghiệp" Chú Dế Mèn (Dế mèn phiêu
liêu ký) ngay từ những ngày đầu ra ở riêng, đã hì hục đào đất để khoét một cái ổ lớn
làm thành cái giường ngủ sang trọng Chú còn "biết đào hang sâu sang hai ngả làm những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng phòng khi gặp việc nguy hiểm, có thể thoát thân ra lối khác được" bởi chú sớm biết "lo toan" cho "cuộc sống",