1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN De hieu them ve truyen Trung dai

4 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 48,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cã thÓ xem Hoµng Lª nhÊt thèng chÝ lµ mét cuèn tiÓu thuyÕt lÞch sö viÕt theo lèi Ch¬ng håi.. VËy, ta t×m hiÓu tõng phÇn mét cña Hoµng Lª nhÊt thèng chÝ.[r]

Trang 1

Để hiểu thêm về tên truyện trung đại

Hồ Đức Bang

GV THCS Quỳnh Long-Quỳnh lu-Nghệ An

I Đặt vấn đề:

Trong văn học trung đại trong chơng trình THCS từ trớc đến nay đóng vai trò quan trọng trong sách Ngữ Văn Vấn đề đợc đa ra giảng dạy cho học sinh, khi khai thác nội dung chủ đề t tởng của một tác phẩm phải bắt đầu tìm hiểu ngay tên văn bản Hoặc phân tích để tìm hiểu, nắm đợc nội dung t tởng đó trong tác phẩm, phải khái quát đợc chủ đề tên tên tác phẩm

Lâu nay, trong chơng trình SGK, tài liệu tham khảo cũng có nhiều cách hiểu không thống nhất Hiện nay, trong dạy-học cũng cần cung cấp cho học sinh nhiều cách hiểu khác nhau để các em có thể so sánh, đối chiếu để tự học, tự tìm hiểu lựa chọn cách hiểu tốt nhất bằng phơng pháp độc lập riêng của mình

Văn học trung đại đều đợc sáng tác bằng chữ Hán, hoặc chữ Nôm, để hiểu

đúng và đầy đủ nội dung không phải không đơn giản Vì vậy, để hiểu đợc thấu

đáo nội dung tác phẩm thì phải hiểu tên tác phẩm

Văn học trung đại là một phạm trù chủ đạo đợc thể hiện trong cách thờng xuyên nêu bật nó lên ngay ở tên gọi tác phẩm ở thế kỷ XVIII - XIX, văn học

có bớc phát triển mạnh, chuyển mình rõ rệt Nó muốn thoát khỏi sự ràng buộc của các phạm trù mỹ học Trung đại, để vơn đến một cái gì mới hơn, để phản ánh sinh động hiện thực đơng thời Nhng mặt khác nó lúng túng không thoát ly Cho nên tên gọi tác phẩm giai đoạn này diễn ra theo hai xu hớng

Thứ nhất là: tuân thủ quy tắc truyền thống, thể loại đợc nêu ngay ở tên gọi

tác phẩm Thiên đô chiếu, Dụ ch tì tớng hịch văn, Thợng kinh ký sự, Vũ trung

tuỳ bút Thể loại của các tác phẩm đợc chỉ ra ở cuối nhan đề tác phẩm(không

hoàn toàn giống với các thể loại ghi nhanh, ký sự, tuỳ bút) trong văn học hiện

đại

Thứ hai là: Một số tác giải muốn phá bỏ quy tắc truyền thống, bằng cách kết hợp hai yếu tố trong một tên gọi tác phẩm: Yếu tố mang ý nghĩa chủ đề và yếu

tố loại hình thể loại: Cung oán ngâm khúc, Ai t vãn, Hoàng Lê nhất thống chí Yếu tố đứng trớc nói về t tởng chủ đề tác phẩm Cung oán, Ai t, Hoàng Lê nhất

thống Yếu tố thứ hai ngâm khúc, vãn, chí nêu lên loại hình thể loại tác

phẩm

Vậy một số truyện trung đại nh: Đoạn trờng tân thanh, Truyền kỳ mạn lục,

Hoàng Lê nhất thống, Vũ trung tuỳ bút, Bình Ngô đại cáo … nằm trong xu hớng

nào và nên hiểu nh thế nào cho đúng?

II Một cách hiểu mới:

1 Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Đối với truyện Kiều của Nguyễn Du, ta thấy tên của tác phẩm là Đoạn trờng

tân thanh Vậy đoạn Đoạn trờng tân thanh là gì?

Lâu nay, ta vẫn dùng cách dịch Đoạn trờng tân thanh là Tiếng kêu mới đứt

ruột (Một số kiến thức- kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ Văn 9-Nguyễn Thị

Mai Hoa-Đinh Chí Sáng; Nhà xuất bản GD; Tr 39; d 13 trên xuống)

Đoạn trờng tân thanh là Tiếng kêu đau đớn đứt ruột mới(Thiết kế Bài giảng

Ngữ Văn 9-Tập1-TS Nguyễn Văn Đờng chủ biên; Tr 112; d 17 trên xuống)

Đoạn trờng tân thanh thờng gọi là Truyện Kiều (SGK Ngữ Văn 9-Tập1;Tr

78; d 13 dới lên) không giải thích gì khác

Trang 2

Vậy, nên tìm hiểu Đoạn trờng tân thanh nh thế nào? Trớc hết là tìm hiểu Tân

thanh?

Trớc hết, Tân thanh: Tân là mới, nhng thanh đâu phải là tiếng(than, khóc nói, kêu) mới Về thể loại: thanh trớc hết trớc hết là danh từ chỉ âm thanh do vật phát ra Còn chỉ âm nhạc nh thanh sắc Ngoài ra, thanh còn rất quan trọng đối với Nguyễn Du, đó là chỉ thơ ca, ngâm vịnh.

Tân thanh: Khúc nhạc mới sáng tác, hoặc âm thanh tơi mới, mỹ lệ Vấn đề

này đợc các nhà thơ đời trớc dùng nh: Đào Tiềm thời Tấn, Mạnh Giao thời Đ-ờng Nghĩa thứ 2 liên quan đến Nhạc Phủ Nguyễn Du không sáng tác âm nhạc

nhng vì thế tân thanh ở dây không liên quan đến âm nhạc Ban đầu, Nhạc Phủ là

cơ quan(đặt ra từ đời Hán) chuyên chủ quản về âm nhạc Có nhiệm vụ: định ra nhạc phổ, huấn luyện nhạc công; su tầm các bài hát, chủ yếu là dân ca Các bài

dân ca do quan thự của Nhạc Phủ su tầm, gọi là thơ Nhạc Phủ-Nhạc Phủ thi.

Nhạc Phủ thi: phát triển thêm một bớc mới đó là trào lu sáng tác Tân Nhạc phủ và ngời thành công nhất là Bạch C Dị(772-846) Các nhà Tân Nhạc phủ

chủ trơng "dùng đề tài mới để sáng tác" nhằm đối lập với Nhạc Phủ cổ đề (Cựu

nhạc phủ) Họ đặt ra 3 yêu cầu:

+) Không mô phỏng chủ đề.

+) Viết về hiện thực, thời sự, mắt thấy tai nghe

+) Viết về nỗi khổ của ngời dân, nỗi đau nhân tình

Từ đó ta có thể hiểu Tân thanh: là thể thơ viết theo Tân Nhạc phủ viết về nỗi

đau nhân tình

Còn đoạn Đoạn trờng: Đoạn: là chặt ra từng khúc; trờng: ruột Nh vậy, đoạn

trờng là nỗi đau vô hạn tởng nh ai cầm dao cắt ruột mình ra từng khúc.

Đoạn trờng tân thanh là gì? là "một tác phẩm viết theo lối Tân Nhạc phủ về

nỗi đau vô hạn tởng nh cắt ruột ra từng khúc "(Theo PGS-TS Nguyễn Đăng

Na-Đoạn trờng tân thanh một mã khóa vào thế giới nghệ thuật Nguyễn Du).

Nh vậy, Nguyễn Du đặt tên tác phẩm theo xu hớng thứ hai: đọan trờng mang ý nghĩa chủ đề, tân thanh mang ý nghĩa chỉ loại hình thể loại.

2 Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ:

Về tác giả: Nguyễn Dữ Văn học trung đại hầu hết họ tên các tác giả VHTĐ Việt Nam đều ghi bằng chữ Hán Tên của Nguyễn Dữ cũng vậy, trong văn bản

ghi là Chữ , đọc là Tự "từ ngữ thiết, âm tự, ngữ vận"(Theo Từ nguyên); Hán

ngữ đại từ điển cũng phiên là Tự Tự là đảo nhỏ Vậy nên tác giả Truyền kỳ mạn

lục là Nguyễn Tự.

Truyền kỳ mạn lục gồm hai thuật ngữ, truyền kỳ và mạn lục Về mạn lục

là"tuỳ bút ký lục"- ghi chép theo cảm hứng của ngòi bút Hai chữ ký lục trong trờng hợp này hàm nghĩa làm văn, viết văn Thể mạn lục xuất hiện ở Trung Hoa khá sớm, thời Tống có Ngô Tăng viết Năng cải trai mạn lục, 18 quyển Nhng soạn giả Từ điểm văn học giải thích: Truyền kỳ mạn lục là: "ghi chép tản mạn

các truyện truyền kỳ", giải thích mạn lục là "ghi chép tản mạn" nh thế coi mạn lục là "ghi chép" dễ làm ngời đọc hiểu nhầm loại hình thể loại của tác phẩm và

hạ thấp tính sáng tạo của tác giả Ngời đọc sẽ cho rằng đây là kí không phải là

truyện và ngời cầm bút chẳng gia công nghệ thuật gì cả.

Soạn giả SGK Ngữ Văn mới cũng hiểu nh vậy, Truyền kỳ mạn lục là ghi chép

tản mạn những điều kỳ lạ vẫn đợc lu truyền, vẫn lu truyền thì không cần đầu t

công sức

Trong Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 9- Tập1; Truyền kỳ mạn lục truyện thuộc loại “truyện truyền kỳ” viết bằng chữ Hán Ngồn gốc từ truyện cổ dân gian Vợ

chàng Trơng ảnh hởng của “Tiễn đăng tân thoại” của Cù Hữu(Trung Quốc)(Tr

50; d 9 trên xuống)

Trang 3

Truyện của Nguyễn Dữ không hề tản mạn dù là chữ tản mạn ở đây đợc dùng theo kiểu tu từ: nói khiêm Thực ra mạn là tuỳ ý, không câu thức

Còn Truyền kỳ là một thể tài của truyện ngắn trung đại Do nhân vật, tình

tiết, kết cấu của truyện phần lớn lạ kỳ nên ngời ta gọi chúng là truyền kỳ

Vậy: Truyền kỳ mạn lục là truyện viết theo cảm hứng của ngòi bút về những

câu chuyện có yếu tố hoang đờng, kỳ lạ

3 Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái:

Về tác giả: - Ngô Thì Chí: viết 7 hồi đầu

- Ngô Thì Du viết 7 hồi tiếp

- Ngô Thì Thiến viết 3 hồi cuối.(Thiến đọc trại là Thuyến)

Tác giả là Phái nhà văn dòng họ Ngô Thì ở làng Tả thanh Oai Hà Đông

-Hà Nội

Hoàng Lê nhất thống chí là gì?

ở sách Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 9- Tập1, Hoàng Lê nhất thống chí cho rằng: Nhan đề bằng chữ Hán nghĩa là chép chuyện vua Lê thống nhất đất nớc

(Tr 96; d 13 dới lên) ở SGK Hoàng Lê nhất thống chí: tác phẩm viết bằng chữ

Hán ghi chép về việc thống nhất của vơng triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà Cho vua Lê(Chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự

việc) Có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối Chơng hồi Vậy, ta tìm hiểu từng phần một của Hoàng Lê nhất thống

chí?

Hoàng: cao, lớn mênh mông dùng để chỉ trời Hoàng thiên hậu thổ (Trời cao

đất dày) Dùng để chỉ nhà vua

Lê: họ Lê: có Tiền Lê và Hậu Lê(Lê Lợi-1428  Lê Chiêu Thống- 1789) Nhất thống: thời Hậu Lê tồn tại song song hai bên: Cung vua(Lê) và Phủ

Chúa(Trịnh) Khi Lê Lợi(1740) phò Lê diệt Trịnh với danh nghĩa với nhà Lê Khi đó bên Cung vua là "Nhất thống", bên Phủ Chúa là "Nhị thống" , hai bên cùng thống trị, cai quản dất nớc Khi diệt Trịnh thì "Nhị thống" mất, còn lại có

"Nhất thống"

Chí: chỉ thể loại, là một thể loại của sử (Biên niên và kỉ chuyện(sự)) Biên:

(bện, đan)  chuyển sang nghĩa ghi chép Niên: năm.

Ta hiểu Biên niên: ghi chép chuyện lịch sử theo thời gian, năm tháng, ngày

giờ ngời ta ghi theo can và chi(Xem sách tớng số) Sau khi theo can chi ngời

ta lập nên niên hiệu vua Ví dụ: Quang Trung ra Bắc năm Bính Ngọ: 1786 niên hiệu Cảnh Hng năm thứ 47 Lê Lợi lên ngôi: 1428-1433 gọi là Thuận Thiên Nguyễn Huệ ra Bắc tháng 6 năm 1786 (Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hng, năm thứ

47 tháng Quý Hạ)

Kỷ sự: ghi chép csc sự kiện lịch sử không theo tuần tự thời gian gôm csc thể

loại: Bản kỷ, Liệt truyện, Chí

Hoàng Lê nhất thống chí: gồm 17 hồi mà không ghi là Hoàng Lê nhất thống chítiểu thuyết Chơng hồi ? Vì ngời trung đạih không thích gọi là tiểu thuyết.

Nhan đề Hoàng Lê nhất thống chí là ghi chép bằng thể chí về việc đất nớc

thu về tay nhà Lê

III Kết luận chung:

Trên đây là một số cách hiểu thêm mới về tên các truyện trung đại, trong qúa trình giảng dạy giáo viên có thể trình bày cách hiểu này cho học sinh ở mức độ có thể Có đợc t liệu này là do bản thân tôi tìm hiểu qua các bài báo, bài giảng của các

vị Giáo s, tiến sĩ Văn học trung đại Đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy giáo PGS, TS Nguyễn Đăng Na- trờng ĐHSP Hà Nội

Trang 4

Bản thân tôi thấy cần hiểu thêm cách giải thích mới về truyện trung đại là rất cần thiết trong quá trình giảng dạy Trong quá trình giảng dạy, sách giáo khoa là Pháp lệnh cần phải tuân thủ, nhng giáo viên cần đa ra nh vậy để học sinh tham khảo, đối chiếu Hiểu đợc tên truyện Trung đại cũng góp phần hiểu thêm về nội dung t tởng của tác phẩm

Vấn đề trên tuy còn sơ sài, thiếu sót nhng đó chỉ là một số cách hiểu tham khảo, có gì mong đồng nghiệp và quý thầy cô thông cảm

Quỳnh Long, ngày 10 thháng 4 năm 2006.

Ngày đăng: 16/05/2021, 22:01

w