Với sự hỗ trợ của dự án và chính quyền các cấp, nhân dân xã Kỳ Thượng đã thành lập - mà chưa có sự hỗ trợ của Nhà nước - một khu rừng bảo vệ với diện tích khoảng 10 km2 nằm trong ranh[r]
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Võ Quý
Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Đại học Quốc gia Hà Nội
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới có thu nhập thấp với dân sốđông, Việt nam đang đối đầu với những vấn đề gay cấn do tài nguyên thiên nhiên bịxuống cấp và sự sa sút của chất lượng môi trường Sau ba mươi năm chiến tranh ác liệt,nhân dân và chính phủ Việt nam đã cố gắng nhiều để phát triển kinh tế, đồng thời bảo tồnnguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Chiến lược quốc gia về Môi trường
và phát triển bền vững đã được phác ra từ năm 1985, sau đó đã đề ra Chương trình hànhđộng Quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững, và đã được thực hiện từng mặt.Dựa trên Chương trình quốc gia, nhiều hoạt động đã được thực thi trên phạm vi cả nước
về các mặt pháp chế, công tác quản lý, giáo dục, nghiên cứu và thực nghiệm
Sự chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế hướngtheo thị trường đã đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế Việc giải phóng sức sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp cũng như việc phát triển nền kinh tế dịch vụ, việc mở cửa cho đầu tưnước ngoài và việc đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia vào nền thương mại khu vực vàquốc tế, đã tạo nên thành tựu lớn về kinh tế và xã hội cho nhân dân ta, nền kinh tế tăngtrưởng tương đối nhanh, nhưng đồng thời nước ta cũng đang phải đối đầu với một số vấn
đề gay cấn trong khi thực hiện mục tiêu phát triển của mình là vấn đề môi trường Cácgay cấn đó về môi trường đặc biệt khó giải quyết, vì sự tăng trưởng kinh tế và việc bảo
vệ môi trường cho ngày nay và cho thế hệ mai sau, thường mâu thuẫn trực tiếp với nhau.Hiện nay có nhiều vấn đề về môi trường mà Việt Nam đang phải đối đầu, trong đónhững vấn đề nghiêm trọng nhất là nạn phá rừng, sự khai thác quá mức tài nguyên sinhhọc, sự xuống cấp của tài nguyên đất, việc bảo tồn nguồn nước ngọt kém hiệu quả, nạnthiếu nước ngọt và nạn ô nhiễm gia tăng, đó là chưa kể đến tác động lâu dài của chiếntranh đến môi trường Những vấn đề rắc rối nói trên đang ngày càng trầm trọng hơn dodân số tăng nhanh và nạn đói nghèo còn chưa giải quyết được một cách cơ bản
Bởi vậy điều cần thiết là phải đón trước những vấn đề về môi trường không thể tránhkhỏi mà công cuộc phát triển sẽ đem lại và phải có những biện pháp đề phòng để giảmnhẹ hậu quả bằng cách thực hiện một chiến lược môi trường phù hợp với phát triển bềnvững, thông qua việc sử dụng một cách khôn khéo các tài nguyên thiên nhiên và lôi cuốnđược đại bộ phận nhân dân vào quá trình đó
Công việc hợp tác với các nước phát triển và đang phát triển, nhất là các nước lánggiềng là điều quan trọng, tạo sự hỗ trợ mạnh mẽ về kinh nghiệm để giúp Việt Nam đốiphó được thử thách về vấn đề môi trường trước tình hình thay đổi nhanh chóng về kinh
tế Sau đây là những vấn đề cấp bách về môi trường cần được quan tâm đúng mức
I- Hiện trạng tài nguyên và môi trường
1- Sự giảm sút độ che phủ và chất lượng rừng là một vấn đề quan trọng
Trang 2Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá nhất của đất nước ta Rừng không những
là cơ sở phát triển kinh tế xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng Rừngtham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo sự chu chuyển ô xy và các nguyên tố
cơ bản khác trên hành tinh chúng ta, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế
lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất và bờ biển, sụt lở đất đá, làm giảm nhẹ sức tàn phákhốc liệt của các thiên tai, của sự biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, bảo tồn nguồn nướcmặt và nước ngầm, làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước
Qua quá trình phát triển, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báođộng Chất lượng của rừng ở các vùng còn rừng đã bị hạ thấp quá mức Đất nước ViệtNam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và độ cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 3/4 lãnh thổ làđồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ điều kiện nhiệt đới ẩm phía Nam, đến điều kiện ôn hòa
ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú vềcác loài sinh vật rừng Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng ngậpmặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt, rừng cây lá rộng đai thấp, rừng cây lá rộng nửarụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim,rừng đai núi cao, rừng tre nứa v.v
Trước đây tòan bộ đất nước Việt nam có rừng che phủ, nhưng chỉ mới mấy thập kỷqua, rừng bị suy thóai nặng nề Diện tích rừng tòan quốc đã giảm xuống từ chỗ năm 1943chiếm khoảng 43% thì đến năm 1990 chỉ còn 28,4% tổng diện tích đất nước Trong mấynăm qua diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,8% năm 1998 và đến năm 2000 độche phủ rừng toàn quốc lên đến là 33,2% (Niên giám Thống kê năm 2000) trong đó:
1- Kontum 63,7% 2- Lâm đồng 63,3% 3- Đắc Lắc 52,0%
4- Tuyên Quang 50,6% 5- Bắc Cạn 48,4% 6- Gia Lai 48,0%
7- Thái Nguyên 39,4% 8- Yên Bái 37,6% 9- Quảng Ninh 37,6%
10-Hà Giang 36,0% 11- Hoà Bình 35,8% 12- Phú Thọ 32,7%
13-Cao Bằng 31,2% 14- Lào Cai 29,8% 15- Lạng Sơn 29,3%
16-Lai Châu 28,7% 17- Bắc Giang 25,6% 18- Bình Phước 24,0%
19- Sơn La 22,0%.
Theo thống kê mới năm 2003, diện tích rừng đến cuối năm 2002 đã đạt 35,8% diệntích tự nhiên, và đến cuối năm 2004 đã lên đến 36,7% (Cục Kiểm lâm, Bộ NN&PTNT),một kết quả hết sức khả quan Chúng ta vui mừng là độ che phủ rừng nước ta đã tăng lênkhá nhanh trong những năm gần đây, tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút đáng lo ngại(xem hình 1)
Trang 3
ChÊt l îng rõng n¨m 1990 vµ 2000
0 2 4 6 8 10
Rõng giµu Rõng trung b×nh Rõng nghÌo
Trên thực tế rừng tự nhiên vẫn còn bị xâm hại, và chỉ còn khoảng 10% là rừngnguyên sinh Miền Bắc Việt Nam đã chứng kiến sự sa sút lớn nhất về độ che phủ củarừng, giảm từ 95% rừng nguyên sinh đến 17% trong vòng 48 năm Ở nhiều tỉnh miền núi,
độ che phủ rừng tự nhiên, nhất là rừng già còn lại rất thấp, thí dụ ở Lai Châu chỉ còn7,88%; ở Sơn La 11,95%; và ở Lao Cai 5,38% Từ năm 1995 đến năm 1999 ở 4 tỉnh TâyNguyên đã có hơn 18.500 ha rừng bị khai phá (Cục kiểm lâm, 1999) Diện tích rừng tựnhiên ở đây hiện nay vẫn liên tục giảm, khai thác vẫn vượt quá mức quy định, khái thácbất hợp pháp chưa ngăn chặn được Rừng trồng không đạt chỉ tiêu Khuynh hướng suygiảm tài nguyên còn tiếp diễn (Báo các tổng kết chương trình “Sử dụng hợp lý Tàinguyên và Bảo vệ Môi trường” Mã số KHCN 07 , tháng 12 năm 2001)
Bảng 1- Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ
có nhiều nơi rừng bị phá mà chính quyền không hề biết Các xí nghiệp thực hiện việckhai thác gỗ theo chỉ tiêu pháp lệnh thường làm vượt quá chỉ tiêu cho phép và không theođúng thiết kế được duyệt Từ năm 1996-1999 các tỉnh Tây Nguyên đã khai thác vượt kếhoạch 31% Trong lúc đó chỉ tiêu trồng vốn đã đặt thấp nhưng triển khai thực tế lại đạtrất thấp và việc chăm sóc lại kém Cho đến hết năm 1999 việc trồng rừng trong 4 năm chỉmới đạt được 36% số diện tích cần trồng trong 5 năm Sự suy giảm về độ che phủ rừng ở
Trang 4các vùng này là do dân số tăng đã tạo nhu cầu lớn về lâm sản và đất trồng trọt Kết quả đãdẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thành vùng đất hoang cằn cỗi.
Theo kết quả của Viện điều tra quy hoạch rừng (1995) thì trong thời gian 20 năm từnăm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên giảm 2,8 triệu hec ta Đặc biệt nghiêmtrọng ở một số vùng như Tây Nguyên mất 440.000 hec ta , vùng Đông Nam bộ mất308.000 hec ta, vùng Bắc khu IV cũ mất 243.000 hec ta, vùng trung tâm Bắc Bộ mất242.500 hec ta Nguyên nhân là do sau thời kỳ chiến tranh, dân địa phương tranh thủ chặt
gỗ làm nhà và lấy đất trồng trọt Tình trạng đó vẫn còn đang tiếp diễn mãi cho đến ngàynay Vụ phá rừng Tánh Linh, Bình Thuận vừa bị xét xử là một bằng chứng về sự yếu kémtrong quản lý tài nguyên rừng, nạn tham nhũng và thoái hoá của một số cán bộ địa phương
đã cấu kết với bọn lâm tặc phá hoại một diện tích rất lớn rừng mà phải sau một thời giandài mới bị trừng trị Đó là chưa nói đến nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng trong mấy năm gầnđây chưa bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc như ở Kon Tum, Gia Lai, BìnhThuận, Nghệ An, Bắc Giang, vườn quốc gia Phú Quốc mà báo chí đã đưa tin (2003) Gầnđây nhất mới phát hiện vụ phá rừng lớn trái phép tại Vườn quốc gia Kong Ka kinh Tại hiệntrường, cơ quan điều tra đã phát hiện một số lượng lớn gỗ hơn 2.400 mét khối do giám đốclâm trương Mang Đen, giám đốc lâm trường Tân Lập cầm đầu cùng với một số người khácnhư trưởng trạm cửa rừng lâm trường Mang Đen, giám đốc một số Công ty trách nhiệmhữu hạn Kontum và thành phố Hồ Chí Minh Một số lượng gỗ lớn bị khai thác trong thờigian dài mà không bị phát hiện đã chứng minh sự buông lỏng quản lý của các cơ quan cótrách nhiệm, đặc biệt là các cơ quan cấp phép và quản lý khai thác (VTV1 15-12-2003).Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, sáu tháng đầu năm 2003, cả nước đã xẩy ra khoảng
15 nghìn vụ vi phạm lâm luật, hàng chục vụ nhân viên kiểm lâm bị lâm tặc tấn công Do giátrị mang lại từ lâm sản lớn, cho nên bọn lâm tặc không từ một thủ đoạn nào để đối phó,hành hung người thi hành công vụ (Báo Nhân dân, 14-12-2003) Tuy trong những năm quaviệc quản lý rừng đã được tăng cường, nhưng trong 6 tháng đầu năm 2005, cũng đã pháthiện được 275 vụ vi phạm khai thác lâm sản trái phép, 1.525 vụ mua bán và vận chuyểnlâm sản trái phép
Trong 10 năm qua, đất nông nghiệp tại Tây Nguyên tăng lên rất nhanh, từ 8,0% năm
1991 lên đến 22,6% năm 2000 (454,3 nghìn ha so với 1.233,6 nghìn ha, gấp 2,7 lần), tronglúc đó đất lâm nghiểp giảm từ 59,2% xuống còn 54,9% đất tự nhiên (3,329 triệu ha so với2,993 triệu ha), giảm 11% So sánh trong cả nước thì trong vòng 10 năm qua Tây Nguyên làvùng mà rừng bị giảm sút với mức độ đáng lo ngại nhất, nhất là ở Đắc Lắc Sự suy giảm về
độ che phủ rừng ở các vùng này là do dân số tăng nhanh, nhất là dân di cư tự do Kết quả đãdẫn đến việc biến nhiều vùng có hệ sinh thái rừng tốt tươi, ổn định thành vùng mà hệ sinhthái bị đảo lộn, mất cân bằng, dẫn đến lũ lụt, sụt lở đất trong mùa mưa và hạn hán ngàycàng nặng trong mùa khô, không những dối với nguồn nước mặt mà cả nguồn nước ngầmcũng bị giảm sút nghiêm trọng
Hạn hán ở Tây Nguyên
“Theo VN Express ngày 19 tháng 4 năm 2003: mực nước trên các ao hồ, sông suối ở Tây Nguyên tiếp tục giảm Dòng chảy trên các sông, suối đều nhỏ hơn trung bình cùng kỳ 20-30% Một số hồ nước đã thấp hơn mực nước chết
4
Khung 1- Hạn hán ở Tây Nguyên
“Theo VN Express ngày 19 tháng 4 năm 2003: mực nước trên các ao hồ, sông suối ở
Tây Nguyên tiếp tục giảm Dòng chảy trên các sông, suối đều nhỏ hơn trung bình cùng kỳ
20-30% Một số hồ nước đã thấp hơn mực nước chết như là Rung (Gia Lai), Krông Búc Hạ,
Ea Súp Hạ, Núi Lửa (Đăk Lắk), Đăk Sa Nen, Đắc Brông, Hồ Che, la Bang Thượng (Kon
Tum).
Theo Bộ NN&PTNT(4-2003), Đăk Lak bị thiệt hại nhiều nhất, 250.000 hộ dân ở dây
đang lâm vào cảnh đói và rất cần sự hỗ trợ 62.000 hộ khác đang ngóng trời cầu mưa và
hơn hai tháng nay họ phải đi vài cây số mới lấy được một hai bình nước Về nông nghiệp,
5.790 ha lúa đông xuân, 40.440 ha cà phê, 1.420 ha rau màu tập trung ở các huyện Krông
Pak, Krông Buk, Krông Năng, Ea Kar đang bị cạn kiệt nguồn nước tưới tiêu Tỉnh đã chi
khoảng 40 tỷ đồng và nhân dân đầu tư 35 tỷ đồng cho công tác chống hạn, tuy nhiên vẫn
đành chấp nhận để nhiều diện tích lúa và cà phê bị mất trắng.
Tỉnh Gia Lai dù đã trích ngân sách 800 triệu đồng cho công tác chống hạn, nhưng hiện
vẫn có 37.000 người thiếu lương thực, hơn 4.000 hộ dân với 21.420 nhân khẩu tập trung ở
các huyện phía đông Trường Sơn bị khan hiếm nguồn nước sinh hoạt 998 ha lúa đông
xuân, 1.170 ha cà phê, 740 ha ngô cũng đang bị nứt nẻ, héo rũ.
Tại Kon Tum hiện có 32.500 người thiếu ăn, 2.800 hộ dân với 11.520 người tập trung ở
hyện Ngọc Hồi, Kon Rẫy, Đăk To, Sa Thầy, thị xã Kon Tum bị thiếu nước sinh hoạt 360 ha
lúa đông xuân, 59 ha cà phê, 50 ha mía cũng trong cảnh khát nước Kon Tum đã trích 100
Trang 5như là Rung (Gia Lai), Krông Búc Hạ, Ea Súp Hạ, Núi Lửa (Đăk Lắk), Đăk Sa Nen, Đắc Brông, Hồ Che, la Bang Thượng (Kon Tum).
Theo Bộ NN&PTNT(4-2003), Đăk Lak bị thiệt hại nhiều nhất, 250.000 hộ dân ở dây đang lâm vào cảnh đói và rất cần sự hỗ trợ 62.000 hộ khác đang ngóng trời cầu mưa và hơn hai tháng nay họ phải đi vài cây số mới lấy được một hai bình nước Về nông nghiệp, 5.790 ha lúa đông xuân, 40.440 ha cà phê, 1.420 ha rau màu tập trung ở các huyện Krông Pak, Krông Buk, Krông Năng, Ea Kar đang bị cạn kiệt nguồn nước tưới tiêu Tỉnh đã chi khoảng 40 tỷ đồng và nhân dân đầu tư 35 tỷ đồng cho công tác chống hạn, tuy nhiên vẫn đành chấp nhận để nhiều diện tích lúa và cà phê bị mất trắng.
Tỉnh Gia Lai dù đã trích ngân sách 800 triệu đồng cho công tác chống hạn, nhưng hiện vẫn có 37.000 người thiếu lương thực, hơn 4.000 hộ dân với 21.420 nhân khẩu tập trung ở các huyện phía đông Trường Sơn bị khan hiếm nguồn nước sinh hoạt 998 ha lúa đông xuân, 1.170 ha cà phê, 740 ha ngô cũng đang bị nứt nẻ, héo rũ.
Tại Kon Tum hiện có 32.500 người thiếu ăn, 2.800 hộ dân với 11.520 người tập trung ở hyện Ngọc Hồi, Kon Rẫy, Đăk To, Sa Thầy, thị xã Kon Tum bị thiếu nước sinh hoạt 360 ha lúa đông xuân, 59 ha cà phê, 50 ha mía cũng trong cảnh khát nước Kon Tum đã trích 100 trệu đồng từ ngân sách của tỉnh để mua 5 máy bơm và nhiên liệu phục vụ cho việc bơm nước tươi tiêu.
Nam Trung bộ cũng trong tình trạng khô hạn nặng Diện tích lúa đông xuân bị thiếu nước là 4.650 ha, trong đó Bình Thuận là 3.530 ha, Ninh Thuận 610 ha, Phú Yên 510 ha Đặc biệt có khoảng 11.000 người ở Bình Thuận và 18 xã
ở Phú Yên đang thiếu nước sinh hoạt.”
Nguồn: Vietnam Express, ngày 19-4-2003
Trong giai đoạn từ 1990 đến nay, chiều hướng biến chuyển rừng cơ bản vẫn ở tìnhtrạng suy thoái, còn xa mức ổn định và đạt được hiệu quả bảo vệ môi trường Một số diệntích rừng thứ sinh tự nhiên được phục hồi, nhưng nhiều diện tích rừng già và rừng trồngchưa đến tuổi thành thục đã bị xâm hại, đốn chặt, "khai hoang" Từ năm 1999 đến nay,cháy rừng đã được hạn chế mạnh mẽ và việc khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã tráiphép đã kiểm soát được một phần Tuy nhiên tình trạng mất rừng và săn bắt động vậthoang dã vẫn ở mức độ nghiêm trọng Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những consông lớn ở nước ta vẫn đang bị phá hại, độ che phủ hiện nay chỉ còn khoảng dưới 20%
mà mức báo động là 30% (Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000) Tuy diệntích trồng rừng vẫn tăng lên hàng năm, nhưng với số lượng rất khiêm tốn, mà phần lớnrừng đựơc trồng lại với mục đích kinh tế, sản xuất cây lấy gỗ ngắn ngày, chưa ưu tiêntrồng rừng tại các khu vực đầu nguồn Rừng phòng hộ ở vùng hồ Hoà Bình đang ở mứcbáo động và đang suy giảm nghiêm trọng Rừng phòng hộ các hồ chứa quy mô lớn nhưTrị An, Thác Mơ, Đa Nhim, Đa Mi và Yali đang diễn ra tình trạng tương tự rừng phòng
hộ lưu vực hồ Hoà Bình trước kia mà chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời.Rừng trên các vùng núi đá vôi, rừng ngập mặn ven biển vẫn bị tiếp tục xâm hại chưakiểm soát được
Những sự mất mát về rừng là không thể bù đắp được và đã gây ra nhiều tổn thất lớn
về kinh tế, về công ăn việc làm và cả về phát triển xã hội một cách lâu dài Những trậnlụt rất lớn trong mấy năm qua ở hầu khắp các vùng của đất nước, từ Bắc chí Nam, từmiền núi đến miền đồng bằng, nhất là các trận lụt ở sáu tỉnh miền Trung, ở Đồng bằngsông Cửu Long, các trận lũ quét ở một số tỉnh miền Bắc, và trận lũ tháng 9 năm 2002, tạicác tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, nhất là ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang,
Trang 6Nam Đàn và Hưng Nguyên, và sau đó là lũ lụt ở Bình Định tháng 11 năm 2002 đã tànphá hết sức nặng nề về nhân mạng, mùa màng, nhà cữa, ruộng vườn, đường sá , gây tổnthất hàng nghìn tỷ đồng, một phần quan trọng cũng do sự suy thoái rừng, nhất là rừngđầu nguồn bị tàn phá quá nhiều Trong những năm qua, hạn hán xẩy ra ở nhiều nơi mà
chúng ta cho là ảnh hưởng của hiện tượng El nino, nhưng cũng cần nói thêm rằng là các
hoạt động phát triển kinh tế thiếu cân nhắc, nhất là phá rừng đã làm cho hạn hán xẩy racàng thêm nghiêm trọng hơn Trận lũ lớn xẩy ra vào cuối tháng 10 năm 2003 tại các tỉnhmiền Trung: Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, PhúYên đã cướp đi sinh mạng của 52 người, hàng nghìn gia đình không còn nhà cửa, hàngchục nghìn hec ta lúa và hoa màu bị thiệt hại, ước tính hơn 260 tỷ đồng (Báo Lao động,
VN News, 10/03, UNDP 13/11/03) Trận lũ xẩy ra tại các tỉnh miền Trung từ Bình Địnhđến Ninh thuận vào giữa tháng 11 năm 2003 gây thiệt hại còn nặng nề hơn trận lũ trước( VTV1, 13/11/03) Từ ngày 16 đến ngày 22 /7/ 2004, mưa to tại huyện Yên Minh, HàGiang và đã gây ra lũ quét tại các thôn Thẩm Lu, Phia Rịa, Bản Lý, Bản Phìn, Bản Tỷthuộc xã Du Tiến, Du Già, Ngọc Long, Lũng Hồ làn cho 48 người chết và mất tích, nhiềunhà bị cuốn trôi
Theo thống kê của Ban Chỉ đạo phòng chống lũ lụt trung ương, mùa lũ bão năm 2004
đã gây thiệt hại trên 900 tỷ đồng, làm chết 232 người, mất tích 38 người, bị thương 187người Số nhà bị ngập gần 240.000 căn, trên 4.200 căn bị đổ, gần 1.000 phòng họp, 100
cơ sở y tế bị đổ, trôi hay hư hại
Có thể rằng năm 2005 là năm chu kỳ 60 năm lặp lại của năm Ất dậu 1945, năm xây
ra lũ lụt đặc biệt lớn, gây vỡ đê ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ làm chếtnhiều người, mất mùa và nạn đói xẩy ra Trận lũ lớn vừa xẩy ra vào giữa tháng 8 nămnay tại các huyện Tây Nghệ An gây thiệt hại lớn về nhà ở, ruộng vườn, nhân mạng và các
cơ sở hạ tầng như đường sá và cầu cống phần lớn cũng là do độ che phủ của rừng bị giảmsút nghiêm trọng
Hiện nay, diện tích đất trống đồi núi trọc hay đất chưa sử dụng cả nước, tuy đã giảmđược chút ít, nhưng vẫn chiếm diện tích khá lớn, hơn 10.027.000 ha, khoảng 30,5% diệntích tự nhiên Những khu rừng còn lại ở vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữ lượng gỗ thấp
và bị phân cách nhau thành những đám rừng nhỏ cách biệt
2 Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, hậu quả sinh thái và kinh tế
Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu ngườidân vùng bờ biển
Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn(RNM) có tính đa dạng sinh học rất cao Lượng mùn bã phong phú của RNM là nguồnthức ăn dồi dào cho nhiều loài động vật ở nước Đây là nơi nuôi dưỡng nhiều loài hảisản có giá trị kinh tế cao như tôm biển, cua, cá bớp, sò, ngán, ốc hương Theo thống kêcủa Vũ Trung Tạng và Phan Nguyên Hồng (1999) có tới 43 loài cá đẻ hoặc có ấu trùngsống trong RNM ở Việt Nam RNM là nơi cư trú và kiếm ăn của nhiều loài bò sát quí
Trang 7hiếm như cá sấu, kỳ đà hoa, rùa biển Một số loài thú như rái cá, mèo rừng, khỉ đuôi dàicũng rất phong phú trong RNM Đặc biệt RNM là nơi làm tổ, kiếm ăn, nơi trú đông củanhiều loài chim nước, chim di cư trong đó có một số loài đang bị đe doạ tuyệt chủng.
RNM là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lở và các táchại của bão lụt Hệ thống rễ chằng chịt trên mặt đất thu hút và giữ lại các trầm tích mềmmại, góp phần mở rộng đất liền ra phía biển, nâng dần đất lên; mặt khác chúng là hàngrào ngăn giữ những chất ô nhiễm, các kim loại nặng từ các sông đổ ra biển, bảo vệ cácsinh vật vùng ven bờ Trong trận sóng thần vừa qua ở Nam Á, những nơi nào có rừngngập mặn hay rừng ven bờ biển tươi tốt, thì những nơi đó tổn thất giảm bớt khá nhiều
Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái RNM, hoặc do những lợi ích kinh
tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên RNM Việt Nam đã bị suythoái nghiêm trọng Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn lấy đất nuôi tôm một cáchbừa bãi như hiện nay là huỷ hoại môi trường, làm suy giảm mức sống của nhiều ngườidân nghèo ven biển, ảnh hưởng xấu đến chủ trương xoá đói giảm nghèo và phát triểnbền vững của chính phủ
Tác động của nghề nuôi tôm đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn, " Tôm đến, rừng tan"
Trong gần hai thập kỷ qua, được Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích nên nghề nuôitôm nước lợ ở vùng cửa sông ven biển phát triển rất mạnh mẽ vượt ra ngoài tầm kiểmsoát và quản lý của ngành thuỷ sản và chính quyền một số địa phương Mặt khác donguồn lợi nuôi tôm lớn hơn các loại sản xuất khác nhiều lần nên không những người dânđịa phương mà rất nhiều người di cư bất hợp pháp ồ ạt kéo nhau đến các khu RNM ở CàMau, Bến Tre và một số nơi khác để phá rừng làm đầm tôm
Vào những năm 1980 và 1990, nhiều cơ quan nhà nước từ tỉnh xuống đến xã, một sốđơn vị quân đội, công an cũng "tranh thủ" cơ hội phá những diện tích rừng lớn hàng trămhecta ở các huyện Ngọc Hiển, Dầm Dơi, Cái Nước (tỉnh Cà Mâu) để nhốt tôm, cứ 15ngày lại tháo cống bắt kiệt tôm cá trong đầm Do không nắm được kỹ thuật, việc thaynước triều khó khăn vì ít cống nên môi trường thoái hoá, sản lượng giảm nhanh Sau 3-4năm, nhiều đầm phải bỏ hoang Những người nuôi tôm lại tìm phá các rừng khác để làmđầm
Gần đây, nhờ cải tiến kỹ thuật, sử dụng con giống tôm sú và thức ăn nhân tạo nênnăng suất tôm tăng nhanh; ở các đầm nuôi tôm bán thâm canh, năng suất lên tới 2500kg -3000kg/ha/năm; một số đầm thâm canh đạt 4000 - 5000kg/ha/năm, đem lại lợi nhuận tolớn nên nhiều người giàu ở thành phố, thị xã đã tìm mọi cách để đấu thầu đất RNM, thuêngười địa phương trông coi đầm Họ không trực tiếp đứng tên làm chủ đầm nhưng lạihưởng lợi lớn Nhờ họ, chính quyền địa phương cũng có thêm kinh phí để cải tạo hạ tầng
cơ sở, và một số cán bộ địa phương cũng được hưởng lợi
Một số công ty và Việt kiều cũng đã dùng biện pháp hối lộ để được các địa phươngchấp nhận cho nuôi tôm Có thể kể ra vài trường hợp được báo chí đề cập Ví dụ Công tyXuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội đã giao cho Vũ Văn Hải thuê đất và phá 108 ha RNM
Trang 8phòng hộ ven biển thuộc chương trình 327 của chính phủ để xây dựng 50 ao tôm nuôicông nghiệp ở xã Nam Thịnh, Tiền Hải (báo Thái Bình số 4.218 ra ngày 1/9/2003) donhững người dân đã cật lực trồng trong nhiều năm mới giữ được Từ cuối 2002 đến giữa
2003, 154 ha RNM phòng hộ ven biển huyện Kim Sơn - tỉnh Ninh Bình thuộc chươngtrình 327, 661 và dự án trồng rừng của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã bị phá để làm đầm.Điều may mắn là nhờ các cơ quan thông tin đại chúng nên nhiều vụ phá rừng đã được xétxử
Nhiều nơi trước đây có RNM khá tốt như phía Tây bán đảo Cam Ranh, các huyệnNinh Hoà, Vạn Ninh (Khánh Hoà) nay hầu như đã bị xoá sổ do làm đầm ương và nuôi
tôm Ở đầm Nại (Ninh Thuận) hơn 200 ha RNM tạo vành đai rộng hàng trăm mét bảo vệ
cho đầm không bị xói lở, nay đã thay thế bằng các đầm tôm bán thâm canh, chỉ còn lạivài vệt đước và mắm chưa đầy 2ha Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại - Bình Định trướcđây có RNM gần 200 ha, là nơi cư trú của nhiều loài hải sản, và là "thủ đô" của các loàichim (tên Cồn Chim bắt nguồn từ đó), gần đây đã bị gần 100 gia đình "khai tử" để làmđầm tôm Tỉnh đang lập đề án để phục hồi hệ sinh thái (Báo Lao động số 22 ngày22/1/2003)
Còn rất nhiều dẫn chứng về các vụ phá rừng công khai hay vụng trộm ở nhiều địaphương chỉ vì đồng tiền làm mù quáng lương tri con người đối với thiên nhiên
Nhiều người chưa hình dung được sự suy giảm RNM nghiêm trọng đến mức nào.Bảng so sánh dưới đây cho thấy sự tương phản đến giật mình
Bảng 2 Tương quan giữa sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn
và sự mở rộng diện tích nuôi tôm nước lợ ở một số tỉnh năm 2002
Tỉnh Diện tích tự nhiên
(ha) (1)
Diện tích rừng ngập mặn (ha) (2)
Độ che phủ (%)
Diện tích nuôi tôm (ha) (4)
(3): Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp, 2003 Dự thảo báo cáo quốc gia về rừng ngập mặn.
(4): Báo cáo của Lê Thiết Bình , 2003 [1]
Đối chiếu với tài liệu của Maurand (1943), ta thấy một sự giảm sút đáng báo động vềdiện tích rừng trong 60 năm qua Vào thời gian trước Cách mạng tháng Tám 1945 cảnước có 408.500 ha RNM trong đó có 329.000 ha ở Nam Bộ; Bến Tre có 48.000 ha với
độ che phủ rừng là 21,75%, nay chỉ còn 1,64%; Trà Vinh có 65.000 ha, độ che phủ rừng29,20%, nay còn 2,53%; Sóc Trăng có 41.000 ha, độ che phủ 12,72%, nay chỉ còn2,81%; Cà Mâu có 140.000 ha, độ che phủ 27% nay chỉ còn 11,21%
Trang 9Tôm đến, rừng và các loài động vật khác ra đi
Mất RNM là mất nơi sống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật dướinước và trên cạn Nghiên cứu đầm tôm bỏ hoang ở cửa Nam Triệu (Hải Phòng) cho thấysinh khối động vật đáy giảm tới 9 lần so với vùng lân cận còn RNM
Nhiều loài động vật ở cạn như bò sát, khỉ, đặc biệt là chim tụ tập rất đông ở trongvùng RNM, nhờ có nguồn thức ăn phong phú là tôm, cua, cá, sò trên bãi triều Khi khôngcòn rừng thì các động vật trên cũng bỏ đi nơi khác
Nhà báo Phan Tùng Sơn (báo Quân đội nhân dân ra ngày 10/5/2003) đã dùng một số
thuật ngữ khá cay đắng: "nghịch lý tôm ăn thịt cò" để nói lên tình trạng nguy cơ xoá sổVườn chim Bạc Liêu Cũng trong bài báo đó, theo PGS Hoàng Đức Đạt "Vườn chimBạc Liêu" có thời gian tồn tại khoảng 120 năm với diện tích rừng và đồng hoang baoquanh rộng lớn Khi những người đầu tiên đến đây khai hoang trồng lúa thì sân chim vẫncòn ít bị ảnh hưởng, nhờ nguồn nước ngọt phong phú và thức ăn tôm cá rất sẵn Sự việcbắt đầu xấu đi kể từ năm 1990 khi một số hộ dân xâm nhập trái phép vào làm đầm tôm".Mặc dầu chính phủ đã công nhận Vườn chim Bạc Liêu là khu bảo tồn thiên nhiênnhưng đến năm 2000 thì toàn bộ diện tích vùng đệm của khu bảo tồn đã biến thành đầmtôm Hàng ngày, tiếng máy xúc gầm rú, đêm đến sáng rực ánh đèn cao áp, nước mặntrong các đầm đã thay thế hoàn toàn nguồn nước ngọt; thức ăn tôm cá cũng rất hiếm,thêm vào đó là các hoá chất độc hại trong các đầm tôm chảy vào vùng lõi khiến cho chimchết nhiều Nếu không có biện pháp cấp bách giải toả các đầm tôm, đưa nước ngọt trở lạivùng đệm thì không thể cứu vãn sân chim nổi tiếng này - một sinh cảnh hấp dẫn có tính
đa dạng sinh học cao ở Nam Bộ, đặc biệt là nơi nương náu của 3 loài chim quý hiếm: cốc
đế, giang sen, quắm đầu đen
Việc phá rừng ngập mặn làm đầm tôm không chỉ làm suy giảm tài nguyên đa dạngsinh học tại chỗ mà còn làm mất nguồn thức ăn phong phú của nhiều sinh vật vùng triều,hậu quả là sản lượng cá, tôm, cua đánh bắt ở ngoài biển cũng giảm
Theo Naylor và cộng sự (2000), ở Thái Lan, ước tính cứ mỗi kg tôm được sản xuất
ra, ngư trường giảm mất 434g cá chỉ do sự chuyển đổi nơi cư trú Còn ở vùng Chokonia,Bangladesh, ngư dân cho biết, sản lượng đánh bắt giảm 80% từ khi RNM bị phá và đắp
đê để khoanh vùng nuôi tôm
Ở một số địa phương, những người nuôi tôm đã thải nước bẩn có hoá chất độc từ cácđầm tôm ra RNM, làm cho cây chết Ví dụ như khu rừng phòng hộ ở 2 xã Chí Công vàBình Thạnh - huyện Tuy Phong - Bình Thuận, rừng cây bị chết nhiều do nước thải từđầm tôm (Nguyễn Nguyên Vũ, Báo Lao động số 190 ngày 9/7/2003) Tháng 8/2001 gần6.000 lồng nuôi tôm hùm ngoài khơi làng Xuân Tú (Khánh Hoà) bị chết do các đầm nuôitôm sú gần đó thải nước có hoá chất độc
Gần đây (6 tháng đầu năm 2003), ở vùng ven biển Thái Bình, Nam Định, ở nhiều bãi
nuôi vạng (Meretrix meretrix), vạng bị chết hết, một số gia đình mất hết vốn, một số khác
không có tiền trả ngân hàng Nguyên nhân là do các đầm tôm đã thải nước có hoá chấtđộc hại nên vạng và các loài thân mềm khác bị đầu độc Những người dân nghèo hàngngày "mò cua bắt ốc" trên bãi triều cũng bị ảnh hưởng
Trang 10Vì ai mà các loại hải sản chịu thảm họa dịch bệnh ?
Để nuôi tôm đã chặt hết cây ngập mặn hoặc đã giết chết cây bằng cách giữ nướctrong đầm khiến cho môi trường thoái hoá nhanh Trước hết, các bộ phận cây chết bịphân huỷ trong điều kiện yếm khí sẽ tạo ra H2S và NH4 đầu độc các tảo phù du là nguồnthức ăn và nguồn cung cấp ôxi cho tôm Mật độ tôm quá dày, chế độ ăn không thích hợpcùng các nguồn giống không chọn lọc sẽ tạo điều kiện cho bệnh ở tôm phát triển
Môi trường chứa các mầm bệnh này được thải ra các kênh rạch và gây hại cho nhiềuđộng vật khác trong vùng RNM và ở vùng biển nông Ấu trùng của loài muỗi sốt rét
nước lợ (Anopheles sinensis) sống trong RNM, chúng ăn tảo tiểu cầu Chlorella - tảo này
chỉ phát triển mạnh khi đủ ánh sáng Lúc RNM còn tốt thì tảo không phát triển nên sốlượng muỗi hạn chế, ngược lại khi mất rừng thì bệnh sốt rét có nguy cơ bột phát Thực tế
đã chứng minh hiện tượng trên là đúng Ở một số tỉnh ven biển miền Nam, bệnh sốt rét
có chiều hướng tăng
Tại sao cây ngập mặn phải chết oan uổng
Nhiều cơ quan quản lý ở trung ương và địa phương chưa đánh giá đúng vai trò to lớncủa hệ sinh thái RNM; buông lỏng quản lý trong việc sử dụng tài nguyên vùng ven biển
có RNM; không kiên quyết xử lý việc phá rừng để nuôi tôm Nhiều địa phương chỉ chútrọng đến lợi ích trước mắt là tôm xuất khẩu mà chưa tính đến hậu quả lâu dài do thiên tai
và suy giảm tài nguyên khi không còn rừng, nên rừng bị tàn phá khắp nơi Phần lớn các
dự án nuôi tôm không thực hiện việc đánh giá tác động môi trường mà hình như các cơquan hữu quan cũng không lưu ý nhắc nhỡ thực hiện luật pháp
Ngành lâm nghiệp cũng chưa quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục về lợi ích lâudài của RNM nên việc đấu tranh để bảo vệ rừng của cộng đồng còn yếu
Phá rừng để nuôi tôm - Kẻ cười người khóc
Từ bao đời những người dân nghèo ven biển vẫn "ngửa lưng cho trời, cúi mặt nhìnđất" ở các bãi triều để kiếm sống hàng ngày Còn hiện nay họ chỉ còn ngửa mặt lên trời
mà kêu vì mảnh đất đó đã bị người ta chiếm mất
Vì mất nguồn sinh sống, một số người có thể biết là sai nhưng vẫn phải làm để nuôigia đình - đó là dùng lưới mắt nhỏ đăng bắt hết tôm tép hoặc dùng chất nổ, xung điện đểhuỷ diệt nguồn lợi Một số người dân lao động cần cù, kiếm sống bằng con sò, con cuatrong vùng RNM, chỉ vì không có tiền đấu thầu mảnh đất thân thuộc, đành phải chịu đóihoặc bỏ quê hương đi nơi khác Ở Ecuađo 1 ha RNM cung cấp lương thực (mua) và việclàm cho 10 gia đình, thì 110 ha nuôi tôm chỉ tạo công ăn việc làm cho 6 người trong giaiđoạn chuẩn bị và thêm 5 người nữa trong suốt mùa nuôi tôm
Một số khác cố vay mượn cho dù lãi suất rất cao để làm đầm tôm Nhưng do thiếuvốn nên cống, bờ và mặt ao không đảm bảo cho việc thay nước triều thường xuyên,không đủ tiền mua thức ăn sạch cho tôm nên bị dịch bệnh hoành hành Nhiều gia đìnhsau vài vụ đầu khấm khá nhờ môi trường chưa thoái hoá lắm, nhưng sau đó đã bị dịchbệnh lan tràn, bao nhiêu vốn liếng đổ ra biển và không trả được nợ phải bán ao tôm chongười giàu đầu tư và bỏ đi nơi khác, trong lúc những chủ đầm giàu, có tiền đầu tư kỹ
Trang 11thuật, giống, thức ăn tốt thì thu lợi nhuận rất cao Họ không hình dung được sự giàu có
đó đã cướp mất nghề truyền thống của nhiều bà con và làm cho sự phân cách giàu nghèongày càng tăng
Những bài học đau xót không thể bỏ qua
Gần đây, nhiều tổ chức quốc tế như FAO, IUCN, WWF đã có những khuyến cáo về
sự suy thoái tài nguyên, môi trường do phá RNM để làm đầm tôm Thực tế ở một sốnước đi trước Việt Nam cũng cho ta những kinh nghiệm bổ ích cần tham khảo
Ở Ấn Độ và Inđônêxia, năng suất xuống sau 5-10 năm Ở Thái Lan hơn 20% trại tôm
từ RNM đã bị bỏ chỉ sau 2-4 năm Theo một tài liệu khác trong số 1,3 triệu ha đất dànhcho nuôi tôm ở Thái Lan, khoảng 250.000ha đã phải bỏ hoang
Dịch bệnh lan tràn trong các vùng nuôi tôm ở 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Longnhững năm 1994-1995 và vào những năm 2000-2001 lại tái phát làm cho hàng vạn giađình trở lại cảnh nghèo đói là một bài học quá đắt do sự buông lỏng quản lý sử dụngruộng đất, di dân tự do hoặc do một số cơ quan, cán bộ trục lợi đi phá rừng nuôi tôm nênkhông thể xử lý những người sai phạm khác
Mặt khác do thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các ngành thuỷ sản và lâm nghiệp nênkhông những mất rừng mà sự cân bằng sinh thái suy giảm và cuộc sống của cộng đồngven biển bị xáo trộn
Có thể khẳng định, việc nuôi tôm không có qui hoạch là mối đe doạ lớn nhất đối với
hệ sinh thái RNM
Nhà nước, các ban ngành hữu quan cần sớm có qui hoạch tổng thể, khảo sát thực tế
và có biện pháp giải quyết tránh để tình trạng "mất bò mới lo làm chuồng"
Khu sinh quyển RNM Cần Giờ - một điểm sáng về phục hồi rừng
Khu rừng này trước đây là khu Rừng Sát có diện tích 40.000 ha thuộc huyện DuyênHải, tỉnh Đồng Nai Trong những năm 1962-1970, phần lớn diện tích Rừng Sát đã bị bomnapan và chất độc hoá học của Mỹ huỷ hoại vì đây là căn cứ kháng chiến Từ năm 1978,RNM Cần Giờ chính thức được bàn giao cho thành phố Hồ Chí Minh Vào thời điểm đó,
diện tích rừng chỉ còn khoảng 4.500 ha Chà là (Phoenix paludosa), 10.000 ha đất trống
bùn khô nứt nẻ và 5.588ha đất lâm nghiệp Số diện tích còn lại là thảm thực vật xơ xácvới các loại cây lùm bụi Các cây gỗ có giá trị như đước, vẹt không còn
Trong năm 1978, thành phố đã có quyết định thành lập lâm trường Duyên Hải để tiếnhành phục hồi rừng Do sức ép về dân số và giải quyết việc làm ở nội đô quá lớn, tp HồChí Minh đã thành lập các nông trường quốc doanh trên đất lâm nghiệp còn hoang hoá đểsản xuất các loại cây lương thực và cây công nghiệp, trồng và bảo vệ rừng mới trồng.Nhưng do thiếu kinh nghiệm quản lý và đặc biệt là do thiếu hiểu biết về sự chuyển hoácủa đất ngập mặn thành đất acid sunphat nên việc trồng cây nông công nghiệp khôngthành công Cuối năm 1989, nhiều đơn vị quốc doanh phải trả đất và rừng lại cho thànhphố Tình trạng này đã khiến cho một số khu rừng trồng bị xem như vô chủ, bị chặt phá,khai thác gỗ củi bất hợp pháp Đứng trước khó khăn đó, thành phố đã giao đất giao rừngcho các hộ nghèo ở địa phương đồng thời thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ môi
Trang 12trường thành phố (Ban Quản lý RPHMTTP) (thay cho lâm trường) để điều hành việc bảo
vệ và tiếp tục trồng mới trên đất trồng cây công nghiệp và nông nghiệp không có hiệuquả Thành phố cũng chỉ đạo Chi cục kiểm lâm đẩy mạnh hoạt động kiểm tra 24 tiểu khunằm rải rác trên địa bàn Các hộ vào định cư trong rừng được chính quyền cung cấp chomột số tiền để xây dựng nhà ở trong rừng, mưa sắm lu đựng nước và một số dụng cụ,xuồng chèo để đi lại Nhiệm vụ của các hộ là bảo vệ, quản lý và sử dụng đất rừng đượcgiao cho theo đúng quy chế của Ban Quản lý RPHMTTP 167 hộ nghèo, trong đó có một
số đã từng chặt phá rừng vì quá nghèo, nhận khoán giữ 14.198 ha với diện tích rừngtrồng là 8.502 ha, 2.881 ha là rừng tái sinh tự nhiên và 2.814 ha là đất khác Họ được trảcông bảo vệ, sử dụng lâm sản phụ, hưởng tỉ lệ sản phẩm tỉa thưa Các gia đình có nhu cầuđược tạo điều kiện khai thác thuỷ sản, tận dụng các mặt nước hiện có nuôi thuỷ sản nhờthế RNM Cần Giờ được bảo vệ và phát triển tốt Từ khi được UNESCO/MAB công nhận
là Khu Dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ (1/2000) thì cuộc sống của những người giữrừng được quan tâm nhiều hơn Nhờ công tác tuyên truyền của các cơ quan thông tin đạichúng và các nhà khoa học nên nhiều người đã hiểu giá trị của RNM Cần Giờ Mong mỏichính đáng của những người giữ rừng đã được đáp ứng khi thành phố cùng các tổ chức,đoàn thể xã hội trong nước, các tổ chức phi chính phủ thế giới đã đầu tư kinh phí để trang
bị hệ thống pin năng lượng mặt trời cấp điện cho 155 hộ lao động giữ rừng cùng với 14tiểu khu bảo vệ rừng Nước ngọt dự trữ được tăng cường bởi hệ thống 29 bồn chứa nước10m3 Thành phố cũng đã trang bị thuyền y tế lưu động để chăm sóc sức khoẻ cho nhữngngười giữ rừng
Thành phố đã thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại cho nhân dântrong huyện Cần Giờ để giúp họ ổn định sản xuất Khi đời sống của nhân dân được nângcao thì áp lực xấu đối với RNM cũng giảm mạnh Ngân hàng cho các hộ nông dân nghèovay vốn không lấy lãi để trồng dừa nước trên diện tích hơn 200 ha Tổ chức FADO của Bỉtrợ giúp kinh phí cho các hộ nghèo trồng 609 ha rừng trên đất nhiễm mặn Năm 2003,thành phố cũng đã mua lại 1.000 ha RNM do dân tự trồng Những hỗ trợ trên đây cùng vớiviệc tận dụng các bãi triều phía trước RNM để nuôi nghêu và sò huyết đã góp phần quantrọng trong việc xoá đói, giảm nghèo ở Cần Giờ
Rừng Cần Giờ hiện đã trở thành khu RNM phục hồi lớn nhất ở Việt Nam với cảnhquan thiên nhiên tươi đẹp và thành phần loài động thực vật phong phú, đa dạng Lượnghải sản ở Cần Giờ lúc này phát triển gấp 10 tới 20 lần so với trước đây Giờ đây, Cần Giờkhông chỉ được biết đến như những cánh rừng phòng hộ với các chức năng điều hoà khíhậu, chống xói lở đất ven sông, ven biển, nuôi dưỡng các loài động vật hoang dã, mà còntrở thành một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, đồng thời trở thành mô hình học tập, nghiêncứu của các nhà trồng rừng trong nước và thế giới Thực tế sinh động của Cần Giờ là mộttrong những cách tuyên truyền tốt nhất tới ý thức con người trong việc bảo vệ thiênnhiên, môi trường.3- Trồng rừng và bảo vệ rừng còn chưa được như mong muốn
Nhận thức được việc mất rừng là tổn thất duy nhất nghiêm trọng đang đe dọa sứcsinh sản lâu dài của những tài nguyên có khả năng tái tạo, nhân dân Việt Nam đang thựchiện một chương trình rộng lớn về xanh hóa những vùng đất bị tổn thất do chiến tranh vàsữa chữa những sai lầm trong công cuộc "phát triển nhanh" của mình trong những nămqua Mục tiêu là trong vòng thế kỷ 21 phủ xanh được 40-50% diện tích cả nước, với hy
Trang 13vọng phục hồi lại sự cân bằng sinh thái ở Việt Nam, bảo tồn đa dạng sinh học và gópphần vào việc làm chậm quá trình nóng lên tòan cầu.
Một chương trình nữa về khoanh nuôi rừng và trồng rừng đang được thực hiện bằngcách xây dựng những vùng rừng đệm và rừng trồng kinh tế để cung cấp gỗ củi và gỗ xâydựng cho nhu cầu trong nước Trong những năm qua việc trồng rừng còn chú ý nhiều đếnviệc trồng thuần một loài cây hay là trồng các lòai cây du nhập từ nước ngòai mà chưachú ý tạo ra những lọai rừng hỗn hợp các lòai cây bản địa, có giá trị kinh tế cao, phù hợpvới điều kiện và khí hậu địa phương
Tại nhiều tỉnh miền núi đã có những thành công trong việc trồng rừng, trồng rừngphối hợp với phát triển nông nghiệp rất đáng khích lệ và gần đây thành công của ôngNgô Văn Lý – nông dân xóm Cồn Chay, huyện Bố Trạch, Quảng Bình trong việc đưa
cây huỷnh (Tarrettica javanica) một loại cây rừng có gỗ vừa đẹp lại vừa dai và chịu được
nước về trồng tại vườn nhà và các đồi trọc trong huyện theo phương thức nông lâm kếthợp (dùng cây huỷnh làm choái trồng tiêu) là một ví dụ về trồng rừng có hiệu quả kinh tếcao Mô hình này đã được người dân nhiều nơi học tập và mở rộng Mô hình trồng câybàng nước ở Phú Quốc cũng đã giảm được phá rừng
Cộng đồng người Nùng An Xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng, liên
tục gần 30 năm trồng rừng bằng cây mắc rạc ( Delavaya toxocarpa) phủ xanh các dãy
núi đá vôi trơ trọc ở địa phương, cải thiện đời sống tự chính nội lực cộng đồng bản địacũng là một mô hình tốt cần được mở rộng cho nhiều địa phương
Trong những năm qua Chính phủ, Bộ Nông nghịệp và Phát triển nông thôn và chínhquyền địa phương đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ rừng và trồng rừng, nên diệntích rừng bị phá huỷ có giảm so với những năm trước, việc trồng rừng tăng nhanh hơn
Các chính sách hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng như Quy định về giao đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (Nghị định số 02/CP), Quy định về việc khoán bảo vệ rừng và phát triển rừng
(Quyết định “202/TTg), Chỉ thị của Chính phủ về việc tăng cường quản lý bảo vệ rừng
(Chỉ thị 286/TTg) đã được quần chúng hoan nghênh và thực hiện
Các văn bản pháp luật, các chính sách thích hợp của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh và mạnh hơn về công tácbảo vệ thiên nhiên ở miền núi trong 10 năm qua Kết quả cụ thể là trong số 10.915.592 harừng hiện có của cả nước, có 7.956.592 ha đã được nhà nước giao và công nhận quyền sửdụng đất hợp pháp cho các “Chủ rừng” (Hà Công Tuấn, 2001*) phân theo các đối tượngnhư sau:
- Doanh nghiệp nhà nước được giao 3.578.394 ha
- Ban Quản lý rừng phòng hộ được giao 1.025.204 ha
- Ban Quản lý rừng đặc dụng được giao 1.126.979 ha
- Xí nghiệp Liên doanh được giao 15.116 ha
- Các đơn vị thuộc Lực lượng vũ trang đ giao 204.764 ha
- Hộ gia đình và các đơn vị tập thể được giao 2.006.464 ha
Trang 14Ngoài các hình thức giao đất, giao rừng, trong 10 năm qua một hình thức bảo vệ rừngkhác cũng đã được tiến hành ở miền núi là việc “nhận khoán bảo vệ rừng” Đây là hìnhthức hợp đồng dài hay ngắn hạn giữa “chủ rừng” với cá nhân, hộ gia đình, tập thể hay các
cơ quan, đơn vị của nhà nước để tăng cường công tác bảo vệ rừng Tới nay đã có 918.326
ha rừng đã được nhận khoán quản lý bảo vệ và 214.000 ha rừng đã được các cộng đồngđịa phương quản lý theo hình thức truyền thống (Hà Công Tuấn, 2001*)
Thật khó mà ước tính được tổn thất về rừng và lâm sản hiện nay ở Việt nam Theothống kê thì năm 1991 có 20.257 ha rừng bị phá, năm 1995 giảm xuống còn 18.914 ha vànăm 2000 là 3.542 ha Tuy nhiên theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm
2000 thì có thể ước định rằng tỷ lệ mất rừng hiện nay là khỏang 120.000 đến 150.000ha/năm và rừng trồng hàng năm khỏang 200.000 ha và mục tiêu là trồng càng nhanhcàng tốt để dạt 300.000 ha/năm
Tuy nhiên theo kết qủa tổng kiểm kê rừng toàn quốc tháng 01/2001 thì đến năm 1990
cả nước có 745.000 ha rừng trồng, và đến năm 2000 tổng diện tích rừng trồng của cảnước là 1.471.394 ha, như thế có nghĩa là trong 10 năm qua, từ năm 1990 đến 2000chúng ta chỉ trồng được có 726.394 ha thành rừng, trung bình đạt 72.639,4 ha/năm,chiếm hơn 30% tổng diện tích trồng rừng hàng năm, một kết quả hết sức thấp so vớimong muốn??
Chương trình trồng 5 triệu hecta rừng trong những năm sắp tới đang được các địaphương tích cực thực hiện Theo kế họach của Bộ NNPTNT thì 2 triệu hec ta rừng sẽđược hồi phục và trồng dặm thêm, 2 triệu hec ta trồng mới và 1 triệu hec ta sẽ trồng cáccây công nghiệp (Lê Huy Ngọ, 1999) Dù cho các chương trình trồng rừng có đạt đượcsớm mà kết quả thành rừng thấp như trong 10 năm vừa qua thì cũng chưa thể bù đắpngay được mức phá rừng hiện tại và cũng khó đạt được mục tiêu đề ra là vào cuối thập
kỷ này độ che phủ rừng bằng mức trước chiến tranh (43% diện tích tự nhiên)
4- Hậu quả của chiến tranh hoá học của Mỹ lên rừng
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, quân đội Mỹ đã tiến hành một cuộcchiến tranh hoá học từ 1961- 1972 với quy mô lớn nhất trong mọi thời đại của lịch sử chiếntranh Trong cuộc chiến tranh này quân đội Mỹ đã rải khoảng hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ vàphát quang xuống một diện tích khoảng 24,67% tổng diện tích lãnh thổ Nam Việt Nam,trong đó phần lớn là chất độc Da cam, là chất có chứa tạp chất cực độc Đioxin
Theo A.H Westing (1983) thì nồng độ các chất được rải trong các phi vụ thường caohơn gấp từ 20-40 lần nồng độ dùng trong nông nghiệp Các chất diệt cỏ và phát quangthông thường được phân huỷ sau 1 tháng đến dưới một năm, riêng hợp chất dioxin cótrong chất da cam rất bền vững, với thời gian bán phân huỷ được ước tính khoảng 15 đến
20 năm hoặc lâu hơn nữa
Với số lượng rất lớn chất độc hoá học đã rải, lặp đi lặp lại nhiều lần trong quãng thờigian dài với nồng độ cao, không những đã làm chết cây cối, động vật mà còn gây ô nhiễmmôi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên Sự tàn phá của
* Tham khảo trong Báo cáo “Công tác Bảo vệ Thiên nhiên ở Miền núi trong 10 năm qua, những thuận lợivà khó khăn” của Vũ Văn Dũng.
Trang 15nó đã được toà án Bertrand Roussel cũng như hội nghị Paris năm 1970 lần đầu tiên đã nêulên trước dư luận thế giới sự tàn khốc của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ tại Việt Nam là
“cuộc chiến tranh huỷ diệt môi trường, huỷ diệt hệ sinh thái và con người” ở Việt Nam.Những tác hại đối với thiên nhiên và môi trường của chiến tranh hoá học đã đượcnhiều nhà khoa học Việt Nam và thế giới tiến hành nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu
đã được trình bày tại nhiều hội nghị quốc tế
Qua nhiều thập kỷ, diện tích rừng có nhiều biến đổi theo chiều hướng suy giảm donhiều nguyên nhân khác nhau Riêng trong khoảng năm 1950 đến năm 1972, chiến tranh,nhất là chiến tranh hoá học của Mỹ đã để lại một hậu quả tàn khốc lên tài nguyên rừng.Theo tài liệu của Maurand (1945), độ che phủ chung của rừng ở Việt Nam chiếm43%
Vào năm 1956, rừng miền Nam Việt Nam có khoảng 10.300.000 ha, chiếm 60% tổngdiện tích tự nhiên Rừng phân bố rộng khắp trên vùng Trung Trung bộ, vùng TâyNguyên, vùng Đông Nam bộ, và vùng ngập mặn ven biển Nam Bộ
Trong chiến dịch Ranch-Hand, rừng nội địa là đối tượng phải gánh chịu nặng nềnhất, chiếm 86% tổng số phi vụ rải chất độc
Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất độc hoá học đối với tài nguyên và môitrường rừng nội địa rất rõ ràng Trong quá trình bị tác động hàng trăm loài cây đã bị trút
lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc
họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Đậu (Fabaceae) Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như Giáng
hương (Pterocarpus macrocarpus), Gụ (Sindora siamensis), Gõ (Afzelia xylocarpa) , Sao đen (Hopea odorata) và một số cây họ Dầu thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết, dẫn
đến khan hiếm nguồn hạt giống của một số loài cây quý Chỉ có một số ít loài có khả
năng chống chịu với chất độc như cây Kơ nia (Irvingia malayana), cây Cám (Parinari
annamensis), cây cọ (Livistona) Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh
chóng, những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa sáng mọc nhanh,kém giá trị kinh tế xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa
Nhiều khu rừng đã bị phá hủy nặng nề do quy mô rải chất độc hoá học rộng lớn và lặp
đi lặp lại nhiều lần kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của bomđạn, máy ủi và thiêu cháy cả lớp cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng do bom na pan Hậu
quả là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ (Pennisetum polystachyon), cỏ tranh (Imperata cylindrica) , lau lách xâm lấn Đến nay rừng vẫn chưa được phục hồi,
nhiều băng rải chất độc vẫn chỉ là nhũng trảng cỏ được thể hiện rõ trên ảnh vệ tinh và ảnhmáy bay qua các thời kỳ khác nhau
Tính toán thiệt hại do chiến tranh gây ra đối với tài nguyên rừng nội địa khá phứctạp, hoàn toàn không giống như rừng ngập mặn Rừng nội địa chịu ảnh hưởng của chấtđộc hóa học ở nhiều mức độ khác nhau và do tính mẫn cảm của mỗi loài cây mà tác hạiđối với từng loài cũng khác nhau Trong nhiều năm qua đã có một số nhà khoa học chú ýnghiên cứu về tác động của chất diệt cỏ và làm rụng lá cây ở rừng miền Nam Việt Nam
Một số tác giả như Galston, Paul W Richards, Arthur H Westing, Peter S Ashton đã
có những công trình viết về ảnh hưởng của chiến tranh hoá học đối với thảm thực vậtrừng
Trang 16Tài liệu "The effects of herbicide in South Vietnam “ của Viện Hàn lâm khoa học Mỹ (
National Academy of Sciences, Washington, D.C 1974 ) tiến hành phân tích sự thay đổi
của tán cây rừng và rút ra những số liệu về độ che phủ rừng, về cây chết trên các băng rảichất độc Phần lớn kết quả được dựa trên tài liệu ảnh máy bay có tỷ lệ 1/30.000, 1/25.000 Những kết quả của các tác giả khác nhau có nhiều điểm khác nhau do phương pháp
và các tư liệu khác nhau, đặc biệt đa số các tác giả nước ngoài còn do thiếu cơ sở thực tếtại hiện trường Sau nhiều thập kỷ, hiện trường đã có nhiều biến đổi, công tác nghiên cứuđánh giá tổn thất càng thêm phức tạp
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam trong những năm qua đã bổ sungnhững thiếu sót của các nhà khoa học nước ngoài và đã nêu lên được một cách khá rõràng về hậu quả của chiến tranh hoá học của Mỹ lên rừng ở miền Nam Việt Nam
Kết quả bước đầu cho biết trên 3,3 triệu ha đất đai tự nhiên bị rải chất độc, (với chiềurộng băng rải là khoảng 1.000m) trong đó rừng nội địa bị tác động nặng nề với nhiều mức
độ khác nhau, làm tổn thất trên 100 triệu mét khối gỗ, trong đó vùng Đông Nam bộ là mộtvùng có trên 50% diện tích tự nhiên bị tác động Chiến khu D, chiến khu C, Rừng Bời Lời,Rừng Củ Chi , là những vùng đã bị rải hàng triệu lít chất độc cùng với hàng triệu tấn bomđạn, trong đó có nhiều khu rừng đã bị triệt phá hoàn toàn như khu Mã Đà, thuộc tỉnh ĐồngNai, khu Phú Bình, bù Gia Mập thuộc tỉnh Bình Phước
Chất độc hoá học còn được rải ở một số vùng trọng điểm khác như: khu vực hàng ràođiện tử Mac Na Ma Ra thuộc tỉnh Quảng Trị, khu A Lưới, thuộc tỉnh Thừa thiên Huế, khu
Sa Thầy, thuộc tỉnh Kon Tum, khu Cần Giờ (Duyên Hải) thành phố Hồ Chí Minh và khu
Cà Mâu thuộc tỉnh Minh Hải
Tính toán sơ bộ bước đầu tổng số gỗ thiệt hại là 119 536 ngàn mét khối gỗ, bao gồmlượng gỗ bị mất tức thời 90 284 ngàn mét khối , và 29 252 ngàn mét khối gỗ tăngtrưởng lâu dài do rừng bị phá huỷ Lượng gỗ thương phẩm ( 60% trữ lượng gỗ cây đứng)
là 70 triệu m3 gỗ thuộc nhóm 1 đến nhóm 4 bao gồm nhiều lòai gỗ quý hiếm, có giá trịkinh tế cao Ngoài ra chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều cho các loại tàinguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến như dầu nhựa, cây thuốc, song mây, và cácloài động vật rừng
Hậu quả của chiến tranh hoá học của Mỹ còn dẫn đến nhiều thiệt hại khác về môitrường và tính đa dạng sinh học Quá trình trút lá ồ ạt đã dẫn đến hiện tượng ứ đọng dinhdưỡng và có 10 đến 15 triệu hố bom chiếm khoảng 1% diện tích rừng nam Việt Nam làmcho lớp đất mặt bị đảo lộn và thúc đẩy quá trình rửa trôi đất Hậu quả trên cản trở trựctiếp đến diễn thế phục hồi rừng, và tác động xấu đến rừng phòng hộ đầu nguồn của 28lưu vực sông, trong đó có:
16 lưu vực có 30% diện tích lưu vực bị rải chất độc ,
10 lưu vực có 30-50% diện tích lưu vực bị rải chất độc
2 lưu vực có trên 50% diện tích lưu vực bị rải chất độc
Phần lớn các lưu vực trên có dòng sông ngắn, địa hình phức tạp, nhiều dốc, có dòngchảy ảnh hưởng trực tiếp tới vùng hạ lưu Điển hình là lưu vực sông Hương, sông Thạch
Trang 17Hãn, Sông Hàn, Sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Côn, sông Vệ, sông Cầu., sôngBa trong nhiều năm qua đã bị lũ lụt lớn tàn phá
5- Chất lượng đất và diện tích đất trồng trọt trên đầu người giảm sút nghiêm trọng
Việt Nam có đất tự nhiên rộng hơn 32.924.061 hec ta, gồm nhiều loại đất Về mặtkinh tế, tài nguyên đất có thể chia ra thành các loại như sau: đất nông nghiệp, đất lâmnghiệp, đất dành cho các sử dụng đặc biệt và đất chưa sử dụng
Theo tổng kiểm kê đất đai năm 2000 (Báo nhân dân ngày 4/3/2001) các loại đất đóphân ra như sau:
Diện tích đất nông nghiệp là 9.345.346 ha, chiếm 28,4% diện tích tự nhiên, tăng928.712 ha so với năm 1998;
Diện tích đất lâm nghiệp là 11.575.429 ha, chiếm 35,1% diện tích tự nhiên, tăng1.190.347 ha so với năm 1995;
Diện tích đất chuyên dùng là 1.532.843 ha, chiếm 4,6% diện tích đất tự nhiên, tăng155.493 ha so với năm 1998;
Diện tích đất ở là 443.178 ha, chiếm 1,8% diện tích tự nhiên, tăng 2.538 ha so vớinăm 1995;
Diện tích đất chưa sử dụng là 10.027.265 ha, chiếm 30,5% diện tích tự nhiên, giảm640.312 ha so với năm 1998
Tuy nhiên bình quân diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyêndùng trên đầu người vẫn giảm do tỷ lệ tăng dân số cao
Đa số diện tích chưa sử dụng nằm ở vùng đất trống, đồi núi trọc và các loại đất cóvấn đề ở đồng bằng Trong số 10.027.265 ha đất chưa sử dụng có 7.505.562 ha là đất đồinúi, 709.528 ha ở đồng bằng, 1.772.900 ha là sông suối, núi đá Phần lớn diện tích đấtchưa sử dụng này nằm ở vùng địa hình dốc, đất khô cằn, rắn, chua, nghèo dinh dưỡng Các dẫn liệu về sử dụng đất ở nước ta cho thấy: quỹ đất ít, chỉ số bình quân đất đaitính theo đầu người rất thấp và có xu thế ngày càng giảm, đặc biệt đối với đất nôngnghiệp:
Hiệu quả sử dụng đất thấp, mới đạt 1,6
Diện tích đất trồng một vụ còn chiếm 27% đất trồng cây hàng năm
Năng suất của đa số các cây trồng chính còn thấp
Ơ Việt nam tuy đất nông nghiệp đã chiếm 28,4% diện tích đất tự nhiên, song bìnhquân đầu người rất thấp: năm 1991 là 1042 m2, năm 1995 là 1022 m2, năm 2000 là 1202m2 Tỷ lệ này sẽ hạ thấp hơn nữa trong những năm sắp tới do dân số còn tăng và đấtthuận lợi cho sản xuất nông nghiệp lại rất hạn chế, (chỉ chiếm 25% đất nông nghiệp) chủyếu thuộc các vùng đồng bằng, phần còn lại là đất có nhiều nguy cơ bị thoái hoá, rửa trôithuộc miền núi
Trang 18Tính riêng các tỉnh miền núi , tuy đất rộng người thưa nhưng đất nông nghiệp lạihiếm, và cũng không đồng đều Tỉnh Bình Phước có diện tích đất nông nghiệp cao nhấtđạt 6280 m2/người vào năm 2000, 4 tỉnh Tây Nguyên đạt 2904 m2, 3 tỉnh Tây Bắc đạt
1781 m2, còn 11 tỉnh Đông Bắc thấp nhất chỉ đạt 1002 m2, thấp hơn bình quân diện tíchnông nghiệp trên đầu người cả nước trong cùng thời gian
Thoái hoá đất
Việt Nam có gần 25 triệu ha đất dốc (76% diện tích đất tự nhiên) với nhiều hạn chếcho sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn 12,5 triệu ha đất xấu và trên 50% diện tíchđồng bằng là "đất có vấn đề" Cụ thể là 0,82 triệu ha đất phèn, 0,54 triệu ha đất cát, 2,06triệu ha đất xám bạc màu, 0,5 triệu ha đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá, 0,24 triệu đất ngậpmặn, 0,47 ha đất lầy úng, 8,5 triệu ha đất có tầng mặt mỏng ở vùng đồi núi Các loại đất
có nhiều hạn chế nói trên chiếm 14,13 triệu hay 42,8% đất tự nhiên cả nước
Những quan trắc từ nhiều năm qua cho thấy : Thoái hoá đất là xu thế phổ biến đối vớinhiều vùng đất rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất, nơi cânbằng sinh thái đã bị phá vỡ nghiêm trọng do không có rừng che phủ Mặn hoá, phèn hoá,lầy hoá trên quy mô diện tích hàng triệu ha vùng đồng bằng cũng là nguyên nhân chủ yếulàm ngừng trệ khả năng sản xuất của đất Tại nhiều vùng sự suy thoái đất còn kéo theo cảsuy thoái về hệ thực vật, động vật và môi trường địa phương và đồng thời làm cho diệntích đất nông nghiệp trên đầu người giảm xuống đến mức báo động
Trong thời kỳ đổi mới , cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế – xã hội ,những biến động về tài nguyên đất ngày càng trở nên rõ rệt Về môi trường đất, lượngphân bón dùng trên một hec ta gieo trồng còn thấp so với mức trung bình thế giới (80kg/ha so với 87 kg/ha), và mới chỉ bù đắp được khoảng 30% lượng dinh dưỡng do câytrồng lấy đi Mặt khác, sự mất cân bằng trong sử dụng phân hoá học đang là thực trạngphổ biến Tình hình đó là nguyên nhân của việc giảm độ phì nhiêu của đất và hiện tượngthiếu kali hoặc lưu huỳnh ở một số nơi, ảnh hưởng tới năng suất cây trồng Về hoá chấtbảo vệ thực vật, trong danh mục 109 loại đang được sử dụng tại Đồng bằng Sông Hồng,
có những loại đã bị cấm sử dụng Trong các vùng thâm canh, tần suất sử dụng thuốc khácao, nhất là đối với rau quả, cho nên dư lượng trong đất khá cao, kể cả trong sản phẩm(Báo cáo tổng kết chương trình “Sử dụng hợp lý Tài nguyên và Bảo vệ Môi trương “ Mã
số KHCN 07, tháng 12 năm 2001)
Tác động của việc thoái hoá đất làm cho nước ta đang đứng trước những thử tháchlớn phải giải quyết nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường đất, nhằm đảm bảo sự antoàn lương thực và sự tồn tại của cả dân tộc với gần 100 triệu dân vào những năm 2010 Nguyên nhân suy thoái đất ở nước ta rất phức tạp và thường bắt nguồn từ điều kiện tựnhiên, kinh tế xã hội và hậu quả chiến tranh
Về tự nhiên: Đa số diện tích là đồi núi mà độ che phủ rừng lại thấp, mưa tập trung
vào một số tháng với lượng mưa trên 20% dưới dạng mưa rào, tạo nên quá trình rửa trôi,xói mòn đất mạnh; hạn hán, lũ lụt, bão tố xẩy ra thường xuyên
Về kinh tế xã hội: Nguyên nhân kinh tế xã hội ảnh hưởng đến suy thoái đất rất phức
tạp Sau đây là những nguyên nhân chính:
Trang 19 Phương thức canh tác nương rẫy vẫn diễn ra ở miền núi;
Tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi do khai thác không hợp lý;
Việc chuyển dân lên trung du, miền núi định cư chưa được chuẩn bị tốt về quyhoạch, kế hoạch và đầu tư;
Di dân tự do không được quản lý;
Việc quản lý đất đai chưa có hiệu lực;
Sức ép tăng dân số và tình trạng đói nghèo;
Kỷ thuật tiến bộ về nông lâm nghiệp chưa được phổ biến rộng rãi;
Dân trí còn thấp, việc thực thi pháp luật còn hạn chế
Sự tàn phá của chiến tranh, nhất là chất độc hoá học
Trong mấy năm qua, nhà nước đã có những biện pháp để đẩy mạnh việc trồng rừng,đặc biệt là trên các vùng đất trống đồi núi trọc Đã áp dụng nhiều biện pháp để từng bướcgiảm bớt việc chặt phá rừng và đốt nương làm rẫy Cũng đã tiến hành một số biện pháp
để duy trì và tăng thêm độ phì của đất như canh tác theo đường đồng mức, dùng phânbón hữu cơ và vô cơ, xây dựng hệ thống tưới tiêu nước, thau chua rửa mặn, sống chungvới lũ và cải tiến việc quản lý
Nhìn chung việc sử dụng đất ở Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong mấy nămqua, đóng góp một phần quan trọng trong việc cải thiện điều kiện sống cho nhân dân vàcho việc ổn định và phát triển kinh tế nước nhà
Điều cần lưu ý là chất lượng đất ở nhiều nơi, đặc biệt là ở miền Bắc và Cao nguyênTrung bộ đã suy giảm nghiêm trọng, do thâm canh, đốt nương làm rẫy và phá rừng Tất
cả những hoạt động đó đã làm mất đi lớp đất mặt và các chất dinh dưỡng trong đónguyên nhân xói mòn và rửa trôi là chính Bởi vậy tại nhiều vùng trên rẻo cao và trung
du có dân cư đông đúc, như ở một số tỉnh thuộc các vùng Tây Bắc và Đông Bắc, nạn xóimòn đất và những vấn đề về cuộc sống của dân địa phương sẽ khó khắc phục nếu khôngtìm được nguồn thu nhập khác thay thế và không giảm nhẹ được sức ép về dân số
Tại cao nguyên Tây Nguyên, nơi có nhiều tiềm năng về nông nghiệp, nhưng do bịmất rừng quá nhanh, tạo nên mất cân bằng sinh thái mà đất đã bị xuống cấp, hiện đang bịchua hoá, hàm lượng chất dinh dưỡng bị suy thoái và có nhiều nguy cơ bị thiếu nước vàomùa khô Kết quả nghiên cứu đã cho biết : qua trồng chè ở vùng đất bazan, đất bị mấtkhoảng 120 tấn khô/năm; chất dinh dưỡng bị mất như sau:
Chất hữu cơ 5.600 kg/ha/năm
Trang 20bình quân là 10 tấn/ha/năm, thì hàng năm nước ta đã mất đi một lượng dinh dưỡng chocây trồng tương đương với giá trị phân bón là 600 tỷ đồng (Lê Văn Khoa, 2004).
Đại bộ phận đất trồng trọt ở châu thổ sông Cửu Long, trong đó có tới 40% là vùngphù sa trẻ đã bị ảnh hưởng Do hàm lượng chất hữu cơ thấp, khả năng trao đổi ion thấp,
độ a xít cao và bị nhiễm mặn theo mùa, mà việc canh tác gặp nhiều khó khăn
Nhiều vùng đất còn bị ô nhiễm do sử dụng không hợp lý phân bón, hoá chất bảo vệthực vật và các chất kích thích sinh trưởng không hợp lý Ở các vùng dân cư, đô thị vàkhu công nghiệp, đất có thể bị ô nhiễm do các chất thải không qua xử lý Ngoài ra ở một
số nơi, đất còn bị ô nhiễm do các chất độc hoá học, nhất là chất da cam/dioxin do Mỹ rảitrong thời kỳ chiến tranh
6- Hiện tượng thiếu nước ngọt và sự nhiễm bẩn nước ngọt ở nhiều nơi đã trở thành nhân tố quan trọng
Việt Nam là một trong những nước có tài nguyên nước phong phú trên thế giới.Lượng mưa bình quân nhiều năm là 1944 mm, trong đó 1003 mm bốc hơi trở lại khôngtrung, 941 mm còn lại hình thành trên lãnh thổ nước ta một lượng nước mặt khoảng 310
tỷ m3 Mùa mưa kéo dài 6-7 tháng, tuy nhiên thời kỳ bắt đầu và kết thúc mùa mưa có sựkhác nhau giữa các vùng Nhờ có mạng lưới sông ngòi dày nên nước được phân bố tươngđối đều trong cả nước, đáp ứng được nhu cầu nước khá đồng đều trong các khu vực Tàinguyên nước mặt có thể khai thác để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của nhân dâncũng như làm thuỷ điện, nông nghiệp và phát triển giao thông vận tải
Tiềm năng nước ngầm khoảng 48 tỷ m3/năm (131,5 triệu m3/ngày) và trữ lượng khaithác dự báo 6-7 tỷ m3/năm (17-20 triệu m3 ngày)
Nhìn chung tài nguyên nước ngọt Việt nam tương đối cao, ước tính 64.000m3/người/năm Tuy nhiên, do hạn chế về tài chính và kỷ thuật nên tài nguyên này cònchưa được bảo tồn và sử dụng tốt (Hiện trạng môi trường năm 2000)
Việc phá rừng mà hậu quả là việc bồi lắng ở mức độ cao do xói mòn đất đã làm giảmhiệu năng của những dòng kênh và tuổi thọ của các hồ chứa Năm 1991 hai công trìnhthuỷ điện quan trọng ở miền Trung là Đa Nhim và Trị An đã không vận hành được bìnhthường vào mùa khô vì thiếu nước nghiêm trọng Những hồ nhỏ hơn như Cấm Sơn, SôngHiếu, Bộc Nguyên ở miền Bắc đã bị bồi lắng trầm trọng sau 10 năm hoàn thành côngtrình Đầu năm 2005 hồ Hoà Bình cũng đã cạn kiệt đến mức giới hạn, ảnh hưởng lớn đếnviệc sản xuất điện và nông nghiệp
Do độ che phủ của rừng đang giảm dần nên lụt lội và hạn hán trên nhiều vùng xẩy rathường xuyên hơn, đặc biệt là ở miền Bắc và miền Trung kể cả ở Tây Nguyên Trong haithập kỷ qua, tần suất hạn hán có chiều hướng gia tăng Ơ Đắc Lắc, trung bình ba năm xẩy
ra một lần Lũ quét-lũ bùn đá xuất hiện với tần suất cao hơn và mức độ ác liệt hơn Quatính toán thử trên một số lưu vực cho phép dự báo nhiều lưu vực nhỏ ở Tây Nguyên đều
có nguy cơ xẩy ra lũ quét (Báo cáo tổng kết chương trình “Sử dụng hợp lý Tài nguyên vàBảo vệ Môi trương “ Mã số KHCN 07, tháng 12 năm 2001) Nhiều vùng bị thiếu nướctrầm trọng, nhất là Đồng Văn, Lai Châu, Hà Tĩnh và Quảng Trị, ở đó vào mùa khô, nhiềunơi nhân dân phải đi 5-10 cây số để kiếm nước Một số làng bản đã phải rời đi nơi khác
Trang 21vì thiếu nước trong mùa khô Năm 2005 nước ta bị hạn hán nặng, nhất là các tỉnh namTrung bộ, không những thiếu nước sản xuất nông nghiệp mà còn không đủ nước chongười và gia sức trong một thời gian dài gây nhiều thiệt hại về kinh tế và xã hội
Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đã trởthành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là tại các thành phố lớn như
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội, và tại các khu công nghiệp Ô nhiễm nước do hoạtđộng nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm trọng tại nhiều miền thôn quê, đặc biệt tại châuthổ sông Hồng và sông Cửu Long Hiện tượng nhiễm mặn hay chua hoá do quá trình tựnhiên và do hoạt động của con người đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sôngCửu Long
Ơ một số vùng ven biển, nguồn nước ngầm đã bị nhiễm bẩn do thấm mặn hoặc thấmchua phèn trong quá trình thăm dò hoặc khai thác (Hồ Chí Minh, Hải Phòng, QuảngNinh, Vinh) Trong mấy năm qua việc khai thác nước ngầm quá mức đã làm giảm lượngnước, như ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Tây Nguyên Việc khai thác nước ngầmtại Hà Nội trong những năm qua đã làm hạ thấp mực nước từ 29 cm đến 35 cm Thànhphần hoá học của nước ngầm biến động theo xu hướng làm suy giảm chất lượng nước,chủ yếu do nguyên nhân tự nhiên Nhiễm bẩn vi sinh vật xẩy ra ở một số nơi, chủ yếu donhiễm bẩn từ trên mặt đất
Mặc dù Việt nam có tài nguyên nước phong phú, nhưng thực tế ở nhiều vùng vấn đềthiếu nước và nhiễm bẩn nước do hoá chất nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề, nướcthải sinh hoạt đã trở thành vấn đề quan trọng và ngày càng gia tăng
Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch hiện nay là khoảng 50%, trong đó đô thị chiếm 70%
và nông thôn chỉ 30% Từ nay cho đến năm 2040, tổng nhu cầu nước ở Việt nam có thểchưa vượt quá 50% tổng nguồn nước, song vì có sự khác biệt lớn về nguồn nước tại cácvùng khác nhau và vào các mùa khác nhau và do nạn ô nhiễm gia tăng cho nên nếukhông có chính sách đúng đắn thì nhiều nơi sẽ bị thiếu nước trầm trọng
7- Môi trường biển và vùng ven biển đã xuống cấp trầm trọng
Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, với đặc điểm có nhiều vùng đất ngập nước vànhiều kiểu hệ sinh thái biển, kể cả khoảng 100 hệ thống cửa sông lớn nhỏ, cùng với rừngngập mặn và bãi bùn (khoảng 290.000 ha), những đầm lầy ngập nước theo mùa, nhữngđụn cát ven biển, những đầm phá nước mặn và nước lợ (khoảng 100.000 ha), và nhiềurạn san hô gần bờ, thảm cỏ biển, và khoảng 10.000 đảo lớn nhỏ
Biển và ven biển đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp, như nông nghiệp, thuỷ sản, lâmnghiệp đồng thời đem lại lợi ích gián tiếp cho con người Các vùng đầm lầy có rừng ngậpmặn và các cữa sông có ý nghĩa sinh thái đặc biệt, là chỗ đẻ trứng, nuôi ấu trùng, nơikiếm ăn cho nhiều loài có giá trị kinh tế như cá, ốc, tôm, cua và nhiều loài hai mãnh vỏ
và là nơi cung cấp thực phẩm quan trọng cho người nghèo Các đầm phá ven bờ là hệsinh thái có sức sinh sản cao do ở đây có hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn vùng biển,ngay cả trong mùa khô Ơ đây có thể khai thác nhiều loài động vật, nhất là cá, tôm, cua,
ốc, hàu và rong câu Những rạn san hô là nơi quy tụ nhiều chất dinh dưỡng, nhiều loàisinh vật biển và là nơi ẩn nấp và sinh sản của nhiều loài hải sản quan trọng Các đụn cát,
Trang 22rừng ngập mặn và các rạn san hô cũng tạo nên vùng đệm, ngăn cản tác hại của lũ lụt, xóimòn đất, sóng bão
Tài nguyên biển đa dạng là nguồn thực phẩm và là nguồn thu nhập quan trọng chophần lớn nhân dân ở ven biển Trữ lượng các loài cá biển khoảng 3 triệu tấn; trữ lượngtôm he và tôm vỗ khoảng 57.330 tấn với khả năng khai thác 20.000 tấn Các loài cua,ghẹ, ngao đá, nghêu, sò huyết có khả năng khai thác lớn Ngoài ra còn có các loài đặcsản có giá trị như tu hài, vẹm xanh, điệp, hàu, bào ngư, ốc hương, tổ yến cũng là nguồnlợi lớn từ biển và ven biển nước ta (Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000) Hàngnăm lượng cá đánh bắt được lên tới hàng triệu tấn, trong đó phần quan trọng dành choxuất khẩu Khoảng 80-90% sản lượng cá biển đánh bắt được là từ vùng nước nông ven
bờ Nghề biển đã cung cấp khoảng 30% lượng đạm động vật cho nhân dân Việt nam Những hệ sinh thái biển và ven biển nước ta đang nhanh chóng bị xuống cấp hoặc bịbiến đổi Mặc dù trong chiến tranh hàng loạt những vùng rừng ngập mặn ở phía Nam đã
bị tàn phá, rồi đã được trồng lại, nhưng áp lực kinh tế hiện thời đã biến rừng ngập mặnthành nơi cày cấy hoặc nuôi trồng thuỷ hải sản theo kiểu không bền vững
Nghề đánh bắt cá ven bờ đang khai thác quá mức, các rạn san hô bị xuống cấp donhững cách đánh bắt có tính huỷ diệt, và bị cạy lên để nung vôi Do phần lớn dân cư sinhsống ở vùng gần ven biển, việc sản xuất nông nghiệp và việc phát triển công nghiệp đềutập trung ở vùng này như ở châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, nên tình trạng ô nhiễmcông nghiệp và đô thị cùng nhiều hình thức phát triển khác trong vùng lưu vực sông làmối đe doạ nghiêm trọng đối với tài nguyên ven biển và tài nguyên biển
Trong những năm tới, dự kiến mức tăng trưởng trong hoạt động kinh tế, nhất là việcđẩy mạnh nông nghiệp, phát triển tài nguyên nước và công nghiệp, xây dựng bến cảng,khai thác và vận chuyển dầu sẽ tăng thêm sức ép lên vùng ven biển và tài nguyên biển.Ngành du lịch sẽ nhanh chóng được mở rộng ở Việt nam, và cũng sẽ gây thêm sức éplên nhiều vùng bờ biển quý giá như vịnh Hạ long, Vũng Tàu và vùng bờ biển dài miềnTrung
8- Diện tích vùng đất ngập nước đã bị giảm đi nhanh vì hoạt động của con người
Việt Nam có vùng đất ngập nước đa dạng gồm những vùng cửa sông và châu thổrộng lớn với nhiều rừng ngập mặn, bãi bùn theo thuỷ triều, những vùng trồng lúa hoặcrừng tràm ngập nước theo mùa, nhiều đảo ven bờ, những đầm phá nước lợ và nước mặnrộng lớn, những bãi ruộng muối và ao nuôi thuỷ sản, nhiều hồ đầm nước ngọt, hồ chứanước và vô số sông suối
Đa số vùng đất ngập nước nằm ở phía nam đất nước, trong lưu vực sông Cửu Longvới hệ thống sông ngòi và kênh mương chằng chịt, và vùng đồng lúa rộng lớn, hoặc rừngngập mặn, rừng tràm, bãi bùn theo thuỷ triều, ao đầm nuôi tôm cá Ơ miền trung, đa sốđất ngập nước là các đầm phá ven biển và hồ chứa nước, còn ở miền Bắc lại có rất nhiều
hồ, đầm trong vùng lưu vực sông Hồng, những bãi triều và rừng ngập mặn trải dài suốtvùng bờ châu thổ
Ngoài chức năng sinh thái, đất ngập nước ở Việt nam đóng vai trò quan trọng trongnền kinh tế quốc dân, và khả năng khai thác vùng này trong cả nước là rất cao
Trang 23Đất ngập nước Việt nam là nơi sinh sống của nhiều loài hoang dã Đầm lầy ven biển
là địa bàn khá quan trọng cho các loài chim nước di trú và chỗ trú đông cho chừng 100loài Hàng đàn vịt và ngỗng trời, chừng hàng vạn con về đây vào mùa đông kiếm ăn ởcác đầm lầy lưu vực sông Hồng, mặc dù số lượng của chúng có giảm đi đáng kể trongthập kỷ qua Rừng ngập mặn và rừng tràm ở lưu vực sông Cửu Long là nơi sinh sống củanhiều loài chim như các loài cò diệc, cốc, cò quắm, vịt trời và các loài chim nước khác vàmột số loài chim hiếm như sếu đầu đỏ, cò ốc, già đẫy lớn và cò lạo Java Những năm quatại tỉnh Minh Hải và một số tỉnh lân cận đã có nhiều nơi chim tập trung làm tổ tạo thànhcác sân chim, máng chim khá lớn
Do nhu cầu lớn về sản lượng lương thực, nhiều vùng đất ngập nước rộng lớn đã bịtiêu nước để canh tác Ơ lưu vực sông Cửu Long, trong thời kỳ chiến tranh, ước tính cókhoảng 124.000 hec ta rừng ngập mặn (chiếm khoảng 40-50%) đã bị phá huỷ do chất độchoá học, và sau đó rừng ngập mặn và rừng tràm lại tiếp tục bị chặt phá làm than củi, gỗxây dựng và để làm ao nuôi cá, tôm
Vì rừng đất ngập nước có chức năng sinh thái quan trọng trong việc tạo nơi sinh sản
và nuôi dưỡng nhiều loài động vật nên việc mất rừng ở đây (rừng ngập mặn và rừngtràm) có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn mất rừng ở vùng cao hay rừng đầu nguồn về nhiềuphương diện Diện tích rừng ngập nước hiện nay chỉ còn khoảng 30% (gần 1,2 triệu hecta) của độ che phủ của loại rừng này vào những năm 1940 Phần lớn diện tích rừng tựnhiên còn lại và rừng trồng sau ngày giải phóng lại bị phá huỷ để mở rộng tràn lan việcnuôi tôm theo kiểu không bền vững trên vùng đất chua phèn của lưu vực sông Cửu Long
Do việc đắp bờ và quản lý kém và chưa thích hợp, các ao nuôi tôm kiểu này chỉ dùngđược thời gian ngắn Riêng ở tỉnh Minh Hải, nơi đã từng có 50.000 hecta (54%) rừngngập mặn bị phá huỷ trong năm 1982 đến năm 1992, cái giá phải trả cho việc nuôi tômquảng canh này lên tới 140 triệu đô la Mỹ Nếu cứ tiếp tục cách làm trên thì một thập kỷnữa mức thiệt hại sẽ lên đến 249 triệu (WB) Tình hình tương tự cũng đang xẩy ra vớicác rừng tràm, nơi giàu tính đa dạng sinh học và các lâm sản hơn cả vùng rừng ngập mặnven biển
Nói chung đất ngập nước Việt Nam đang gặp những mối nguy hại vì những lý dosau:
Dân số ngày càng tăng
Sự can thiệp của con người làm rối loạn hệ thống tự nhiên
Ô nhiễm nước do nước thải công nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt do thuốc trừsâu từ các vùng nông nghiệp
Đánh bắt quá mức và các hoạt động phá huỷ sinh thái
Phá rừng ngập mặn và rừng tràm lấy gỗ củi, đốt than và làm ao nuôi tôm ,nuôi trồng thuỷ sản thíếu quy hoạch
9- Đa dạng sinh học đang giảm sút nhanh chóng
Các loài sinh vật, được hình thành và phát triển trên trái đất hàng tỷ năm đã và đang bị
đe dọa bởi các hoạt động của con người, nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanhchóng, thậm chí có một số loài đang ở ngưỡng cửa của sự diệt vong mà nguyên nhân chủ
Trang 24yếu là do môi trường sống bị phá huỷ, do săn bắt quá mức và do sự tấn công một cách dữdội của các loài nhập cư cũng như sự cạnh tranh của các kẻ thù khác Các chu trình hoá học
và thuỷ văn tự nhiên đang bị phá vỡ do việc phá rừng và mỗi năm có hàng tỷ tấn đất mặt đã
bị bào mòn và cuốn trôi theo các dòng nước xuống các ao hồ, đại dương Các đe dọa đốivới các loài sinh vật hiện nay là chưa từng có: chưa lúc nào trong lịch sử sự sống mà một sốlượng lớn các loài lại bị đe doạ tuyệt diệt trong một thời gian ngắn như vậy Nguy cơ đốivới các loài sinh vật ngày càng tăng do áp lực dân số tăng lên một cách nhanh chóng cũngnhư các tiến bộ khoa học kỷ thuật được sử dụng không đúng chỗ
Loài người đang phá hủy một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất mà
không thể thay thế được trên thế giới là sự đa dạng sinh học (ĐDSH), cơ sở của sự sống
còn, sự thinh vượng và sự phát triển bền vững của chính họ Tất cả tài sản quý giá đó rấtcần thiết để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của loài người hiện nay, trong tương lai cũngnhư đã đáp ứng cho tổ tiên trước kia Thế nhưng loài người đã không biết giữ gìn nguồn tàinguyên quý giá đó mà lại đang khai thác quá mức, tiêu hao và phá hủy nó với danh nghĩa là
để phát triển Sự suy thoái ĐDSH trên Trái Đất đang hàng ngày hàng giờ âm thầm phá hủykhả năng phát triển của loài người
Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới đang đứng trước những thử tháchlớn về vấn đề môi trường Để nuôi sống hơn 80 triệu dân và chắc chắn sẽ còn nhiều hơnnữa trong những năm sắp tới, chúng ta đã và đang phải khai thác một cách ồ ạt các loại tàinguyên thiên nhiên: đất, nước, rừng, biển, động vật, thực vật làm cho các loại tài nguyênquý giá này bị cạn kiệt một cách nhanh chóng Để đảm bảo sự phát triển bền vững, đối vớicác loại tài nguyên sinh học, là dạng tài nguyên có khả năng tái tạo được, điều quan trọng làtạo được sản lượng ổn định tối đa mà không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cơ sở Sảnlượng này hoàn toàn có hạn và không thể khai thác quá khả năng chịu đựng, nếu khôngmuốn làm giảm năng suất trong tương lai Vấn đề là phải biết kiềm chế, biết cách sử dụngmột cách khôn khéo, và làm ổn định nhu cầu trong giới hạn cho phép bằng cách sớm ổnđịnh dân số, nâng cao nhận thức của mọi người về ĐDSH đối với cuộc sống của họ, vàtăng quyền chủ động của họ trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiênnhiên mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào đó
Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cậnnhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng
do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao Một dải rộng các thảm thực vật baogồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình thành ở các độ cao khác nhau, như cácrừng thông chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, rừng hỗn loại lá kim và lá rộng,rừng khô cây họ Dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng họ Dầu địa hình thấp, rừng ngập mặnchiếm ưu thế ở ven biển châu thổ Sông Cửu Long và Sông Hồng, rừng tràm ở đồng bằngNam bộ và rừng hỗn lọai tre nứa ở nhiều nơi
Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dàinhiều thế kỷ, hệ thực vật rừng Việt nam vẫn còn phong phú về chủng loại Cho đến nay
đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, và 2.393 loài thực vật bậc thấp
(Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật), trong đó có 793 loài Rêu (Bryophyta), 2 loài Quyết trần (Psilotophyta), 57 loài Thông đất (Lycopodiophyta), 2 loài Cỏ Tháp bút
Trang 25(Equisetophyta), 664 loài Dương xỉ (Polypodiophyta), 63 loài Thực vật Hạt trần (Gymnospermatophyta) và 9.812 loài Thực vật Hạt kín (Angiospermatophyta) (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 1997) Trong số các loài thực vật đã thống kê có gần 2.000 loài cây lấy gỗ,3.000 cây làm thuốc, hơn 100 loài tre nứa và khoảng 50 loài song mây Theo dự đoán củacác nhà thực vật học số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến gần 20.000 loài,trong đó có nhiều loài đã được nhân dân ta dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốcchữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác Chắc rằngtrong hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài mà chúng ta chưa biết công dụng của chúng.Cũng có thể có rất nhiều loài có tiềm năng là một nguồn cung cấp sản vật quan trọng -dược liệu chẳng hạn
Hơn nữa hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy rằng hệ thực vật ViệtNam không có các họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% số Chi là đặc hữu (như các Chi
Ducampopinus, Colobogyne) nhưng số loài đặc hữu chiếm khoảng 33% số loài thực vật
ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc(Thái văn Trừng, 1970) Phần lớn số loài đặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chính: khuvực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, caonguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở phần Bắc Trung Bộ Nhiều loài làđặc hữu địa phương chỉ gặp trong một vùng rất hẹp với số cá thể rất thấp Các loài nàythường rất hiếm vì rằng các khu rừng ở đây thường bị chia cắt thành những mảnh nhỏhay bị khai thác một cách mạnh mẽ
Bên cạnh đó, do đặc điểm cấu trúc, các kiểu rừng nhiệt đới ẩm thường không có loàichiếm ưu thế rõ rệt nên số lượng cá thể của từng loài thường hạn chế và một khi đã bịkhai thác, nhất là khai thác không hợp lý thì chúng chóng bị kiệt quệ Đó là tình trạng
hiện nay của một số loài cây gỗ quý như Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) Gụ mật (Sindora
siamensis) nhiều loài cây làm thuốc như Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis), Ba kích
(Morinda officinalis) thậm chí có nhiều loài đã trở nên rất hiếm hay có nguy cơ bị tiêu diệt như Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) Hoàng đàn (Cupressus torulosa) Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Pơ Mu (Fokienia hodginsii) v.v
Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được khoang 310loài thú, 840 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, hơn 700 loài cá nước ngọt,2.038 loài cá biển và thêm vào đó có hàng chục nghìn loài động vật không xương sống ởcạn, ở biển và nước ngọt, khoảng 8.300 loài động vật không xương sống nước ngọt vàbiển (Đào Văn Tiến, 1985, Võ Quý 1997, Đặng Huy Huỳnh, 1978, Viện Sinh thái và Tàinguyên Sinh vật, 2000) Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài màcòn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho vùng Đông Nam Á
Cũng như thực vật giới, động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu : hơn 100 loài
và phân loài chim và 78 loài và phân lòai thú là đặc hữu Có rất nhiều loài động vật cógiá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như Voi, Tê Giác Java, Bòrừng, Bò tót, Trâu rừng, Bò xám, Nai cà tông, Hổ , Báo, Cu ly, Vượn, Voọc vá, Voọcxám, Voọc mông trắng, Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, Sếu đầu đỏ, Cò quắm cánhxanh, Cò quắm lớn, Ngan cánh trắng, nhiều loài trĩ, cá sấu, trăn, rắn và rùa biển
Trang 26Theo tài liệu "Xem lại hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai" củaIUCN/CNPPA (Review of the Protected Areas System in the Indo - Malayan Realm,MacKinnon, MacKinnon, 1986) thì Việt Nam khá giàu về thành phần loài và có mức độcao về tính đặc hữu so với các nước trong vùng phụ Đông Dương Trong số 21 loài khỉ cótrong vùng phụ này thì ở Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài đặc hữu của vùng phụ(Eudey, 1987) Có 49 loài chim đặc hữu trong vùng phụ, ở Việt Nam có 33 loài, trong đó có
13 loài đặc hữu của Việt Nam, so với Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Hải Nam, mỗi nơi chỉ
có 2 loài, Lào và Cam pu chia mỗi nước có một loài
Khi xem xét về sự phân bố của các loài động vật nói chung và các loài chim và loàithú nói riêng ở trong vùng phụ Đông Dương, chúng ta có thể nhận rõ rằng Việt Nam làmột trong những vùng xứng đáng có ưu tiên cao về vấn đề bảo vệ Không những thế,hiện nay ở Việt Nam vẫn còn có những phát hiện mới rất lý thú Chỉ trong 2 năm 1992 và
1994 đã phát hiện được ba loài thú lớn, trong đó có hai loài thuộc vùng rừng Hà Tĩnh là
loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) và loài Mang lớn hay còn gọi là Mang bầm (Megamuntiacus vuquangensis), nơi mà trước đây không lâu đã phát hiện loài trĩ cuối cùng trên thế giới, loài Gà lam đuôi trắng hay còn gọi là Gà lừng (Lophura hatinhensis) Năm 1994 một loài thú lớn mới thứ ba là loài Pseudonovibos spiralis ở Tây Nguyên, tạm
gọi là lòai bò sừng xoắn, được công bố (tuy nhiên loài này vẫn còn nhiều nghi ngờ vìchưa có được những bằng chứng đáng tin cậy), và năm 1998 một loài thú lớn mới nữa
cho khoa học được mô tả, đó là lòai Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) tìm
thấy lần đầu tiên ở Vùng Hiên, thuộc tỉnh Quảng Nam và đã chụp được ảnh tại Pù Mát,Nghệ An Cũng tại đây vào năm 1998 đã chụp được ảnh của một loài thỏ lạ mà từ trước
đến nay khoa học chưa biết và đã được công bố vào năm 2000 là loài thỏ vằn (Nesolagus
temminsi) Gần đây ba lòai chim mới được phát hiện ở Tây Nguyên là loài khướu Ngọc
Linh (Garrulax ngoclinhensis), lòai khướu vằn mào đen (Actinodura sodangorum) và loài khướu Kong Ka Kinh (Garrulax konkakingensis) Một điều kỳ lạ nữa là loài rùa
nước ngọt lớn nhất thế giới, sống trong hồ Hoàn Kiếm giữa thủ đô Hà Nội mà nhân dânViệt Nam đã biết từ nhiều trăm năm về trước vừa được công bố là một loài mới cho khoa
học với tên Rafetus leloii Chúng ta tin rằng ở Việt Nam chắc chắn còn rất nhiều loài
động, thực vật chưa được các nhà khoa học biết đến
Về mặt đa dạng sinh thái, Việt Nam có nhiều kiểu rừng khác nhau, từ kiểu rừng rậmthường xanh đến kiểu rừng rụng lá ở các độ cao khác nhau, từ đai thấp (lowlands), cậnnúi (sub-montane), núi (montane), cận núi cao (sub-alpine), các kiểu rừng núi đất, rừngnúi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng tre nứa
Việt Nam cũng có vùng đất ngập nước khá rộng, trải ra khắp đất nước nhưng chủ yếu
ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long và vùng đồng bằng Sông Hồng Đây không những làvùng sản xuất nông nghiệp quan trọng của Việt Nam mà còn là nơi sinh sống của 39 loàiđộng vật được coi là những loài có nguy cơ bị tiêu diệt ở vùng Đông Nam Á thuộc cácnhóm thú, chim và bò sát (AWB, 1989)
Ngoài ra Việt Nam còn có phần nội thuỷ và lãnh hải rộng khoảng 226.000 km2 trong
đó có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ và nhiều rạn san hô phong phú
Trang 27Ở Việt Nam các rạn san hô phân bố rải rác suốt từ Bắc vào Nam của Biển Đông vàcàng vào phía Nam cấu trúc và số lòai càng phong phú Phần lớn các rạn san hô ở biểnmiền Bắc là những đám hẹp hoặc tạo thành từng cụm nhỏ, độ sâu tối đa chỉ giới hạntrong vòng mươi mét Ở phía Nam điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho sự phát triển củasan hô Từ vùng bờ biển Đà Nẵng đến Bình Thuận có nhiều rạn san hô ở xung quanh cácđảo và các bãi ngầm, và xung quanh các đảo ở vịnh Thái Lan ở phía Tây nam Các đảo
và bãi ngầm thuộc quần đảo Hòang Sa và Trường Sa có những bãi san hô rộng lớn và đadạng nhất trong vùng biển Việt Nam Các rạn san hô phía Tây nam có cấu trúc đa dạng
và có đỉnh cao đến 8-10 mét, và nằm ở độ sâu chừng 15 mét Tại quần đảo Trường Sacác rạn san hô có thể đạt tới độ sâu nhất là 40 mét và có đỉnh cao từ 5-15 mét Cũng nhưrừng nhiệt đới, các rạn san hô là nơi có tính đa dạng sinh học cao, chứa đựng nhiều lọaitài nguyên quý giá và có nhiều tiềm năng cho sự phát triển khoa học và kinh tế trongtương lai
Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có về sinh giới này, có thể đáp ứng những nhu cầuhiện tại và tương lai của nhân dân Việt Nam trong quá trình phát triển, cũng như đã đáp ứngnhững nhu cầu ấy trong quá khứ Nguồn tài nguyên thiên nhiên này không những là cơ sởvững chắc của sự tồn tại của nhân dân Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã qua mà còn là cơ sởcho sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong những năm sắp tới Tuy nhiên thay vì bảo tồnnguồn tài nguyên quý giá này và sử dụng một cách hợp lý, nhân dân Việt Nam dưới danhnghĩa phát triển kinh tế đang khai thác quá mức và phí phạm, không những thế còn sử dụngcác biện pháp huỷ diệt như các chất độc, chất nổ, kích điện
Nhiều lòai hiện đã trở nên hiếm, một số lòai đang có nguy cơ bị diệt vong Nếu biết sửdụng đúng mức và quản lý tốt, nguồn tài nguyên sinh học của Việt nam có thể trở thànhnguồn tài nguyên tái tạo rất có giá trị, thế nhưng nguồn tài nguyên này đang suy thóai nhanhchóng
B ng 3 S a d ng th nh ph n lo i ả ự đ ạ à ầ à độ ng v t hoang dã Vi t Nam ậ ở ệ
đã các định tên
Số loài có trên thế giới
2 Động vật không xương sống ở đất Khoảng 1.000
Trang 28Giá trị của đa dạng sinh học
Nhiều loài thực vật và động vật hoang dã, không những có ý nghĩa khoa học mà còn
có ý nghĩa kinh tế rất lớn Các loài cây và con chúng ta nuôi trồng như lúa, ngô, khoai,đậu , như trâu, bò, dê, gà, vịt đều có nguồn gốc từ các thực vật và động vật hoang dã
Số loài hoang dã đang sống trong thiên nhiên, có họ hàng gần gủi với các cây trồng vàđộng vật nuôi là nguồn gen có giá trị rất quan trọng trong việc lai tạo, thay thế những gen
đã bị thoái hoá Cũng có nhiều loài hoang dã có tiềm năng trở thành các loài cây trồnghay vật nuôi trong tương lai Ta lấy nhóm lúa ở nứơc ta làm ví dụ cũng thấy rõ điều đó
Đa dạng sinh học cây lúa Việt Nam
Ngày nay, các nhà phân loại học đều nhất trí là chi Lúa (Oryza) có 23 loài hoang dại
và 2 loài lúa trồng O sativa và O glaberrima Loài O glaberrima phân bố chủ yếu ở Tây và Trung Phi, còn loài O sativa được gieo trồng ở khắp thế giới, trong đó có ở Việt
Nam (Vaughan, D.A.,1994)
Việt Nam là nước giàu về tài nguyên di truyền lúa, đồng thời là một trong nhữngtrung tâm khởi nguyên của cây lúa và nghề trồng lúa Ở nước ta, lúa được trồng từ vùngnhiệt đới nóng ẩm đến vùng á nhiệt đới với độ cao khác nhau, từ những vùng đầm lầy
quanh năm ẩm thấp đến vùng đất cao khô hạn Cây lúa trồng ở Việt Nam hiện nay là O.
sativa, là loại hình lúa có nguồn gốc ở các vùng nhiệt đới và cũng được trồng đầu tiên ở
đây Qua quá trình gieo trồng và thuần hoá cây lúa hàng nghìn năm, cùng với sự đa dạng
về địa lý, sinh thái trên toàn lãnh thổ đất nước, dân tộc Việt Nam đã tạo nên sự đa dạng
về tài nguyên di truyền lúa Tập đoàn giống lúa địa phương ở nước ta phong phú cả về sốlượng và chất lượng, với những bộ giống lúa dài ngày, giống lúa vừa ngày và cả lúa cựcsớm , những dạng lúa tẻ gần với dạng hoang dại, hạt gạo cứng, cho tới loại hình gạo dẻo,thơm, ít nở có chất lượng cao Việc ứng dụng các kỷ thuật sinh học mới để đánh giá tàinguyên cây trồng cho thấy tài nguyên di truyền lúa Việt Nam có nhiều đặc thù và vào
loại phong phú bậc nhất của thế giới (Lưu Ngọc Trình, Đào Thế Tuấn, 1996).
Tập đoàn lúa Việt Nam bao gồm cả lúa tiên (Indica) và lúa cánh (Japonica) Các
nghiên cứu cho thấy hầu hết các giống lúa trồng ở ôn đới và cận nhiệt đới đều thuộc loạihình Japonica Hai loại hình này có sự khác biệt về mặt di truyền, các giống lai củachúng có sự bất thụ cao và phân ly ở nhiều thế hệ sau
28
Khung 2 – TàI nguyên cây ăn quả Việt Nam
Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả về nguồn tài nguyên cây ăn quả ở Việt Nam
cho thấy hiện có hơn 130 loài nằm trong 39 họ thực vật, với hàng trăm giống cây ăn quả khác
nhau được xếp vào 3 nhóm chính:
Nhóm cây ăn quả nhịêt đới như: dứa, xoài, mít, đu đủ, ổi, na, sầu riêng, măng cụt, vú sữa,
dừa, đào lộn hột (điều), me, chôm chôm, khế, lòn bon, bưởi
Nhóm cây ăn quả á nhiệt đới như: vải, nhãn, hồng, nhót Nhật Bản, bơ, cam, quýt, hạt dẻ
Phần lớn cây ăn quả thuộc nhóm này phân bố trong vùng lãnh thổ từ 18o – 23o,22 vĩ độ bắc, nơi
có mùa đông lạnh hàng năm, hoặc ở các vĩ độ thấp, thì độ cao so với mặt biển từ 1000 mét trở
lên.
Nhóm cây ăn quả ôn đới thường tập trung ở các vùng thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc (500
mét trở lên) như đào, mận, mơ, táo tây, lê, nho, dâu tây.
Trong số các cây ăn quả ở Việt nam, những cây ăn quả có nguồn gốc bản địa chiếm một tỉ lệ
khá lớn Ví dụ như: chuối, mít, các loài thuộc chi Cam, Chanh (Citrus), trám, khế, táo gai, xoài,
cóc, dâu da xoan, thị
Một số loài như chuối, mít, bưởi rất đa dạng, có khá nhiều giống, tài nguyên di truyền phong
phú và vùng phân bố khá rộng, nông dân vùng nào cũng trồng.
Những cây ăn quả nhập nội vào Việt nam đã lâu như: dừa, na, đu đủ, hồng xiêm, ổi, bơ, đào
lộn hột, một số giống cam quít, xoài, vải, nhãn, đã thích nghi với khí hậu và đất đai Việt Nam và
hầu như đã trở thành giống bản địa, đang là những cây ăn quả có ý nghĩa về nhiều mặt trong đời
sống về mặt dinh dưỡng, môi trường và kinh tế của cư dân tại chỗ Do nạn phá rừng và du canh
du cư, nhiều giống gen quý về cây ăn quả bị mai một dần và đang có nguy cơ bị tiêu diệt Không
nhanh chóng thu thập và lưu giữ nguồn tài nguyên này là một thiệt hại lớn cho đất nước.
Một tình hình mới là trong mấy năm gần đây do sự chi phối của cơ chế thị trường, nhiều nơi
đã chặt bỏ những cây ăn quả trong vườn nhà có giá trị kinh tế thấp như: dừa, mít, hồng xiêm,
cam, vải chua, trứng gà để trồng các cây bán được giá cao và cho thu nhập nhiều hơn như
nhãn, hạt tiêu, vải thiều, quýt nhất là phong trào cải tạo vườn tạp đang rầm rộ ở nhiều nơi, chủ
vườn đã chặt bỏ những cây ăn quả bản địa có nguồn gen quý hiếm, nhưng ít mang lại thu nhập
cao cho họ, thay bằng những cây ăn quả đang bán có giá trị trong nước và xuất khẩu.
Trước tình hình đó, Viện Nghiên cứu Rau - Quả đã và đang thu thập quỹ gen cây ăn quả và
Trang 29Nghiên cứu đa dạng di truyền quĩ gen lúa dựa trên chỉ thị phân tử của một
Nghiên cứu đa dạng di truyền quỹ gen lúa dựa trên chỉ thị phân tử của một số tác giả
cũng cho thấy, Việt Nam có 3 nhóm lúa là lúa Indica, chiếm 89,0%, lúa Japonica, chiếm
9,5% và 1,5% thuộc nhóm chưa xác định được Một điều đặc biệt của tài nguyên di
truyền lúa ở VN là có một phần lúa thơm là lúa Japonica (Lưu Ngọc Trình, 1999) Đây
sẽ là nguồn vật liệu quý để tạo giống lúa thơm cho các nước đang phát triển ở vùng ônđới, nơi hiện không có các giống lúa thơm
Theo GS Đào Thế Tuấn (1985), đa dạng sinh học cây lúa trồng VN gồm 3 nhómgiống lúa cổ truyền có các đặc tính di truyền khác nhau, đó là:
Nhóm giống lúa Việt – Thái ở vùng núi phía Bắc với thành phần chính là lúa nương,Nhóm giống lúa này có sự đa dạng vào loại cao nhất thế giới, nhưng chưa đượcnghiên cứu khai thác sử dụng nhiều ở nước ta
Nhóm lúa của Trung tâm Tài nguyên di truyền lúa VN là nhóm lúa Việt mang đặctính thâm canh ở vùng đồng bằng sông Hồng với những nguồn gen đặc trưng sau:-Lúa Chiêm với những nguồn gen quý nổi tiếng thế giới như gen kháng đạo ôn,gen chịu đất chua, phèn, chịu đất nghèo lân, gen chịu rét thời kỳ mạ và thời kỳ lúatrỗ Đại diện cho nhóm này là bộ giống lúa Chiêm Tẻ tép có nguồn gen kháng đạo
ôn giá trị độc nhất vô nhị, đã được Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế và nhiều nướckhác sử dụng từ đầu thập kỷ 60 để lai tạo nhiều giống lúa cao sản đang phổ biếnrộng trong sản xuất
-Bộ lúa Tám thơm với nhiều giống tại các vùng sinh thái khác nhau Lúa Támthơm VN cùng với lúa Basmati ở Ấn Độ, Pakistan và lúa Khaodak Mali của TháiLan là 3 nhóm giống lúa thơm chính trên thế giới