1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm dạy học phần văn học địa phương qua bài thơ dô ta dô ta ( ngữ văn 9)

22 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, sách giáo khoa THCS đã cơcấu biên soạn nội dung cung cấp kiến thức cho học sinh hiểu biết khá rộng từ cổchí kim, từ Đông sang Tây, học sinh học văn học thế giới từ Trung Quốc,

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT NGỌC LẶC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM DẠY – HỌC CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN

ĐỊA PHƯƠNG QUA BÀI THƠ “DÔ TẢ DÔ TÀ”

Trang 3

1 MỞ ĐẦU.

1.1 Lí do chọn đề tài:

Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS) do Bộ Giáo dục và Đàotạo ban hành từ năm học 2002 – 2003 có dành một thời lượng chính khoá choChương trình địa phương ở ba môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí Riêng môn Ngữvăn có một thời lượng khá lớn, mỗi năm dạy từ 5 đến 6 tiết / khối lớp, từ lớp 6đến lớp 9

Đưa Chương trình địa phương vào dạy – học cấp THCS xuất phát từnhững yêu cầu nhằm bổ sung, trang bị cho học sinh có vốn kiến thức tương đốitoàn diện về góc độ xã hội và nhân văn Trước đây, sách giáo khoa THCS đã cơcấu biên soạn nội dung cung cấp kiến thức cho học sinh hiểu biết khá rộng từ cổchí kim, từ Đông sang Tây, học sinh học văn học thế giới từ Trung Quốc, Ấn

Độ, Pháp… nhưng những nét đặc điểm cơ bản về văn học trên chính quê hươngmình thì không có điều kiện để biết đến, vì cơ cấu chương trình không dành thờilượng cho vấn đề địa phương Chính vì vậy, từ năm 2002, tiến hành thay sáchgiáo khoa THCS, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa Chương trình địa phương vàodạy và học trong chương trình chính khoá, nhằm giúp cho học sinh khi vào đời

có được những kiến thức khái quát cơ bản nhất định về ngữ văn ở trên chính quêhương mình với mục đích gắn kết những kiến thức học sinh được học trong nhàtrường với những vấn đề đang đặt ra ở mỗi địa phương, khai thác, bổ sung vàphát huy vốn hiểu biết về văn học địa phương, làm phong phú và làm sáng tỏthêm chương trình chính khóa Từ đó giúp học sinh, có ý thức tìm hiểu, gópphần giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa của quê hương Nhằm giáo dục lòng

tự hào, tình yêu quê hương, xứ sở của mình

Với mục tiêu dạy học đó, chương trình Ngữ văn địa phương đã sắp xếp

một số tiết nhất định Cụ thể: lớp 6: 4 tiết (tiết 69, 70 ở HKI, tiết 139, 140 ở HKII); lớp 7: 6 tiết (tiết 70 ở HKI, tiết 74, 133, 134, 137, 138 ở HKII); lớp 8: 5 tiết (tiết 31, 52 ở HKI, tiết 92, 121, 137 ở HKII); lớp 9: 5 tiết (tiết 42, 63 ở HKI,

tiết 101, 133, 143 ở HKII) (theo phân phối chương trình của SGD&ĐT ThanhHóa)

2.2 Mục đích nghiên cứu:

Có thể nói, chương trình địa phương dành cho phần Tiếng Việt và Tậplàm văn không gặp nhiều trở ngại trong quá trình tổ chức dạy và học, bởi vấn đềđược đặt ra ở đây được gắn kết khá chặt chẽ với nội dung kiến thức trongchương trình chính khóa Thế nhưng, khi dạy học chương trình Văn học địaphương giáo viên gặp rất nhiều khó khăn như thiếu tư liệu hỗ trợ, sách giáokhoa có phần hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị ở nhà và hoạt động trên lớp, sáchgiáo viên chỉ nêu định hướng các bước thực hiện Chừng ấy là chưa đủ để ngườigiáo viên có thể làm chủ kiến thức và giải quyết tốt các tình huống sư phạm nếutrong tay không có được tài liệu cung cấp một cách đầy đủ và có hệ thống nhữngthông tin về về văn học địa phương Sau hơn mười năm thay sách cho đến nay,mảng văn học địa phương vẫn cứ là mảng trống cần được lấp đầy Phần lớn họcsinh đều lúng túng về khả năng giải quyết tình huống thực tế, không biết đến

Trang 4

những giá trị đặc sắc của văn học địa phương (VHĐP), nhất là ở phần VHĐPhiện đại

Xuất phát từ mục đích của việc dạy học chương trình này và những khókhăn gặp phải từ thực tế dạy học tại trường THCS Lê Đình Chinh – huyện Ngọc

Lặc, tôi chọn đề tài: Kinh nghiệm dạy – học chương trình Ngữ văn địa

phương qua bài thơ “Dô tả dô tà”- Tiết 42, Ngữ văn 9 Qua đó, tôi nhằm trao

đổi và học hỏi kinh nghiệm với đồng nghiệp về việc dạy – học phần Văn học địaphương nói riêng và phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Trong khuôn khổ đề tài này tôi tập trung nghiên cứu về vấn đề làm thế nào

để HS có phương pháp và có hứng thú khi học chương trình địa phương môn

Ngữ văn, đặc biệt là văn bản “Dô tả dô tà” (CTĐP Ngữ văn 9)

- Đối tượng thực nghiệm: HS lớp 9 trường THCS Lê Đình Chinh, huyệnNgọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành đề tài này, tôi dã vận dụng các phương pháp nghiên cứusau:

- Nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết

- Phương pháp nêu vấn đề: GV đặt ra cho HS một số yêu cầu, đưa HS vào tìnhhuống có vấn đề, sau đó gợi ý hướng dẫn HS giải quyết

- Phương pháp trực quan: Thông qua tranh ảnh, qua đó rèn kĩ năng quan sát,phân tích, xử lí thông tin từ kênh hình

- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:

SKKN này được nghiên cứu trên cơ sở đề tài tôi đã nghiên cứu từ nămhọc 2014 – 2015 Tuy nhiên có một số điểm mới sau:

+ Trong SKKN có sử dụng thêm một số tranh ảnh về tác giả và những đặctrưng của Lịch sử, văn hóa xứ Thanh

+ Địa chỉ hướng dẫn HS tìm tài liệu học tập rõ hơn

+ Kết quả khảo sát có tăng hơn số lượng HS quan tâm đến chương trình Ngữvăn địa phương sau khi ứng dụng SKKN từ năm học trước

Trang 5

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiên kinh nghiệm:

Nghị quyết số 40/2008/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hộikhóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của

việc đổi mới: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình

độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” và

“Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong Luật Giáo dục; khắc phục những mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh, đảm bảo sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục; tăng cường tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo nguồn cân đối về

cơ cấu nguồn lực; đảm bảo sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kĩ năng, có phương án vận dụng chương trình, sách giáo khoa phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của các địa bàn khác nhau Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lí giáo dục”.

Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoagiáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạyhọc dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức

và hướng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạogóp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, bồi dưỡng hứngthú học tập, tạo niền tin và niềm vui trong học tập Tiếp tục vận dụng những ưuthế của phương pháp truyền thống và dần dần làm quen với phương pháp dạyhọc mới

Đất nước ta đang trên đà đổi mới, ngành giáo dục đang có những bướcchuyển mình theo nhịp bước của thời đại Do đó, việc đổi mới nội dung, chươngtrình dạy học là vấn đề cần thiết và quan trọng trong tình hình hiện nay Mộttrong những điểm mới của chương trình Ngữ văn cấp THCS là chương trình đãdành một số tiết cho văn học địa phương với mục đích gắn kết những kiến thứchọc sinh được học trong nhà trường với những vấn đề đang đặt ra cho cộng đồng(dân tộc và nhân loại) cũng như cho mỗi địa phương; khai thác, bổ sung và pháthuy vốn hiểu biết về văn học địa phương Từ đó giúp học sinh hiểu biết và hòanhập hơn với môi trường mà mình đang sống, có ý thức tìm hiểu, góp phần giữgìn và bảo vệ các giá trị văn hóa của quê hương Đồng thời giáo dục lòng tự hào

về quê hương, xứ sở của mình

Trang 6

Việc dạy – học chương trình Ngữ văn địa phương ở các trường THCStrong tỉnh Thanh Hóa là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm góp phần to lớn vàoviệc giáo dục truyền thống quê hương, đặc biệt là giáo dục lòng yêu nước tronggiai đoạn hiện nay cho thế hệ trẻ Bởi theo I-li-a Ê-ren-bua – Nhà văn, nhà báolỗi lạc của Liên Xô (cũ) thì “Lòng yêu nhà, lòng yêu làng xóm, yêu miền quê trởnên lòng yêu Tổ quốc” Tuy chiếm một thời lượng không lớn, song văn học địaphương Thanh Hóa lại có một vị trí hết sức quan trọng trong chương trình Ngữvăn của cấp học Việc dạy học chương trình này thật sự đang được các giáo viênTHCS và các em học sinh thật sự quan tâm Vì vậy, làm thế nào để dạy họcchương trình địa phương hiệu quả hơn đó là vấn đề tôi đặt ra trong phạm vi đề

tài này Cụ thể là qua việc dạy học văn bản Dô tả dô tà của nhà thơ Mạnh Lê

trong chương trình VHĐP lớp 9

2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1 Về phía học sinh:

* Thực tế trong các năm học từ lớp 6 đến đầu lớp 9 các em cũng đã được

học chương trình Ngữ văn địa phương Có thể nói, chương trình địa phươngdành cho phần Tiếng Việt và Tập làm văn không gặp nhiều trở ngại trong quátrình tổ chức dạy và học bởi vấn đề được đặt ra ở đây được gắn kết khá chặt chẽvới nội dung kiến thức trong chương trình chính khóa Chẳng hạn đối với TiếngViệt là sửa lỗi chính tả mang tính địa phương (lớp 6,7), bước đầu so sánh các từngữ địa phương (phương ngữ) với các từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ toàndân (lớp 8,9); đối với Tập làm văn là kể lại một câu truyện dân gian hay giớithiệu một trò chơi dân gian địa phương, viết được văn bản nhật dụng về một sựviệc hiện tượng ở địa phương hoặc viết một văn bản thuyết minh về một di tích,thắng cảnh ở địa phương Thế nhưng, chương trình VHĐP gặp rất nhiều khókhăn khi thiếu tư liệu hỗ trợ và chưa hội đủ các điều kiện để tổ chức các hoạtđộng ngoại khoá văn học Nên việc học các văn bản VHĐP đối với các em còngặp khá nhiều khó khăn do chưa nắm được phương pháp cụ thể, chưa có điềukiện tìm hiểu nhiều về mảng văn học này ngoài những thông tin trong sách Tàiliệu dạy học chương trình địa phương của Sở giáo dục tỉnh Thanh Hóa Xuấtphát từ thực tế đó, tôi đã thử khảo sát HS về mức độ ham học và nắm nội dungchương trình địa phương của HS ở lớp 9A1 và 9A2 trường THCS Lê ĐìnhChinh (huyện Ngọc Lặc) trong năm học 2017 - 2018 Kết quả như sau:

Lớp sốSĩ

Kết quả khảo sát ý kiến

Ghichú

Chỉ đọc sách tài liệu địa phương và soạn

bài

Có đọc sách, trao đổi ý kiến để tìm hiểu về chương trình

để soạn bài

Không quan tâm đến việc học chương trình này

Qua bảng khảo sát tôi nhận thấy:

+ Số HS quan tâm đến việc học VHĐP đã tăng so với 2 năm học trước

Trang 7

+ Số lượng HS chủ động tìm kiến thức địa phương để học có tăng hơn nămtrước đó nhưng vẫn chưa nhiều

Như vậy là học sinh vẫn chưa thật quan tâm, chưa thật có hứng thú vớimảng kiến thức này, mặc dù nhiều tác phẩm VHĐP có giá trị đặc sắc cả về nộidung và nghệ thuật Điều đó cũng khiến cho việc tiếp thu kiến thức của các em

sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tập

* Nguyên nhân của thực trạng trên có thể tập trung vào những vấn đề sau:

- Chương trình địa phương là khó khi các em mới bước đầu làm quen, tập đọc –hiểu tác phẩm văn học

- Thông tin về các tác giả Văn học Thanh Hóa còn ít và khá mới mẻ đối với cácem

- Do ý thức học tập của các em chưa cao, thầy cô đã hướng dẫn soạn bài nhưngcác em chưa làm theo

- Không nắm được phương pháp học các văn bản này

- Và một nguyên nhân quan trọng là có thể GV chưa hướng dẫn cụ thể để HSbiết cách tiếp cận một văn bản văn học địa phương

Có nhiều GV cũng nhận thấy được những nguyên nhân, hạn chế của HStrong việc học chương trình này Nhiều GV đã trăn trở tìm biện pháp khắc phụccho tất cả các nguyên nhân trên Song có thể chỉ giáo viên mới nhìn nhận lạinguyên nhân thuộc về phía mình đó là chưa tìm được phương pháp tối ưu để cógiải pháp thích hợp

2.2.2 Về phía giáo viên:

* Lâu nay trong quá trình dạy học, giáo viên thường chỉ chú trọng đến

phần soạn giảng những văn bản văn học trong chương trình sách Ngữ văn của

Bộ giáo dục và Đào tạo, sưu tầm tài liệu, thiết kế bài giảng của mình sao chothật tốt, lên lớp đạt mục tiêu bài dạy…Tuy nhiên, việc dạy học VHĐP - một hoạtđộng quan trọng trong quá trình dạy học thì rất ít được coi trọng đúng mức Quatrao đổi ý kiến, tìm hiểu về thực tế dạy học VHĐP với một số đồng nghiệp ởmột vài trường bạn, chúng tôi nhận thấy thực tế:

- Giáo viên cũng chưa thật sự coi trọng chương trình VHĐP Nhiều khi dạyhọc phần VHĐP này vẫn còn mang tính chiếu lệ, qua loa

- Tài liệu hướng dẫn soạn giảng nhiều bài còn sơ sài, đây cũng là trở ngạicho quá trình dạy – học

- Một số GV chưa chịu khó tìm tòi tài liệu và phương pháp dạy – học phùhợp để định hướng cho bản thân cũng như cho HS khi tiếp cận văn bản VHĐP

- Một số GV hướng dẫn nhiệt tình nhưng HS chưa chịu khó học tập nêncũng là một trở ngại lớn

*.Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên là do:

- Công việc tìm tòi, nghiên cứu tài liệu là tốn thời gian.

- Chưa xác định đúng mục tiêu của việc dạy học chương trình này.

- Nội dung VHĐP thường ít có trong các kì thi nên nhiều GV còn chủ quan,

lơ là

- Kiến thức về phần VHĐP của giáo viên còn thiếu

Trang 8

Từ thực tiễn trên, chúng tôi nhận thấy việc học VHĐP của học sinh hiện naycòn một số hạn chế cơ bản cần phải khắc phục, thiếu tính sáng tạo, còn ỉ lại.Công tác nghiên cứu, soạn giảng của GV viên lại chưa được coi trọng đúngmức.

Trong quá trình dạy học, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi học hỏi và tích lũykinh nghiệm, đã phần nào tìm được những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng

trên Qua việc dạy học bài thơ Dô tả dô tà của nhà thơ Mạnh Lê trong chương

trình VHĐP ở lớp 9, tôi mạnh dạn đề xuất những giải pháp cụ thể trong khi thựchiện mục tiêu bài học

2.3 Các giải pháp đã sử dụng khi giải quyết vấn đề:

Trước khi đi vào các giải pháp cụ thể, ta cùng đọc qua bài thơ trongchương trình VHĐP Ngữ văn lớp 9, tiết 42:

DÔ TẢ DÔ TÀ

Dô tả dô tà sông Mã quê taNgày nắng ngày mưa xanh bờ rau máMúa thì đội đèn, hát như trống vỗ

“Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng”

Chiều nhai rau má, tối học chữ NômHiểu tận tâm căn tiếng đá, tiếng đồngRạng đời vua Lê, tối đời chúa TrịnhTrạng Quỳnh ngạo nghễ đi vào nhân gian…

Một chiếc cầu sắt gánh ngàn tấn bom

Dô tả dô tà cầu ta vẫn vữngMặt trời đỏ au như mặt trống đồngDòng nước uốn quanh hai bờ đá dựng

Dô tả dô tà ai đẩy dùm tôiThuyền tôi đang xuôi đừng ai đẩy ngượcYêu thích nói đùa, ghét ưa nói thật

Răng, rứa, mô, tê cũng vào dân ca

Yêu nhau cửa biển, cưới nhau trên ngàn

Lá rách lá lành thuyền sao lái vậy

Dô tả dô tà một đoạn đường sông Sóng gió ngả nghiêng như triều như thác

Một cuộc đời sông bao đời thuyền nátMãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng…

Sông Mã, thu 1995

(Mạnh Lê, trong Một cuộc đời sông, NXB Văn học, 1997)

Trang 9

Để hiểu sâu sắc và dạy đọc hiểu được VB này, tôi đã thực hiện giảipháp sau: Hướng dẫn học sinh soạn bài, trước hết là tìm hiểu những thông tin vềnhững nội dung sau trên địa chỉ https://www.google.com.vn để phục vụ việc đọc– hiểu văn bản Cụ thể:o

1 Tìm hiểu đôi nét về tác giả Mạnh Lê

Nhà thơ Mạnh Lê (1953 - 2008) tên thật

là Lê Văn Mạnh Quê quán: thôn TràĐông, xã Thiệu Trung, huyện ThiệuHóa, tỉnh Thanh Hóa, là Đảng viênĐảng cộng sản Việt Nam, Tốt nghiệpkhoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạmVinh, sau đó học thạc sĩ và giảng dạy tạiTrạm Đại học Sư phạm Thanh Hóa Đếnnăm 1987 ông chuyển về công tác tại

Hội VHNT tỉnh

Thanh Hóa, rồi giữ chức vụ Phó Chủtịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnhThanh Hoá kiêm Phó Tổng biên tập Tạp Chân dung nhà thơ Mạnh Lê chí Văn nghệ Xứ Thanh, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hoá,hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam

Các tác phẩm chính của Mạnh Lê:

- Thần Độc Cước (truyện thơ)

- Một cuộc đời sông (tập thơ)

- Người đánh thức đất đai (trường ca)

- Lửa Hàm Rồng (trường ca)

- Đất nước thuở vua Hùng (trường ca)…

2 Tìm hiểu về nhan đề bài thơ Dô tả dô tà

Bài thơ với nhịp điệu hò và bản sắc văn hóa, con người xứ Thanh bởivậy, để hiểu nhan đề này phải tham khảo điệu hò sông Mã Từ đó ta hiểu tác giả

đặt tên bài thơ là tên một điệu Hò sông Mã Hò sông Mã được hát theo lối xướng - xô, câu kể của một người bắt cái (thường là người cầm lái) được luân

phiên với câu đồng thanh phụ họa của các trai đò Các điệu hò được thể hiệntheo suốt chặng đường đò đi Khi con thuyền bơi ngược dòng nước, người ta thể

hiện điệu Hò đò ngược, sau mỗi câu kể của người bắt cái như hiệu lệnh để cùng thống nhất động tác lấy đà, các trai đò vừa hùa nhau hát câu xô vừa chống sào

đẩy thuyền tiến về phía trước Chưa hết, con thuyền đôi khi còn phải đối đầu với

thác gềnh nữa, cả câu xướng lẫn xô trong Hò vượt thác đều ngắn gọn, chắc nịch.

Khi thuyền thong dong trôi theo dòng nước êm ả, người giữ tay lái cất giọng hò

các làn điệu Hò xuôi dòng, bốn trai đò chia ra hai bên mạn thuyền thong thả chèo vừa hòa giọng xô vừa nhịp nhàng giậm chân lên mặt ván Đặt tên bài thơ

Dô tả dô tà như vậy thể hiện niềm tự hào về một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo

Trang 10

của người dân xứ Thanh Từ đó ta cảm và hiểu dễ hơn, sâu sắc hơn nội dung bàithơ

3 Tìm và đọc tài liệu tham khảo, tìm hiểu thông tin về lịch sử, văn hóa, lối sống của con người Thanh Hóa

Ai đó đã từng nói: Dòng sông chảy tới đâu, văn hóa hình thành theo tới đó.

Có lẽ đó là lí do khiến hầu hết nền văn minh rực rỡ nhất của nhân loại đều gắnliền với những dòng sông Không lộng lẫy như sông Hằng, không tráng lệ nhưsông Nin, không nguy nga như sông Hoàng Hà…Trầm hùng và lặng lẽ chảy quabao ghềnh thác, dòng sông Mã cũng đã bồi đắp bao lớp phù sa màu mỡ Nhìnvào điều kiện tự nhiên thì sông nước xứ Thanh đã tạo nên những điệu hò laođộng, hò giao duyên rất đặc sắc Ta sẽ dễ cảm nhận về những hình ảnh:

“ …Dô tả dô tà một đoạn dường sôngSóng gió ngả nghiêng như triều như thácMột cuộc đời sông bao đời thuyền nátMãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng”

4 Sưu tầm tranh ảnh, câu chuyện, bài thơ về các di tích, các nhân vật văn hóa, lịch sử Thanh Hóa, những làn điệu dân ca Thanh Hóa…

Sưu tầm tranh ảnh, những câu chuyện, về các di tích, các nhân vậtvăn hóa, lịch sử Thanh Hóa, những làn điệu dân ca Thanh Hóa sau đó gửi quaGmail cho cô, cô sắp xếp lại để trình chiếu trong tiết dạy:

Hò sông Mã - Di sản văn hóa tinh thần đặc sắc của người dân xứ Thanh

Trang 11

Tổ khúc Múa đèn Đông Anh do những người nông dân chân lấm tay bùn sáng tạo nên nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất qua các thời vụ, nói lên ước mơ mưa

thuận gió hòa, mùa màng bội thu và tình yêu đôi lứa.

Cây rau má

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w