Trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, tác giả Đỗ Thị Phương Thảo trong bài viết “Vài suy nghĩ về một phương diện nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng” cũng đã phân tích, nhìn nhận nhữ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài. 2
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Bố cục khóa luận 8
CHƯƠNG I MA VĂN KHÁNG VÀ TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN 8
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Ma Văn Kháng 8
1.3 Mùa lá rụng trong vườn – cách nhìn mới về vấn đề gia đình 16
CHƯƠNG II. NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN 19
2.1 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn 19
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Mùa lá rụng trong vườn 23
Trang 3CHƯƠNG III NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN 33
3.1 Các sắc thái giọng điệu trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn 33
3.2 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn 44
KẾT LUẬN 56
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là một trong những cây bút xuất sắc, có nhiều đóng góp lớn lao cho công cuộc đổi mới tư duy nghệ thuật Với ngòi bút hiện thực đặc sắc, năng lực quan sát và phong cách “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, Ma Văn Kháng đã mang đến cho người đọc những trang văn mang hơi thở của cuộc sống đất nước và con người đương đại
Văn nghiệp của ông tập trung vào hai mảng đề tài lớn: đề tài về dân tộc miền núi và đề tài thành thị Qua từng trang tiểu thuyết, truyện ngắn, Ma Văn Kháng không ngừng tìm tòi những cách thể hiện mới và ở lĩnh vực nào ông cũng để lại dấu ấn đậm nét
Nếu như những năm bảy mươi của thế kỷ XX, bạn đọc biết đến Ma Văn Kháng với tư cách là một nhà văn miền núi thì vào những năm tám mươi,
Ma Văn Kháng khiến người đọc ngỡ ngàng khi ông cho ra đời hàng loạt các
Trang 4tiểu thuyết về đời sống thành thị Trở về với thành phố, Ma Văn Kháng đã tìm thấy cho mình một hướng đi mới trong sáng tạo nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới của nền văn học nước nhà Từ giai đoạn này trở
đi, ông không ngừng tìm kiếm cho mình một tiếng nói riêng, một phong cách nghệ thuật độc đáo
Trong số lượng đồ sộ các tác phẩm của ông, Mùa lá rụng trong vườn là
một tiểu thuyết thành công nhất Tác phẩm được xem là mốc đánh dấu sự
chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng Mùa lá rụng trong vườn chứa
đựng những suy ngẫm, quan điểm, tư tưởng, kết tinh từ kinh nghiệm sống và hành trình sáng tạo miệt mài của tác giả Tác phẩm là một khuynh hướng tiếp cận đời sống bằng con đường nghệ thuật, là tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay
Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về Ma
Văn Kháng cùng sự nghiệp sáng tác của ông, đặc biệt là tác phẩm Mùa lá
rụng trong vườn Nhưng hầu hết là những nhận định, đánh giá còn chung
chung, hoặc đi sâu nghiên cứu một vài khía cạnh nào đó của tác phẩm…Cho tới nay chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống những nét nghệ thuật đặc sắc góp nên thành công của tác phẩm Chính
vì thế chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết
Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” làm đề tài nghiên cứu Qua
công trình này chúng tôi muốn nhìn nhận lại những đóng góp của Ma Văn Kháng, đồng thời khẳng định vị trí của ông đối với nền văn học nước nhà
Đặc biệt, Ma Văn Kháng là một trong số nhà văn có tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông Chính vì thế, việc nghiên cứu
những nét đặc sắc trong tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn càng có ý nghĩa
thiết thực đối với việc học tập và giảng dạy sau này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trang 5Trong lời giới thiệu đầu cuốn sách “Ma Văn Kháng – tiểu thuyết tập
1”, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng Ma Văn Kháng là một cây bút điêu
luyện, từng trải…Tác giả cũng khẳng định những đóng góp không nhỏ của
Ma Văn Kháng trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Các nhà nghiên cứu trong cuốn “Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập 2” cũng đã nhận định: các tác phẩm của Ma Văn Kháng cho thấy tinh thần phân tích hiện thực tập trung xung quanh các vấn đề vai trò của gia đình cũng như bản lĩnh cá nhân trong xã hội hôm nay Các tác giả cho rằng: “Ma Văn Kháng đặt con người trong các quan hệ đời thường và nhân vật bắt đầu có hình thức tồn tại phổ biến của các kiểu nhân vật tiểu thuyết”[13, tr.203]
Trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, tác giả Đỗ Thị Phương
Thảo trong bài viết “Vài suy nghĩ về một phương diện nghệ thuật truyện ngắn
Ma Văn Kháng” cũng đã phân tích, nhìn nhận những thành công và đóng góp
to lớn của Ma Văn Kháng trên lĩnh vực truyện ngắn như: giọng điệu, ngôn ngữ…
Trong bài viết “Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”, tác giả Lã Nguyên đã đề cập đến những bình diện cũng như một số đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng như: tính công khai bộc lộ chủ đề; việc tô đậm tính cách nhân vật; và việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật…Đồng thời tác giả cũng khẳng định cái nhìn đa chiều, giàu tính phân tích, suy niệm của Ma Văn Kháng trước những vấn đề của cuộc sống
Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Hải Yến trong luận văn thạc sỹ “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới” đã đi vào khai thác những thành công về mặt nghệ thuật viết truyện ngắn của Ma Văn Kháng như: điểm nhìn, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật…qua đó khẳng định tài năng và những đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng
Trang 6Ngay từ khi vừa mới ra đời, Mùa lá rụng trong vườn đã gây được một
tiếng vang lớn trong dư luận, thu hút đông đảo các công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu
Trên Báo Người Hà Nội số 71, ngày 01/03/1988, tác giả Hà Ân trong bài viết “Đọc Mùa lá rụng trong vườn” đã khẳng định sức hấp dẫn của tiểu
thuyết với vấn đề trung tâm của tác phẩm: vấn đề gia đình – vấn đề có tính chiến lược và bức thiết mà toàn xã hội quan tâm Tác giả bài viết cũng khẳng
định Mùa lá rụng trong vườn là một tác phẩm thành công
Trên Tạp chí Văn học, tháng 03/1986, tác giả Vân Thanh trong “Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay” nhận định: Mùa lá rụng trong vườn là
một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay, một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống
Mùa lá rụng trong vườn là một cuốn tiểu thuyết đáng kể vào hạng mẫu
mực, và mẫu mực này hàm chứa một tính cách sư phạm…đó là một nhận định
khá sâu sắc của tác giả Bùi Đình Thi trong “Bút ký về Mùa lá rụng trong
vườn”
Trên trang Báo Văn nghệ số 25, ngày 21/06/1986 trong bài viết “Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn”, tác giả Nguyễn Văn Lưu cũng đã khẳng định: Mùa lá rụng trong vườn là một thành công, một đóng góp đáng ghi
nhận
Tác giả Trần Đăng Suyền trong bài “Phải chăm lo cho từng người”
cũng cho rằng: Mùa lá rụng trong vườn là một khuynh hướng tiếp cận đời
sống con đường riêng của nghệ thuật Và tác phẩm bộc lộ ý thức, trách nhiệm của nhà văn trước cuộc sống hôm nay
Một nhận định khá sắc sảo của Hồ Anh Thái khi nhà văn này cho rằng:
“Sau 14 năm, đến bây giờ tôi vẫn giữ ý kiến rằng, Mùa lá rụng trong vườn là
Trang 7cuốn tiểu thuyết hay nhất của Ma Văn Kháng, mặc dầu anh còn tiếp tục gây
sóng gió trên ồn ào trên văn đàn vào đầu những năm 1990 với cuốn Đám cưới
không có giấy giá thú (Hồ Anh Thái)
Qủa thực, Mùa lá rụng trong vườn đã gây được một tiếng vang lớn
trong dư luận Đáng chú ý nhất là cuộc hội thảo “Thảo luận về tiểu thuyết
Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” do phóng viên đăng trên Báo
Hà Nội mới số 14, ngày 15/11/1985 Ở cuộc hội thảo này có mặt đông đủ các
nhà nghiên cứu, phê bình như: Vương Trí Nhàn, Trần Đăng Suyền, Lại Nguyên Ân, Vũ Quần Phương…Tại cuộc hội thảo này, các nhà phê bình đã khẳng định sự thành công của tác phẩm về đề tài, nghệ thuật xây dựng nhân vật…Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng: nền văn học hiện đại Việt Nam sẽ có
những bước tiến mới nếu có những tiểu thuyết như Mùa lá rụng trong vườn
Bên cạnh những bài viết kể trên còn có những bài viết khác bàn về tác
phẩm Mùa lá rụng trong vườn như: “Một đóng góp mới của Ma Văn Kháng” của tác giả Trần Cương, in trên Báo Nhân dân, ngày 06/10/1985; “Tết của thời chưa xa” của tác giả Hoài Trân trên Báo Văn nghệ, ngày 08/3/1988; tác giả Trần Bảo Hưng với bài viết “Mùa lá rụng trong vườn với những vấn đề
của cuộc sống hôm nay”, số 14/1986
Những năm gần đây, tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn cũng nhận
được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả và thu hút nhiều công trình nghiên cứu
Tác giả Dương Thị Hồng Liên trong luận văn thạc sỹ “Nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới” đã nghiên cứu những thành công, những bước tiến cũng như những đóng góp của Ma Văn Kháng trong công cuộc đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Nghiên cứu về những tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng thời kỳ đổi mới nói chung và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Trang 8nói riêng, tác giả đã khẳng định những nét nghệ thuật đặc sắc: cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật…
Nghiên cứu về vấn đề trung tâm của tác phẩm: vấn đề gia đình, tác giả Thiều Thị Thắm trong cuốn luận văn “Sự phân hóa các giá trị gia đình trong
tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn” đã đi sâu khai thác về cảm hứng, đề tài
của cuốn tiểu thuyết
Từ việc điểm qua các tài liệu, các công trình nghiên cứu về Ma Văn
Kháng và các tác phẩm của ông nói chung và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn nói riêng cho thấy: số lượng các bài nghiên cứu khá nhiều, nhưng phần
đa các bài viết chỉ mới đề cập một cách chung chung, hoặc chỉ đi sâu vào nghiên cứu một vài khía cạnh của tác phẩm Nhưng đây lại là những nguồn tư liệu vô cùng quý báu giúp ích chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề
tài Với đề tài “Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng”, chúng tôi hy vọng sẽ góp được một tiếng nói nhỏ trong việc
khẳng định những nét phong cách độc đáo cũng như vị trí của Ma Văn Kháng trong nền văn học Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu vấn đề: “Đặc
sắc nghệ thuật tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng”
Chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng ở các phương diện: điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật…từ đó góp tiếng nói khẳng định
sự đổi mới, sáng tạo trong nghệ thuật trần thuật của nhà văn
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, năm 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt khóa luận này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu tác giả
- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm
- Phương pháp phân tích, chứng minh, bình luận, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận của chúng tôi gồm ba chương:
Chương 1 Ma Văn Kháng và tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn
Chương 2 Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá
rụng trong vườn
CHƯƠNG I
MA VĂN KHÁNG VÀ TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng sinh năm 1936, tại Nhà Thương Ái Mỗ, trấn Sơn Lộc – Tông, tỉnh lị Sơn Tây cũ Tên thật của ông là Đinh Trọng Đoàn, quê gốc ở phường Kim Liên – một ngôi làng cổ, nay là phố Kim Hoa, thuộc quận Đống
Đa, Hà Nội Thuở nhỏ, cậu bé Đinh Trọng Đoàn theo học trường làng và nhờ
sự quen biết của cha, cậu được vào học ở trường dòng dành riêng cho trẻ con Pháp ở nhà thờ Tống Tuy nhiên, do tác động của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, việc học hành của ông cũng dở dang
Từ năm 1948, ông được đưa vào học tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam Nhưng những năm tháng tuổi thơ của ông trôi qua không mấy êm đềm Dường như ông là nhân chứng của thời kỳ giông bão của cách mạng, của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc…tất cả làm cho ông trưởng thành, chín chắn hơn về mọi mặt Bên cạnh đó, những mẫu hình đẹp nhất của phẩm giá
Trang 10con người qua những trang tiểu thuyết: Thép đã tôi thế đấy (N.Ôxtrôpxki),
Người mẹ (M.Gorki)…đã làm bừng lên trong ông khát vọng hoàn thiện mình
về mặt lý tưởng Chính vì thế, ngay từ nhỏ ông đã luôn khắt khe với chính mình, với thói vị kỷ, cá nhân trong xã hội thời bấy giờ
Năm 1952, ông đã là giáo sinh của khoa Xã hội, Trường Trung cấp Sư phạm đóng tại khu học xá Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc Tại đây, với điều kiện ăn học khá đầy đủ và dưới sự hướng dẫn, dạy dỗ chu đáo, cậu học sinh Đinh Trọng Đoàn càng tiến sâu hơn về mặt nhận thức Cũng tại đây tình yêu và năng lực văn chương của ông được vun xới
Năm 1961, Ma Văn Kháng được vào học tại Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội Và đây chính là thời cơ để mầm mống văn chương bẩm sinh của ông được mài giũa, bồi đắp Tốt nghiệp ra trường, mang trong mình hành trang là những tri thức, cùng với lý tưởng và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông đã chọn mảnh đất Lào Cai “vùng đất biên cương của tổ quốc, nơi tôi tự nguyện đến để hiến dâng tuổi trẻ, để lập nghiệp”[8, tr.65] Với lý tưởng “phải làm được điều gì đó cho cuộc đời”, Ma Văn Kháng hăm hở đi vào vùng đất mới
lạ Trong những ngày đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này, ông manh nha nhận
ra “tôi có thể làm việc gì đó có ích cho cuộc đời ở mảnh đất này” Và quả đúng như vậy, Lào Cai trở thành quê hương thứ hai của ông, là mảnh đất để cho tên tuổi ông tỏa sáng
Những năm tháng công tác tại mảnh đất này, ông từng là giáo viên, là hiệu trưởng trường cấp 1, làm công tác thuế nông nghiệp…Những năm tháng sống và gắn bó với Lào Cai, vùng đất còn “nguyên hơi ấm của lịch sử” đã giúp cho nhà văn có điều kiện tắm mình trong nền văn hóa đặc sắc với những làn điệu dân ca và kho tàng ngôn ngữ hết sức phong phú Các làn điệu dân ca
và những nét đặc sắc văn hóa trở thành nguồn sữa nuôi dưỡng sự sáng tạo cũng như tình yêu của ông đối với mảnh đất này
Trang 11Trong những ngày làm công tác thuế nông nghiệp, ông làm quen và kết thân với anh Ma Văn Nho, nguyên là Phó Chủ tịch kiêm Phó Bí thư huyện Bảo Thắng Từ khi nhận anh Ma Văn Nho làm anh trai kết nghĩa, Đinh Trọng Đoàn đổi luôn họ của mình thành Ma Văn Kháng Cái tên Ma Văn Kháng là
do ân tình cuộc sống mà có và trở thành bút danh của ông sau này
Với tình yêu, khát vọng và những cống hiến không nhỏ của mình, ngày 27/11/1959, Ma Văn Kháng trở thành Đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam
Có thể nói đây là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông
Tình yêu của ông với vùng đất biên cương này càng nhân lên gấp bội khi mối tình đầu của ông chớm nở với cô nữ sinh xinh tươi, trong sáng, hiền hậu Hoàng Thu Phòng Đây cũng chính là nguồn động lực to lớn và là nguồn cảm hứng cho những sáng tác của Ma Văn Kháng
Tháng 5/1976, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông và gia đình được chuyển công tác về Hà Nội Đến với mảnh đất Hà thành, với thiết tha cống hiến cho đời, ông hăng hái hòa mình vào nhịp sống mới Tại đây, ông từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động, tham gia Tạp chí Văn học nước ngoài…Những ngày mới chuyển công tác về Hà Nội là những ngày cơ cực nhất trong cuộc đời ông Ông đã từng tâm sự trong cuốn
hồi ký của mình: “Cuộc sống những năm này đã hiện ra thật là khủng khiếp
và tôi thật không hiểu vì sao hồi ấy tôi có thể chịu đựng được mà không phát điên, không rơi vào cơn khủng hoảng tâm thần” [8, tr.236] với “Căn buồng có diện tích chừng tám mét vuông Tám mét vuông cho năm con người ăn ở… Chật lắm! chật đến nỗi chỗ ngủ còn không đủ nữa là Tôi, vợ tôi và hai đứa con nằm trên chiếc giường đôi, phải nằm ngang mới đủ, nhưng muốn duỗi
chân phải kê thêm cái ghế…”[8, tr.238] Sau những năm tháng vật lộn với
cuộc sống khó khăn mãi đến năm 2005, nhà văn mới xây được ngôi nhà cho riêng mình tại số 15, đường Nguyễn Chí Thanh, quận Ba Đình, Hà Nội
Trang 12Với những nỗ lực không mệt mỏi và được sự tín nhiệm của đồng nghiệp, tháng 4/1995, Ma Văn Kháng trúng cử vào Ban chấp hành Hội nhà văn nhiệm kỳ 1995 – 2000 Từ đây, Ma Văn Kháng gắn liền đời mình với hoạt động của hội và đời sống văn học nước nhà
“Cùng với việc nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, trông nom bảo ban mấy đứa cháu nội, ngoại, vừa chạy đua với thời gian, vừa thủng thẳng nhớ lại và đủng đỉnh
viết lại, hoàn chỉnh nốt những cái còn dang dở…”[8, tr.564] – đó là những thú
vui của Ma Văn Kháng khi đã bước vào tuổi bảy mươi sau những cố gắng không biết mệt mỏi của mình
Tìm hiểu về đường đời của Ma Văn Kháng, chúng ta hiểu thêm được những giá trị của cuộc sống, của con người: cuộc sống luôn là những hình sin gấp khúc nhưng chúng ta phải luôn biết cố gắng nỗ lực, biết vươn lên và rồi chúng ta sẽ gặt hái được những thành công
Ma Văn Kháng xuất hiện trong nền văn học hiện đại Việt Nam như một hiện tượng đặc sắc Với phong cách sáng tác “sống rồi hãy viết”, Ma Văn Kháng đã trải nghiệm đời mình với những năm tháng nhọc nhằn Là hòn sỏi lăn lóc giữa cuộc đời, Ma Văn Kháng thấu hiểu được những khó khăn, nỗi đau của nhân tình thế thái Mở lòng ra đón lấy những vang vọng của cuộc đời, nhà văn trải rộng lòng mình ra trên từng trang viết Trong khoảng hơn nửa thế
kỷ cầm bút, nhà văn, nhà giáo Ma Văn Kháng đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đồ sộ: mười lăm cuốn tiểu thuyết, hơn hai trăm truyện ngắn và một
cuốn hồi ký ghi dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ
Giống như nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng tập dượt công việc viết
văn của mình bằng viết truyện ngắn Ngày 03/03/1961, truyện ngắn Phố cụt
ra đời, được in trên Tạp chí Văn học Và từ đây, tên tuổi Ma Văn Kháng bắt
đầu được dư luận chú ý Nhà văn tâm sự: “Đó là một kỷ niệm, một sự kiện
đánh dấu công cuộc văn chương mà tôi theo đuổi cả đời”[8, tr.116] Sau Phố
Trang 13cụt là một loạt các truyện ngắn khác cũng được đăng trên Tạp chí Văn học
như: Người coi miếu thờ thổ tỵ, Những ngày đầu, Những người thợ đường dây (Văn nghệ, 26/2/1936), Những người hàng xóm (Văn nghệ, 26/6/1994)…được
đăng tải trong các năm 1964, 1965 Lấy mẫu hình và cảm hứng từ cuộc sống
và con người nơi quê hương thứ hai của mình, Ma Văn Kháng viết những truyện ngắn này với một tình yêu sâu sắc
Những năm tiếp theo, trong cuộc thi Truyện ngắn 1967 – 1968 của Báo
Văn nghệ, truyện ngắn Xa phủ của ông đạt giải nhì và được in trên Báo Văn nghệ vào ngày 30/8/1968 Qủa thực, Xa phủ là một cái mốc son trên con
đường sáng tác văn chương của ông Cảm hứng từ truyện ngắn này đã nuôi dưỡng và trở thành một xung lực mạnh mẽ giúp ông sáng tác hàng loạt các truyện ngắn sau này Năm 1969, Nhà xuất bản Văn học cho in tập truyện ngắn
đầu tay Xa phủ gồm chín truyện ngắn và tiếp những năm sau đó ông cho ra đời các tập khác như: Người con trai họ Hạng (Nhà xuất bản Thanh niên),
Mùa mận hậu (Nhà xuất bản Phụ nữ), Cái móng ngựa (Nhà xuất bản Lao
động)…Khi vừa ra đời những tập truyện ngắn này nhận được rất nhiều lời khen, khích lệ của dư luận cũng như các nhà văn đàn anh Thế nhưng, những năm sau đó, ông nhận ra: “tất cả chỉ là những bài tập chưa hoàn chỉnh, những truyện ngắn chưa thành được viết bằng một cảm quan và trình độ thẩm mỹ rất
ấu trĩ Chúng chỉ là nhũng trang chữ sượng sùng, nặng nề tính tân văn báo chí, chuyên chở những tư tưởng thời sự một cách lộ liễu và thô giản…”[8, tr.192] Nhận thức được sự non nớt của mình, Ma Văn Kháng tiếp tục cố gắng, trau dồi trên từng trang viết và đây là cơ sở ra đời cho những trang tiểu thuyết xuất sắc của ông sau này
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1975, Ma Văn Kháng rời Lào Cai – mảnh đất được xem như quê hương thứ hai mà ông gắn bó trên hai mươi năm,
để trở về Hà Nội Và có thể nói rằng tất cả những gì đã thành kỷ niệm in sâu
Trang 14vào ký ức của nhà văn, những ngày sống ở Lào Cai với các nhân vật của mình, lại trở lại trên các trang viết của ông với một cảm nhận, một bút pháp mới mẻ Năm 1979, sau nhiều lần sửa chữa, Ma Văn Kháng cho ra đời cuốn
tiểu thuyết đầu tay của mình – tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe (được khởi
thảo từ năm 1972) Tiểu thuyết ra đời gây xôn xao dư luận và nhận được rất
nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Tiếp nối Đồng bạc trắng hoa xòe là các tiểu thuyết Vùng biên ải (1983, lúc đầu có tên là Thổ Phỉ), Trăng non…
Với khát khao được trả ơn mảnh đất tình nghĩa mà ông gắn bó, yêu thương, hàng loạt các truyện ngắn ra đời, viết từ sau 1980 Các truyện ngắn
như: Mã Đại Câu, Người quét chợ Mường Khương (tháng 02/1979), Móng
vuốt thời gian, Giàng Tả, Kẻ lang thang, Vệ sĩ của quan châu, Hoa gạo đỏ, Sơn Cha Chải…tất cả đã được tập hợp lại trong cuốn Móng vuốt thời gian,
bao gồm 19 truyện ngắn Cuốn truyện ngắn này cùng với cùng với cuốn Gặp
gỡ ở La Pan Tẩn được giải thưởng của Hội văn học dân tộc các dân tộc thiểu
số năm 2001 và 2003 Đây là những tác phẩm lấy cảm hứng từ cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi, một cấu thành quan trọng trong toàn bộ sáng tác của Ma Văn Kháng
Rời cuộc sống tỉnh lẻ với vẻ yên tĩnh, êm đềm, Ma Văn Kháng bắt đầu thích nghi với cuộc sống xáo trộn, xô bồ chốn thành thị Và thị thành thực sự
là mảnh đất tiểu thuyết với ông Ngày 25/6/1982, tại nhà máy in Thống Nhất,
136 Hàng Bông, tiểu thuyết Mưa mùa hạ ra mắt bạn đọc, gây ra một cuộc
tranh cãi, bàn tán của dư luận bởi những vấn đề mà cuốn sách đặt ra
“Một lát, mở cửa, ào vào ba cái mang tô san và rộn ràng tiếng phụ nữ
nói cười Vợ tôi và hai à chị dâu, chị Nguyễn Thị Liên vợ anh Đinh Trọng Lạc, chị Nguyễn Thị Kim Thành vợ anh Đinh Trọng Cảng, đi chợ Tết về Ngổn ngang trên sàn, rối tinh rối mù là mứt, bánh kẹo, măng miến, mộc nhỉ…toàn những thứ mua bằng tem phiếu, như một bức tranh tĩnh vật đủ màu
Trang 15sắc tết nhất! Chà còn gì vui bằng đi chợ Tết! Còn gì thích hơn là được nghe các chị tíu tít chuyện trò về giá cả chợ búa tết nhất!”[8, tr.295] – đó là nững cảm hứng đầu tiên đưa nhà văn đến với mảng đề tài gia đình và giữa tháng
05/1985 cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn được chào đời Qua nhiều
lần tái bản, tác phẩm đã được chuyển thể thành phim và đặc biệt có đoạn trích của cuốn tiểu thuyết đã được đưa vào sách giáo khoa học sinh lớp 12 Tác phẩm vinh dự được nhận giải thưởng của Hội nhà văn
Những năm tiếp theo, Ma Văn Kháng vẫn tiếp tục gây sóng gió trên
văn đàn với các tiểu thuyết: Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút
giữa cảnh đời (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Ngược dòng thác lũ (1999), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Một mình một ngựa (2009)…và gần đây nhất là
các tiểu thuyết Bóng đêm (2011), Bến bờ (2011)…và một cuốn hồi ký Năm
tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (2011). Cuốn hồi ký như một lời tâm sự, chiêm nghiệm, tổng kết về cuộc đời, sự nghiệp của mình
Tìm hiểu về hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng chúng ta sẽ hiểu thêm quá trình sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn, giúp ta hiểu được rằng con đường đến với thành công là con đường của sự lao động miệt mài, đầy gian khó
1.2 Quan niệm sáng tác của Ma Văn Kháng
Bất cứ một nhà văn nào muốn khẳng định sự tồn tại của mình trong đời sống văn học, phải tạo cho cho mình một phong cách riêng với một cá tính sáng tạo riêng, phải tạo cho mình “một cõi không giống ai” Ma Văn Kháng trên hành trình sáng tạo nghệ thuật cũng đã đi tìm cho mình một tiếng nói riêng, một vị trí tồn tại vững chắc trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Với thể tài thế sự đời tư, Ma Văn Kháng tiếp cận hiện thực và con người với những chuyển biến rõ nét Nếu như trước đổi mới, với cảm hứng sử thi thế giới con người trong sáng tác của Ma Văn Kháng mang đậm chất hùng
ca, thì sau đổi mới với cảm hứng thế sự, Ma Văn Kháng soi chiếu con người dưới nhiều góc độ, đặt con người trong môi trường hiện thực cuộc sống ngổn
Trang 16ngang và nhiều xáo trộn Trước hiện thực cuộc sống bề bộn, với cái nhìn đa diện, đa chiều, Ma Văn Kháng không hề né tránh sự thật mà dũng cảm đối diện với nó và cố gắng cải tạo nó Quan niệm này được thể hiện ngay trong
những sáng tác của ông Trong Ngược dòng thác lũ, Côi cút giữa cảnh đời,
Mưa mùa hạ…Ma Văn Kháng đã nhìn thấu tới tận tâm can đen tối của những
kẻ hám danh, lợi dụng chức quyền để bóc lột, vơ vét của nhân dân
Với cái nhìn đa chiều trước cơ chế thị trường, quan niệm về con người của Ma Văn Kháng cũng có nhiều mới mẻ Với quan niệm “con người ta là vậy đó, nhiều khi nó là một ngôi nhà đóng kín, nhìn ngoài tưởng là rỗng, đến khi một cánh của hé mở, nhìn vào mới thấy tất cả sự giàu có, phong phú bên trong của nó” [8, tr.131], Ma Văn Kháng luôn đặt con người trong mối quan
hệ đời thường phức tạp, rối rắm Trước cuộc sống bề bộn, Ma Văn Kháng luôn có những phát hiện độc đáo: con người với những giá trị đạo đức cùng
bản năng và những vùng bị khuất lấp (nhân vật Lý trong Mùa lá rụng trong
vườn), trong con người luôn tồn tại những mặt đối lập Sự đổi mới quan niệm
nghệ thuật về hiện thực, con người đã đem lại cho các tác phẩm Ma Văn Kháng một chiều sâu nhận thức thẩm mỹ
Chính những đổi mới trong quan niệm về hiện thực, con người đã thôi thúc nhà văn luôn tìm tòi cách thể hiện mới qua việc cách tân: điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu…để làm mới các tác phẩm của mình
Là một nhà văn có trách nhiệm và đầy nhiệt huyết, Ma Văn Kháng luôn trăn trở trên từng trang viết Ông từng tâm niệm: “sống thực sự với cuộc sống, với tất cả những biến cố và huyền thoại của nó, và dùng chính đời sống để giải thích đời sống mỗi khi viết một trang văn”[8, tr.468] Với quan niệm này, các tác phẩm của Ma Văn Kháng đi vào lòng bạn đọc một cách tự nhiên, gần gũi Qủa thực văn chương không cần đến những người thợ khéo tay mà luôn
Trang 17cần đến những người luôn tìm tòi, sáng tạo và mang những nhận thức mới
mẻ, sâu sắc Và Ma Văn Kháng đã làm được điều đó
Những quan niệm nghệ thuật trên được Ma Văn Kháng thể hiện qua các tác phẩm với tất cả tài năng, tâm huyết của mình Chính điều đó đã tạo
nên “cõi” Ma Văn Kháng, một dấu ấn phong cách độc đáo
1.3 Mùa lá rụng trong vườn – cách nhìn mới về vấn đề gia đình
“Phải viết một cuốn sách về đề tài gia đình Về chính những gì đã xảy
ra tại gia đình mình, về những người thân của mình”[8, tr.295] Ý nghĩ đó đã thôi thúc Ma Văn Kháng đến với mảng đề tài gia đình và mang đến cho mảng
đề tài này những cách nhìn mới mẻ Với cảm hứng mới mẻ, ngày 30 Tết Qúy
Hợi, tức ngày 12/02/1983, nhà văn bắt tay vào viết tác phẩm Mùa lá rụng
trong vườn Ngay sau khi xuất bản (1985), tác phẩm nhanh chóng được phổ
biến và được độc giả nồng nhiệt đón nhận với tính thời sự của nó
Mùa lá rụng trong vườn là tác phẩm đi sâu vào khai thác đề tài gia
đình, một đề tài không mới trong văn học hiện đại Việt Nam Từ những năm
ba mươi của thế kỷ XX, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã khai thác rất thành
công đề tài này Các tác phẩm như: Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Gia
đình…là những tác phẩm đấu tranh giải phóng cá nhân, cho tự do yêu đương
và quyền sống của người phụ nữ, bước đầu phá vỡ cấu trúc kiểu gia đình phong kiến
Sau cách mạng tháng Tám, do yêu cầu của thời đại vấn đề gia đình, cá nhân bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho vận mệnh dân tộc Các tác
phẩm như: Gia đình Má Bảy của Phan Tứ, Đất làng của Phan Thị Ngọc
Tú…cũng đã đề cập tới những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình nhưng lại được nhìn qua lăng kính của hoàn cảnh lịch sử
Đến thập kỷ tám mươi, không khí đổi mới dân chủ đã tác động mạnh
mẽ đến đời sống văn học, nghệ thuật.Với cảm hứng thế sự, đời tư, các nhà
Trang 18văn cùng nhìn lại hiện thực Với các tác phẩm: Côi cút giữa cảnh đời, Mùa lá
rụng trong vườn…có thể nói Ma Văn Kháng là người có công khơi lại mạch
viết về gia đình vốn bị bỏ ngỏ gần nửa thế kỉ qua trong nền văn học Việt Nam Khai thác ở một khía cạnh mới mẻ hơn, Ma Văn Kháng không nói lại những vấn đề từng được các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn giải quyết mà tập trung bàn luận về tính phức tạp trong các mối quan hệ nội bộ trong gia đình, gia đình và xã hội, dân tộc Những tác phẩm của ông “không chỉ đẩy ta vào dòng đời, mạch sống hôm nay mà nó gắn nối với mạch văn truyền thống
là chủ nghĩa nhân văn và tình yêu thương con người” Nếu như số phận của mỗi cá nhân đã từng gắn bó với vận mệnh của dân tộc, thì trong một chừng mục nhất định cũng gắn bó mật thiết với hoàn cảnh của mỗi gia đình Với cảm quan hiện thực của một nhà văn có trách nhiệm trước cuộc sống, Ma Văn Kháng thấy sự cần thiết phải duy trì và cũng cố quan hệ gia đình Có thể nói trong tất cả các nhà văn viết về đề tài gia đình, Ma Văn Kháng là người đi đầu trong việc đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới cách viết và gặt hái được nhiều
thành công vang dội Chính các tác phẩm viết về đề tài gia đình, trong đó Mùa
lá rụng trong vườn được xem như là tác phẩm xuất sắc nhất đã góp phần tạo
nên phong cách nghệ thuật văn xuôi Ma Văn Kháng
Viết về đề tài gia đình, với tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn
Kháng đã mô tả sự biến đổi của gia đình trong xã hội hôm nay và mối quan hệ nội bộ trong gia đình, giữa cá nhân với gia đình, giữa gia đình và xã hội Trước những khó khăn, phức tạp của đời sống hôm nay, có nhiều người muốn quay về với gia đình, truyền thống dân tộc, nhưng cũng có nhiều người cho rằng truyền thống, gia đình không còn quan trọng nữa Đặt câu chuyện gia đình trong mối quan hệ phức tạp của xã hội, Ma Văn Kháng đã đem đến cho người đọc một cách nhìn mới về gia đình Dùng hình ảnh ẩn dụ “mùa lá rụng”, Ma Văn Kháng muốn nói lên quy luật thay đổi của xã hội Cũng giống
Trang 19như loài cây phải thay lá, mỗi con người cũng phải thay đổi để thích ứng với
xã hội hôm nay Nhà văn cũng đặt ra trong tác phẩm những vấn đề cơ bản về việc phải thay đổi như thế nào cho thích hợp với cuộc sống thời đại mới: khăng khăng sống theo những giá trị truyền thống hay thoát ly nó để chạy theo chủ nghĩa vật chất? Và quả thực trong suốt chiều dài tác phẩm, qua kết cấu cốt truyện cũng như qua các nhân vật của mình, Ma Văn Kháng đi tìm
câu trả lời đó Mùa lá rụng trong vườn là tiếng nói của tác giả trước hiện thực
cuộc sống hôm nay “Thật ra thì bản chất cuộc sống vốn là sống động Và mọi
sự xáo trộn thế nào cũng phải tự tìm lấy sự ổn định, sự hợp lí của nó Hãy từ cửa sổ gia đình mình nhìn ra cuộc đời; và từ cuộc đời hãy chiếu rọi ánh sáng vào mỗi căn nhà, như thế mọi điều sẽ sáng tỏ hơn” – đó chính là thông điệp
về gia đình mà Ma Văn Kháng muốn gửi đến tất cả chúng ta qua những trang tiểu thuyết này
Trang 20CHƯƠNG II NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
2.1 Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Không thể hiểu sâu sắc một tác phẩm văn học nếu ta không tìm hiểu điểm nhìn trần thuật, bởi lẽ trước khi miêu tả, trần thuật, nhà văn buộc phải lựa chọn cho mình một điểm nhìn, một “cự li” hợp lý Việc chọn một chỗ đứng thích hợp để người kể chuyện kể câu chuyện là một trong những trăn trở đối với các nhà văn khi sáng tạo tác phẩm
Nhà lý luận Phương Lựu đã khẳng định: Nghệ sỹ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của đời sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng, nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp,
từ bên trong hay bên ngoài, bởi sự trần thuật trong văn xuôi nghệ thuật bao giờ cũng tiến hành từ một điểm nhìn nào đó Nhà văn không thể miêu tả nghệ thuật và tổ chức tác phẩm mà không xác lập cho mình một điểm nhìn, một chỗ đứng nhất định Bởi vậy điểm nhìn trần thuật góp phần đáng kể vào sự thành công của tác phẩm, qua đó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn trên hành trình sáng tạo của mình
Trang 21Với góc nhìn thế sự đời tư, Ma Văn Kháng không hề né tránh mà đi sâu vào những khía cạnh phức tạp trong đời sống tâm hồn con người Để hiện thực hiện tất cả những mâu thuẫn, xung đột phức tạp của nó, trong các tiểu thuyết của mình Ma Văn Kháng luôn quan tâm và chọn cho mình một góc quan sát phù hợp nhất
Cũng giống như hầu hết các tiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng, Mùa
lá rụng trong vườn được kể theo ngôi thứ ba Vị thế của người kể chuyện này
cho phép tác giả miêu tả, dẫn dắt câu chuyện một cách linh hoạt, tự do Chọn điểm nhìn bên ngoài, Ma Văn Kháng dễ dàng tham gia phân tích, lý giải, đánh giá nhân vật, tình huống, sự kiện từ cái nhìn khách quan Điểm nhìn bên ngoài luôn tạo ra khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật Vì vậy, ở điểm nhìn này người trần thuật sẽ có cái nhìn khách quan, tỉnh táo để thuật lại, tả lại các nhân vật và sự kiện Từ đó làm nổi bật bức tranh muôn màu của đời sống
xã hội, con người
Với điểm nhìn bên ngoài, Ma Văn Kháng có thể đứng ngoài câu chuyện nhưng lại trực tiếp tham gia phân tích và lý giải những vấn đề về số phận con người, mối quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc sống thường ngày Lý giải, bình luận tính cách nhân vật Lý, tác giả đã đưa ra những lời bình luận: “Một nét tính cách nổi bật nữa của Lý chứng tỏ người phụ nữ này thật phong phú: chị rất ưa thích quyền hành Thèm muốn sai khiến người khác là khoái cảm đã hằn vết trong tâm hồn chị Đặc điểm này đồng thời là mặt tốt và mặt xấu trong tính nết chị Chị thích đảm trách, dám đứng mũi chịu sào Luôn tự coi mình hơn người, chị khinh thường người khác và muốn mọi người phải tuân phục mình” [6, tr.266] Hay trước hành động thô
lỗ của Lý, nhà văn đã buông ra một lời nhận xét “Tồi tệ đến thế là cùng Đối đáp bốp chát, ăn miếng, trả miếng, chửi vỗ mặt nhau, đanh đá hàng tôm hàng
cá, thơn thớt dựng chuyện, vu khống đê tiện một cách nanh ác, trơ tráo như
Trang 22thế này thì thật không còn gì để đáng nói nữa”[6, tr.234] Đây quả thực là những lời nhận xét, bình luận khách quan của người trần thuật
Với cái nhìn khách quan, những rạn nứt trong mối quan hệ gia đình ông Bằng được Ma Văn Kháng trần thuật một cách chân thực Trong cái gia đình
“mô phạm, mẫu mực” ấy đã thấp thoáng những dấu hiệu của sự bất hòa Những cuộc cãi vã, những mâu thuẫn trong nội bộ gia đình ông Bằng được tác giả đưa lên trang truyện để mổ xẻ, phân tích: “Thời cơ chín muồi của vở
bi kịch tới dồn dập: Liên minh kinh tế ma quỷ của Lý đã thành lập; ông Bằng mất, hi vọng về số tiền người con trưởng được thừa kế tan tành; mưu tác thành cho Cần không có kết quả; Đông vượt khỏi khuôn khổ phụ thuộc, trở thành một kẻ cục súc, vũ phu… Bứt ra khỏi cuộc sống chung vô vọng, tẻ nhạt với Đông, Lý đã hành động một cách thật dứt khoát, và đó là hệ quả tất yếu của những điều kiện trên.”[6, tr.289] Không hề né tránh sự thật, Ma Văn Kháng đi sâu khai thác những mâu thuẫn gay gắt trong cuộc sống, phản ánh trung thực những dục vọng, những góc khuất trong tâm hồn con người Phơi bày tất cả những góc khuất ấy, nhà văn muốn nhấn mạnh: “con người là một sinh thể tự nhiên, con người có nguồn gốc động vật, nhưng là một sinh thể tự nhiên tính người Ta vừa phải thỏa mãn nhu cầu con và nhu cầu người của con người”[6, tr.326]
Chọn điểm nhìn bên ngoài, Ma Văn Kháng đã trần thuật một cách khách quan, lạnh lùng, nhưng ẩn chứa sau đó là nỗi niềm băn khoăn trăn trở của nhà văn về cuộc sống, về tương lai của gia đình trong cuộc sống hôm nay:
“Gia đình, giọt nước của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có vững vàng trong cuộc sống xây dựng đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này?”[6, tr.26] Đây chính là điều trăn trở, suy tư của nhà văn, và qua các nhân vật của mình, Ma Văn Kháng tìm câu trả lời cho câu hỏi đó
Trang 23Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc trần thuật bên ngoài khách quan,
Ma Văn Kháng đã sử dụng kĩ thuật di chuyển điểm nhìn, đặt câu chuyện dưới góc nhìn của bản thân các nhân vật Điểm nhìn nội cảm, đặt vào nhân vật như trên cho phép người đọc đi sâu khám phá thế giới tâm hồn, những diễn biến phức tạp trong chiều sâu tâm lý
Trong tác phẩm, nhân vật Luận luôn có những suy nghĩ, cách luận giải của riêng mình Trước tính cách sắc sảo, đáo để và dễ thay đổi của chị dâu, anh thường hay nghĩ ngợi: “trong sai lầm này của chị, phải chăng Đông và mọi người trong gia đình là vô can không có lỗ i? Lý khôn ngoan, khi tỉnh táo, hoàn toàn phân biệt được ranh giới đúng sai, nhưng dục vọng mạnh mẽ ở chị, càng tăng cường độ hơn khi đời sống tinh thần ở chị vốn thấp kém lại không được bồi bổ thoả mãn Chị thiếu người tri kỉ, hướng đạo những khi lao lung bên bờ vực làm lẫn Chị không vượt qua được cái thô tục vốn có của tự nhiên, cái mà ở chị tích tụ khá đậm đặc dồi dào”[6, tr.287] Là một người có học thức, thấu hiểu sự đời, Luận luôn trăn trở và đi tìm những nguyên nhân sâu xa hay những cách luận giải về phần “con” và phần “người” trong mỗi con người
Trước những câu nói và sự thay đổi đột ngột của Lý, Phượng cũng có những cảm nhận tinh tế: “Có một góc tối mờ nào đó trong Lý vừa được những câu nói hết sức tự tin của chính Lý tạo thành một tia lửa điện soi tỏ Lý
đã tự bộc lộ Và Phượng, vào lúc này, bỗng như đột ngột phát hiện ra cái bí ẩn trong tâm thái người chị dâu chồng ở cái buổi chiều hôm qua”[6, tr.46] Phượng cũng chua chát nhận ra: “Thôi, thế là Phượng hiểu bà chị dâu chồng, con người thính nhạy với các sự kiện, với cái giọng chao chát nọ, định nói gì rồi Phượng muốn khóc quá Cay đắng và trớ trêu đến thế là cùng! Người phụ
nữ này mới từ Sài Gòn về, nghe hơi câu chuyện Cừ mới từ Canađa gửi thư về qua lời Luận lúc vội vàng, chưa hề biết đến nội dung bi thảm của câu chuyện,
Trang 24đã lập tức nổi cơn cuồng ghen tức, nhẫn tâm và vô lí đến thế kia ư?”[6, tr.225] Di chuyển điểm nhìn từ nhân vật này đến nhân vật khác, cách đánh giá, bình phẩm nhân vật của tác giả chính xác hơn, và qua đó thế giới nội tâm của nhân vật được bộc lộ rõ nét
Nhà văn đã dịch chuyển từ điểm nhìn bên ngoài với giọng điệu khách quan vào điểm nhìn bên trong của nhân vật Điểm nhìn của tác giả đã hòa cùng điểm nhìn của nhân vật Qua đó hình ảnh nhân vật càng được bộc lộ hết chiều kích ở những góc khuất trong đời sống tâm hồn con người
Cùng sử dụng lối dịch chuyển điểm nhìn trần thuật để khắc họa hiện thực của con người và đất nước sau 1975 nhưng mỗi tác giả có một nét đặc sắc riêng Nếu Bảo Ninh tổ chức điểm nhìn trần thuật từ nhiều phía (từ các nhân vật: nhân vật Kiên, nhân vật xưng “tôi” và các nhân vật khác) để tái hiện chân thực về nỗi đau của thân phận con người khi bước ra khỏi chiến tranh, thì Ma Văn Kháng với việc di chuyển, kết hợp các điểm nhìn đã khám phá bức tranh muôn màu của cuộc sống trong những góc khuất, chiều sâu tâm hồn con người
Dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật là sáng tạo nghệ thuật của Ma Văn Kháng Sự kết hợp đó vừa giúp tác giả chuyển tải nhiều hơn, sâu hơn bức tranh hiện thực phức tạp đa dạng của cuộc sống, vừa giúp người đọc hiểu rõ chiều sâu tâm lý phong phú, đa dạng, phức tạp của con người Đây là một lối trần thuật vừa tinh tế, vừa sắc sảo bộc lộ tài năng nghệ thuật của Ma Văn Kháng Với cách nhìn này, nhà văn giúp người đọc có thể hiểu sâu hơn
về thế giới tâm lý của nhân vật
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Mùa lá rụng trong vườn
Đối tượng chung của văn học là cuộc đời, nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Những sự kiện trong tác phẩm, những lời bình luận, bức tranh thiên nhiên…đều góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú cho tác
Trang 25phẩm nhưng cái quyết định tới tác phẩm lại là hình tượng con người Đọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc chính là cuộc đời, số phận của những nhân vật mà nhà văn thể hiện Nhà văn Tô Hoài đã rất
có lý khi cho rằng: “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Trong một tác phẩm văn học, nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện những quan niệm của nhà văn về cuộc đời Như vậy, trong tác phẩm văn học nhân vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp nhà văn thể hiện những quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Ý thức sâu sắc được điều đó, Ma Văn Kháng đã tập trung bút lực của mình việc xây dựng thế giới nhân vật và ông đã thành công Có thể nói để xây dựng nhân vật, nhà văn đã sử dụng nhũng thủ pháp quen thuộc nhưng ông lại luôn tìm cho mình một cách biểu hiện mới mang dấu ấn rõ nét
Như chúng ta đã biết ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, diện mạo…của nhân vật Đây là một yếu tố quan trọng, góp phần
cá tính hóa nhân vật
Nếu như văn học cổ thường xây dựng nhân vật với những chi tiết ước
lệ, tượng trưng thì văn học hiện đại thường dựng lên chân dung nhân vật bằng những chi tiết chân thực, cụ thể và sinh động
Vẫn luôn giữ thói quen ghi chép và quan sát, giống như một chiếc máy ghi âm Ma Văn Kháng lặng lẽ chép lại từng câu chuyện, từng mảnh đời, từng dáng hình của con người, của cuộc đời để rồi tất cả được tái hiệ n sống động
trên từng trang viết Trong Mùa lá rụng trong vườn thế giới nhân vật của ông
hiện lên thật phong phú, sinh động với những nét ngoại hình khác nhau, không hề trộn lẫn Đây là một yếu tố quan trọng giúp cho nhà văn thành công trong việc cá tính hóa nhân vật Trong tác phẩm, gia đình ông Bằng hiện lên như một xã hội thu nhỏ với những con người với những nét tính cách và số
Trang 26phận khác nhau Chân dung của từng nhân vật trong tác phẩm hiện lên thật rõ nét Trong Mùa lá rụng trong vườn khi miêu tả ngoại hình nhân vật, Ma Văn
Kháng lại rất chú ý đến đặc điểm ngoại hình
Trong cả cuộc đời của mình, ông Bằng luôn cố gắng giữ cho gia đình mình một cái nền đạo đức lương thiện Ông hiện lên trong tác phẩm với phong thái: “đĩnh đạc, khoan hoà, mực thước, cẩn trọng đến khắt khe tạo nên
sự ổn định trong tâm tưởng bằng một bản lĩnh kiên nghị, có ý thức, ngay từ khi còn là một công chức bưu điện trẻ, sau đó là nhà giáo, nhà báo, từ khi chưa có dấu hiệu lão hoá và xuất hiện căn bệnh mùa thu của đời người – bệnh cao huyết áp ”[6, tr.25] Phong cách của con người ấy khiến tất cả mọi người trong gia đình phải kiêng nể, kính trọng Đây là một con người như là hiện thân, biểu tượng cho giá trị mang tính chuẩn mực của đời sống Chính những nét ngoại hình trên giúp người đọc hình dung ra vẻ tính cách đạo đức, truyền thống của nhân vật
Chị Hoài – con dâu trưởng của gia đình cũng được Ma Văn Kháng miêu tả bằng những nét tươi tắn: “một phụ nữ nông thôn trạc năm mươi, người thon gọn trong cái áo bông trần hạt lựu Chiếc khăn len nâu thắt ôm một khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi Người phụ nữ đó đeo một cái tay nải nặng, dáng vừa đi bộ từ ga xe lửa về, không có cái vẻ ngác ngơ lạ lẫm, nhưng hai con mắt in đậm nỗi bồi hồi”[6, tr.45] Dường như, bức chân dung có vẻ quê mùa, tội nghiệp và đượm buồn của chị toát lên vẻ đẹp đôn hậu, chất phác, nghĩa tình
Nếu như ông Bằng hiện lên với phong cách khoan hòa, đĩnh đạc, chị Hoài với vẻ mộc mạc, đôn hậu thì nhân vật Luận gây ấn tượng với người đọc bởi sự trẻ trung, năng động của mình Với “khuôn mặt hình trái xoan, linh lợi” và “trắng trẻo, cao dong dỏng, mặc áo tít xy tím than, trạc bốn mươi, dáng thanh nhẹ, trẻ trung”[6, tr.30] Dường như nhân vật trong tác phẩm của
Trang 27Ma Văn Kháng luôn có sự đồng nhất giữa phẩm chất bên trong và hình thức bên ngoài Gắn với vẻ lanh lợi, năng động đó là một con người tràn trề sinh lực, nhiệt huyết với cuộc đời
Trái ngược với vẻ trẻ trung, khỏe khoắn của Luận là dáng vẻ chậm chạp, ụ ị của Đông Tác giả quan sát và miêu tả ngoại hình của Đông: “Trạc năm mươi, to béo, phục phịch, người đàn ông mặc quần áo bộ đội này nằm, đầu ghếch lên tay chiếc đi văng, chân duỗi thò ra ngoài ghế, hai tay chắp bụng, tư thế hết sức thanh thản, và thả ra những tiếng ngáy thật rầm rĩ và thoải mái Giấc ngủ thật sâu, hoàn toàn buông thả, thật sự là sản phẩm của một người đặt mình là ngủ, không hay trằn trọc, suy nghĩ”[6, tr.50] Đây là tấm chân dung của một con người vô tư, vô trách nhiệm, tu duy đơn giản và sống theo những nếp sống có sẵn
Phượng – người phụ nữ được tác giả gửi gắm nhiều tâm tình, cảm phục nhất Trong cuốn hồi ký của mình, nhà văn tâm sự: “Phượng mang hình bóng của vợ tôi, Hoàng Thu Phòng Phòng của tôi không sắc sảo, nổi trội đường ăn nói, giao tiếp, không tinh tường nhạy bén trong công việc mưu sinh, nhưng Phòng của tôi là một phụ nữ hiền hậu, chân thật, đức độ trọn vẹn, tận tụy, hết lòng với công việc chung, yêu thương đến mức xả thân cho chồng con, người thân…”[8, tr.305] Đây cũng chính là hình ảnh của nhân vật Phượng trong tác phẩm Qủa thực, Phượng không sắc sảo như Lý, ngoại hình của Phượng khiêm tốn, đơn sơ như chính con người của chị vậy: “héo hắt, quê mùa tội nghiệp thế Cái quần lụa nhầu, ống hẹp Cái áo budông simili màu cỏ úa, cổ lỗ”[6, tr.15] Khuôn mặt gầy guộc, “quê mùa” tuy không sắc sảo, nổi trội như
Lý nhưng luôn ánh lên tinh thần hài hòa, hợp lý, tin cậy hơn” bởi “đôi mắt dịu
ấm, trong veo” và gương mặt “đoan trang, đôn hậu, đầy vẻ nhẫn nại cao quý” của chị Đây chính là một điểm hấp dẫn trong bức chân dung của nhân vật này
Trang 28Và dường như tác giả tập trung bút lực hơn hết vào việc tô điểm cho nhân vật Lý Lý trong tác phẩm thật xinh đẹp, sắc sảo với những đường nét:
“Tóc chị rậm, đen, đầy sinh lực, rất hợp với một vóc người tầm thước, đậm
đà, nở nang, cân đối cùng với khuôn mặt tròn đã định hình ở tuổi bốn mươi, nhưng còn giữ nguyên vẻ tươi mát và duyên dáng: hai con mắt lá răm dài, lóng lánh dưới cặp mày rậm, đem lại vẻ thơ ngây cho khuôn mặt, khiến đôi gò
má cao không trở nên lộ liễu; thêm cái cằm hơi lẹm bên trái có một nốt ruồi to đậu ở đó, tạo nên cái đặc sắc riêng, khiến khuôn mặt càng trở nên dễ nhớ, không lẫn với nhiều khuôn mặt khác.”[6, tr.12] Và Ma Văn Kháng cũng rất tinh tế khi nhận ra những thay đổi về ngoại hình khi tính cách, nội tâm chị thay đổi: “Mắt Lý tô xanh, lẳng và táo tợn Tóc Lý cuốn gọn trong cái mũ vải
có lưỡi trai xoè to cum cúp che trước mặt Cái mũ màu trắng sang trọng thường thấy những thiếu nữ nhởn nhơ đội ở ngoài bài biển Cái quần côn đắp hai túi sau mông, thon bó dưới ống, màu sáng làm nổi bật cái may ô láng như
sa tanh đỏ gắt nịt lấy người, tôn sự đầy đặn của đôi tay trần nuột óng và một
bộ ngực nhô cao như đắp nặn, ngạo nghễ và thách thức”[6, tr.226] Đúng thế,
vẻ ngoài của Lý phản ánh trung thực những đổi thay bên trong, khi mà Lý bỏ qua tất cả những giá trị tinh thần, đạo đức để chạy theo tiếng gọi của đồng tiền, dục vọng
Nhặt lấy những dáng hình quen thuộc trong cuộc sống, Ma Văn Kháng đặt tất cả vào trong tác phẩm, để rồi xây dựng nên thế giới những nhân vật của riêng mình rất đặc sắc, cá tính Thế giới nhân vật trong truyện hiện lên khá phong phú, đa dạng với những bức chân dung không hề trộn lẫn Với những nét ngoại hình đặc sắc đó, Ma Văn Kháng cá thể hóa từng nhân vật của mình Nhu cầu phản ánh chân thực cuộc sống đã thôi thúc nhà văn khám phá phát hiện, đưa vào tác phẩm những bức chân dung sinh động của nhiều dạng người, nhiều kiểu người trong cuộc sống
Trang 29Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật là một phương diện trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn, gắn liền với việc miêu tả ngoại hình và miêu tả hành động của nhân vật Điều đó cũng có nghĩa tất yếu trong hành động thường liên quan chặt chẽ với tính tất yếu trong hành động nội tâm của nhân vật Tâm lý, nội tâm nhân vật đó chính là toàn bộ cuộc sống bên trong của nhân vật Đó là những tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác, những phản ứng tâm lý của nhân vật trước cảnh ngộ và tình huống mà nhân vật chứng kiến trên bước đường đời của mình Nhà văn có thể trực tiếp thể hiện nội tâm của nhân vật bằng chính ngôn ngữ của mình với tư cách là một người
kể chuyện Nhưng biện pháp mà các nhà văn hay dùng nhất là “độc thoại nội tâm” của nhân vật Những đoạn độc thoại nội tâm này được thể hiện bằng chính ngôn ngữ của nhân vật, chúng vang lên một cách thầm lặng trong trong tâm tư của nhân vật Nhân vật tự biểu hiện, phơi bày những diễn biến trong tâm trạng của mình qua những suy nghĩ, cảm xúc cụ thể Và để có thể miêu tả thành công tâm lý, nội tâm của nhân vật, nhà văn phải thực sự nhập thân vào nhân vật, phải sống cùng nhân vật của mình, đồng cảm với từng niềm vui, nỗi buồn của nhân vật Có như thế người sáng tạo mới có thể thể hiện hết những cung bậc của trạng thái cảm xúc, những thay đổi của diễn biến tâm lý phức tạp Thấu hiểu sâu sắc những góc khuất trong tâm hồn con người, Ma Văn Kháng đã viết lên những tâm trạng, suy nghĩ thật sâu sắc Đặt nhân vật của mình trong mối quan hệ cuộc sống phức tạp, ngổn ngang, Ma Văn Kháng luôn thể hiện từng nhân vật với những nét tính cách khác nhau cũng như đời sống nội tâm phong phú của từng nhân vật
Luận trong tác phẩm là một nhà báo, anh thường hay suy tư, nghĩ ngợi trước mọi tình huống của cuộc sống Trước bà chị dâu sắc sảo, đáo để, anh không ít lần anh băn khoăn, trăn trở
Trang 30Trước sự sa ngã của Lý, anh khắc khoải suy nghĩ: “Khổ, sao cứ cựa quậy, vùng vẫy cả khi có thể sống yên ổn Bản chất con người là thế chăng?
Ừ, thì xa rời đạo lí thì biến thành quỷ sa tăng ngay Nhưng, chị ấy thật ra đã
có gì đáng gọi là vô luân? Nếu có sai lầm nặng hơn thì cũng dễ hiểu thôi Ít tư duy, sống bằng bản năng, trực cảm, giờ đây cũng không ân hận áy náy như ông thường trực đánh máy trong giờ hành chính từng áy náy”[6, tr.263] Với một cái nhìn thấu hiểu sự đời, anh luôn nhìn nhận hai mặt của mọi vấn đề và anh nhận thấy nguyên nhân sâu xa nhất của những sự sa ngã phải chăng là bản năng của con người?
Trong anh luôn diễn ra cuộc đấu tranh nội tâm, anh biện hộ và không khỏi băn khoăn, về những hành động của Lý Trước cách ứng xử của Lý, Luận nghĩ “Công bố giá tiền thuê xe lúc này, bà ấy đã phá vỡ một vẻ đẹp thật sự” [6, tr.265] Hay “Câu này được Thêm cái nguýt rất có tình Nhưng từ
rởm là của bọn con buôn”, “Một câu nói rất hay, rất Việt Nam”.[6, tr.265]
Phải chăng trong sâu thẳm tâm hồn, Luận vẫn luôn giữ trong mình một hình bóng chị dâu đảm đang, tháo vát với những đức tính tốt đẹp để rồi trong mỗi lời nói hành động của chị, anh luôn cân nhắc, băn khoăn
Hay trước cách ứng xử khôn khéo của Cần, anh không khỏi trầm trồ:“A, cái thằng khôn! Nó hiểu dụng ý của bà Lý Nó biết vai trò định đóng của cô gái tội nghiệp nọ Nó dứt khoát ngay để dễ quan hệ về sau Nó khác mình Phải mình, mình cũng cứ ngọt nhạt vài câu với cô bé Lớp trẻ bây giờ thẳng thắn hơn, hay ít tế nhị hơn?”[6, tr.266]
Trong tác phẩm, thế giới nội tâm của ông Bằng cũng phức tạp không kém Ông luôn dùng cái đẹp để lấn át cái xấu, ông cố tình lãng quên cái xấu Trong ông luôn có sự giằng xé, day dứt bởi sự kiện Cừ - con trai ông bỏ nhà
ra đi, để lại trong ông một lỗ hổng, một vết thương khó có thể lành lại được Ông tự dối lòng mình, che giấu cảm xúc của mình với mọi người trong gia