1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết mùa lá rụng trong vườn của ma văn kháng

52 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANKhi nghiên cứu khóa luận này, tôi xin cam đoan đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN LAN HƯƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN

CỦA MA VĂN KHÁNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN LAN HƯƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN

CỦA MA VĂN KHÁNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS LA NGUYỆT ANH

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: TS La Nguyệt Anh –

giảng viên tổ Văn học Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn

thành khóa luận “ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng”.

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam,các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng cácbạn sinh viên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi

Do thời gian có hạn nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn đểkhóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Lan Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khi nghiên cứu khóa luận này, tôi xin cam đoan đề tài: “Ngôn ngữ

nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” là

kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, không trùng với bất cứ tác giả nào khác.Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực và chưa có trong một đề tàinào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Lan Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Cấu trúc của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật 7

1.1.1 Ngôn ngữ 7

1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 9

1.1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 9

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật 10

1.2 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn 14

1.2.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng và quá trình sáng tác 14

1.2.1.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng 14

1.2.1.2 Quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng 15

1.2.2 Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn trong văn xuôi đương đại Việt Nam 17

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG 20

2.1 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng 20

2.1.1 Ngôn ngữ trần thuật giàu chất thơ 20

2.1.2 Ngôn ngữ trần thuật mang màu sắc tâm lí 25

2.2 Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng 27

Trang 6

2.2.1 Ngôn ngữ đối thoại đời thường, giản dị 27

2.2.2 Ngôn ngữ đối thoại vừa giàu tính biểu cảm, vừa mang tính triết lí 33

2.3 Ngôn ngữ độc thoại trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng 36

2.3.1 Ngôn ngữ độc thoại thể hiện sự day dứt, dằn vặt trong nội tâm nhân vật 36

2.3.2 Ngôn ngữ độc thoại tái hiện sự chấn thương trong tinh thần 40

KẾT LUẬN 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

cả những kinh nghiệm của bản thân, Ma Văn Kháng đã tôi luyện mình trởthành một nhà văn có phong cách vô cùng độc đáo Sáng tạo nghệ thuật làkhông bao giờ ngừng nghỉ, chính điều đó đã đem đến cho Ma Văn Kháng rấtnhiều thành tựu rực rỡ.

Khả năng viết vô cùng mãnh liệt, viết rất nhiều và rất khỏe, luôn chỉnchu và say mê khi sáng tạo là bản chất riêng của Ma Văn Kháng Nhiều sángtác của ông đã giành giải thưởng trong nước, giải thưởng quốc tế và hơn nữanhiều tác phẩm được dịch ra cả tiếng nước ngoài Nhìn tổng quát có thể thấyvới thể loại tiểu thuyết Ma Văn Kháng sáng tác chủ yếu ở hai mảng đề tài lớntheo hai cảm hứng chủ đạo: Đề tài dân tộc miền núi cùng với cảm hứng sử thi

và đề tài cuộc sống thành thị mang đậm cảm hứng thế sự đời thường Có thể

nói, Mùa lá rụng trong vườn là một tiểu thuyết tiêu biểu thuộc đề tài cuộc

sống thành thị Tác phẩm đã đạt được giải B – giải thưởng của Hội Nhà vănViệt Nam năm 1986

Ma Văn Kháng quan niệm viết văn là “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”, điều đó đã tạo cho ông một phong cách nghệ thuật riêng và mới lạ Ma

Văn Kháng đã góp một phần công sức của mình vào quá trình hiện đại hóangôn ngữ văn học dân tộc Thành tựu ngôn ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu

thuyết Mùa lá rụng trong vườn đã nói lên điều đó.

Trang 8

Nhà văn Ma Văn Kháng và những đứa con tinh thần của ông được rất

nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình quan tâm tìm hiểu Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn theo đó cũng được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn tập trung hướng

vào các vấn đề như: hôn nhân, truyền thống văn hóa dân tộc,… chứ chưa cómột công trình nghiên cứu nào đi sâu để tìm hiểu và khám phá tiểu thuyết

Mùa lá rụng trong vườn từ góc độ ngôn ngữ nghệ thuật.

Ở Trung học Phổ thông chúng ta biết được Ma Văn Kháng là nhà văn

tiêu biểu của nền văn học đương đại Việt Nam, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của ông đã được đưa vào giảng dạy trong môn Ngữ văn.

Với tất cả những lí do ở trên, tác giả khóa luận xin được lựa chọn vấn

đề “Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma

Văn Kháng” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

Là một sinh viên sư phạm Ngữ văn, một người giáo viên tương lai tôimong muốn thông qua nghiên cứu đề tài này bản thân sẽ tích lũy được nhiềukinh nghiệm quý báu để có thể phục vụ tốt cho công tác giảng dạy sau này

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Ma Văn Kháng đã thổi vào nền văn học Việt Nam một luồnggió mới Chính vì vậy đã có rất nhiều người, rất nhiều công trình nghiên cứutìm hiểu về thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, mà đặcbiệt là ở thể loại tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã có công lớn trong việc đổimới tư duy tiểu thuyết Việt Nam đồng thời ông đã góp phần không nhỏ trongquá trình sáng tạo nghệ thuật mà tiêu biểu là sáng tạo trên phương diện ngônngữ nghệ thuật

Ma Văn Kháng đã sáng tạo nên những tiểu thuyết thu hút được rấtnhiều sự quan tâm của các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu văn học Được

chú ý hơn cả là các bài viết Một cách nhìn cuộc sống hôm nay của tác giả

Trang 9

Trần Đăng Suyền đăng trên Báo Văn nghệ số 15 (ngày 9/4/1983); Phải chăm

lo cho từng người đăng trên Báo Văn nghệ số 40 (ngày 15/10/1985) Các bài

báo cho thấy tác giả Trần Đăng Suyền đã có những suy nghĩ rất tinh tế về mọimặt của đời sống và xã hội trong rất nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng mà

đặc biệt là có những cảm nhận sâu sắc về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn.

Khi nghiên cứu đề tài, tôi nhận thấy gần đây có khá nhiều người nghiêncứu ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết củanhà văn Ma Văn Kháng Đó là Luận văn Thạc sĩ của Lê Minh Chung

(2007) – Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đầu Đổi mới; Luận văn Thạc sĩ của Dương Thị Hồng Liên (2008) – Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì Đổi mới hay là Luận án Tiến sĩ của Đoàn Tiến Dũng (2016) – Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi của Ma Văn Kháng.

Khi nói đến tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn đã có rất nhiều nhận định được đưa ra Từ góc độ lí luận phê bình văn học, năm 1985 khi Mùa lá rụng trong vườn vừa mới ra đời, tác phẩm đã được độc giả bàn luận một cách

vô cùng sôi nổi Một số nhân vật xuất hiện trong tác phẩm như chị Lý,Phượng, Đông, Luận, ông Bằng,… được bạn đọc công nhận rằng họ khôngchỉ là nhân vật mà hình như họ cũng xuất hiện trong cả hiện thực Có độc giả

là người Hà Nội đã viết: “Tuy đang mệt mà tôi đã thức đến hai giờ sáng để đọc cho đến cuối truyện Sau đó tôi lại đọc lại từng đoạn để được cảm thụ và hiểu sâu hơn Càng đọc càng hay, những nhân vật phụ nữ vô cùng hấp dẫn.

Mà sao anh hiểu tâm lí phụ nữ đến thế…” Mùa lá rụng trong vườn đã được

rất nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến Tiêu biểu là tác giả Trần Cương (Nhân

dân,1985) – Mùa lá rụng trong vườn – Một đóng góp mới của Ma Văn Kháng, tác giả Hoàng Sơn (Tiền phong, số 46) – Trò chuyện với tác giả Mùa

lá rụng trong vườn, tác giả Nguyễn Văn Lưu (Văn nghệ, 1986, số 06) – Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn,… Các nhà nghiên cứu khi khai thác tác

Trang 10

phẩm đều hướng ngòi bút vào các vấn đề: hôn nhân, gia đình, truyền thống

văn hóa,… Từ góc độ nghệ thuật, khi nghiên cứu tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, tác giả Trần Cương đã cho rằng: “Nghệ thuật viết tiểu thuyết của

Ma Văn Kháng đã có bề dày, kết quả của một quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ và ở tác giả đã có định hình rõ nét phong cách nghệ thuật của mình”.

Hay một nhận xét của tác giả Hà Minh Đức, ông nhận thấy tiểu thuyết đã tạo

được “bước phát triển nghệ thuật mới của Ma Văn Kháng”.

Như vậy, từ việc tìm hiểu một số bài viết và công trình nghiên cứu vềnhà văn Ma Văn Kháng, về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói chung và tiểu

thuyết Mùa lá rụng trong vườn nói riêng từ trước đến nay ở các khía cạnh mà

có liên quan đến vấn đề của khóa luận tôi nhận thấy rằng “Ngôn ngữ nghệ

thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” ít nhiều

cũng đã được tìm hiểu và đề cập đến Thế nhưng những bài viết những côngtrình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở mức độ là những ý kiến, những nhậnđịnh chung chứ chưa thực sự đi sâu vào tìm hiểu chi tiết ngôn ngữ nghệ thuật

trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn Mặc dù vậy thì ở một mức độ nhất

định nào đó những bài viết những công trình nghiên cứu trên sẽ giúp ích chotôi Trong khóa luận này tôi sẽ tập trung đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu để

làm rõ ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma

Văn Kháng để thấy được vai trò và tài năng sáng tạo nghệ thuật của Ma VănKháng trong nền văn học dân tộc Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết

Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” khóa luận hướng tới những mục

đích sau:

Thứ nhất, chỉ ra được những nét đặc trưng về ngôn ngữ nghệ thuật

trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của tác giả Ma Văn Kháng.

Trang 11

Thứ hai, khẳng định được những sáng tạo và những đóng góp của nhàvăn Ma Văn Kháng ở phương diện ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết

Mùa lá rụng trong vườn, cũng như khẳng định được vai trò của Ma Văn

Kháng trên văn đàn văn học Việt Nam thời kì Đổi mới

Thứ ba, nâng cao năng lực nghiên cứu, năng lực phân tích và năng lựccảm thụ văn chương của bản thân

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma

Văn Kháng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của nhà văn Ma Văn Kháng.

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, khóa luận đã sử dụng phối hợp một số phươngpháp nghiên cứu sau:

Phương pháp liên ngành

Phương pháp loại hình

Phương pháp so sánh

Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã nêu được những đặc trưng và những sáng tạo về ngôn

ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của nhà văn Ma Văn

Kháng Qua đó góp phần khẳng định được những thành tựu và vị trí của nhàvăn Ma Văn Kháng trong nền văn học dân tộc Việt Nam

Khóa luận sẽ như là một tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu

và giảng dạy ở Trung học Phổ thông về tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết

Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng nói riêng.

Trang 12

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chínhcủa khóa luận được triển khai làm 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1 Ngôn ngữ

Vào thời cổ đại, khi lao động – sản xuất con người muốn trao đổi suynghĩ, bày tỏ nguyện vọng với mọi người xung quanh,… nên đến một giaiđoạn phát triển nhất định nào đó đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung

để giao tiếp trong đó có dấu hiệu nổi bật nhất là âm thanh Từ những tín hiệu

âm thanh đó dần dần đã tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc, ngữ pháp

Đó chính là ngôn ngữ.

“Trên trái đất có khoảng 2500 ngôn ngữ khác nhau, đó là những ngôn ngữ của bộ tộc, sắc tộc, dân tộc Tuy có những khác biệt nhưng các ngôn ngữ đều có những quy luật chung: tổ chức một cách hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ” [1, tr.280].

Như vậy, dễ dàng nhận thấy có rất nhiều ngôn ngữ tồn tại độc lập ở trênthế giới Những ngôn ngữ đó có thể là ngôn ngữ toàn dân hoặc ngôn ngữ địaphương Mỗi ngôn ngữ đều có sự khác biệt so với ngôn ngữ khác Có thể là

sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các dân tộc, cũng có thể là sự khác nhau vềngôn ngữ trong cùng một dân tộc Tuy nhiên dù có những sự khác biệt thìchúng đều nằm trong một quy luật nhất định

Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học quan niệm rằng:

“thuật ngữ ngôn ngữ cần được hiểu là ngôn ngữ tự nhiên của con người (đối lập với các ngôn ngữ nhân tạo và ngôn ngữ của động vật) Sự nảy sinh và phát triển của ngôn ngữ có liên quan mật thiết đến sự phát sinh và tồn tại của loài người Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu phát sinh tự nhiên, phát triển có qui luật và mang đặc trưng xã hội” [18, tr.152,153].

Trang 14

Theo cách hiểu của Ferdinand de Saussure (1857-1913): Ngôn ngữ

được hiểu như một thuật ngữ ngôn ngữ học Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm ngôn ngữ có hai mặt: mặt “ngôn ngữ” và mặt “lời nói” Theo ông, ngôn ngữ là một hệ thống tín

hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại trong mỗi bộ óc hay nói cho đúng hơn làtrong các bộ óc của một tập thể

Ferdinand de Saussure đã xác định khái niệm “ngôn ngữ” trong sự

phân biệt với “lời nói” và theo ông: “ngôn ngữ là những đơn vị vật chất phục

vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người cũng như trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng đó Ngôn ngữ chính là hệ thống những yếu tố và nguyên tắc có giá trị chung, là cơ sở để cấu tạo các lời nói” [4, tr.283].

Tóm lại, theo cách hiểu thông thường “ngôn ngữ” là một hệ thống tín

hiệu giao tiếp bằng âm thanh, mà một cộng đồng dân tộc nào đó sử dụng.Theo cách hiểu khoa học, ngôn ngữ bao gồm hai mặt có quan hệ mật thiết vớinhau: thứ nhất là mặt ngôn hay còn gọi là mặt lời nói - là sản phẩm của một

cá nhân và thứ hai là mặt ngữ hay còn gọi là mặt ngôn ngữ - là sản phẩm củatập thể

Ngôn ngữ là chất liệu của văn chương, là yếu tố cơ bản của văn học.

Khi tiến hành nghiên cứu văn học cần quan tâm tới bình diện ngôn ngữ đầutiên bởi vì cái hay cái đẹp của văn học đều được bộc lộ bằng ngôn ngữ Mộttrong những mục đích chính của sáng tác văn học là sáng tạo ngôn ngữ nghệthuật vì thế mà ngôn ngữ nghệ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn.Ngôn ngữ văn học có sự thay đổi là do sự thay đổi của văn học, sự biến đổicủa xã hội, cũng như là sự biến đổi về tư duy nghệ thuật

Trang 15

1.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện để sáng tạo tác phẩm văn chương

nghệ thuật Mọi loại hình nghệ thuật dù là đơn giản hay phức tạp thì đều cần

có phương tiện sáng tác, phương tiện sáng tác mang đặc trưng của từng loạihình Nếu âm thanh được coi là phương tiện sáng tác trong âm nhạc, hìnhkhối là phương tiện sáng tác trong nghệ thuật điêu khắc thì ngôn ngữ nghệthuật chính là phương tiện sáng tác trong văn chương nghệ thuật

Phương thức tồn tại trực tiếp của văn học là văn bản Để sáng tạo ramột văn bản và giúp người đọc hiểu được văn bản thì ngôn ngữ đóng vai trò

quan trọng hàng đầu Macxim Gorki cho rằng: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học là công cụ chất liệu cơ bản của văn học nên nó được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ” [5, tr.215].

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng “ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng hơn nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn học và khoa học” [5, tr.215].

Khi nói về văn học nghệ thuật, người ta sẽ nghĩ ngay đến ngôn ngữnghệ thuật Muốn phác họa được hình tượng nghệ thuật thì ngôn ngữ là công

cụ đầu tiên được nhắc đến Ngoài ra ngôn ngữ còn bộc lộ chủ đề, tư tưởng,tình cảm và thái độ của tác giả thông qua hình tượng nghệ thuật

Khác với ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày, ngôn ngữ nghệ thuật luôn tạo

cho mình một nét riêng và đặc biệt Theo tác giả Phương Lựu “ngôn từ văn học là ngôn từ của một tác phẩm văn học, của thế giới nghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn Đó là ngôn từ giàu tính hình tượng và giàu sức biểu

Trang 16

hiện nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác động thẩm mĩ tới người đọc” [16, tr.170].

Mỗi một loại hình ngôn ngữ thì đều có một màu sắc, không chìm lẫn

với một ngôn ngữ nào Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nghệ thuật ngôn từ” cho ta thấy được vai trò của ngôn ngữ trong văn học nghệ

thuật là không hề nhỏ Ngôn ngữ trong văn học còn phản ánh rõ nét phongcách nghệ thuật của nhà văn

Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm hai thành phần cơ bản: “ngôn ngữ trầnthuật” và “ngôn ngữ nhân vật” Trong đó, ngôn ngữ trần thuật giúp nhà vănthể hiện được tính cách của các nhân vật, miêu tả được các sự vật, sự việc

Ngôn ngữ trần thuật bao gồm ba thành phần cơ bản: lời kể, lời tả và lời trữ tình ngoại đề Ngôn ngữ nhân vật phản ánh tính cách con người của mỗi nhân

vật Nhân vật nào thì cũng có một giọng điệu, một cách dùng từ ngữ riêng.Ngôn ngữ nhân vật bao gồm “ngôn ngữ đối thoại” và “ngôn ngữ độc thoại”.Trong đó, ngôn ngữ đối thoại có thể hiểu đơn giản là ngôn ngữ trong các cuộcnói chuyện giữa các nhân vật, còn ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ bên trongtâm hồn, bộc lộ những suy nghĩ của nhân vật

Ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc sáng tác văn chươngnghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật không phải là ngôn ngữ toàn dân, mà nó cónhững đặc thù riêng trong sự phát triển với tư cách là một phương tiện nghệ

thuật Nói như Macxim Gorki đã từng viết: “Ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói nguyên liệu, còn ngôn ngữ văn học là tiếng nói đã được bàn tay thợ nhào nặn” Ngôn ngữ không bao giờ đứng yên một chỗ mà nó luôn có sự vận động

và thay đổi linh hoạt

1.1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ có khả năng gợi hình, gợi cảm, cungcấp thông tin và đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ Từ những ngôn từ của cuộc sống

Trang 17

đời thường, những người cầm bút đã lựa chọn, sắp xếp và tinh luyện chúngthành những ngôn từ có tính thẩm mĩ, đó là ngôn ngữ nghệ thuật.

Tính chính xác: Trong đời sống cũng như trong văn học, không thể

không quan tâm đến sự chính xác, mà đặc biệt là khi sử dụng ngôn ngữ thìyêu cầu này càng được đề cao Mỗi khi muốn miêu tả một hiện thực cuộcsống hay muốn bộc lộ những suy nghĩ về một vấn đề nào đó, nhà văn nói theo

Maiacôpxki: “Phải từ hàng nghìn tấn quặng từ tinh luyện chọn ra một từ để câu thơ, câu văn đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất” hay nhà văn Macxim Gorki nói: “Ngôn ngữ của tác phẩm phải gẫy gọn, từ ngữ phải được chọn lọc

kĩ càng Chính các tác giả cổ điển viết bằng ngôn ngữ như vậy đã kế tục nhau trau dồi nó từ thế kỉ này sang thế kỉ khác”.

Để các sự vật, hiện tượng được tái hiện một cách chi tiết, để hình dáng,tính cách và tâm lí của con người được khắc hoạ một cách chân thật thì khisáng tác văn học nhà văn cần phải sử dụng ngôn từ một cách chính xác nhất

Nhà thơ Tản Đà trong bài thơ “Thề non nước” đã viết:

“Non cao những ngóng cùng trông Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày”

Sau đó nhà thơ lại sửa lại:

“Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”

Chữ “tuôn” đã được thay thế bằng chữ “khô”, chữ “khô” thích hợp với khảnăng diễn tả sâu hơn ý thơ trên, nó thể hiện được đúng những điều mà tác giả

muốn nói tới Mauspatssant – một nhà văn Pháp đã viết: “Đối tượng mà anh

ta muốn nói dù là cái gì cũng chỉ có một từ để biểu hiện nó”.

Hay như nhà thơ Đỗ Phủ của Trung Quốc đã dùng từ ngữ chính xác,

đạt đến tột cùng cái đẹp của nghệ thuật mà được Thẩm Đức Tiềm nhận xét:

“Người xưa không bỏ phép luyện chữ nhưng lấy cái hơn về ý, không lấy cái

Trang 18

hơn về lời Cho nên chữ bình dị mà thấy lạ, chữ thường mà thấy hiếm, chữ cũ

mà thấy mới, chữ mộc mạc mà thấy màu sắc” Từng từ trong các tác phẩm của người nghệ sĩ “không từ nào khác trong ngôn ngữ có thể thay thế được”.

Tính hình tượng: Ngôn ngữ văn học được chia ra làm hai loại: ngôn

ngữ nhận thức và ngôn ngữ hình tượng Hình tượng nghệ thuật được xâydựng bằng ngôn từ nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật không trừu tượng, khóhiểu mà nó là một sự cụ thể để lại ấn tượng với người đọc

Nhà văn Macxim Gorki đã từng nói: “Nhà văn không chỉ viết bằng ngòi bút mà còn vẽ bằng từ ngữ thể hiện một cách hoàn hảo những tư tưởng của tác giả, xây dựng một bức tranh đậm đà, đắp nên những hình tượng sinh động có sức thuyết phục đến nỗi người đọc trông thấy những điều mà tác giả

đã mô tả” Chẳng hạn như trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã từng viết:

“Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”

Hai câu thơ trên là một bức tranh mùa thu lung linh, huyền ảo gây được ấntượng với người đọc Ngôn từ vốn không chỉ có chức năng cung cấp thông tin

mà ở đây nó đã hóa thân thành hình tượng, hai câu thơ như biến thành mộtbức tranh đẹp mê hồn

Hay đó còn là mùa thu trong bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào”

Mùa thu nhẹ nhàng, thanh bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ mà khó nơi nào

có thể có được Mùa thu đó có bầu trời xanh ngắt, làn nước biếc, sương khói

mờ ảo, ánh trăng vàng dịu nhẹ chiếu qua song thưa tạo cảm giác về một sựyên ả, bình lặng chốn thôn quê

Trang 19

Tính biểu cảm: ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học không thể

thiếu được tính biểu cảm Tính biểu cảm khi tác động vào con người làm cho

họ thay đổi nhận thức và hành động theo một hướng tích cực mà văn học đãđịnh hướng Cảm xúc của nhà văn được bộc lộ trực tiếp bằng ngôn ngữ vănhọc Người nghệ sĩ càng giàu cảm xúc thì ngôn ngữ càng giàu tính biểu cảm

Như Raspuchin đã viết: “Nếu tôi viết là tôi đau ở đâu đấy trong người Tôi cảm thấy một sự thiếu thốn nào đó”.

Trong văn chương nghệ thuật, tính biểu cảm được thể hiện qua các từ

ngữ cụ thể Nhà thơ Hàn Mặc Tử khi viết về thôn Vĩ trong bài thơ Đây thôn

Vĩ Dạ đã có một đoạn thơ rất giàu cảm xúc và lay động lòng người:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Mỗi một từ ngữ trong khổ thơ trên đều thể hiện tình yêu, niềm tha thiết củaHàn Mặc Tử với khu vườn thôn Vĩ Dạ Khung cảnh nơi thôn Vĩ thật khiếnngười ta khó có thể quên được: đó là hình ảnh nắng hàng cau,vườn xanhmướt như ngọc,… mọi thứ khi kết hợp lại với nhau đều trở nên rất hài hòabộc lộ được rõ nét tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ Chỉ với bốn câu thơnhưng người đọc khi nghe thấy, ngay lập tức muốn đến thôn Vĩ, muốn thảhồn mình vào nơi đây để cảm nhân được những vẻ đẹp nên thơ này

Như vậy, có thể thấy ngôn ngữ văn học bao gồm ba đặc trưng cơ bản:tính chính xác, tính hình tượng và tính biểu cảm Ngôn ngữ văn học đem đếncho người đọc rất nhiều cung bậc cảm xúc, từ vui, buồn, khổ đau cho tới sungsướng, hạnh phúc Ngôn ngữ văn học chỉ thực sự đẹp và phát huy nhữngphẩm chất của chúng khi nhà văn thực sự tài năng, có khả năng làm chủ ngônngữ và có cá tính sáng tạo độc đáo mang nét đặc trưng riêng của mình

Trang 20

1.2 Tác giả Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn

1.2.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng và quá trình sáng tác

1.2.1.1 Vài nét về tác giả Ma Văn Kháng

Nhà văn Ma Văn Kháng tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, ông sinhngày 01 tháng 12 năm 1936 Quê gốc tại làng Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ (naythuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội), đó là mộtlàng cổ thanh bình, là một vùng quê được gọi là “Ô Đồng Lầm” – mảnh đấtcủa sự lam lũ, nhọc nhằn và đầy rẫy những khó khăn

Đinh Trọng Đoàn tình nguyện tham gia quân đội khi đang là một thiếuniên, sau đó ông được cử đi học ở khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) Năm

1954, sau khi hòa bình lặp lại, theo tiếng gọi của Đảng, Ma Văn Kháng rờiquê hương - thủ đô Hà Nội tiến thân lên vùng đất Tây Bắc để hoạt động cáchmạng Sự ra đi này có thể được coi là một bước ngoặt quan trọng trong cuộcđời của nhà văn

Ma Văn Kháng được cử về học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội vàonăm 1960 Trở về thủ đô, ông được gặp gỡ và được tiếp xúc với rất nhiềungười, họ đã đem đến cho Ma Văn Kháng rất nhiều bài học qúy báu Thờigian này ông đã luôn không ngừng học hỏi, trau dồi kinh nghiệm cho bảnthân mình Kết thúc khóa học ở Hà Nội, Ma Văn Kháng lại trở về Lào Caicông tác Năm 1974, ông trở thành hội viên của Hội nhà văn Việt Nam, đảngviên của Đảng cộng sản Việt Nam

Một dịp về vùng nông thôn công tác, Ma Văn Kháng đã làm quen đượcvới ông Ma Văn Nho – phó Chủ tịch huyện Bảo Thắng Tình cảm giữa haingười được nhà văn Ma Văn Kháng rất trân trọng Ma Văn Kháng luôn biết

ơn con người này, bởi vì trong những lúc bạo bệnh, hoàn cảnh khó khăn thìông Ma Văn Nho luôn giúp đỡ Ma Văn Kháng nhiệt tình và không bao giờđòi hỏi sự trả ơn Bút danh Ma Văn Kháng không phải là cái tên ngẫu nhiên

Trang 21

được ông chọn để nghe giống miền núi, mà là cái tên được nhà văn đặt theo

ân tình với ông Ma Văn Nho đồng thời bút danh đó cũng thể hiện tình yêucủa ông với mảnh đất Lào Cai

Trong hơn 20 năm gắn bó với mảnh đất Lào Cai, Ma Văn Kháng đãcảm nhận được sâu sắc cuộc sống của con người nơi đây Những vẻ đẹp trongsáng, lung linh và đầy mơ mộng nơi đây lúc nào cũng xuất hiện trước mắt nhàvăn khiến ông không thể không cầm bút để sáng tạo nghệ thuật Chính vì thế

mà những trang văn đầu tiên viết về Lào Cai của Ma Văn Kháng đã đến vớiđộc giả Để có được thành công Ma Văn Kháng đã không ngừng lao động cần

cù và chăm chỉ sáng tạo Ông vận động trong cuộc sống lao động thườngngày cũng như trong lĩnh vực lao động sáng tạo nghệ thuật để tìm ra chân lícủa cuộc sống

Đất nước thống nhất, rời mảnh đất Lào Cai nhà văn về công tác tại thủ

đô Hà Nội từ năm 1976 Khi về thủ đô, ông từng làm Tổng biên tập, phó giámđốc Nhà xuất bản Lao Động Từ tháng 03-1985 ông làm ủy viên Ban chấphành, ủy viên Đảng đoàn Hội Nhà văn khóa V, tổng biên tập tạp chí Nhà vănnước ngoài của Hội

1.2.1.2 Quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng.

Ma Văn Kháng chưa bao giờ ngừng sáng tạo văn chương nghệ

thuật.Truyện ngắn Phố cụt (1961) là đứa con đầu lòng của Ma Văn Kháng,

truyện viết về một vài con người sống ở một ngõ phố nhỏ vùng núi Nơi đâytình yêu và hạnh phúc đã được nhen nhóm và nảy nở một cách dung dị từnhững mảnh đời đơn chiếc và từng trải qua những nỗi đau xót xa, xé lòng.Tuy nhiên, tài năng của Ma Văn Kháng mới thực sự được đánh dấu khi

truyện ngắn Xa Phủ xuất hiện Truyện phản ánh một cách chân thực cuộc

sống và con người vùng Tây Bắc Tài năng của Ma Văn Kháng ngày càngđược khẳng định với giải nhì cuộc thi truyện ngắn 1967 – 1968 tuần báo

Văn nghệ Từ

Trang 22

những truyện ngắn được in chung, ông đã cho ra đời liên tiếp 5 tập truyệnngắn trong vòng 4 năm từ 1968 đến 1972, trở thành Hội viên Hội Nhà vănViệt Nam năm 1974.

Sau năm 1975, Ma Văn Kháng rời quê hương thứ 2 trở về thủ đô HàNội Từ đây, sự nghiệp của Ma Văn Kháng chuyển sang một giai đoạn mới

Ông cho ra đời nhiều tiểu thuyết viết về đề tài miền núi: Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1980), Vùng biên ải (1983) và sau này là cuốn Gặp

gỡ ở La Pan Tẩn (2001), thể hiện một sự am hiểm sâu sắc, một lối sống hiếm

có về miền núi Tây Bắc

Năm 1976, khi con người đang phải gánh trên vai những hậu quả nặng

nề do chiến tranh gây ra, Ma Văn Kháng trở về chứng kiến bao nhiêu cảnhtrướng tai gai mắt đã thôi thúc, bắt buộc ông phải cầm bút để viết, để nói Từđây, những tiểu thuyết viết về đô thị xuất hiện Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của

ông viết về đô thị Mưa mùa hạ ra đời năm 1982 Vài năm sau, nhà văn cho ra đời rất nhiều tiểu thuyết cũng thuộc đề tài thành thị: Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992),

sự ra đời hàng loạt tiểu thuyết này đã làm đời sống văn học trở nên sôi độnghơn bao giờ hết Từ một Ma Văn Kháng văn xuôi lịch sử, phong tục truyềnthống đã chuyển sang một Ma Văn Kháng đời tư, thế sự, phức tạp mà đađoan

Truyện ngắn San cha chải đã đem lại cho ông giải thưởng cây bút vàng

trong cuộc thi truyện ngắn và kí 1996 -1998 do Bộ Công an và Hội Nhà vănViệt Nam tổ chức Cùng ở thể loại truyện ngắn, ông đã nhận giải thưởng của

Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam với tập Trăng soi sân nhỏ.

Năm 1999, Ngược dòng nước lũ ra đời Tập truyện ngắn Trốn nợ ra mắt bạn đọc năm 2008 Kể từ sau tác phẩm Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) nhà

Trang 23

văn có vẻ khá im với tiểu thuyết, mãi đến năm 2009 Một mình một ngựa ra

đời đánh dấu sự trở lại của tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Sau những tập truyện ngắn, tiểu thuyết vô cùng hấp dẫn qua nhiều thập

kỉ thì gần đây Ma Văn Kháng đã công bố cuốn hồi kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương với một giọng văn mà độc giả đã vô cùng thân quen.

Như vậy, với hành trình sáng tác gần 50 năm, với vốn sống phong phú

và sự trải nghiệm thực tế Ma Văn Kháng đã đem đến cho độc giả một khốilượng tác phẩm đồ sộ Nhìn lại con đường văn chương của Ma Văn Kháng cóthể thấy được ông đã rất thành công trên cả hai thể loại: tiểu thuyết và truyệnngắn Thành công của Ma Văn Kháng cho thấy ông đã dành cả cuộc đời củamình để gắn bó với văn chương nghệ thuật, để tạo nên những sự đổi mớitrong văn chương nghệ thuật

1.2.2 Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn trong văn xuôi đương đại Việt Nam

Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn hoàn thành vào tháng 12 năm

1982 và được xuất bản lần đầu vào năm 1985 Tiểu thuyết được coi là dấumốc quan trọng trong cuộc đời làm văn của tác giả Ma Văn Kháng

Mùa lá rụng trong vườn là một câu chuyện xoay quanh gia đình ông

Bằng Gia đình ấy là một gia đình tri thức cũ ở thủ đô lúc bây giờ Ông Bằng

là một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu Ông có năm người con trai, con đầu

là anh Tường tham gia chiến tranh và đã hi sinh ở ngoài mặt trận, chị Hoài

vợ của anh đã tái giá nhưng vẫn luôn quan tâm đến gia đình Đông người conthứ hai, một trung tá đã xuất ngũ, thờ ơ với cuộc sống, đối lập với Lý – vợcủa anh, một cô con dâu tháo vát nhưng lại có phần ghê gớm Thứ ba là Luận,một nhà báo với rất nhiều suy tư triết lí, vợ anh là Phượng một con ngườisống tình cảm, chân thành Thứ tư là Cừ, trái ngược với anh em trong giađình, Cừ là một đứa con hư hỏng, bỏ lại gia đình và vợ con trốn sang nướcngoài Em

Trang 24

út là Cần đang du học ở bên Liên Xô và sắp trở về nước Lúc đầu, cứ nghĩrằng sự duy trì nếp sống vốn có của ông Bằng thì gia đình đó sẽ được ổn định,bình yên và tốt đẹp nhưng cuối cùng nếp sống đã bị phá hoại bởi nền kinh thếthị trường lúc bấy giờ Điều đáng chú ý trong tiểu thuyết là chỉ sau một năm,giữa hai mùa cây trong vườn thay lá đã không có biết bao nhiêu chuyện xảy

ra trong gia đình đó Cừ đã phản bội lại Tổ quốc, bỏ đi ra nước ngoài, Lý rời

bỏ gia đình, bỏ Đông đi theo môt gã trai khác vào Sài Gòn, còn ông Bằng đãkhông còn, ông đã ra đi mãi mãi Gia đình “mẫu mực” ấy đã lung lay, đổ vỡ

và rơi vào bi kịch

Mùa lá rụng trong vườn cho thấy Ma Văn Kháng đã rất nhạy cảm khi

nhận ra được sự thay đổi của xã hội lúc bấy giờ Tác giả Vân Thanh từng

nhận xét: “Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay: Một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và

xã hội, về trách nghiệm của mỗi người đối với cuộc sống và cuộc sống dành cho mỗi người… tác phẩm đã khơi được vào cuộc sống của chúng ta hôm nay, đã lẩy ra được một mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về nó và cũng hi vọng, tin yêu ở nó Từ

đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách nhiệm sống” [17].

Tiểu thuyết đặt ra cho chúng ta một cái nhìn mới về truyền thống giađình Truyền thống gia đình là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn của con người,bảo vệ con người khỏi những cám dỗ, những điều xấu xa nhưng nay khi xãhội đổi mới thì chúng ta cần giữ gìn và phát huy những điều tốt đẹp cònnhững gì không phù hợp thì chúng ta nên loại bỏ

Ma Văn Kháng đã chứng tỏ tài năng của mình khi xây dựng thành công

rất nhiều kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn Đó là một chị Lý luôn thu hút người đọc bởi tính cách đa chiều: “Lý là nhân vật độc đáo, hấp dẫn nhất Con người này hễ có mặt ở đâu là có khả năng làm cho

Trang 25

nơi ấy có không khí, sinh động hẳn lên” [7], chỉ vì quá tham vọng mà Lý dần

bị tha hóa Đó là cái nhìn bao dung, vị tha của nhà văn “Viết Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng đã rọi vào luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá con người trong thời kì khó khăn, phức tạp hiện nay Nhà văn cảm thông với những lo toan vất vả trăm bề của người phụ nữ, đồng thời có tình, có lý khi phân tích những thiếu sót sai lầm của họ” [16].

Những nhân vật có tâm hồn đẹp đẽ như: chị Hoài, Phượng, Vân,…cũngđược Ma Văn Kháng khắc họa rất độc đáo Những con người này tuy ít xuấthiện nhưng họ lại là những con người sống rất tình cảm, nghiêng về giá trịtinh thần Họ được nhà văn dành cho những tình cảm nâng niu, trân trọng vàđặc biệt là sự đồng cảm sâu xa từ những việc họ làm

Ma Văn Kháng là nhà văn luôn muốn tìm tòi, đổi mới và sáng tạo nghệthuật Để làm nên sức sống, sự thu hút mãnh liệt mọi người và thành công

cho tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn thì ngôn ngữ nghệ thuật chính là vấn

đề cốt yếu, trọng tâm trong tác phẩm Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu

thuyết Mùa lá rụng trong vườn có những đặc trưng gì chúng ta sẽ khảo sát ở

chương hai của khóa luận

Trang 26

Chương 2:

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG

2.1 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của

Ma Văn Kháng

Nhà văn Ma Văn Kháng hầu như luôn trung thành với ngôi kể thứ ba.Thực chất, khi kể theo ngôi thứ ba nhà văn đã hóa thân vào từng nhân vật củamình để nói lên tiếng nói nhân văn, để thấu hiểu nỗi khổ của con người chứngười kể chuyện không chỉ đứng ngoài để quan sát hành động cũng như diễnbiến tâm lí của nhân vật mà chính tác giả đã là nhân vật, là người thay thếnhân vật nói lên những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống

2.1.1 Ngôn ngữ trần thuật giàu chất thơ

Trong cuốn Từ điển văn học có định nghĩa về chất thơ như sau: “Chất thơ không phải cái thuần túy đối lập hoàn toàn với văn xuôi mà là cái tỏa sáng trên văn xuôi Chất thơ của văn xuôi là một phạm trù có nội hàm rộng rãi nhưng trước hết nó là những cảm xúc chất chứa những tâm trạng dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong ngôn từ hàm súc giàu hình ảnh và nhất là

có nhịp điệu” [6].

Ngôn ngữ trần thuật giàu chất thơ được sử dụng rất độc đáo trong từngtrang tiểu thuyết Đọc từng trang viết người đọc dường như cũng rung độngtheo những biến đổi tinh tế của người trần thuật

Ngôn ngữ trần thuật giàu chất thơ trước hết được biểu hiện ở cách miêu

tả thiên nhiên Thiên nhiên trong tiểu thuyết là một thiên nhiên đầy sắc vàhương, hiện lên với tất cả cốt hồn vốn có của nó, khiến nó như trở thành mộtnhân vật thực sự trong tác phẩm Mỗi lần khi chúng ta đọc những đoạn văn tảkhu vườn, ta lại tưởng như đang lạc vào một thiên đường cỏ cây hoa lá, đắmsay theo âm thanh nhẹ nhàng, du dương của bản nhạc mà ông Bằng vô cùng

Ngày đăng: 11/09/2019, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2017), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2017
2. Bakhtin M (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
3. Lê Văn Chính (2004), Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của MaVăn Kháng
Tác giả: Lê Văn Chính
Năm: 2004
4. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Đại học 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 777 khái niệm ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học 1
Năm: 2010
5. Lê Bá Hán (Chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (Chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
6. Đỗ Đức Hiểu (Chủ biên)2004, Từ điển văn học, Nxb thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb thế giới
7. Trần Bảo Hưng (1986), “Đọc Mùa lá rụng trong vườn”, Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc "Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Trần Bảo Hưng
Năm: 1986
8. Ma Văn Kháng (1982), Mưa mùa hạ, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mưa mùa hạ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1982
9. Ma Văn Kháng (1986), Mùa lá rụng trong vườn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1986
10. Ma Văn Kháng (1992), Chó Bi, đời lưu lạc, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chó Bi, đời lưu lạc
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1992
11. Ma Văn Kháng (2001), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Nxb, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp gỡ ở La Pan Tẩn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 2001
12. Ma Văn Kháng (2011), Bóng đêm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bóng đêm
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
13. Ma Văn Kháng (2012), Bến bờ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến bờ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2012
14. Ma Văn Kháng (2013), Chuyện của Lý, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện của Lý
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2013
15.Trần Thị Phi Nga (2008), Đặc trưng tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng
Tác giả: Trần Thị Phi Nga
Năm: 2008
16. Nhiều tác giả, “Thảo luận quanh tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng”, Người Hà Nội, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận quanh tiểu thuyết "Mùa lá rụng trong vườn "củaMa Văn Kháng
17. Vân Thanh (1986), “Mấy ý nghĩ về Mùa lá rụng trong vườn”, Văn nghệ Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý nghĩ về "Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Vân Thanh
Năm: 1986
18. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) Hà Quang Năng – Đỗ Việt Hùng – Đặng Ngọc Lệ (2001), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Như Ý (Chủ biên) Hà Quang Năng – Đỗ Việt Hùng – Đặng Ngọc Lệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w