Ông được biết đến với rất nhiều các tác phẩm nổi tiếng như: Đồng bạc trắng hoa xòe 1979, Mùa lá rụng trong vườn 1985, Đám cưới không có giấy giá thú1986… Với bút lực dồi dào như găm vào
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT
MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
CỦA MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT
MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
CỦA MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
GVC TS LA NGUYỆT ANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến T.S La Nguyệt Anh, người cô tận tâm nhiệt tình đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý Thầy Cô trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã quan tâm tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Triết luận trong tiểu
thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, nghiên cứu này không trùng với bất kì kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của khóa luận 5
8 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Khái niệm triết luận và triết luận trong văn chương 6
1.2 Triết luận trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 7
1.3 Tác giả Ma Văn Kháng và cảm quan triết luận văn chương 10
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng 10
1.3.2 Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn - Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật 12
CHƯƠNG 2 SỰ BIỂU HIỆN TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG 15
2.1 Triết luận về văn hóa dân tộc 15
2.1.1 Triết luận qua các lễ thức văn hóa dân tộc 15
2.1.2 Ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc 17
2.2 Triết luận về gia đình 19
2.2.1 Gia đình – một thực thể của xã hội 19
2.2.2 Gia đình – nơi bảo vệ phẩm giá con người 22
Trang 62.3 Triết luận về con người 25
2.3.1 Con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội 25
2.3.2 Con người bản thể 31
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG 34
3.1 Kết cấu, cốt truyện 34
3.1.1 Kết cấu tác phẩm 34
3.1.2 Cốt truyện 36
3.2 Ngôn ngữ, giọng điệu mang tính triết luận 39
3.2.1 Ngôn ngữ đời thường, đậm chất chiêm nghiệm 39
3.2.2 Giọng điệu đa thanh với nhiều sắc thái 42
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trải qua thời gian, văn học luôn luôn dõi theo con người và trở thành một hành trang cho cuộc sống Những vấn đề, bài học mà các nhà văn gửi vào trong mỗi tác phẩm của mình đều mang lại những giá trị tốt đẹp đến với con người Cùng bước vào thế giới của văn học, chúng ta sẽ thấy cả một chặng đường của lịch sử dân tộc Ở mỗi thời kì, các nhà văn lại sáng tạo, tìm tòi và phát triển những nét đặc sắc tạo nên sự đặc trưng của các giai đoạn trong văn học
Văn học Việt Nam sau năm 1975 có rất nhiều sự thay đổi so với giai đoạn trước Các nhà văn giai đoạn này đi sâu vào những gì dung dị, đời thường của con người Đó là nỗi lo về cơm, áo, gạo, tiền… là ước mơ có một cuộc sống đầy đủ nhưng vẫn giữ gìn được những phẩm chất vốn có trước sự thay đổi nhanh chóng của xã hội Không đi chệch ra khỏi sự đổi mới của nền văn học, tiểu thuyết giai đoạn này cũng có sự đổi thay tích cực để phù hợp với khuôn khổ và sự phát triển của thời đại Trong dòng của mạch cảm xúc ấy có
Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trần Quang Quý, Nguyễn Việt Chiến, Dư Thị Hoài, Y Phương (trong thơ)… Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái (trong văn xuôi)… Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Hòa (lý luận phê bình)…
Và trong đó không thể không kể đến nhà văn Ma Văn Kháng một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa sau thế kỷ XX Tác phẩm của
Ma Văn Kháng luôn thu hút được sự chú ý của người đọc
Ông được biết đến với rất nhiều các tác phẩm nổi tiếng như: Đồng bạc
trắng hoa xòe (1979), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú(1986)… Với bút lực dồi dào như găm vào tâm khảm người đọc,
đến năm 2017, Ma Văn Kháng tiếp tục xuất tiểu thuyết Chim én liệng trời cao
– đây chính là tác phẩm mới nhất của nhà văn Chính vì vậy, việc nghiên cứu
và tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp Ma Văn Kháng cũng như lạm bàn về nội dung và nghệ thuật tiêu biểu trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng luôn là
Trang 8những mảnh đất màu mỡ để độc giả, nhà nghiên cứu có thể khai thác và tìm hiểu
1.2 Có thể nói, một trong những nét đặc sắc nhất trong tiểu thuyết của
Ma Văn Kháng ở đây chính là sự đổi mới về tư tưởng Chất triết luận chính là yếu tố rõ ràng nhất thể hiện chất tư tưởng mà Ma Văn Kháng đã gửi gắm vào các tác phẩm của ông như sự suy ngẫm về thời đại, văn hóa, gia đình và con người Ở đó thu hút bạn đọc bởi những quan niệm, những suy tư đánh giá về mọi mặt của xã hội – điều mà độc giả hướng đến
1.3 Tiểu thuyết là một trong những thể loại văn học luôn luôn có sức hút với mọi thời đại Ở tiểu thuyết chúng ta có thể phản chiếu hiện thực một cách rõ ràng với hệ thống nhân vật dồi dào với những tính cách đa dạng và phức tạp Với Ma Văn Kháng tiểu thuyết của ông không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực xã hội mà còn mang yếu tố triết luận vô cùng sâu sắc
Nghiên cứu yếu tố triết luận trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma
Văn Kháng chúng ta có thể làm rõ một khuynh hướng vô cùng phát triển sau
1975 Với những lí do trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Triết luận
trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng” Việc nghiên
cứu và tìm hiểu một cách có hệ thống vấn đề này là một hướng nghiên cứu đầy triển vọng, hứa hẹn sẽ đem lại nhiều khám phá mới mẻ về chiều sâu tư tưởng của tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói riêng
Hy vọng đây là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm của Ma Văn Kháng
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Khuynh hướng triết luận trong văn chương sau đổi mới phát triển
vô cùng mạnh mẽ và đặc biệt là ở mảng văn xuôi Bắt kịp xu hướng của thời đại, Ma Văn Kháng sáng tạo và bổ sung vào văn chương Việt Nam những tác phẩm mang yếu tố triết luận rõ ràng và sâu sắc Nhiều tác giả đã đi sâu vào
việc nghiên cứu chất triết luận trong mảng văn xuôi như cuốn khảo cứu Triết
lý văn hóa và triết luận văn chương của Hoàng Ngọc Phách, Triết luận trong truyện ngắn Nguyễn Khải (Nguyễn Thị Huấn – Luận văn thạc sĩ Ngữ văn –
ĐHSPHN 2002), Chất triết luận trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Trang 9(Hoàng Thị Nhiệm- Luận văn tốt nghiệp- Đại học sư phạm Hà Nội
2013)…đều là những công trình đi sâu nghiên cứu về yếu tố triết luận trong
văn xuôi để tìm hiểu về những tư tưởng mới mẻ của các nhà văm khi thể hiện những nét dung dị của đời sống
2.2 Yếu tố triết luận trong trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cũng trở thành đối tượng quan tâm trong nhiều nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai trong luận văn thạc sĩ: Những chuyển
biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới đã nhận ra:“Văn phong
Ma Văn Kháng xuất hiện nhiều những câu, những đoạn mang đậm tính triết
lí, chiêm nghiệm, đánh giá của nhà văn về cuộc sống con người, về nhân tình thế thái” [12] nhưng cũng chưa đi nghiên cứu sâu về vấn đề này trong tiểu
thuyết của ông Vì vậy luận văn “Triết luận trong tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng” sẽ tiếp nối những công trình đi trước về
khuynh hướng triết luận để có thể tìm hiểu về triết luận một cách sâu sắc hơn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói riêng và văn xuôi Việt Nam nói
chung
2.3 Các tác phẩm của Ma Văn Kháng luôn trở thành “những mảnh đất màu mỡ” để tìm hiểu và nghiên cứu của nhiều các nhà nghiên cứu cả nước Rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu, nghiên cứu về các
tác phẩm văn xuôi của Ma Văn Kháng như Phong cách tiểu thuyết Ma Văn
Kháng (Nguyễn Thị Phương – Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt
Nam, 2014), Những chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi
mới (Nguyễn Thị Thanh Mai- Luận án thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh 2008), Văn hóa gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn (Lưu Thị Thanh Nga – Khóa luận tốt nghiệp – ĐHSP Hà Nội 2,
2015)… nhưng chưa có một bài viết nào đi sâu vào nghiên cứu về yếu tố triết luận trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Điểm qua về tình hình nghiên cứu yếu tố triết luận trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã có ít nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình
nào nghiên cứu sâu về yếu tố triết luận trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn Chính vì vậy mà tôi mong rằng khóa luận này sẽ là một nghiên cứu độc
Trang 10đáo đi sâu vào khuynh hướng triết luận trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn của nhà văn Ma Văn Kháng
3 Mục đích nghiên cứu
Triển khai đề tài: “Triết luận trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
của Ma Văn Kháng” nhằm mục đích: Tìm hiểu triết luận được thể hiện trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng để thấy được sự tiếp thu và phát triển cũng như những nét mới về triết luận của nhà văn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề mang tính triết luận trong tiểu thuyết nói
chung và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng nói riêng
Nghiên cứu một số phương diện của triết luận : Triết luận về thời đại, triết luận về dân tộc, triết luận về gia đình, triết luận về con người…
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Triết luận được biểu hiện trong Mùa lá
rụng trong vườn của Ma Văn Kháng trên các phương diện về nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài khóa luận này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau: Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu sự vận động và phát triển của văn
xuôi Việt Nam sau 1975 nói chung và tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng nói riêng
Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đối chiếu tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng với những tiểu thuyết, truyện ngắn của các nhà văn khác (Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu) để thấy được nét nổi bật về triết luận trong tiểu thuyết của ông
Trang 11Phương pháp phân tích tác phẩm: Phân tích Mùa lá rụng trong vườn
theo đặc trưng của thể loại tiểu thuyết để làm rõ nội dung và nghệ thuật mang tính triết luận của tác phẩm
7 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận chỉ ra khuynh hướng triết luận trong sáng tác của Ma Văn Kháng
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm ba chương chính:
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái niệm triết luận và triết luận trong văn chương
Văn học sau 1975 nổi lên rất nhiều khuynh hướng văn chương mới cùng những sáng tác nghệ thuật nổi bật Triết luận cũng nằm trong số đó và thu hút sự chú ý của rất nhiều các nhà văn đương thời Chưa có một định nghĩa chính xác về khái niệm triết luận Nhưng theo lối chiết tự từ Hán-Việt
ta có thể hiểu “triết luận” được cấu thành từ hai yếu tố “triết” và “luận”
người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Còn
“Luận” có thể hiểu là những yếu tố lập luận, bàn luận về một vấn đề nào đó Như vậy, “triết luận” là những yếu tố lập luận, bàn luận về một hệ thống tri thức trong đời sống xã hội Vậy triết luận trong văn chương là gì? Theo
Hoàng Thị Nhiệm: “Triết luận trong văn chương chính là sự khám phá quy
luật của đời sống bằng tư duy nghệ thuật, có nghĩa là nó gắn với những đặc trưng cơ bản của sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn chương Thông qua thế giới hình tượng, người nghệ sĩ thể hiện những trải nghiệm riêng, những kinh nghiệm riêng về đời sống vừa có chiều sâu, vừa cụ thể, sinh động.” [16,
tr.10] Thật vậy, các nhà văn đã thể hiện những triết lí sâu xa của bản thân
thông qua những suy nghĩ, lời nói, hành động của các nhân vật trong tác phẩm
để làm nổi bật những quy luật mang tính triết học trong đời sống
Tuy nhiên không phải tác phẩm văn học nào cũng mang tính triết luận Bởi triết luận chỉ xuất hiện khi thời xã hội đó có nhiều sự thay đổi và biến động tác động đến nền văn học Triết luận đưa ra những suy nghĩ, lí giải về các vấn đề lớn, đưa ra nhận thức liên quan đến đời sống xã hội của con người Chính vì vậy, để đưa được chất triết luận vào trong văn chương chưa bao giờ
là một chuyện dễ dàng Thế nhưng, văn học Việt Nam sau 1975 có cơ sở lớn
để tạo nên tính triết luận trong văn chương Bởi sau giải phóng, đất nước ta có nhiều sự thay đổi, biến động mang tính thời sự, cấp thiết và đã tạo nên nhiều vấn đề khác so với các giai đoạn trước Chính vì vậy, văn học Việt Nam sau
Trang 131975 là tiền đề để phát triển chất triết luận trong văn chương giai đoạn này, đặc biệt là ở mảng văn xuôi
Và vì vậy, triết luận đã đi sâu vào đời sống của văn học một cách rõ nét qua rất nhiều sáng tác mang tính nghệ thuật của các nhà văn thời kì sau 1975 Trong các nhà văn đem lại ảnh hưởng về triết luận trong văn chương một cách
rõ nét không thể không nhắc đến Ma Văn Kháng Ông đã từng nói: “Tôi rất
quan tâm đến tính triết luận, cho nên ở các truyện ngắn tôi thích, tôi thường tìm được điểm nhấn, nó như những cái mấu mắc vào lòng bạn đọc.” [9,
tr.209] Các tác phẩm của ông dường như thể hiện một cách xuất sắc, khiến người đọc cảm nhận ngay từ câu chữ cho đến nội dung của tác phẩm đều mang yếu tố triết luận Tuy không thường xuyên, thế nhưng có lúc Ma Văn Kháng đã sử dụng giọng điệu triết lý, triết luận để bộc lộ quan điểm của mình
của nhà văn Ông nhận ra rằng, "văn là văn Văn không phải là chính trị, kinh
tế học được hình ảnh hóa Văn cũng chẳng phải là cỗ đại xa mang nhãn hiệu Komatsu hay Côccum có sức chở ba chục tấn hay chiếc xe bò bánh gỗ chở lổng chổng trên nó mấy thứ hàng tư tưởng rẻ tiền hay đắt giá Văn là chính
nó, ở chỗ nó chỉ có mỗi một nhiệm vụ là miêu tả con người một cách văn chương Nó tự nhiên như đời sống vì chính nó là đời sống, chi phối nó chỉ có một sức mạnh duy nhất của đời sống" [10,tr.149] Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn là minh chứng cho sự thể hiện yếu tố triết luận một cách cụ thể
nhất, rõ ràng nhất
1.2 Triết luận trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Văn học Việt Nam sau 1975, có rất nhiều thay đổi so với giai đoạn trước đó Giai đoạn này, nền văn học Việt Nam đã đổi mới ở tất cả các thể loại như thơ ca, văn xuôi Nếu như thơ ca chuyển biến rõ nét về cách thể hiện, câu, chữ,… thì ở mảng văn xuôi cách thức thể hiện, nội dung và chiều sâu suy tưởng mang lại niềm hứng thú với các tác giả giai đoạn này Triết luận là điểm mới, là sự hứng thú của các tác giả văn xuôi và yếu tố triết luận trong văn chương chính là sự hòa quyện của luận lí, triết học vào các tác phẩm văn chương để làm nổi bật lên cái chiều sâu tư tưởng trong tác phẩm Triết luận mang lại cảm thức về những vấn đề bình dị trong cuộc sống hằng ngày ở chiều sâu về nhận thức Những vấn đề trong các tác phẩm văn xuôi giai đoạn
Trang 14này thường thiên về cuộc sống của con người trong một thời đại mới, đất nước bước qua giai đoạn chiến tranh gian khổ và ác liệt để bước vào thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc vượt qua những khó khan mà giai đoạn trước đó mang lại Ở thời bình, tuy không còn chiến tranh nhưng cuộc sống con người còn mang lại nhiều hơn những nghĩ suy, những lo toan về cuộc sống sau này Không còn nỗi lo bom đạn, con người sau 1975 lo lắng về cơm, áo, gạo, tiền… về những bản sắc văn hóa dân tộc đang dần dần bị thui chột trong một xã hội đang lên ngôi về thế lực của đồng tiền Tất cả những cảm thức đó đi vào văn học và khiến các tác giả trăn trở, suy nghĩ về điều đó Nhắc đến yếu tố triết luận giai đoạn này, ta có thể thấy một vài nhà nghiên cứu dã đưa ra rất nhiều những nhận định sâu sắc về
triết luận như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã nhận định “cảm hứng
chiêm nghiệm, triết lí – nơi bộc lộ những kinh nghiệm từng trải và nhu cầu nhận thức đời sống từ các quy luật phổ quát… ý thức tự vấn thường trực góp phần làm cho cảm hứng triết luận trở thành một nét phong cách quan trọng của văn xuôi đương đại” [11, tr.243] Bên cạnh nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Long thì Nguyễn Thị Bình khẳng định: “tăng cường tính triết luận là khuynh
hướng nổi bật trong văn xuôi thời kì đổi mới” [1, tr.116] Triết luận thổi vào
văn chương một luồng gió mới, mang đến cho văn chương những tư tưởng, chiêm nghiệm về cuộc đời, con người, thế giới một cách sâu sắc và lắng đọng Không phải chỉ đến giai đoạn này triết luận mới xuất hiện trên văn đàn mà từ thời văn học trung đại các nhà văn, nhà thơ cũng đã đưa ra những triết lí
những chiêm nghiệm về thế sự, cuộc đời trong thơ văn của mình
Đi tìm hiều về yếu tố triết luận trong văn chương là chúng ta đi sâu vào khai thác, khám phá quy luật của đời sống bằng những chiêm nghiệm, lí giải mang tính chất triết học được thể hiện qua những kinh nghiệm đúc kết từ các quá trình tìm tòi, nghiên cứu cũng như khám phá của các tác giả Thông qua thế giới của nhân vật, các tác giả sẽ lí giải những trải nghiệm, kinh nghiệm mà
họ đã trải qua, tìm hiểu qua một cách sâu sắc, sinh động Và khi yếu tố này trong các tác phẩm nổi lên như một đặc trưng nó sẽ đem lại cho tác phẩm ấy những giá trị nghệ thuật mới, hấp dẫn cũng như đem lại cho các tác giả phong cách và cá tính sáng tạo riêng Chính vì vậy, triết luận trong văn chương, đặc
Trang 15biệc là ở mảng văn xuôi sẽ đem lại những hứng thú cũng như sự lí giải sâu sắc
về những vấn đề nổi bật trong xã hội mà mọi tầng lớp đều quan tâm đến
Văn xuôi sau 1975 mang trong mình nhiều đặc điểm nổi bật và đáng quan tâm so với các giai đoạn trước đó Bởi lẽ giai đoạn này thay đổi mọi thứ
cả về quan niệm cho đến các khuynh hướng sáng tác Và trong đó khuynh hướng về triết luận được các tác giả giai đoạn này chú ý và quan tâm khá lớn Chính vì vậy, triết luận trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 thể hiện những đặc điểm riêng biệt của mình và phát triển khá rõ rệt và thể hiện rõ nhất ở mảng tiểu thuyết
Đặc điểm đầu tiên chúng ta có thể kể đến ở đây đó là về mặt nội dung, triết luận trong văn xuôi giai đoạn này mang những cảm thức về thế sự, về cuộc sống và những suy nghĩ sâu xa trong tâm hồn con người Nội dung của triết luận gần gũi với đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội từ lối sống, văn hóa, công việc và cả mối quan hệ giữa con người trong gia đình và ngoài xã hội
Đặc điểm thứ hai về yếu tố triết luận trong văn xuôi giai đoạn này là khuynh hướng triết luận giải thích được bằng cả những nét nghệ thuật tiêu biểu mà tác giả thể hiện trọng tác phẩm văn chương của mình Mỗi tác giả lại
có cách khác nhau để từ những nét nghệ thuật đó bộc lộ được những tư tưởng, triết lí mà mình muốn gửi gắm tới độc giả
Trước Ma Văn Kháng, đã có rất nhiều nhà văn khai thác về khuynh hướng triết luận trong văn xuôi, có thể kể đến như Nguyễn Khải với các tập
truyện ngắn như “Mùa lạc, Hà Nội trong mắt tôi,Một người Hà Nội” …Tuy
chưa đi sâu vào nội dung triết luận nhưng nhưng triết lí sâu xa mà Nguyễn Khải đóng góp cho nền văn học cũng là rất lớn Bên cạnh Nguyễn Khải chúng
ta còn có thể kể đến một vài nhà văn cũng đem khuynh hướng triết luận vào
văn xuôi giai đoạn này như Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, bến
quê…), Nguyễn Thi (Những đứa con trong gia đình, người mẹ cầm súng…)
Triết luận trong văn xuôi sau 1975 phát triển mạnh và Ma Văn Kháng cũng chính là một nhà văn đón nhận và phát triển nó
Trang 161.3 Tác giả Ma Văn Kháng và cảm quan triết luận văn chương
Triết luận trong văn xuôi đối với Ma Văn Kháng là một hướng tìm hiểu mới Ông mang đến một cảm quan riêng của mình để thể hiện những hiện tượng trong cuộc sống từ sự lí giải bằng triết học Ông là một trong những tác giả tiếp nối Nguyễn Khải để có thể đi sâu vào khai thác khuynh hướng triết luận trong văn xuôi sau 1975
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936, quê ông ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Năm mười bốn tuổi, Ma Văn Kháng đã tham gia tổ chức thiếu sinh quân, rồi sau đó được cử
đi học ở Khu học xá Việt Nam tại Trung Quốc Năm 1964, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ông lên dạy học ở tỉnh Lào Cai và bắt đầu viết văn Lấy bút danh là Ma Văn Kháng chính là cách để ông ghi nhớ những kỉ niệm không thể nào quên về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, không ngại gian khó, lăn lộn với công việc dạy học nơi bản làng, và bày tỏ niềm tri ân sâu nặng của mình với đồng bào các dân tộc vùng cao mà ông đã gắn bó hơn mười năm trời Năm 1976 ông chuyển về công tác tại Hà Nội, làm phó giám đốc- Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao động, Uỷ viên Ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài… Với những đóng góp tích cực cho vận động và phát triển nhiều mặt của văn học nghệ thuật, Ma Văn Kháng được tặng Giải thưởng văn học ASEAN năm 1998 và Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
Hơn 20 năm sống ở Lào Cai, nơi ông gọi miền đất vàng, nơi đã cho ông những chất liệu quý giá và nguồn cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ để ấp ủ và cho
ra đời những tiểu thuyết kỳ vĩ về vùng biên ải Cũng chính Lào Cai đã cho ông một tâm hồn Mông trong lòng một người Hà Nội Bước ngoặt trong đời viết văn của Ma Văn Kháng chính là thời điểm chuyển công tác về Hà Nội,
ngôi nhà trong ngõ nhỏ 221, phố Sinh Từ là nơi ông đã sống và viết “như
chưa bao giờ được viết Viết như kẻ đói cơm khát nước nay được uống được
ăn Viết trong nỗi mê sảng mà sáng láng, không chấp việc nhỏ để dành sức làm việc lớn bởi cao hơn cả là tình yêu mãnh liệt với Tổ quốc và dân tộc
Trang 17mình Một tình yêu thực sự chứ không phải thứ mơn trớn vuốt ve mộng mị hoặc thói tiểu xảo và tức khí vặt Một tình yêu cao cả, bao hàm trách nhiệm lớn lao một tình yêu dùng đến cả thách đố để làm bằng ”
Quá trình sáng tác và hoạt động nghệ thuật bền bỉ của Ma Văn Kháng
đã giúp ông có một sự nghiệp văn chương vô cùng đồ sộ với gần 20 truyện ngắn, 12 cuốn tiểu thuyết và 8 tập truyện dành cho thiếu nhi Bên cạnh đó năm 1998, Ma Văn Kháng đã nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á Bằng sự cần mẫn của mình, ông đã có những đóng góp vô cùng to lớn và đáng trân trọng cho nền văn học dân tộc Một số tác phẩm tiêu biểu của ông
có thể kể tên như : Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết 1979), Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983), Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985), Ngày đẹp trời (tập truyện ngắn, 1986), Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết 1989)…
Con đường sáng tác văn học của Ma Văn Kháng có thể nói là cả một sự
cố gắng, say mê, miệt mài với hoạt động văn chương nghệ thuật theo sát ông
là sự quyết tâm tột độ, lòng yêu nghề say đắm chính điều đó đã tạo nên một
Ma Văn Kháng hoàn thiện và hoàn toàn khác biệt với bất kì nhà văn nào Bản
thân Ma Văn Kháng cho rằng : “Công việc văn chương không đơn giản chỉ là
tài năng mà còn là sự vật lộn, trăn trở, nghiên ngẫm, từng trải, luôn canh cánh mắc nợ với đời Văn chương phải tự nhiên như đời sống, phải tác động đến đời sống tâm tư, tình cảm của mỗi cá nhân con người, cái viết ra phải làm cho con người hoặc sung sướng phát điên lên hoặc đau đớn quặn thắt đến từng khúc ruột, hoặc ngẩn ngơ như một kẻ mắc bệnh trầm cảm”
Nếu như nhà văn Nguyễn Khải đưa ra những chiêm nghiệm, những lí giải về quan niệm nhân sinh của con người, lối sống của họ qua cách thể hiện
văn hóa trong các tác phẩm như Danh dự,Một người Hà Nội, Nắng
chiều…hay Nguyễn Minh Châu thể hiện cách nhìn nhận về phẩm chất con
người qua cái nhìn của nhân vật Phùng và Đẩu trong Chiếc thuyền ngoài xa
hay những suy nghĩ về cuộc đời, cuộc sống khi nằm trên giường bệnh của
nhân vật Nhĩ trong Bến quê… Thì ở Ma Văn Kháng ông mang những chiêm
nghiệm, suy nghĩ của mình tiềm ẩn trong các nhân vật Mỗi nhân vật trong
Mùa lá rụng trong vườn là một cuộc đời, một tính cách, một suy nghĩ khác
nhau bên cạnh đó còn là những triết lí về gia đình, dân tộc mà Ma Văn Kháng
Trang 18muốn gửi gắm đến bạn đọc và điều đó làm nên cái chất triết luận sâu xa trong cuốn sách Có thể nói Ma Văn Kháng vừa tìm tòi, nghiên cứu cũng như có sự học hỏi từ các nhà văn để có thể đem yếu tố triết luận đến gần hơn với nền văn học Việt Nam sau 1975
1.3.2 Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn - Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
Mùa lá rụng trong vườn là cuốn tiểu thuyết được Ma Văn Kháng hoàn
thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu tiên năm 1985 Tiểu thuyết lấy bối cảnh của một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế
kỉ XX, khi đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh gian khổ trường kì để quay lại với công cuộc xây dựng và phát triển Truyện về gia đình nhà ông Bằng đã phản ảnh một cách vô cùng chân thực về cuộc sống của con người trước những biến động của thời kì đổi mới, bên cạnh đó chính là sự ảnh hưởng của xã hội đến với gia đình
Mùa lá rụng trong vườn là câu chuyện kể về gia đình nhà ông Bằng,
một gia đình gia giáo, mực thước gốc Hà Nội: Ông Bằng nền nếp, mực thước, luôn luôn coi trọng những giá trị truyền thống của gia đình và dân tộc Ông Bằng có năm người con trai : Tường – Đông – Luận – Cừ - Cần
Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là chị Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên gửi thư thăm hỏi gia đình Anh hai Đông là một ông trung tá đã xuất ngũ nên trở nên hơi lười biếng ỉ lại vào vợ anh là chị Lý Anh
ba Luận là một nhà báo, luôn luôn suy nghĩ, suy tư về cuộc dống trong gia đình và ngoài xã hội, vợ anh là Phượng – một người phụ nữ tốt bụng, giàu tình thương đối với mọi người Nếu ba anh trai đều là những con người mẫu mực thì Cừ người con thứ tư trong gia đình nhà ông Bằng lại có chút hư hỏng, quậy phá không nghe lời mẹ cha và các anh em trong nhà và bị đổi khỏi quân ngũ Em út Cần đi Liên Xô du học và chuẩn bị về nước
Ông Bằng đang sống cùng với gia đình Đông và Luận trong ngôi nhà yên ắng tĩnh mịch cùng với những nền nếp gia phong mà ông vẫn luôn luôn gìn giữ và truyền đạt lại cho các con Sau những ngày tết với những nghi lễ và những câu chuyện, màn gặp mặt đầy vui sướng cuộc sống gia đình ông bỗng
Trang 19nhiên trở nên ảm đạm, nặng nề và khó khăn Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ lại vợ con trốn sang Canada để lại nỗi vất vả cho cả gia đình và nỗi đau khá lớn trong lòng ông Bằng Gây cho ông một cú sốc lớn hơn khi Cừ gửi bức thư về nhà báo rằng mình sẽ chết khiến ông Bằng bị tai biến và mất Vợ của Cừ vô
cớ bị sả thải khỏi nông trường nên phải đến ở nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài
Vợ chồng Luận –Phượng phải lo toan gánh vác trách nhiệm nặng nề của cả gia đình, nhưng họ luôn luôn là những con người đầy tinh thần trách nhiệm cũng như tình yêu thương với mọi người Còn gia đình anh hai Đông, vì là một ông trung tá đã về hưu rảnh rỗi nên suốt ngày đi đánh tổ tôm, không quan tâm đến vợ con nên vợ anh- chị Lý đã trở nên sa ngã Chị bị lão trưởng phòng vật tư dụ dỗ nên đã trở nên ăn chơi, hưởng lạc, bỏ bê gia đình rồi cuối cùng chị bỏ chồng theo lão ta vào Sài Gòn Sau đó chị mới nhận ra lỗi lầm của mình và gửi thư về cho gia đình mong được quay về Câu chuyện kết thúc vào một đêm 30 tết
Mùa lá rụng trong vườn có thể nói là cuốn tiểu thuyết thể hiện được rõ
nét sự đổi mới trong cách viết và cách sáng tác của Ma Văn Kháng Bên cạnh
đó là cách thể hiện triết luận qua suy nghĩ và tính cách của các nhân vật trong
tác phẩm Vân Thanh đã nhận xét rằng “Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn
là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay: Một tiếng nói về quan
hệ cá nhân, gia đình và xã hội về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống và cuộc sống dành cho mỗi người…Tác phẩm đã khơi được vào dòng chảy của cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lẩy ra được một mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về
nó, và cũng hi vọng, tin yêu ở nó Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách nhiệm sống.” [17]
Mùa lá rụng trong vườn gợi ra cách nhìn nhận của Ma Văn Kháng
trong việc gìn giữ những nét truyền thống được gây dựng lâu đời của dân tộc Trong đó gia đình là nơi cố thủ để bảo vệ phẩm giá con người, nơi nuôi dưỡng tinh thần, tâm hồn con người trước những cạm bẫy xã hội Bên cạnh
đó tác phẩm đã tạo nên những nhân vật có tính cách được xây dựng nhiều chiều, nội tâm phong phú thể hiện những chiêm nghiệm và triết lí mà nhà văn
muốn gửi gắm đến người đọc Nguyễn Thị Thanh Mai trong luận văn Những
Trang 20chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới cho rằng: “Tác phẩm còn đưa ra một cách nhìn mới của nhà văn đối với truyền thống dân tộc bao đời của người Việt Truyền thống văn hóa gia đình là cội nguồn nuôi dưỡng tinh thần, bảo vệ con người tránh xa điều xấu nhưng nay xã hội đã đổi mới chúng ta cần giữ gìn những cái tốt đẹp và cũng cần lọa bỏ những cái không phù hợp” [12]
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn mang giọng kể ấm áp, lôi cuốn
người đọc vào những câu chuyện của gia đình nhà ông Bằng Kết hợp cùng với kết cấu vòng của truyện và những câu chuyện lồng ghép vào nhau tạo nên những nét đặc sắc về nghệ thuật cho cuốn tiểu thuyết này Bên cạnh đó, nhà văn còn đi sâu vào miêu tả và phân tích nội tâm nhân vật một cách đầy sâu sắc khiến tác phẩm có chiều sâu và mang lại sức hút đối với người đọc
Ngoài ra, ở cách sử dụng ngôn ngữ Ma Văn Kháng đều sử dụng ngôn
từ, hình ảnh vô cùng quen thuộc gắn bó với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Bắc bộ Đó là những hình ảnh về cái tết cổ truyền của nhân dân
ta như bánh chưng, cây quất, hoa đào,… hay là hình ảnh mâm cỗ cúng đêm giao thừa đều là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc mà bất cứ ai cũng biết đến Chính những đặc điểm ấy đã mang lại những nét đặc sắc về nghệ thuật
cho Mùa lá rụng trong vườn và góp phần làm nên thành công của tác phẩm
Trang 21CHƯƠNG 2
SỰ BIỂU HIỆN TÍNH TRIẾT LUẬN TRONG MÙA LÁ RỤNG
TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG
2.1 Triết luận về văn hóa dân tộc
2.1.1 Triết luận qua các lễ thức văn hóa dân tộc
Đất nước sau 1975 là hoàn cảnh khác với giai đoạn trước đó Ở giai đoạn này, sự giao lưu và giao thoa giữa các nền văn hóa đang phát triển nhanh Chính vì vậy các vấn đề về văn hóa, văn hóa dân tộc là một mối quan tâm lớn đối với mọi người và đặc biệt là các nhà văn Rất nhiều các chủ trương để giữ gìn bản sắc dân tộc được Đảng và nhà nước thực hiện trong giai đoạn này để góp phần gìn giữ những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam trong nhân dân khắp cả nước Hiểu được nhiệm vụ đó, nhà văn Ma Văn Kháng cũng góp sức mình để có thể lưu giữ những nét văn hóa đẹp đẽ của dân tộc trong nhân dân bằng cách dùng ngòi bút tài hoa của mình phác nên những nét đẹp, những giá trị truyền thống thể hiện bản sắc văn hóa qua các tập truyện ngắn cũng như tiểu thuyết Những cuốn tiểu thuyết viết về
vùng cao như Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Chim én liệng trời cao, Chuyện của
Lý…cũng thể hiện lên những nét đẹp trong văn hóa dân tộc của người dân
miền núi Và ở Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng đã thể hiện rõ nét
những đặc trưng về văn hóa ngày tết của một gia đình truyền thống và đây cũng là những nét đặc trưng của ngày tết ở mọi gia đình trên khắp cả nước
Ma Văn Kháng mang những nét đẹp về ngày tết của dân tộc bằng những câu
từ mang tính triết lí , thể hiện được chiều sâu tư tưởng cũng như sự diễn giải
về lịch sử và văn hóa của dân tộc
Đối với con người Việt Nam ta, các nghi lễ, lễ thức dân tộc luôn luôn được thực hiện một cách vô cùng tôn kính và nghiêm trang Trong văn hóa người Việt, yếu tố tâm linh vô cùng quan trọng, chúng ta luôn luôn một lòng hiếu kính với tổ tiên, với truyền thống văn hóa của gia đình và dân tộc Trung bình một tháng chúng ta đều có những ngày để thể hiện lòng biết ơn, cảm tạ ông bà, trời đất đó là ngày rằm và mùng một theo âm lịch Bên cạnh đó, tết cổ truyền luôn là những ngày linh thiêng nhất đối với dân tộc Tết cổ truyền vô
Trang 22cùng quan trọng, cho dù bất cứ ai, bất cứ ngành nghề nào hay thậm chí những người con xa tổ quốc cũng một lòng hướng về đất nước, quê hương mỗi dịp tết đến xuân về
Trong Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng đã vẽ lên những nét vẽ
đẹp nhất, những chiêm nghiệm sâu xa nhất về ngày tết cổ truyền của dân tộc khiến độc giả đọc lên và suy ngẫm về ý nghĩa của ngày tết thiêng liêng cũng như hình ảnh của nghi lễ trong thời khắc giao thời
Sau buổi gặp gỡ lại của gia đình ông Bằng và chị Hoài – người con dâu
cũ của ông Bằng thì Lý đã rất ý tứ và mời ông Bằng khấn cho lễ cúng gia tiên
Lễ cúng gia tiên vào đêm 30 tết luôn luôn là sự tôn nghiêm, kính trọng trước ban thờ ông bà tổ tiên vào dịp tết Ma Văn Kháng đã thể hiện rất rõ nghi lễ ấy
qua hành động của ông Bằng: “soát lại hàng khuy áo, chỉnh lại cà vạt, ho
khan một tiếng, dịch chân lại trước mặt bàn thờ” [6,tr.85] sự trang nghiêm,
ngay ngắn của ông bằng toát lên sự cung kính Xung quanh ông Bằng là đoạn:
“Hương cháy, uốn cong một đoạn tàn”, là hình ảnh “hai cái bánh chưng bọc
lá xanh tươi, buộc lạt điều, xếp cạnh mâm ngũ quả và những chén rượu xinh xắn đặt rải hàng ngàn trước bệ thờ Ngọn đèn dầu lim dim in cái chấm vàng vào dãy khung ảnh đặt sát tường….” [6,tr.86]
Không phải ngẫu nhiên mà Ma Văn Kháng lại tạo nên một khung cảnh đầy thiêng liêng ấy Bởi nó mang tính dân tộc, tính cội nguồn Ông muốn lưu giữ vào trang văn của mình những hình ảnh đẹp nhất, thiêng liêng nhất thể hiện được niềm tự hào của ông về một dân tộc có bề dày lịch sử và truyền thống lâu đời Bên cạnh đó, Ma Văn Kháng muốn người đọc có thể dựa vào
đó và lưu giữ và lưu truyền tinh hoa trong văn hóa dân tộc đến mãi ngày sau Triết luận trong sự thể hiện về nghi lễ văn hóa còn sâu sắc hơn trong lời khấn
của ông Bằng trước bàn thờ Tổ tiên: “Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng
mà vẫn hằng sống cùng con cháu Con vẫn văng vẳng nghe đâu đây lời giáo huấn của ông cha, tiên tổ Con vẫn đinh ninh ghi khắc công ơn sinh thành và dưỡng dục của thầy mẹ, gia tộc, ông bà, cha mẹ, tổ tiên, con như được thấy từ trong tâm linh huyết mạch sự sinh sôi nảy nở phúc thọ an khang của con cháu con đời đời nối tiếp trong cộng đồng dân tộc yêu thương Và em, cùng con trai cả của ba mẹ Em cùng con đã mất và vẫn hằng sống, hằng vui buồn,
Trang 23chia sẻ, đỡ nâng dắt dìu tôi cùng các cháu, các con, các em…” [6,tr.86] Lời
khấn của ông Bằng như mang tất cả những nỗi niềm những cảm xúc về công
ơn của ông bà tiên tổ, của những người đã khuất đối với con cháu sau này Ma
Văn Kháng đưa ra một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc “ quá khứ không cắt
rời với hiện tại, tổ tiên không tách rời với con cháu, tất cả liên kết thành một dòng mạch bền chặt, thủy chung…” [6,tr.87] Theo ông, quá khứ luôn luôn
song hành cùng hiện tại, nó chính là sợi dây để nối liền giữa những miền kí
ức, sự cố gắng của mỗi con người để tạo nên một hiện tai tươi đẹp hơn, đáng sống hơn Với ông những người đã mất luôn dõi theo chỉ bảo và giúp đỡ cho ông và con cháu trong cuộc sống đầy những cạm bẫy này Đây có thể xem như giải pháp của Ma Văn Kháng đưa ra khi mà những nét đẹp cổ truyền của dân tộc đang ngày một mai một dần đi Nghi lễ cúng giao thừa đêm 30 tết có thể coi là một nét truyền thống không thể nào bị xóa nhòa trong lòng người Việt, bất cứ ai cũng đều muốn trở về nhà, được xum họp, đón giao thừa bên những người thân yêu của mình trong thời khắc năm cũ vừa qua và năm mới
chuẩn bị bước tới: “Giao thừa, cái đứt đoạn ước lệ chia thời gian trong chiều
dài vô tận thành từng chặng Giao thừa! Giao điểm của năm cũ, dấu chân của năm cũ, nốt nhạc đầu tiên của một hành khúc mới sao mà gây cho ta nhiều hồi hộp, đón chờ Ôi, giao thừa!” [6,tr.97]
2.1.2 Ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam luôn luôn một lòng hướng về cội nguồn và tiên tổ Dù ở địa vị nào, ở phương trời nào cũng thể hiện rõ tình yêu quê hương, đất nước, lòng tôn kính dân tộc của một người con đất Việt Bên cạnh đó, việc lưu giữ bản sắc văn hóa của dân tộc luôn luôn là một vấn
đề được quan tâm Vậy làm thế nào để giữ vững được bản sắc văn hóa của dân tộc mình khi mà có rất nhiều nguồn giao thoa văn hóa trong thời kì đổi mới? Các nhà văn nhận thấy sự thay đổi của thời đại, của đất nước nên việc viết văn như thế nào để hay, có xảm xúc nhưng ở trong đó vẫn thể hiện được nét riêng của người nghệ sĩ cũng như bản sắc văn hóa riêng của dân tộc Việt trong mỗi tác phẩm đã trở thành nỗi trăn trở và suy tư Và với Ma Văn Kháng ông mang những nét truyền thống, những đặc trưng của người Việt vào trong những trang văn của mình vừa làm nên nét riêng biệt của ông nhưng cũng góp
Trang 24phần gìn giữ bản sắc văn hóa cho đất nước Ở Mùa lá rụng trong vườn tác giả
góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở những câu nói mang tính triết luận về nền văn hóa
Văn hóa là những giá trị tinh thần hết sức thiêng liêng và cao quý của mỗi dân tộc Nó chính là thứ làm nên những nét đặc sắc, sự nổi bật của một đất nước Với đất nước Việt Nam ta có vô vàn những phong tục, tập quán, những nét đẹp cổ truyền ghi dấu ngàn đời Để gìn giữ những nét văn hóa ấy trong đời sống nhân dân, những trang văn, trang thơ của các tác giả cũng chính là phương tiện để lưu giữ những nét bản sắc của dân tộc ta Trong tác phẩm này, rất nhiều tục lệ của ngày tết đã được Ma Văn Kháng nhắc đến và lưu giữ Đối với ông chúng ta cần phải giữ gìn nét văn hóa dân tộc từ những
gì nhỏ nhặt nhất, nhân vật ông Bằng như thay lời tác giả để gìn giữ những nét
đẹp nhất về nền văn hóa dân tộc “Phải giữ gìn các con ạ Giữ gìn từ những
cái nho nhỏ vì từ những cái nho nhỏ cộng lại hợp thành văn hóa, nền tảng của đạo lý đấy.” [6, tr.60]
Để lưu giữ nét cổ truyền của dân tộc Ma Văn Kháng đã miêu tả một loạt những hình ảnh vô cùng quen thuộc vào ngày tết đó là hình ảnh của mâm
cơm tất niên: “Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Ngoài các
món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, súp lơ xào thịt bò - món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp hung lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây.” [6, tr.88]; những lời chúc nhau năm mới tốt
lành: “Xưa dân tộc mình sống có tình có nghĩa, có những cái đó mới còn đất
nước này Ba muốn trước tiên, chúc con, chúc vợ chồng con và chúc các cháu…’’ [6,tr.90] hay “Em chúc chị Hoài thật khỏe, thật vui – Thưa ông con chúc ông mỗi năm mỗi khỏe.-Chúc cô chú Luận sang năm có thêm thằng cu.”
[6, tr.91]; là tục lệ trồng cây ngày tết cũng được Ma Văn Kháng gửi gắm những ý nghĩa sâu xa: “Người dẫu thế nào cũng vẫn còn quyến luyến cây
xanh Và căn nhà nhỏ nằm giữa cho cây xanh bao quanh như bức tranh thu nhỏ lại, nói lên một điều phổ quát cao xa : nền văn minh của con người trỗi lên giữa tự nhiên và họ còn nhớ mãi điều đó.” [6, tr.102]; còn là nghĩa tình
thầy trò thăm nhà ngày tết: “Mồng một thì ở nhà cha, mồng hai nhà mẹ, mồng
Trang 25ba nhà thầy” [6, tr.100] Và cả tục lệ xông đất, đốt pháo cũng mãi là những
nét quen thuộc trong văn hóa người Việt
Ma Văn Kháng đã quá khéo léo khi lồng ghép những tư tưởng, triết lí vào trong những phong tục, những nét văn hóa dân tộc của quê hương đất nước để từ đó người đọc cảm nhận được những nét văn hóa cổ truyền dân tộc nên được gìn giữ và bảo vệ Bên cạnh sự miêu tả có phần hết sức chân thật kia lại mang bao nhiêu là cảm quan, những suy nghĩ sâu xa của nhà văn về sự mai
một dần đi của những giá trị văn hóa hết sức quý báu và tốt đẹp ấy: “Tết thoát
khỏi cái xuất xứ từ làng quê cổ truyền ứng với thời gian nông nhàn, nhưng vẫn còn đầy đủ những nhân tố văn hóa truyền thống và trong sâu xa vẫn là điểm hội tụ sáng đẹp triết lí nhân sinh cao cả về sự chan hòa của con người với tự nhiên, vẫn là cái biểu trưng về một cuộc khởi hành mới, dẫu biết còn gian khó mà vẫn lạc quan, hy vọng.” [6, tr.100]
2.2 Triết luận về gia đình
2.2.1 Gia đình – một thực thể của xã hội
Gia đình- nơi ấm áp nhất, nơi mà bất cứ ai cũng muốn trở về sau những ngày làm việc mệt mỏi và căng thăng Ở gia đình có tình yêu thương, sự kính trọng, ủng hộ, và đùm bọc lẫn nhau Gia đình là nơi mà chúng ta yên tâm nhất mỗi khi nghĩ về bởi ở đó là ông bà, cha mẹ những người thân yêu ruột thịt luôn mong ta trở về Và trong mỗi gia đình đều tồn tại những quy luật của xã hội Một gia đình tốt đẹp sẽ góp phần chung vào để tạo nên một xã hội tốt đẹp Mỗi con người được trưởng thành trong một môi trường gia đình nề nếp,
sẽ tạo điều kiện tiên quyết để phát triển thành một xã hội lành mạnh với những con người hoàn thiện nhất Trong nền văn hóa của nguời Việt, và gia
đình ông Bằng trong Mùa lá rụng trong vườn bên cạnh những nét riêng vốn
có, cũng tạo thành một nét chung tiêu biểu cho gia đình Việt Nam hội tụ đầy
đủ những nét truyền thống lẫn hiện đại, những hiểu biết và cả những sai lầm
Ma Văn Kháng đã tạo nên hình ảnh gia đình đại diện cho xã hội, từ gia đình nhà ông Bằng ông mang đến cho độc giả những quan niệm nhân sinh sâu sắc, những ý nghĩa mà trong mỗi gia đình chúng ta đều nên học hỏi và suy xét thật
kĩ càng và sâu sắc Bên cạnh việc khắc họa những nét đẹp của một gia đình
Trang 26truyền thống, Ma Văn Kháng còn đi sâu vào những sai lầm của những con người đang sống và gắn bó với gia đình, những con người tạo nên khoảng cách phá vỡ các vẻ đẹp truyền thống cũng như sự bình yên của gia đình khi xã
hội thay đổi Có thể nói, Mùa lá rụng trong vườn là một tác phẩm vô cùng
xuất sắc khi đưa ra những chiêm nghiệm, lí giải, triết lí sâu xa về một gia đình
mà rộng ra là mọi gia đình trong xã hội
Sau 1975, cuộc sống của con người trở lại với sự vận động bất biến của
nó Con người bước ra khỏi cuộc chiến để trở về với sự thường nhật hằng ngày Các nhà văn cũng vậy, họ đều hướng ngòi bút của mình thay vì vào cuộc chiến tranh vừa qua họ lại trở về với những gì thân thuộc nhất Và gia đình là một trong những yếu tố gần gũi nhất của con người Trở lại sau chiến tranh, những người con trong gia đình nhà ông Bằng trở lại, đoàn tụ với nhau Anh cả Tường hy sinh nơi mặt trận, đại tá Đông, nhà báo Luận trở lại với gia đình, với vùng đất Hà Nội nơi đã từng gắn bó, trở lại cùng người cha già với những nền nếp không bao giờ phai nhòa Cuộc sống của họ lại tiếp nối sau những ngày tháng bôn ba Đông nghỉ hưu về nhà và mải mê với những canh bạc mà quên mất những giá trị của cuộc sống Luận lại làm anh nhà báo với biết bao trăn trở với nghề, với cuộc sống Tuy nhiên, họ vẫn cùng nhau chung sống và tạo nên một gia đình nhưng gia đình ấy lại không bình yên như vẻ bề
ngoài của nó “Ôi cái gia đình gồm hai ông bà xưa nay được tiếng là mô
phạm, mẫu mực, với năm anh con trai, năm hòn ngọc quý, anh là liệt sĩ, anh đóng trung tá, anh làm nhà báo, anh đi học nước ngoài… anh nào cũng đẹp người đẹp nết, cùng mấy cô con dâu cán bộ nhà nước, cô nào cũng đảm đang, cũng dễ thương, ưa nhìn…” [6,tr.24], hay như chính sự nhận ra rằng gia đình
ông không còn yên ổn như trước của ông Bằng “Gia đình ông, cái vùng
không còn yên ổn nữa, nó đã phản chiếu tất cả cuộc sống ở ngoài đời; vả chăng mỗi người là con, là vợ, là chồng trong các mối quan hệ thì đồng thời cũng là một con người xã hội với tất cả những dấu ấn của thời đại.” [6, tr.95]
Gia đình của ông Bằng có thể xem như một xã hội thu nhỏ vào trong
đó Có một ông cụ luôn gìn giữ giá trị truyền thống; một anh đại tá về hưu; một cô vợ đại tá đảm đang, hoạt bát nhưng dễ bị cám dỗ; cặp vợ chồng nhà báo Luận tốt bụng, có trách nhiệm với gia đình; Cừ- cậu tư có chút hư hỏng
Trang 27làm phiền lòng cha mẹ, cậu út Cần chăm chỉ học hành… Nhìn vào một gia đình nhưng lại có nhiều lớp người, nhiều tính cách được thể hiện trong xã hội Gia đình ấy liệu có vững vàng được trong xã hội nhiều thay đổi này chăng?
Ma Văn Kháng đưa ra một câu hỏi nhưng lại mang tính khẳng định rằng gia đình ấy đang trải qua những khó khăn biến động chung của cả thời đại, nhưng
hơn hết nó làm nhòe đi những giá trị mà bấy lâu gia đình đã gìn giữ: “Gia
đình, giọt nước của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có vững vàng trong cuộc sống xây dựng đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này?” [6,tr.24]
Ma Văn Kháng khơi rộng ra từ ý gia đình nhà ông Bằng, chỉ là một giọt nước thôi mà đã nhiều xáo trộn như thế, vậy ngoài xã hội kia biết bao gia đình đang dần dần thay đổi, đánh mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp trên con đường hội nhập của các nền văn hóa trên thế giới Sự cám dỗ của những điều trước mắt có làm mai một đi những tinh hoa văn hóa dân tộc mà cha ông đã gìn giữ lâu đời hay không? Gia đình thay đổi cũng là góp phần cho sự thay đổi của của cả xã hội Và có lẽ, người nhận ra sự thay đổi ấy trong chính gia đình nề nếp của mình là ông Bằng- người lớn tuổi nhất, trải qua nhiều thăng
trầm nhất trong cuộc đời: “Mấy chục năm tiếp xúc, va chạm không ít Bạn tốt
lắm, kẻ xấu cũng chẳng hiếm Lúc thênh thang vui vẻ, khi tủi hổ nhục nhã nếm trải đủ vành Hành trình trên cõi đời này như thế không còn là ít ỏi năm tháng, nay có thể càng vững dạ củng cố một cốt cách tinh thần riêng : Lấy sự bình ổn, cân bằng làm căn bản, dùng thiện tâm để đối xử, bằng sự giúp ích cho đời để hiện diện.” [6,tr.55] Bên cạnh ông Bằng Đông cũng nhận ra “Gia đình chịu ảnh hưởng rất ghê ghớm của xã hội” [6, tr.352] sau những ngày
tháng trải qua nhiều biến cố với gia đình anh Và đó cũng là điều mà cả gia đình ông Bằng cũng như mọi người đều nhận thấy trong gia đình mình vào giai đoạn mà đất nước có nhiều đổi mới
Ông nhận ra sự thay đổi của người con dâu thứ hai là chị Lý Lý trở nên
ăn nói táo tợn, mất đi cái khuôn phép đáng lí ra phải có Nhưng chính bản
thân Lý cũng nhận ra sự thay đổi của xã hội theo một hướng tiêu cực: “Sự
thực đấy ông ạ Ông nghỉ hưu rồi, ông ít tiếp xúc với thực tế, ông không hiểu, đời bây giờ tệ lắm, ông ạ Có tiền là xong hết!” [6, tr.27]