Bên cạnh tính thống nhất của miền Bắc và Đông Bắc thể hiện ở mối quan hệ về nhiều mặt với Hoa Nam, ở tính chất á nhiệt đới khá mạnh do tác động của khối không khí cực đới NPc và front lạ[r]
Trang 1PHẦN II
CÁC KHU VỰC
TỰ NHIÊN VIỆT NAM
Trang 2Chương 9
CÁC QUY LUẬT TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÂN HÓA LÃNH
THỔ TỰ NHIÊN VIỆT NAM
Qua trình bày phần đại cương ta thấy một cách khái quát đất nước Việt Nam khôngrộng nhưng thiên nhiên lại rất phong phú và đa dạng Thiên nhiên thay đổi rõ rệt từ Bắcvào Nam, từ Đông sang Tây, từ thấp lên cao hình thành nên nhiều đơn vị địa lý tựnhiên các cấp Các tưng thể lãnh thư tự nhiên đó được hình thành là do kết quả tác độngphân hoá khách quan của các quy luật địa lý tự nhiên
9.1 TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT ĐỊA ĐỚI ĐẾN PHÂN HÓA LÃNH THỔ VIỆT NAM
Đây là một quy luật phân hóa lớn, tạo nên các vòng địa lý bao quanh Trái đất và khácnhau rất căn bản về chế độ nhiệt (giảm dần từ xích đạo về hai cực)
Nằm gọn trong vòng đai nội chí tuyến, nhích về chí tuyến hơn là về xích đạo lẽ ra sựphân hóa theo vĩ độ phải không đáng kể như ở các lãnh thổ khác cùng vĩ độ như Ấn Độ(chênh 0,040C/10VT) Xét nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất đúng như vậy (Hà Nội28,30C, TP Hồ Chí Minh 28,90C) Tuy nhiên, xét nhiệt độ trung bình năm thì có sựphân hóa Bắc - Nam (Hà Nội 23,40C, Huế 25,10C, Tp Hồ Chí Minh 26,90C) Như vậy,
có sự phân hóa Bắc - Nam ở nước ta là do nguyên nhân tác động của địa ô Đó là vềmùa đông, mùa hoạt động của gió mùa đông bắc với khối khí cực đới biến tính NPclàm cho nền nhiệt độ hạ thấp dần từ Bắc vào Nam (trung bình giảm 10C/10VT)
Đi từ Bắc vào Nam nhận xét có ba bước nhảy:
- Bước nhảy thủ nhất: Xảy ra ở vĩ độ l 80B (vĩ độ đèo Ngang) Từ đèo Ngang trở ra phíaBắc là khu vực phần lớn lãnh thổ thuộc đai nội chí tuyến chân núi, có mùa đông dài từ
3 tháng trở lên với nhiệt độ trung bình tháng dưới l 80C, có nơi dưới 150C Tuy nhiên, từđèo Ngang trở ra sông Chu (ở vĩ độ 200B) vẫn thể hiện dải chuyển tiếp vì còn xuất hiệnmột số thực vật phương Nam như Kiền kiền, Vên vên, Săng lẻ; một số động vật nhưVẹc đen gáy trắng, Vẹc chà vá
Từ phía Nam đèo Ngang, ngay ở các độ cao (300 - 500m) cũng không có đủ một mùađông dài 3 tháng dưới 180C và đã chuyển sang khu vực nhiệt đới rõ rệt
- Bước nhảy vọt thứ hai: Xảy ra ở vĩ tuyến 160B (vĩ tuyến đèo Hải Vân) Nếu chỉ xéttheo chỉ tiêu nhiệt đới tháng lạnh nhất dưới l 80C thì ranh giới này không quan trọngbằng ranh giới đèo Ngang Nhưng nếu xét đến nhân tố phân hóa chính là gió mùa đôngbắc và các thời tiết lạnh do nó gây ra thì ranh giới đèo Hải Vân quan trọng hơn đèoNgang Thật vậy, gió mùa đông bắc thường phải đến đèo Hải Vân mới dừng lại vàquãng đường đi từ Lạng Sơn đến đèo Hải Vân chỉ mất 24 giờ chưa biến tính thật mạnh
Trang 3được Vì thế, cho đến Thừa Thiên Huế vẫn có thời tiết lạnh mà biểu hiện rõ nhất lànhiệt độ tối thiểu tuyệt đối (Đồng Hới 8,30C, Huế 8,80C) Nhiệt độ tối thiểu là nhân tốsinh thái giới hạn sự phân bố của sinh vật, vì thế các loài nhiệt đới phương Nam khótính thường không vượt quá 160VB như các loài Sao, ngược lại loài chịu lạnh phươngBắc vẫn phát triển đến đây như Lim Nói cách khác từ khu vực l 8- 160VB vẫn mangtính chất trung gian, chuyển tiếp từ khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc sangkhu vực hầu như không chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc Chỉ sau vĩ tuyến 160B ,mới không còn có nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến sinh vật nhiệt đới.
- Bước nhảy vọt thứ 3: Xảy ra ở vĩ tuyến 140B, xấp xỉ con đường 19 từ Quy Nhơn qua
An Khê đi Pleiku Từ phía Nam đèo Hải Vân, vì không có mùa đông mà sự phân hóaquan trọng là sự phân hóa trong chế độ ẩm Do ảnh hưởng của khối núi Kotum thượng
mà khí hậu phía Bắc vĩ độ 140B tương đối ẩm, mùa khô ngắn và không sâu sắc Nhưng
từ phía Nam đèo An Khê, địa hình thấp xuống, mùa khô trở nên sâu sắc, đồng thời kéodài có thể đến 4 – 6 tháng Ngoài ra chỉ từ Quy Nhơn, tổng nhiệt độ toàn năm mới đạttiêu chuẩn xích đạo (Quảng Ngãi 9.4540C, Quy Nhơn 9.6360C)
9.2 QUY LUẬT PHÂN HÓA TỰ NHIÊN VIỆT NAM THEO KINH ĐỘ
Lãnh thổ Việt Nam nằm gọn trong á địa ô Trung Ấn thuộc địa ô gió mùa châu Á Đây
là nơi gặp gỡ của gió mùa đông bắc, gió tín phong, gió mùa tây tam từ vịnh Bengan lại
và gió mùa tây nam từ Nam bán cầu vượt xích đạo đi lên Hai hướng gió chính làhướng đông bắc và tây nam đều thẳng góc với các mạch núi lớn chạy theo hướng TâyBắc - Đông Nam phối hợp với luồng gió đông nam, và các mạch núi hướng vòng cung
để tạo nên một sự phân hóa Đông Tây khá rõ nét Như vậy, sự phân hóa theo kinh độchủ yếu do hiệu ứng "phơn" và tác dụng bức chắn của địa hình gây ra, còn vị trí so vớibiển thì ít có tác dụng do nước ta hẹp ngang Nơi đón gió mùa đông bắc sẽ lạnh hơn nơikhuất gió đến vài ba độ đồng thời cũng ẩm hơn vì có mưa front và mưa địa hình Nơiđón gió mùa tây nam cũng ẩm và bớt nóng hơn so với sườn khuất gió (nơi chịu hiệuứng phơn), có gió tây khô nóng Các dãy núi bình phong quan trọng nhất là dãy HoàngLiên Sơn, dãy núi biên giới Việt - Lào, dãy Truờng Sơn và thứ đến là dãy Ngân Sơn Vìthế, ta thấy có sự khác nhau nhiều mặt giữa Đông Bắc và Việt Bắc, giữa Việt Bắc vàTây Bắc, giữa Trường Sơn Bắc và Lào, giữa sườn Đông Nam Truờng Sơn và TâyNguyên Sự phân hoá Đông - Tây làm cho khu vực phía Tây như là lùi xuống về mặt vĩ
độ Nếu khử ảnh hưởng của độ cao, các đường đẳng nhiệt sẽ chạy chênh chếch theohướng Tây Bắc - Đông Nam và Lai Châu nóng tương tụ như Huế, tạo nên một sự đồngnhất cho miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ
Nơi có tính lục địa lớn nhất ở Việt Nam thể hiện ở biên độ nhiệt trong năm là miền Bắc
và Đông Bắc Bắc Bộ với biên độ nhiệt trong năm là 12- 140C
Trang 4Đứng thứ hai về độ lục địa là miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, vì nơi đây còn chịu ảnhhưởng của gió mùa đông bắc với biên độ nhiệt trung bình năm 10- 120C.
Từ phía Nam đèo Hải Vân, biên độ xuống dưới 100C, còn phía Nam Nha Trang biên độxuống dưới 50C
Rõ ràng sự phân hóa kinh độ lớn nhất là do tác động của gió mùa đông bắc Vì thế, khiphân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam về phương diện nhiệt - ẩm cả theo vĩ độ, lẫn kinh
độ mà nhân tố phân hóa chủ yếu phải xét kỹ chính là gió mùa đông bắc
Sự phân hoá các yếu tố nhiệt - ẩm tất nhiên phải thể hiện quá trình sự phân bố của giớisinh vật Luồng thực vật á nhiệt đới Hoa Nam chủ yếu chỉ lan tràn trong miền Bắc vàĐông Bắc Bắc Bộ, luồng thực vật rụng lá mùa khô Ấn Độ - Mianma tập trung phần lớn
ở Tây Bắc và Tây Nguyên, luồng Malaixia - Inđônêxia ít khi lên trên vĩ tuyến 160B,nơi có biên độ năm vượt quá 100C Một số loài cây như Sau sau, Lim, Sim, Thanh haochỉ phân bố ở phía Đông, không thấy ở phía Tây của dãy Trường Sơn Trong khi đóSăng lẻ, Tếch, Thung chỉ gặp ở phía Tây, nơi có mùa khô dài và sâu sắc
Trong sự phân bố của giới động vật cũng quan sát thấy có sự khác nhau giữa các khuViệt Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc Vẹc mũi hếch không thấy vượt quá thung lũng sôngHồng; Trĩ cổ khoang, Hươu xạ không thấy vượt quá dãy Ngân Sơn Vẹc đen má trắngcũng chưa gặp ở Tây Bắc, trái lại Vẹc xám cũng không thấy ở tả ngạn sông Hồng.Nhìn chung, khu hệ động vật Hoa Nam tràn lan trong khu Việt Bắc, Đông Bắc với cácloài như Trĩ cổ khoang, Vẹc đen, Sóc, Hoẵng lớn còn khu Tây Bắc là nơi cư trú củakhu hệ hỗn hợp Ấn Độ - Malaixia và Vân Nam - Hymalaya với Vẹc xám, Sóc xám,Gấu chó, Sóc bay, Bò tót
9.3 VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT KIẾN TẠO - ĐỊA MẠO TRONG PHÂN HOÁ LÃNH THỔ TỰ NHIÊN VIỆT NAM
Qua nghiên cứu cho thấy, nếu đất nước ta không có cấu trúc địa hình đa dạng và nhiềuhướng thì sự phân hoá của các điều kiện tự nhiên không thể phức tạp vì về cơ bản là đấtnước ta nằm gọn trong khu vực nội chí tuyến và một á địa ô Các khu vực kiến tạo - địamạo trong đa số các trường hợp chính là các khu vực địa lý tự nhiên vì địa hình là nhân
tố phân phối lại một cách cụ thể các điều kiện nhiệt - ẩm địa đới và địa ô
Sự phân hoá kiến tạo - địa mạo lớn nhất là sự hình thành các địa cấu trúc, các nền bằng
và địa máng, giới hạn bởi các đứt gãy sâu, hoạt động mạnh và lâu dài Lãnh thổ ViệtNam có hai đơn vị địa cấu trúc lớn là nền Hoa Nam hình thành nên xứ địa lý tự nhiênHoa Nam - Bắc Việt Nam, và địa máng Đông Dương hình thành nên xứ địa lý tự nhiênĐông Dương Ranh giới giữa hai xứ địa lý này là thung lũng sông Hồng
Trang 5Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều địa cấu trúc nên ngoài hai đơn vị lớn nêu trên địamáng Miến - Thái - Malaixia cũng chạy qua lãnh thổ Việt Nam ở phía Tây đường đútgãy Điện Biên - Lai Châu và ở phía Nam Hậu Giang, vì thế trên lãnh thổ nước ta đượcphân chia ra nhiều đơn vị địa cấu trúc nhỏ hơn ảnh hưởng đến sự phân hoá các đơn vịđịa lý tự nhiên cấp dưới xứ địa lý.
9.4 QUY LUẬT PHÂN HOÁ THEO ĐAI CAO
Do lịch sử phát triển địa chất - địa mạo, nhất là do ảnh hướng của vận động nâng lêntân kiến tạo, 3 /4 lãnh thổ Việt Nam là đồi núi, trong đó đến gần 30% cao trên 500mnên quy luật phân hoá theo đai cao phát huy tác dụng mạnh mẽ Có thể nói Việt Namquy luật đai cao phản ánh một cách cụ thể tác động tương hỗ giữa các quy luật phânhoá không gian
Đai cao địa lý là một địa tổng thể, trong đó các thành phần khí hậu, thổ nhưỡng, sinhvật và các thành phần khác của tự nhiên đều có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng có ý nghĩaquyết định vẫn là điều kiện nhiệt - ẩm
Việc xác định số lượng, tính chất và giới hạn của các đai cao đều phải dựa vào điêukiện nhiệt - ẩm thông qua các chỉ số nhiệt ẩm, các kiểu thảm thực vật – thổ nhưỡng.Nên việc khử mùa đông và lấy đặc điểm khí hậu mùa hạ (là mùa dài nhất) có ý nghĩaquyết định nhất đến sự phát sinh và phát triển của các điều kiện địa lý tự nhiên ViệtNam, đồng thời cũng là mùa có sự phân hóa đai cao là đồng nhất trên khắp cả nước.Lấy đặc điểm mùa hạ dể xác định ta có thể có một ranh giới chung, thống nhất cho cácđai cao trên toàn bộ các khối núi Còn tác động của mùa đông thể hiện qua nhiệt độtrung bình năm cũng sẽ được xét ở cấp thấp hơn, cấp á dai
Tóm lại, việc phân tích các quy luật phân hoá tự nhiên Việt Nam, phải nhận thức đượcđầy đủ rằng các quy luật đó không tác động riêng lẻ mà chúng tác động đồng thời vàtương hỗ Tuy mỗi quy luật đều có nguyên nhân phát sinh riêng và có tính chất độc lậptương đối, luôn luôn có mặt ở mọi nơi, nhưng trong mối quan hệ tương hỗ thì tùy lúc,tùy nơi vẫn còn nổi lên những vai trò chủ yếu, chi phối mạnh mẽ đến chiều hướng pháttriển của tự nhiên mà trong nghiên cứu tìm hiểu sự phân hoá lãnh thổ cần phân tích kỹ Theo Vũ Tự Lập(1978) lónh thổ Việt Nam đuợc chia lam 2 sứ(sứ Hoa Nam -BắcViệtNam và sứ Đông Dương ), 2 đớI (đớI rừng gió mùa chí tuyến và đớI rừng gió mùa áxích đạo ), 3 miền ( miền Bắc và Đong BẮC , MIỀN Tây Bắc Va Bắc Trung Boj ,miền Nam trung bộ và NAM bỘ , 13 KHU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊ(Được mô phỏng ở cácchương 10.11,12)
Trang 61 Đặc trưng cơ bản của miền: Trước hết là sự giảm sút khá mạnh của tính nhiệt đới,
với sự xuất hiện của một mùa đông thật sự do khối không khí cực đới NPc mang lại, đã
có tác động rõ rệt đến các thành phần tự nhiên khác nhất là đến thành phần thực vật
2 Nền tảng của mối quan hệ giữa miền với lãnh thổ Hoa Nam (Trung Quốc) là mối
quan hệ cấu trúc địa kiến tạo Nhiều nhà địa chất kiến tạo coi nơi đây là rìa nền hoạtđộng của nền bằng Hoa Nam mà di tích rõ rệt nhất là khu vực đá biến chất sông Lô,sông Chảy, sông Hồng Về mặt địa hình thì phía Đông dãy Ngân Sơn là vùng đồi núithấp ăn thông sang khu vực Tây Giang, còn phía Tây dãy Ngân Sơn là sư tiếp tục củamiền Đông cao nguyên Vân Quý với những cao -sơn nguyên và núi đá vôi độc đáonhất thế giới
3 Những đợt gió mùa đông bắc dễ dàng vượt qua khu vực đồi núi thấp với những
hướng núi như mở ra để đón gió lạnh lùa về Gió lạnh chỉ bị chặn lại ở sườn Đông Bắc
của dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ Cũng vì thế mà nền nhiệt độ ở đây thấp nhất cả nước,lên cao 100-300m đã xuất hiện tháng rét với nhiệt độ trung bình tháng dưới 150C vớithời tiết sương muối, băng giá tương đối phổ biến Ngay tại đồng bằng Bắc Bộ và cácthung lũng khuất gió như thung lũng sông Lô, sông Chảy, sông Hồng cũng có một mùađông lạnh kéo dài đến 3 tháng với nhiệt độ trung bình dưới 180C Vì vậy, có tính á nhiệtđới của Hoa Nam xuất hiện trên nền khí hậu nhiệt đới nói chung của tự nhiên ViệtNam
Trang 74 Rừng nhiệt đới chỉ phát triển bình thường đến độ cao 500 - 600m, các loài nhiệt đới
khó tính lại mọc tốt cho đến độ cao 300m, lên cao nữa năng suất sinh trưởng giảm sút
rõ rệt, cây nhỏ và lớn chậm Ngược lại ngay trong các kiểu thực bì nhiệt đới, các loài
Dẻ, Re khá nhiều, còn trong các thực bì thứ sinh nhân tác thì thành phần loài chịu lạnh,khô nhiều nơi trở thành ưu thế Các cây đặc sản nổi tiếng của miền là hồi, chè, thuốcbắc Còn trong thành phần động vật có nhiều loài tương tự như ở Hoa Nam và lên cao
có xuất hiện các loài có trên cao nguyên Vân Quý
10.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC HỢP PHẦN TỰ NHIÊN
10.2.1 Địa chất
Đặc điểm miền Bắc và Đông Bắc là có lịch sử phát triển sớm, lâu dài và phức tạp
a Vào đại Nguyên sinh: Toàn miền đang ở chế độ lục địa, chỉ đến cuối Nguyên sinh
mới bắt đầu có những hoạt động kiến tạo của nền tảng lục địa ấy mới hình thành chế độuốn nếp nhẹ
b Sang đại Cổ sinh: Có hiện tượng biển tiến vào Cambri sớm tạo nên các vũng biển
nông và tại đó có lắng đọng trầm tích đá vôi Tiếp đó, lãnh thổ lại được nâng lên ởnhiều nơi vào Cambri giữa Từ Cambri muộn - Ocđôvic biển lại mở rộng và trầm tíchphổ biến là trầm tích cacbonat và trầm tích lục nguyên (gặp nhiều đá sa - phiến), sau đó
bị biến chất mạnh Sang đầu Đêvôn, biển lại lan tràn khắp nơi và chế độ biển kéo dàiđến cuối Devôn tạo nên những lớp trầm tích lục nguyên và cacbonat có bề dày đáng kể.Đến cuối Cổ sinh (từ Cacbon đến Pecmi) có lắng đọng trầm tích đá vôi tuy không dàynhưng khá đồng nhất Đến cuối Pecmi toàn miền lại được nang lên do vận động của tạosơn Hecxini
c Đến đại Trung sinh: Trong miền lại xảy ra hiện tượng "hồi sinh kiến tạo" thể hiện ở
sụt lún một số khu vực như sụ lún của eo biển Lạng Sơn vào Triat sớm với các hệ tầnglục nguyên chứa bôxit, vào Triat giữa vùng trũng Lạng Sơn mở rộng thành đới sụt võnglớn là đới An Châu, hình thành đới sụt võng sông Hiến, ở các đới này được tích lũytrầm tích rất dày Đồng thời, bên cạnh đó các đới sông Lô, duyên hải lại được nâng cao.Đến giáp Triat muộn vận động uốn nếp Inđôxini làm cho đất đai nâng lên mạnh mẽkèm theo là các phức hệ xâm nhập (Phia Biooc, núi Chúa) và phun trào (Tam Đảo).Tiếp sau đó, hoạt động "hồi sinh kiến tạo" vẫn tiếp tục, biển tiến vào ở rìa đới duyên hảitạo nên các vùng trũng có trầm tích lục nguyên chứa than Vào Jura và Crêta, một sốvùng võng vẫn tiếp tục sụt lún và ít nhiều thông với biển, tại đó đã lắng đọng trầm tíchlục nguyên chứa than và trầm tích lục địa màu đỏ phổ biến rộng rãi nhất ở đới An Châu
Trang 8và chồng lên đới ven biển Mãi đến cuối Crêta miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ mớithoát khỏi chế độ biển, đi vào chế độ lục địa hoàn toàn, cùng với thời gian này có thànhtạo một số khối xâm nhập bazơ và siêu bazơ và granit (Phia Uoăc)
d Từ cuối Trung sinh đến cuối kỷ Palêogen: Là quá trình bán bình nguyên hóa san
bằng bề mặt kéo dài cho đến cuối thống Miôxen thì tiếp đến diễn ra vận động tân kiếntạo do tác động của tạo sơn Hymalaya Tuy không chịu ảnh hưởng nâng mạnh nhưngcũng làm cho núi non, sông ngòi trẻ lại kèm theo là những hiện tượng đứt gãy khá lớn.Trong toàn vùng cường độ nâng lên không đồng đều Ở Việt Bắc, về phía biên giớiViệt- Trung cường độ nâng có thể tới 1.000m, trong khi đó dọc bờ biển chỉ nângkhoảng 200-500m Do đó, miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ hiện ra như một bề mặtnghiêng chúc về phía biển, kèm theo làm sâu thêm các đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình,sông Chảy, sông Hồng Nơi sụt võng rộng và khá mạnh là đồng bằng Bắc Bộ xảy ravào Pliôxen, tạo điều kiện cho miền có được một đồng bằng châu thổ khá rộng và phìnhiêu
- Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Phía thượng lưu sông Chảy, sông Lô,sông Gâm có những đỉnh vượt quá 2.000m cùng các bề mặt san bằng ở phía Bắc (cao1.300-1.600m), xuống đến khu vực trung tâm đỉnh cao nhất cũng chỉ 1.500m với các bềmặt san bằng ở bậc 900-1.000m; phía Đông gặp các bề mặt cao 300-500m và tiếp theo
về duyên hải gặp các bán bình nguyên cao 100m
- Cấu trúc sơn văn của miền thể hiện một sự sắp xếp theo hai hướng thống Trị là hướngvòng cung và hướng Tây Bắc - Đông Nam Điển hình cho hướng vòng cung gồm cócác vòng cung sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Đông Triều quy tụ về khu vực núiTam Đảo Điển hình cho hướng Tây Bắc - Đông Nam là dãy Con Voi và dãy Tam Đảo
- Lọt vào giữa miền núi có khá nhiều vùng trũng, rộng nhất là những vùng hồ Đệ Tam
cũ (Lục Yên, Đoan Hùng, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thất Khê, Lộc Bình ), hiện nay lànhững cánh đồng trù phú
Trang 9- Khu vực địa hình độc đáo nhất của miền là đồng bằng Bắc Bộ, hình thành trên mộtvõng chồng gối lên nền uốn nếp bên dưới Vì thế, tuy đồng bằng rất bằng phẳng và rộnglớn, nhưng đứng tại chỗ nào trên đồng bằng cũng thấy bờ núi chung quanh Trừ tạivùng trung tâm, trong lòng đồng bằng vẫn rải rác các đồi sót có thành phần đá rất phứctạp Ngoài tính chất rất độc đáo về mặt tự nhiên, đồng bằng là nơi được khai phá tíchcực bởi con người, vì thế mà có nhiều nét nhân tác hơn cả, kể cả trong địa hình, trongmạng lưới thủy văn và nhất là trong thành phần đất - sinh vật.
10.2.3 Khí hậu
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ cũng có những nét riêng trong đại khí hậu liên quan đếnđặc điểm của đại địa hình và vị trí của miền đối với hai hoàn lưu gió mùa đông bắc vàtây nam
- Do địa hình vừa thấp vừa nối tiếp với Hoa Nam mà số lần front lạnh tràn qua miền làlớn nhất và khi tràn qua thì khối không khí cực đới NPc có độ biến tính thấp nhất, vìthế mà nền nhiệt độ mùa đông của miền thấp nhất so với cả nước Nhiệt độ trung bìnhtháng I ở Cao Bằng là 13,50C, Lạng Sơn 13,70C, Bắc Cạn 14,80C, Móng Cái 15,30C, HàNội 16,60C, trong khi đó ở Thanh Hóa 17,30C, Lai Châu 17,60C, Đồng Hới 18,90C.Nếu xét chế độ thời tiết thì ở miền Bắc và Đông Bắc còn khắc nghiệt hơn vì ngay ở cácvùng thấp như vùng trũng Cao Bằng - Lộc Bình, Lục Ngạn - Sơn Động vẫn có xuấthiện nhiệt độ âm
- Lên các khu vực núi cao trên 500-600m thì có mùa đông lại khắc nghiệt hơn nhiều.Sương muối có thể xuất hiện ngay trong tháng XI và thường xảy ra liên tục vài ba ngàytrong các tháng XII, I, II Tính chất lạnh có giảm phần nào khi đi về phía Việt Bắc do
sự giảm sút của front lạnh (tần suất lạnh đến Lào Cai chỉ còn 15 lần so với ở Lạng Sơn
là 22 lần, Hà Nội 20,6 lần), và về phía đồng bằng Bắc Bộ (do sự hạ thấp của địa hình)
- Trong mùa hạ, luồng gió từ biển Đông và vịnh Bắc Bộ đi vào miền theo hướng ĐôngNam đã mang đến cho miền một lượng mưa khá phong phú Tuy nhiên, lượng mưacũng phân bố không đều ở các nơi do tác dụng của địa hình ở nơi đón gió lượng mưatăng lên rõ rệt như Quảng Ninh, Bắc Quang (Hà Giang), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), còn ởnơi khuất gió và lòng chảo thì mưa ít như Lạng Sơn, An Châu, Đình Lập
10.2.4 Thủy văn
Những đặc điểm cấu trúc địa chất - địa hình và chế độ khí hậu của miền đã có ảnhhưởng rõ rệt đến mạng lưới sông ngòi
Trang 10- Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có năm hệ thống sông chính: Hệ thống sông Thao, hệthống sông Lô, hệ thống sông Cầu - Thương - Lục Nam, hệ thống sông Bằng Giang -
Kỳ Cùng và hệ thống sông duyên hải Quảng Ninh
- Mạng lưới sông ngòi có mật độ trung bình là 1,6km/1km2, trong đó các sông có chiềudài trên 10km chiếm tỷ lệ lớn Các sông phần lớn có tính sông già, thung lũng rộng, độdốc nhỏ, đáy bằng với một hệ thống bãi bồi và ba bậc thềm
- Sông ngòi tương đối nhiều nước, môđun dòng chảy trung bình 20-30l/s/km2, có nơinhư thượng nguồn sông Lô và duyên hải Quảng Ninh đạt trị số 40-50l/s/km2
- Phù hợp với chế độ mưa mùa, chế độ nước của sông ngòi ở trong miền cũngbiểu hiện hai mùa lũ và cạn rõ rệt
+ Mùa lũ từ tháng V-X với ba tháng lũ lớn nhất là VI, VII, VIII, còn cực đại thì tùy nơi
mà rơi vào tháng VII hoặc tháng VIII, thường là do chịu ảnh hưởng mạnh của mưa bão
và mưa hội tụ nhiệt đới
+ Mùa cạn bắt đầu từ tháng XI-IV, cạn nhất vào các tháng II, III, IV, nhưng tùy nơi vàtháng kiệt nhất có thể rồi vào tháng II (trên các sông Lô Chảy, Thao), còn các nơi khácvào tháng IV
- Khả năng xâm thực - bóc mòn của dòng chảy lớn: Trung bình trên lưu vực sông Thao
là 722 tấn/1km2, trên lưu vực sông Lô 600 tấn/1km2, trên lưu vực sông Chảy 433tấn/1km2, trên lưu vực sông Gâm 145,8tấn/1km2
- Sông ngòi miền Bắc và Đông Bắc cho tiềm năng thủy điện lớn Công suất cácđập thủy điện nhiều nơi trên 1.000KW Hai thác đã xây dựng hai nhà máy thủy điệnđáng chú ý trong miền là nhà máy thủy điện Thác Bà trên sông Chảy (108.000 KW vànhà máy điện thác Đầu Đẳng trên sông Năng (1.000 KW) Đang xây dựng nhà máythuỷ điện Nà Hang ( Tuyên Quang ) có công suất 600.000kw
10.2.5 Thổ nhưỡng - sinh vật
Phản ánh sinh động điều kiện nhiệt ẩm của miền là sự phân hóa đất, sinh vật từ thấp lêncao:
1 Dưới 600m là đai rừng chí tuyến chân núi với đất feralit đỏ vàng điển hình Do chịu
tác động mạnh của gió mùa đông bắc lạnh mà phân Hoá rõ các á đai, trong đó biểu hiện
sự xen kẽ giữa các thành phần loài nhiệt đới, á nhiệt đới Đại diện cho các loài nhiệt đới
Trang 11không phải là cây họ Dầu mà là cây họ Đậu, họ Vang Tiêu biểu cho đai rừng chí tuyến
là loại hình rừng Lim xanh thuộc họ vang (phân bố dưới 300m), trên 300m là loại hìnhrừng Táu lá nhỏ Tùy theo chế độ nhiệt - ẩm mà những loài mọc xen với Lim có khácnhau Chẳng hạn, ở nơi lạnh, ẩm ta gặp quần hợp Lim + Chẹo mọc xen với Dẻ, Re; ởnơi lạnh khô gặp quần hợp Lim + Sau sau hay Lim + Dẻ gai; tại các khu vực ấm và ẩm
ta gặp quần hợp Lim + Chò nâu + Ngát + Ràng ràng
Rừng nguyên sinh chỉ phân 2-3 tầng cây gỗ, trong đó có một tầng chính có tán liên tụcgọi là tầng ưu thế sinh thái Trên núi đá vôi thường gặp Trai, Nghiến Ngoài ra ở venbiển phát triển rừng nước mặn với các loài cây điển hình là Đước, Sú, Vẹt
Đất dưới rừng nhiệt đới là đất feralit đỏ vàng, chua, nghèo phì liệu
Đai rừng chí tuyến chân núi không những phong phú về thành phần thực vật mà cònphong phú cả về động vật nhất là ở hệ sinh thái nguyên sinh Có thành phần động vậtgiống với động vật Hoa Nam về một số loài gặm nhấm, ăn thịt, có vuốt, linh trưởng,chim Sẻ, Gà
Các loài thú trong miền có Nai, Hoẵng, Sơn dương, Hươu xạ Các loài thú ăn thịt trongđai rừng chí tuyến chân núi chỉ hay gặp Báo vàng (beo), Mèo rừng, Gấu ngựa, Gấu chó;các loài chồn gặp Cầy vằn, Cầy vòi, Cầy hương, Cầy mực, Rái cá lớn, Lửng lợn
Các loài gặm nhấm gặp nhiều loài Sóc (Sóc bụng đỏ, bụng xám, mỏm hung, Sóc đenlớn, Sóc bay) Trong rừng tre nứa gặp Nhím, Dúi móc và Đon, Đồi Đặc biệt ở miềnBắc và Đông Bắc gặp rất nhiều loài Khỉ khác nhau như Khỉ vàng, Khỉ mặt mốc, Khỉlợn, các loài Vượn đen tuyền, Voọc đen, Voọc mũi hếch, Voọc bạc má (chỉ có ở hảiđảo)
2 Từ 600 -1.600m là đai rừng á nhiệt đới trên núi với đất feralit vàng đỏ có mùn
So với đai rừng chí tuyến chân núi thì thành phần nghèo hơn nhiều Phổ biến là các câythuộc họ Dẻ, họ Re bao phủ gần như chiếm ưu thế tuyệt đối Các loài thực bì thườnggặp là các loài Dẻ gai, Sồi Trên núi đá vôi xuất hiện các loài lá kim như Vân sam,Hoàng đàn, Kim giao Động vật trong đai cũng nghèo chỉ có các loài chịu rét như Sócđen, Gấu, Hổ, Báo
3 Từ 1.600m trở lên mang tính chuyển tiếp sang đai ôn đới với đất mùn alit Thực vật
phổ biến là Pơmu, Samu, Thông tre, Thông nàng, còn các cây lá rộng, Đỗ quyên mọcxen Dẻ
Trang 1210.3 SỰ PHÂN HOÁ CỦA MIỀN THÀNH CÁC KHU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Bên cạnh tính thống nhất của miền Bắc và Đông Bắc thể hiện ở mối quan hệ về nhiềumặt với Hoa Nam, ở tính chất á nhiệt đới khá mạnh do tác động của khối không khí cựcđới NPc và front lạnh, ta cũng thấy rõ sự phân hóa rõ ràng trong nội bộ miền về cácđiều kiện tự nhiên như cấu trúc địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn, cấu trúc đai cao,thổ nhưỡng - sinh vật
Tính chất nền cổ Hoa Nam chỉ thể hiện rõ ở đới sông Hồng và sông Lô, còn tại vùng rìacủa khối Việt Bắc ấy, chế độ địa máng hồi sinh đã hoạt động khá mạnh, suốt từ đại Cổsinh đến Trung sinh Trong giai đoạn Tân sinh, tân kiến tạo cũng tiếp tục nâng cao địakhối Việt Bắc với cường độ mạnh hơn so với các vùng xunng quanh tạo nên một sựphân dị về độ cao tuyệt đối của địa hình và theo đó là của cấu trúc đai cao
Khí hậu lạnh khô lại biểu hiện rõ rệt hơn tại khu đồi núi thấp Đông Bắc, còn khu vựcnúi trung bình Việt Bắc do khuất gió nên khí hậu nói chung có phần ấm và ẩm hơn,phải trên 300m mới xuất hiện tháng rét trong mùa đông Đồng bằng Bắc Bộ hình thànhtrên một vùng sụt võng, do đó có những nét độc đáo của một khu vực Riêng biệt trongmiền
Từ những khái quát trên cho thấy miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ được phân hóa rathành ba khu địa lý tự nhiên: khu Việt Bắc, khu Đông Bắc và khu đồng bằng Bắc Bộ(đặc điểm tự nhiên các khu địa lý xem sách Địa lý Tự nhiên Việt Nam, Phần Khu vựccủa Vũ Tự Lập, 2001)
10.4 HƯỚNG SỬ DỤNG KINH TẾ CỦA MIỀN
1 Rừng có nhiều loài gỗ quý như Lim xanh, Nghiến, Pơmu, Kim giao, Hoàng đàn cógiá Trị kinh tế cao Trong rừng còn nhiều cây thuốc có giá trị như Tam thất, Xuyênkhung, Thuốc phiện Rừng thứ sinh phát triển nhiều loài Bồ đề, Mỡ, Giang, Vầu lànguyên liệu làm giấy có giá trị mà nổi bật là nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ)
2 Đất, khí hậu kinh tế cao như chè Trung Du thích hợp cho việc trồng cây công nghiệplâu năm có giá Trị kinh tế cao như Chè tuyết Các vùng chuyên canh chè nổi tiếng cảnước như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ; các cây có dầu như Sở, Hồi, Trẩu; cáccây ăn quả như Dẻ Cao Bằng, Đào, Mận Lạng Sơn Trong vùng có một trong hai vựathóc lớn của cả nước là đồng bằng Bắc Bộ rộng trờn 15.000km2 Nổi tiếng ở đây vềnăng suất lúa và các cây rau quả á nhiệt đới
Trang 133 Có tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên lớn để phát triển thuận lợi kinh tế du lịch.Dọc bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp như Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (HảiPhòng), có những thắng cảnh nổi tiếng như vịnh Hạ Long (di sản tự nhiên thế giới), hồ
Ba Bể (Bắc Cạn), nhiều hang động đẹp ở Hà Tây, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòa Bình,Ninh Bình; mặt bằng núi cao nghĩ mátnhwu Tam Đảo , mẪU Sơn, thắng cảnh thác BảnDốc; kết hợp voqứI nhiều vườn quốc ga như tam đảo (vĩnh phúc ), Ba Bể ( Bác Cạn),
Ba VI ( Hà Tây ), QUốc Phương ( ninh Binhf), Bái Tử Long ( Quóng Ninh ), Cỏt Bà ,Hảie Pho9ngf ), Xõn Sơn ,( Phú Thọ ), Xuân Thuỷ( Nam định) , cùng vớI các khu dựtrữ ssinh quyễn là Cỏt Bà Va tam giỏc chõu Bắc Bộ
4 Giàu khoáng sản nhất cả nước, nổi bật là than Quảng Ninh, apatit (Lào Cai), thiếc(Cao Bằng), sắt (Thái Nguyên ), chì (Bắc Cạn), bôxit (Lạng Sơn) cho khả năng pháttriển mạnh công nghiệp năng lượng, luyện kim, cơ khí, hóa chất,
5 Có tiềm năng tương đối lớn về thủy điện, đã khai thác như nhà máy điện ThácBà(Yờn Bỏi) cú cụng suất 108.000 KW, đang xây dựng nhà máy thuỷ điện NàHang( Tuyên Quang ) với công xuất 600.000kw
Trang 14Chương 11
MIỀN TÂY BẮC VÀ BẮC TRUNG BỘ
11.1 ĐẶC ĐIỂM TỔNG QUÁT CỦA MIỀN
Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ là kết quả của tác động tương hỗ giữa xứ địa lý ĐôngDương và đới rừng gió mùa chí tuyến Ranh giới phía Nam của miền được xác định đựavào ranh giới của đới, đó là đãy Động Ngài - Bạch Mã, đâm ra biển ở đèo Hải Vân(160VB) có diện tích 86.490km2
- Đặc trưng cơ bản của miền là sự suy yếu dần của gió mùa Đông Bắc khi vượt qua đãyHoàng Liên Sơn hùng vĩ và khi đi chuyển xuống phía Nam Từ vĩ tuyến l80B (đèoNgang) trở vào, một mùa đông lạnh không còn nữa mà chỉ có thời tiết lạnh Tương ứngvới sự suy yếu dần của gió mùa đông bắc là sự mạnh dần của tính nhiệt đới ẩm với sựhiện diện của nhiều thành phần sinh vật phương Nam
- Cấu trúc địa chất - địa hình của miền đã phản ánh cấu trúc dạng dải của địa máng TâyBắc và địa máng Trường Sơn với những dãy núi và thung lũng chạy theo hướng TâyBắc - Đông Nam Trong giai đoạn tân kiến tạo, phía trong được nâng mạnh, tạo nênnhững mạch núi vừa cao, vừa đồ sộ, núi lại chạy ra sát biển không còn chỗ cho đồngbằng châu thổ rộng lớn phát triển mà chỉ hình thành một dải đồng bằng duyên hải nhỏhẹp
- Quan hệ giữa cấu trúc sơn văn với các luồng gió mùa đã tạo nên sự phân hoá khí hậucủa miền, như sự hoạt động mạnh của cơ chế gió tây nam khô nóng và mưa muộn, kéodài ở Bắc Trung Bộ, cơ chế mưa sớm và ngắn ở Tây Bắc
11.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC HỢP PHẦN CẤU TẠO NÊN MIỀN
a Ở đại Nguyên sinh: Chế độ địa máng đã hoạt động, biểu hiện bởi sự tồn tại của trầm
tích nguyên sinh lộ ra dọc đới sông Mã, Pu Hoạt bao gồm các đá biến chất như phiếnMica, Mica - thạch anh, amphibolit, đá hoa Trong đai này có hoạt động macma xõm