Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ gồm có 4 chương bài học, cung cấp cho sinh viên những kiến thức về: Tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, tín dụng – ngân hàng, thanh toán trong nền kinh tế thị trường, những vấn đề cơ bản về tài chính. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1CHƯƠNG 1: TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.Nguồn gốc ra đời, bản chất, chức năng và vai trò của tiền tệ
1.1.1 Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của tiền tệ
Trong thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyên thuỷ, với công cụ lao động thô sơ, con người tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi kiếm được từ săn bắn, hái lượm Khi đời sống cộng đồng ngày càng phát triển, ý thức phân công lao động được hình thành và lượng sản phẩm dư thừa đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc
Cùng với sự chuyên môn hoá lao động phát triển và quá trình phân công lao động
xã hội ngày một sâu hơn, nhu cầu trao đổi hàng hoá ngày càng nhiều và mở rộng, việc trao đổi trực tiếp gây khó khăn cho việc lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có một “vật ngang giá chung” làm trung gian trao đổi Ban đầu, vật trung gian được lựa chọn từ những hàng hoá mang nét đặc trưng phổ biến của vùng, lãnh thổ… Khi kinh tế phát triển, nhu cầu trao đổi ngày càng mở rộng không chỉ diễn ra trong phạm vi vùng, lãnh thổ mà còn vượt ra khỏi vùng, lãnh thổ đó thì quá trình trao đổi gặp khó khăn khi mỗi địa phương có một vật trung gian khác nhau Để khắc phục tình trạng này, cần có một vật ngang giá chung duy nhất làm trung gian cho quá trình trao đổi - đó chính là tiền tệ
Trong thời kỳ đầu khoảng 2.000 năm trước công nguyên, vật trung gian trao đổi thường được chọn từ một hàng hoá có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người,
có tính chất phổ biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực nơi diễn ra quan hệ trao đổi
(Hy Lạp dùng gia súc; Tây Tạng, Mông Cổ dùng chè; ở Bắc Mỹ dùng thuốc lá, ở Trung
Quốc có vùng dùng vải, có vùng dùng vỏ trai hoặc da…) Việc sử dụng tiền tệ dưới dạng hàng hoá, còn gọi là hoá tệ, có nhiều bất lợi Khó chia nhỏ trong trao đổi, khó bảo quản
và vận chuyển Vì thế, các loại hàng hoá thông thường được dùng làm tiền tệ dần bị đào thải nhường chỗ cho thời kỳ sử dụng tiền kim loại
Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, tiền kim loại đã bắt đầu được sử dụng và phát triển rộng rãi trong suốt thời kỳ phong kiến Tuy nhiên, trong các kim loại được chọn làm
vật ngang giá chung là sắt, kẽm, thiếc, đồng, bạc và vàng cũng trải qua quá trình tự đào
thải dần dần để cuối cùng còn lại ở kim loại quý là vàng Cuối thế kỷ XIX, vàng độc quyền đóng vai trò là vật ngang giá chung, còn gọi là kim loại tiền tệ Việc sử dụng tiền
kim loại tuy có những ưu điểm hơn so với hoá tệ không kim loại nhưng cũng có những hạn chế như cồng kềnh, khó chuyên chở Mặt khác, khi quy mô sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển đòi hỏi sự gia tăng của phương tiện trao đổi trong khi nguồn
Trang 2vàng dự trữ không đủ đáp ứng Do đó, thay vì dùng vàng trực tiếp làm phương tiện trao đổi, các nước đã có xu hướng chuyển sang sử dụng tiền dấu hiệu ngày càng phổ biến
Từ thế kỷ thứ XIV, các ngân hàng cho ra đời các chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng phát hành để huy động tiền gửi của xã hội, được sử dụng làm phương tiện thanh toán ở các nước Châu Âu Đến thế kỷ XVI-XVII, nó được thay thế bằng giấy bạc của ngân hàng phát hành, loại giấy bạc này được đảm bảo bằng vàng và được lưu hành song song với
tiền đúc bằng vàng của nhà nước Đến đầu thế kỷ XX, giấy bạc ngân hàng thay thế hoàn toàn cho các kim loại quý như bạc và vàng Ngày nay, tiền giấy được sử dụng làm
phương tiện trao đổi ngày càng phổ biến vì những tiện lợi như dễ mang theo trong người,
dễ cất trữ Tuy nhiên việc lưu thông tiền giấy dễ rơi vào tình trạng bất ổn vì việc điều chỉnh cho nó phù hợp với nhu cầu trao đổi hàng hoá là cả một nghệ thuật phức tạp Cùng với việc phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, quá trình thanh toán của nền kinh tế được tập trung phần lớn qua hệ thống ngân hàng thông qua các bút toán chuyển khoản hoặc thanh
toán bù trừ trên tài khoản ký thác Sự ra đời của tiền ghi sổ, còn gọi là bút tệ, cùng với
các chứng từ thanh toán như séc, giấy nhờ thu…đã làm đa dạng các phương tiện thanh toán bên cạnh các hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời còn tạo điều kiện giảm bớt những chi phí lưu hành tiền giấy như in ấn, bảo quản, kiểm đếm, vận chuyển Vì vậy, việc sử dụng tiền qua ngân hàng được coi là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế phát triển Hơn nữa, trong thời đại mà những tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng đi sâu vào đời sống kinh tế xã hội thì việc sử dụng những loại thẻ thanh toán trở nên được ưa chuộng vì người ta có thể thanh toán ngay, giảm thiểu thời gian luân chuyển chứng từ qua ngân hàng hoặc ghi chép chứng từ thanh toán
Tóm lại, lịch sử ra đời và phát triển của tiền tệ luôn gắn liền với sự phát triển và
lưu thông hàng hoá Điều này đã được chứng minh qua quá trình hoàn thiện các hình thức tiền tệ, từ hình thức sơ khai ban đầu là hoá tệ không kim loại cho đến tiền điện tử ngày nay Tuy nhiên cần xác định rằng, các thời kỳ phát triển này không phủ định lẫn nhau, nghĩa là các loại tiền tệ vẫn tồn tại đan xen nhau trong quá trình lưu thông
1.1.2 Bản chất của tiền tệ
Các nhà kinh tế học thế kỷ XVI mà đại diện là Thomas-Men (1576-1641) đã khẳng định: vàng, bạc là tiền tệ, là của cải xã hội chính thống Trường phái này cho rằng chỉ có kim loại quý mới thực hiện các chức năng của tiền tệ Đến đầu thế kỷ XX, khi các loại tiền dấu hiệu như tiền giấy, tiền tín dụng ra đời nhưng vẫn thực hiện chức năng trao đổi và lưu thông hàng hoá thì các nhà kinh tế lại đề cao tiền dấu hiệu Họ cho rằng: tiền tệ chỉ là công cụ kỹ thuật để phục vụ cho việc trao đổi hàng hoá thuận tiện, chỉ là đơn vị
Trang 3tính toán trừu tượng, nên bản thân tiền tệ không cần có giá trị nội tại mà Nhà nước hoàn toàn có thể phát hành tiền giấy với những dấu hiệu quy ước là có thể phục vụ cho trao đổi hàng hoá K.Marx (1818-1863) nghiên cứu nguồn gốc ra đời của tiền tệ qua sự phát triển các hình thái giá trị và khẳng định tiền tệ có nguồn gốc từ hàng hoá Ông cho rằng: Tiền
tệ là một hàng hoá đặc biệt tách ra khỏi thế giới hàng hoá đóng vai trò là vật ngang giá chung để đo lường giá trị của tất cả các hàng hoá khác Ông chỉ ra rằng vàng chỉ trở thành tiền tệ trong những điều kiện lịch sử nhất định Trước khi trở thành tiền tệ và sau khi được thừa nhận đóng vai trò là tiền tệ thì vàng vẫn giữ nguyên bản chất là hàng hóa
Ngày nay, cùng với việc phát triển các phương tiện trao đổi, thanh toán, khi đề cập đến tiền người ta không nhìn nó một cách giản đơn cho rằng tiền chỉ là kim loại quý hay chỉ là tiền giấy Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại (đại diện là P.A Samuelson): “Bản chất tiền tệ ngày nay đã được phơi bày rõ ràng, người ta muốn có tiền
tệ với danh nghĩa là tiền chứ không phải là hàng hoá, không phải vì bản thân nó mà là vì những thứ mà có thể dùng nó để mua được” Như vậy, họ cho rằng, tiền tệ là tất cả các phương tiện thanh toán có thể được chấp nhận làm trung gian trao đổi và được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất và trao đổi phát triển như hiện nay, tiền tệ không chỉ đơn thuần là phương tiện trao đổi mà có thể sử dụng tiền để đầu tư, cho vay và tích luỹ, sở hữu Theo những phân tích trên, một định nghĩa về tiền được hiểu đầy đủ như sau: Tiền tệ là tất cả các phương tiện có thể đóng vai trò trung gian trao đổi được pháp luật thừa nhận và người sở hữu nó sử dụng để phục vụ cho những nhu cầu trong đời sống
kinh tế xã hội Bản chất của tiền được thể hiện rõ hơn thông qua các chức năng của nó 1.1.3 Chức năng của tiền tệ
1.1.3.1 Chức năng phương tiện trao đổi
Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá
Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức
là người ta trước hết sẽ đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ
dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người
Trang 4Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:
- Được chấp nhận rộng rãi
- Dễ nhận biết
- Có thể chia nhỏ được
- Dễ vận chuyển
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng
- Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng
- Có tính đồng nhất
1.1.3.2 Chức năng đơn vị đánh giá
Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn
Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế
sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dành cho việc đọc giá hàng hoá Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch
1.1.3.3 Chức năng phương tiện dự trữ giá trị
Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải
Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác
Trang 5Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại
1.1.4 Vai trò của tiền tệ:
- Là công cụ để xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách tiền tệ, chính sách tài
khoá, CSTT, CSTK, CSNH, CSKTĐN,…
- Là đối tượng và cũng là mục tiêu của các chính sách kinh tế vĩ mô: ổn định tiền tệ là cơ
sở của sự ổn định kinh tế; ổn định đồng tiền là sự ổn định của nền kinh tế, nền kinh tế
ổn định thì phải có sự ổn định tiền tệ
- Hình thành vốn của các doanh nghiệp
- Là căn cứ xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế nhằm so sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp khác nhau với nhau
- Là căn cứ xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh tìm ra phương án tối ưu
- Là cơ sở để thực hiện và củng cố hạch toán kinh tế
- Là cơ sở để thực hiện phân phối lại trong các doanh nghiệp nhằm phát triển sản xuất và đảm bảo đời sống xã hội
- Công cụ để phân tích kinh tế và tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở đó, tiến hành lựa chọn đầu tư đúng đắn
1.2 Các chế độ lưu thông tiền tệ
1.2.1 Chế độ lưu thông tiền kim loại
1.2.1.1 Chế độ đơn bản vị
Đơn bản vị là chế độ tiền tệ lấy 1 thứ kim loại làm vật ngang giá chung Vật ngang giá chung là vật liệu đúc tiền có thể là đồng, kẽm, bạc hoặc vàng
- Nếu chế độ đơn bản vị với kẽm hoặc đồng làm bản vị và trở thành tiền đúc, gọi là chế
độ lưu thông tiền kém giá
- Nếu chế độ đơn bản vị với vật ngang giá là bạc hoặc vàng và sự xuất hiện của tiền đúc bằng bạc hoặc vàng người ta gọi là chế độ lưu thông tiền đủ giá
Trang 61.2.1.2 Chế độ song bản vị
Chế độ song bản vị là chế độ tiền tệ mà vàng và bạc đều được sử dụng với tư cách
là tiền tệ Vàng và bạc đều là vật ngang giá, đều thực hiện chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông với quyền lực ngang nhau
Trong chế độ song bản vị có phân biệt 2 loại bản vị:
- Bản vị song song: là bản vị mà theo đó tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo giá trị thực tế của nó, nhà nước không can thiệp Từ đó xuất hiện 2 thước đo giá trị
và trong 1 nước có 2 hệ thống giá cả: hệ thống giá cả theo vàng và hệ thống giá cả theo bạc Hai hệ thống này luôn thay đổi
- Bản vị kép: là song bản vị nhưng tiền vàng và tiền bạc lưu thông trên thị trường theo tỷ giá được nhà nước quy định (tỷ giá pháp định)
để ổn định và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Vàng được tự do luân chuyển giữa các nước, mọi người được tự do xuất nhập khẩu vàng
1.2.2 Chế độ lưu thông tiền dấu hiệu
Chế độ lưu thông tiền dấu hiệu (tiền giấy) là đặc trưng cơ bản của lưu thông tiền tệ trong giai đoạn phát triển sau này của CNTB Tuy nhiên, trong thời kỳ phong kiến, tiền giấy đã xuất hiện sớm ở Trung Quốc (TK VII) ra đời từ lý do là nó tạo ra thu nhập do việc in tiền và phát hành tiền cho các Nhà nước phong kiến, ngoài ra do các đế chế cần tập trung kim loại để chế tạo súng, đạn khí giới…
Đến giai đoạn phát triển của CNTB, lực lượng sản xuất phát triển nhanh nên làm nảy sinh sự khan hiếm tiền kim loại, mặt khác việc sử dụng tiền đúc trong lưu thông cũng
có nhiều trở ngại vì nó bị hao mòn, bị biến chất Và khi hệ thống ngân hàng phát triển thì càng tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng
Trang 7Vậy nguyên nhân ra đời của tiền dấu hiệu là xuất phát từ những đòi hỏi thực tế về lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ dưới tác động của hệ thống ngân hàng
Sử dụng tiền dấu hiệu trong chế độ lưu thông tiền tệ có 2 tác dụng lớn:
- Giải quyết được tình trạng thiếu phương tiện trao đổi phát sinh từ chế độ lưu thông tiền kim loại
- Tiết kiệm nhiều chi phí cho xã hội
Có 2 chế độ lưu thông tiền giấy:
- Chế độ lưu thông tiền giấy khả hoán: Đây là loại tiền giấy được chuyển đổi ra vàng một cách tự do và không hạn chế số lượng
- Chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán: Là tiền giấy không chuyển đổi được ra vàng
Quan hệ mậu dịch giữa các nước dẫn đến hình thành các chế độ tiền tệ quốc
tế Đó là 1 tập hợp những quy định thống nhất giữa các nước trong việc tổ chức và điều hành thống nhất các quan hệ tiền tệ- tín dụng phát sinh giữa các nước nhằm thiết lập một trật tự cho các quan hệ kinh tế- mậu dịch
Lịch sử các chế độ tiền tệ quốc tế điển hình:
Chế độ tiền tệ quốc tế Pari 1867 Chế độ tiền tệ Genova 1922 Chế độ tiền tệ Bretton Woods 1944 Chế độ tiền tệ Jamaica 1977
Chế độ tiền tệ Europe 1979
Song song với việc thực thi chế độ tiền vàng ở các nước, trên phạm vi quốc tế, một chế độ tiền tệ dựa trên tiêu chuẩn vàng đã được thiết lập Đó là chế độ tiền tệ quốc tế Pari Chế độ tiền tệ quốc tế này được xác lập vào năm 1867 tại Pari sau cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trên thế giới
Những nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ này là:
- Thừa nhận vàng là tiền tệ thế giới, được chu chuyển và trao đổi tự do giữa các quốc gia
- Vàng là căn cứ để xác lập tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia của các nước
- Vàng thực hiện mọi chức năng của tiền tệ Chế độ tiền tệ quốc tế Pari, về cơ bản là có
sự đồng nhất
Trang 81.2.3.2 Chế độ tiền tệ Genova (Italia.)
- Bối cảnh ra đời của chế độ tiền tệ Giê-nơ: Sau Thế chiến lần thứ I, việc khôi phục lại
nền kinh tế ở các nước châu Âu trở nên cấp thiết Nhu cầu thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng, tiền tệ quốc tế nhằm nhanh chóng khôi phục lại nền kinh
tế bị tổn thất trong chiến tranh trở nên vô cùng cấp thiết đối với các quốc gia ở châu Âu Thực tế này đòi hỏi phải có những thoả thuận thống nhất giữa các nước để thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng và tiền tệ quốc tế
- Nội dung của chế độ tiền tệ Giê-nơ: Chế độ tiền tệ Giê-nơ hình thành là kết quả của
những thoả thuận giữa các nước tham gia Hội nghị tiền tệ-tài chính quốc tế tổ chức chức tại thành phố Giê-nơ (Italia) vào năm 1922 Qua hội nghị nhằm tổ chức lại các quan hệ tiền tệ-tài chính quốc tế, thúc đẩy các quan hệ mậu dịch và các quan hệ kinh tế quốc tế khác giữa các nước thành viên vào thời kỳ hậu chiến Trong chế độ này các nước đã thoả thuận những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, các nước chính thức thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đồng Bảng Anh (GBP) trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế Họ thừa nhận đồng Bảng Anh là phương tiện thanh toán và phương tiện dự trữ quốc tế, đánh giá nó ngang với vàng, coi đồng Bảng Anh là đồng tiền chủ chốt Vì vậy, thực chất của chế độ tiền tệ này là chế độ bản vị Bảng Anh, một đồng tiền quốc gia do Ngân hàng Anh phát hành
Hai là, việc sử dụng đồng Bảng Anh trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ kinh tế quốc tế khác không hạn chế Các nước muốn có Bảng Anh thì phải chuyển vàng đổi lấy Bảng Anh của nước Anh
1.2.3.3 Chế độ tiền tệ Bretton-woods
Bối cảnh ra đời: Nếu như đồng bảng Anh được sử dụng như là đồng tiền quốc tế độc tôn
trước thế chiến thứ II, thì sau thế chiến thứ II, do nền kinh tế Anh bị kiệt quệ, tỷ trọng mậu dịch quốc tế giảm sút nghiêm trọng, thị trường tài chính và thị trường hối đoái sụp
đổ nên đồng bảng Anh đã bị rút khỏi vai trò đồng tiền quốc tế độc tôn Ngược lại, Mỹ là nước hầu như không bị ảnh hưởng bởi hậu quả của chiến tranh, mà còn được hưởng lợi
từ cuộc chiến, cho nên trở thành nước chiếm tỷ trọng mậu dịch lớn Ngoài ra, để ổn định sức mua đồng tiền của mình, Mỹ đã bán vàng với giá ổn định trong suốt 34 năm từ năm 1934-1936 với giá 35 USD/ounce Nhờ vậy đồng dollar Mỹ đã loại được đồng bảng Anh
và chiếm địa vị tiền tệ quốc tế độc tôn đến ngày nay
Trang 9Hệ thống tiền tệ theo Thoả ước Bretton Woods (1946-1971):
Theo thoả ước Bretton Woods, Chính phủ các nước thành viên cam kết duy trì tỷ giá cố định của đồng tiền nước mình so với đô la Mỹ và vàng Tỷ giá hối đoái của những đồng tiền khác so với USD chỉ được phép thay đổi trong phạm vi biên độ 1% so với mệnh giá công bố
Tỷ giá cố định này được duy trì bằng với sự can thiệp chính thức trên thị trường ngoại hối bằng cách là NHTW tham gia mua hoặc bán USD tuỳ theo quan hệ cung cầu trên thị trường Hệ thống tiền tệ Bretton Woods mang lại sự ổn định tỷ giá và điều này có
ý nghĩa rất quan trọng vì nó loại bỏ được sự bất ổn đối với các giao dịch buôn bán và đầu
tư quốc tế Nhờ vậy thúc đẩy sự tăng trưởng và đem lại lợi ích cho tất cả các nước thành viên
Tuy hơn 25 năm dưới chế độ tỷ giá cố định theo thoả ước Bretton Woods, hầu hết chính phủ của các quốc gia thành viên đều không muốn gắn chính sách tiền tệ của mình với việc duy trì sức mua của đồng tiền như cam kết Sự ngần ngại của chính phủ trong việc điều chỉnh sức mua đồng tiền hoặc điều chỉnh chính sách kinh tế nhằm duy trì tỷ giá
ổn định như đã cam kết cuối cùng đưa đến sự khủng hoảng tỷ giá Những trận chiến tỷ giá đã xảy ra giữa các NHTW nhưng kết quả sự thắng lợi lại thuộc về thị trường và vào giữa năm 1971, hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ
Trong hệ thống tiền tệ Bretton Woods, trách nhiệm của Mỹ là duy trì sự ổn định của giá cả bởi vì tất cả đồng tiền của các quốc gia khác đều dựa vào giá trị của đồng dollar Mỹ Do vậy, nếu Mỹ giữ giá vàng ổn định ở mức 35USD/ounce thì giá cả thế giới
sẽ ổn định Nhưng Mỹ đã không thể nào giữ được giá vàng ổn định ở mức này vì những
lý do sau đây:
- Thứ nhất: là do Chính phủ Johson phải chi tiêu quá lớn vào những năm 1960 cho việc leo thang chiến tranh ở Việt Nam và cho những chương trình xã hội rất tốn kém bằng việc in tiền thay vì tăng thuế Kết quả là Mỹ khó lòng giữ được giá vàng như đã cam kết
- Thứ hai: là sau khi kinh tế châu Âu và Nhật bản được phục hồi sau chiến tranh, các nước như Đức, Pháp, Anh, Nhật bắt đầu gia tăng xuất khẩu và thu về đồng dollar Mỹ cho nên dự trữ ngoại tệ (USD) của các nước này ngày càng gia tăng Trong thời gian này,
Mỹ cam kết bán vàng với giá cố định 35USD/ounce, vì thế các nước châu Âu và Nhật Bản sử dụng dự trữ ngoại tệ của mình để tấn công vào kho vàng của Mỹ khiến cho dự trữ vàng của Mỹ cạn dần Kết quả Mỹ phải ngừng việc chuyển đồi dollar ra vàng theo giá chính thức vào năm 1968 và thả nổi giá vàng vào năm 1973
Trang 10- Thứ ba: các nước Đức, Nhật và Thuỵ Sĩ từ chối áp đặt tỷ lệ lạm phát của Mỹ lên đồng tiền của họ theo cơ chế tỷ giá cố định, kết quả là dollar giảm giá mạnh so với đồng tiền các nước này
1.2.3.4 Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca (Bút tệ SDR)
Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca ra đời trên cơ sở Hiệp định được ký kết giữa các nước thành viên IMF tại Gia-mai-ca vào những năm 1976-1978 Chế độ tiền tệ này vận hành theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Thừa nhận SDR là cơ sở của chế độ tiền của các nước SDR trở thành một đơn vị tiền tệ tính toán quốc tế mới Giá trị của nó được xác định theo phương pháp rổ tiền tệ, lúc đầu
rổ tiền tệ gồm 16 đồng tiền mạnh nhất của thế giới Hiện nay, tham gia “rổ tiền tệ” là 5 đồng tiền mạnh của những quốc gia có tiềm lực về kinh tế, tài chính Như vậy, chế độ tiền tệ Gia-mai-ca thực chất là chế độ bản vị SDR và tại thời điểm ra đời 1 SDR = 2,5USD
- Các nước thành viên được tự do lựa chọn thi hành chế độ tỷ giá hối đoái mà không cần đến sự can thiệp của IMF
- Thực hiện phi tiền tệ hoá vai trò của vàng Không thừa nhận vàng trong chức năng là thước đo giá trị và là cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái của các đồng tiền quốc gia các nước
- Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca đến nay vẫn chưa đi đến cùng của sự hoàn thiện Một số nguyên tắc của chế độ tiền tệ ấy vẫn chưa được chấp hành triệt để, chưa trở thành hiện thực
1.2.3.5 Chế độ tiền tệ châu Âu
Chế độ tiền tệ châu Âu là một chế độ tiền tệ quốc tế khu vực Chế độ tiền tệ này trong bối cảnh mâu thuẫn giữa ba trung tâm thế lực quốc tế trong lĩnh vực thương mại, tiền tệ, tài chính ngày càng trở nên gay gắt Nó được xây dựng trên cơ sở Hiệp định tiền
tệ do các nước trên lục địa châu Âu ký kết vào tháng 3-1979
Nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ này như sau:
- Chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR mà dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc
tế khu vực của các nước châu Âu Giá trị của ECU được đảm bảo bằng dự trữ vàng và ngoại hối của các nước thành viên
Khác với chế độ tiền tệ Gia-mai-ca, chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR
mà dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước thuộc khối EU Đồng ECU có các chức năng tương tự như SDR, là hình thái tiền “bút tệ” Giá trị của ECU
Trang 11được tính theo phương pháp “rổ tiền tệ”, nghĩa là giá trị của nó được dựa trên sức mua
“tổng hợp” của các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ” Khi “giá trị” của các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ” thay đổi, thì giá trị của toàn rổ cũng thay đổi và do đó, giá trị của ECU cũng được được xác định lại Hiện nay đồng tiền chung châu Âu có tên gọi mới là EURO
Chế độ tiền của chính quyền Ngụy Sài gòn từ 1954 đến 1975: Chính quyền Ngụy
có luật nghiêm cấm lưu hành đồng tiền miền Bắc và đồng tiền Đông Dương ở miền Nam Chúng thành lập Ngân hàng năm 1954 và cũng lấy tên là NHQG Việt Nam, cho phép tiêu song song đồng USD và đồng tiền Quốc gia với tỷ giá 35 đồng Quốc gia ăn 1 đồng USD
Tỷ giá này ổn định từ năm 1954 đến năm 1960 Từ năm 1960 đến 1965 đồng tiền Ngụy mất giá dần dần và đến năm 1965 tỷ giá này còn 118đ/USD Từ năm 1966 đến 1968 sức mua của đồng tiền Ngụy tiếp tục mất giá mạnh xuống còn 250đ/USD và đến năm 1973 thì tỷ giá này đã là 500đ/ USD - giảm 14,3 lần so với thời kỳ những năm 1954 - 1960
Từ năm 1975 đến năm 1984: Trong 3 năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng, để
có một thời gian đệm cần thiết và quan trọng, hai miền vẫn dùng hai đồng tiền khác nhau: Miền Bắc vẫn là tiền NHNN VN, miền Nam tiếp tục dùng tiền của chính quyền cũ Ngày 3/5/1975 chính quyền cách mạng tiếp quản NHQG của Nguỵ quyền Sài gòn và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ trong lưu thông để không gây rối loạn trong lưu thông tiền
tệ ở miền Nam những ngày đầu giải phóng Ngày 6/6/1975 - 5 tuần sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt nam đã ra Nghị định số 04/PCT
- 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và TW Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền Nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên qui mô toàn miền Nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là "Tiền Ngân hàng Việt Nam" (còn gọi là tiền giải phóng) vào lưu thông với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500đ tiền của chế độ cũ và tương đương với 1 USD Ngày 2/5/ 1978 - Đúng dịp kỷ niệm 3 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam công bố đổi tiền lần thứ
3 trên phạm vi toàn quốc, thống nhất tiền tệ cả nước với tỷ lệ 1đồng tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đồng NHNN mới
Sau bao biến cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên phạm vi cả nước
Lẽ ra đây sẽ là thời điểm đầu tiên của lịch sử phát triển tiền tệ của đất nước, nhưng đáng tiếc là vì nhiều nguyên nhân, đồng tiền lại rơi vào những thăng trầm mới
Trang 12Ngay sau đó do nền kinh tế nói chung còn ở trình độ quá nghèo nàn, lạc hậu lại do những sai lầm trong cải tạo các thành phần kinh tế - nhất là cải tạo giới công thương nghiệp miền Nam để áp dụng cơ chế bao cấp giống như ở miền Bắc trong cả nước nên lạm phát đã liên tục gia tăng – Từ chỗ giá trị đồng tiền mới sát với sức mua của đồng Dola Mỹ (1,25đ/1USD) đã nhanh chóng bị nới rộng ra Đồng tiền NHNN VN mất giá mạnh so với đồng USD, đến trước ngày đổi tiền tháng 9/1985 tỷ giá giữa đồng tiền NHNN VN so với đồng USD đã là: 150đ/USD
1.3 Quy luật lưu thông tiền tệ
1.3.1 Nội dung của quy luật
Quy luật lưu thông tiền tệ do K.Marx nghiên cứu và phát hiện, làm nền tảng lý luận trong nghiên cứu tiền tệ ngày nay và trong điều hành chính sách tiền tệ
Có thể nói, quy luật lưu thông tiền tệ chứa đựng 2 nội dung cơ bản:
- Thứ nhất, phản ánh mối quan hệ có tính quy luật giữa quy luật lưu thông hàng hoá với
tiền tệ và lưu thông tiền tệ Trong đó sản xuất lưu thông hàng hoá bao giờ cũng đóng vai trò cơ sở, quyết định còn tiền tệ và lưu thông tiền tệ có tác động ngược trở lại đối với sản xuất lưu thông hàng hoá Trong nền kinh tế thị trường phát triển sự vận động của hàng hoá và sự vận động của tiền tệ xoắt xuýt với nhau nhưng lưu thông hàng hoá bao giờ cũng giữ vai trò cơ sở cho lưu thông tiền tệ K.Marx nói: “Sự vận động mà lưu thông hàng hoá buộc lưu thông tiền tệ phải theo, làm cho tiền tệ luôn luôn xa rời điểm xuất phát của nó để luôn luôn chuyển từ tay người này sang tay người khác: Đó là cái mà người ta gọi là lưu thông tiền tệ”
Lưu thông tiền tệ diễn ra một cách có quy luật Quy luật đó bắt nguồn từ chỗ lưu thông hàng hoá là cơ sở lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hoá chỉ thu hút một khối lượng tiền tệ nhất định Như vậy lưu thông tiền tệ, không chỉ là quy luật xác định khối lượng lưu thông tiền tệ cần thiết cho lưu thông, mà nó còn chỉ rõ mối quan hệ có tính quy luật giữa các yếu tố số lượng hàng hoá dịch vụ, mức giá cả, số lượng tiền tệ và tốc độ lưu thông tiền tệ
- Thứ hai: Đưa ra công thức cơ bản, công thức tổng quát để xác định nhu cầu tiền tệ cho
nền kinh tế (khối lượng tiền tệ cần thiết cho nền kinh tế) và đi đến kết luận có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn:
+ Nhu cầu tiền tệ tăng giảm tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế - nghĩa là sản xuất, lưu thông hàng hoá gia tăng thì nhất định làm tăng nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế
Trang 13+ Nhu cầu tiền tệ tăng giảm tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông tiền tệ (Velocity of Money) K.Marx viết: Như vậy tổng số lượng tiền hoạt động với tư cách là phương tiện lưu thông trong mỗi một khoảng thời gian nhất định, một mặt được quyết định bởi tổng số giá cả của thế giới hàng hoá đang lưu thông và mặt khác bởi tốc độ nhanh hay chậm của những quá trình ngược nhau của lưu thông hàng hoá, tuỳ theo tốc độ này mà một bộ phận lớn hay nhỏ trong tổng số giá cả có thể được thực hiện với cùng một đồng tiền K.Marx cho rằng lưu thông tiền tệ là: “quy luật theo đó số lượng các phương tiện lưu thông được quyết định bởi tổng số giá cả các hàng hoá đang lưu thông và tốc độ lưu thông trung bình của tiền” Quy luật ấy còn có thể diễn đạt như sau: Với một tổng số giá trị hàng hoá nhất định và với một tốc độ trung bình nhất định của những sự biến đổi hình thái của các hàng hoá, thì số lượng tiền hay vật liệu tiền đang lưu thông sẽ phụ thuộc vào bản thân của giá trị vật liệu này Từ quy luật trên, có thể rút ra những kết luận quan trọng sau đây:
Một là: Số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông (nhu cầu tiền tệ) được quyết định
bởi 3 yếu tố:
• Tổng số lượng hàng hoá dịch vụ;
• Mức giá cả;
• Tốc độ lưu thông tiền tệ;
Trong đó nhu cầu tiền tệ biến đổii tỷ lệ thuận với hai yêú tố đầu và tỷ lệ nghịch với yếu tố thứ ba
Hai là, số lượng tiền tệ trong lưu thông có ảnh hưởng ngược trở lại với mức giá cả
Trong đó: Mc: Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: Tổng giá cả hàng hoá cần được thực hiện
P: Giá cả hàng hoá
Q: Khối lượng hàng hoá đưa vào lưu thông
V: Tốc độ lưu thông của tiền tệ
Trang 14* Ý nghĩa của quy luật
Nghiên cứu quy luật lưu thông tiền tệ của K.Marx cũng như tiếp thu có chọn lọc những học thuyết tiền tệ của các nhà kinh tế học nổi tiếng như William Petty (1623-1687), Adam Smith (1723-1790), David Ricado (1772-1823) một cách đúng đắn và có
cơ sở khoa học về phạm trù kinh tế tiền tệ nói riêng và nền kinh tế tiền tệ nói chung giúp việc hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ hợp lý Qua đó, đảm bảo cung cấp đầy đủ các phương tiện cho nền kinh tế nhờ đó mà thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.3.2 Cung cầu tiền tệ
1.3.2.1 Cầu tiền tệ
a) Khái niệm cầu tiền tệ
Cầu tiền tệ là số lượng tiền tệ mà dân chúng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các cơ quan Nhà nước cần nắm giữ để thoả mãn các nhu cầu giao dịch, dự phòng và tích luỹ
b) Thành phần và các nhân tố ảnh hưởng mức cầu tiền tệ
* Mức cầu giao dịch
Là nhu cầu tiền tệ với tư cách là phương tiện trao đổi nhằm phục vụ cho nhu cầu giao dịch hàng ngày của các chủ thể trong xã hội như mua hàng, trả công, trả lương, thanh toán nợ… Mức cầu giao dịch chịu tác động bởi 3 nhân tố cơ bản:
- Chi phí giao dịch liên quan đến việc mua bán các tài sản sinh lời khi cần thiết Chi phí này càng cao mức cầu tiền giao dịch càng lớn
- Mức lãi suất ròng (chi phí cơ hội) phải trả khi nắm giữ tiền Nếu chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền tăng lên thì mức cầu tiền giao dịch giảm
- Mức thu nhập Nhu cầu chi tiêu tăng lên cùng với sự tăng lên của thu nhập định kỳ
* Mức cầu tiền dự phòng
Là nhu cầu tiền nhằm đáp ứng các khoản chi tiêu không dự tính trước được khi có các nhu cầu đột xuất như ốm đau, hỏng xe, tai nạn hoặc giá cả tăng… Mức cầu tiền dự phòng chịu tác động của các nhân tố như:
- Tính lỏng của các tài sản tài chính Nếu các tài sản tài chính được nắm giữ với tính lỏng cao thì nhu cầu tiền dự phòng giảm xuống và ngược lại
- Sự biến động của các chính sách vĩ mô, môi trường kinh tế, thất nghiệp cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiền dự phòng
Trang 15* Mức cầu tiền đầu tư
Là lượng tiền cần nắm giữ nhằm quản lý tài sản một cách linh hoạt và có hiệu quả trên cả hai góc độ: tối đa hoá lợi nhuận và an toàn
Nhu cầu về tiền tệ để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phụ thuộc vào 2 nhân tố quan trọng là:
- Lãi suất tín dụng ngân hàng
- Mức lợi nhuận từ hoạt động đầu tư
1.3.2.2 Cung tiền tệ
a) Khái niệm cung tiền tệ
Cung tiền tệ là việc tạo ra và đưa vào lưu thông tổng phương tiện đóng vai trò tiền
để đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền trong nền kinh tế
Khối lượng tiền trong nền kinh tế được cung ứng từ những tác nhân sau:
- Ngân hàng Trung ương: Cơ quan chính phủ có chức năng theo dõi bao quát hệ thống hoạt động ngân hàng và có trách nhiệm thực hiện việc chỉ đạo chính sách tiền tệ (Cụ thể trong chương 2, nội dung 2.2.3.1)
- Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng: là các trung gian tài chính, họ nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức và thực hiện cho vay- các ngân hàng thương mại, các công
ty tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tương trợ và các liên hiệp tín dụng Từ một khoản tiền gửi ban đầu thông qua cho vay bằng chuyển khoản, NHTM có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán
- Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
b) Các nhân tố ảnh hưởng mức cung tiền
Cung tiền tệ trong nền kinh tế do NHTW quyết định thông qua chính sách tiền tệ Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì mức cung tiền giảm và ngược lại Các yếu tố làm cơ sở để ngân hàng NHTW quyết định đến chính sách tiền tệ của mình là:
- Chỉ số trượt giá và tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ
- Mức độ thâm hụt ngân sách Nhà nước
- Mức độ thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế
1.3.3 Vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ
Cơ sở cung ứng tiền: NHNN độc quyền cung ứng tiền, điều tiết khối cung tiền tệ, ổn định
giá trị đồng tiền Mức cung ứng tiền được dựa vào các cơ sở:
Trang 16- Chỉ số trượt giá của hàng hóa
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
- Thâm hụt ngân sách
- Thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế
Quan điểm cung ứng tiền:
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: Hạn chế cung ứng tiền, vốn, tín dụng, đầu tư, tăng trưởng kinh tế nóng; chống lạm phát
- Chính sách tiền tệ nới lỏng: Mở rộng việc cung ứng tiền, vốn, tín dụng, đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống suy thoái kinh tế
1.3.4 Các khối tiền trong lưu thông
Các khối tiền tệ trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụng chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tuỳ theo “độ lỏng” hay tính thanh khoản của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia
Các khối tiền tệ trong lưu thông bao gồm:
- Khối tiền giao dịch (M
1 ) gồm những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh
toán chi trả về hàng hoá dịch vụ, bộ phận này có tính lỏng cao nhất:
+ Tiền mặt trong lưu hành: Bộ phận tiền mặt (giấy bạc ngân hàng và tiền đúc) nằm ngoài
- Khối tiền tài sản (M
Trang 17Có nhiều quan điểm nhìn nhận và định nghĩa lạm phát rất khác nhau:
- Có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng lên liên tục của giá cả, nói cách khác đó là tình trạng mức giá cả tăng và tăng liên tục
- Quan điểm khác cho rằng lạm phát là việc phát hành tiền giấy vượt quá mức đảm bảo bằng vàng, bạc, ngoại tệ … của quốc gia, vì vậy gây ra sự mất giá của tiền giấy làm cho giá cả hàng hoá bị đẩy lên cao
- Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiền và hàng trong nền kinh tế, sự mất cân đối khiến cho giá cả tăng lên nhanh ở mọi lúc mọi nơi
Từ những quan điểm trên có thể đưa ra một khái niệm về lạm phát như sau: Lạm phát là hiện tượng kinh tế, trong đó giấy bạc lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết, làm cho chúng bị mất giá, dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hóa trong lưu thông không ngừng tăng lên
1.4.1.2 Nguyên nhân của lạm phát
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát, những nguyên nhân cơ bản đó là:
a) Lạm phát do cầu kéo:
Các hiện tượng kinh tế làm tăng tổng cầu tiền, dẫn đến tăng tổng cung tiền, trong điều kiện tăng trưởng kinh tế không tương ứng đã dẫn đến lạm phát Đó là lạm phát do nhu cầu hay còn gọi là lạm phát cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là:
- Tăng cầu tiền do thâm hụt ngân sách
- Tăng trợ cấp và phúc lợi xã hội…
- Tăng cầu tiền bắt nguồn từ nhu cầu về hàng hóa
Trang 18b) Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát loại này xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lực sản xuất của nền kinh tế giảm sút Khi chi phí sản xuất tăng lên chắc chắn sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm tăng lên làm giá bán sản phẩm tăng và chỉ số giá tăng Chi phí tăng lên
do nhiều nguyên nhân:
- Tăng lương vượt quá mức tăng năng suất lao động xã hội
- Đầu tư cơ bản kém hiệu quả
- Nguyên liệu đầu vào của một số sản phẩm tăng lên Chủ yếu là những nguyên liệu nhập từ nước ngoài
Nếu lạm phát do cầu kéo ở mức vừa phải là một điều kiện rất tốt cho nền kinh tế,
nó sẽ kích thích đầu tư mở rộng sản xuất, người ta còn ví nó như một chất dầu mở dùng
để bôi trơn cho bộ máy kinh tế Nhưng lạm phát chi phí đẩy thì dù bất kỳ mức độ nào cũng đều không tốt, vì bản thân nó đã mang trong mình sự suy thoái kinh tế
c) Hệ thống chính trị không ổn định, là một nguyên nhân dẫn đến lạm phát
Hệ thống chính trị không ổn định dẫn đến việc điều hành kinh tế của Chính phủ không hiệu quả Nhưng vấn đề quan trọng hơn là dân chúng không tin tưởng vào giấy bạc ngân hàng hiện hành Người ta tìm đến hàng hóa quý hiếm, ngoại tệ, vàng…để dự trữ giá trị Vì thế giấy bạc ngân hàng “bị đẩy” ra lưu thông nhiều hơn và nó mất giá càng nhanh
1.4.1.3 Đo lường lạm phát
Đo lường lạm phát có thể đo lường qua các chỉ số sau:
- Chỉ số giá tiêu dùng xã hội (CPI) (Consumer Price Index): (CPI là chỉ số được sử dụng
một cách phổ biến trong việc đánh giá mức độ lạm phát) CPI đo lường mức giá bình quân của một nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các hộ gia đình trong một giai đoạn nhất định Người ta thường chọn một rổ hàng tiêu dùng có chia các nhóm: áo quần, nhà cửa, chất đốt, vận tải, y tế… và xác định mức độ quan trọng của từng nhóm hàng trong tổng chi tiêu để làm căn cứ tính chỉ số giá bình quân Vào đầu kỳ tính CPI thì các
số liệu về giá cả hàng hoá, dịch vụ cần thiết được thu thập và sau đó chỉ số CPI được tính bằng cách so sánh giá trị hiện tại và giá trị gốc của rổ hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn
Ở Việt Nam, CPI được tính cho toàn quốc và cho từng địa phương, chỉ số giá bình quân được thông báo hàng tháng, hàng quý và hàng năm Hiện nay để tính CPI, một rổ hàng hoá được lựa chọn bao gồm 494 mặt hàng (giai đoạn 2006-2010 do Tổng cục Thống
kê công bố)
Trang 19Trên cơ sở xác định được chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản ánh
sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước và được tính theo công thức sau:
Tỷ lệ lạm phát = (Mức giá năm hiện tại - Mức giá năm trước) x 100
Mức giá năm trước
- Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index): Đây là chỉ số giá thành sản xuất của
một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu Ở Mỹ người ta sử dụng giá của 3.400 loại hàng hoá để tính PPI Chỉ số này thường được các doanh nghiệp sử dụng, cách tính của PPI hoàn toàn giống như cách tính của CPI
1.4.1.4 Các loại lạm phát
a) Lạm phát vừa phải
Lạm phát vừa phải là loại lạm phát mà tại thời điểm xảy ra, giá cả hàng hóa so với trước không cao và tốc độ tăng chậm Tỷ lệ lạm phát đo được dưới 10% gọi là lạm phát ở mức “1 con số”
Loại lạm này thường thấy ở các nước có nền kinh tế phát triển Lạm phát vừa phải không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thậm chí nó còn tác động ngược lại làm cho nền kinh tế năng động hơn Vì vậy mà nhiều chính phủ còn có kế hoạch duy trì lạm phát vừa phải trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình
Các nước tư bản phát ttriển như: Nhật Bản, Hoa Kì, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Pháp thường duy trì lạm phát ở mức thấp nhằm đạt những mục tiêu kinh tế - xã hội đã
dự định
b) Lạm phát phi mã
Lạm phát phi mã là loại lạm phát mà tại thời điểm xảy ra, giá cả hàng hóa tăng cao, với tốc độ nhanh so với trước Tỷ lệ lạm phát thường ở mức 2 con số: từ 10%, 20%
Thông thường lạm phát phi mã có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội Nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì lạm phát này sẽ là cơ sở dẫn đến lạm phát cao hơn
c) Siêu lạm phát
Tuỳ theo quan điểm của các nhà kinh tế, ngoài các lạm phát trên đây còn có lạm phát 3 chữ số Siêu lạm phát là loại lạm phát mà giá cả của tất cả các hàng hóa tăng cao
Trang 20gấp nhiều lần lạm phát phi mã Loại lạm phát này có tốc độ tăng rất nhanh, liên tục và không thể kiềm chế được
Loại lạm phát này có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tê – xã hội Nếu không
có những giải pháp đột phá thì không thể khắc phục được tình trạng siêu lạm phát này
1.4.2 Giảm phát – Thiểu phát
1.4.2.1 Giảm phát
Giảm phát là hiện tượng kinh tế, trong đó giá hàng tiêu dùng và dịch vụ có xu hướng giảm thấp liên tục trong một khoảng thời gian nhất định
Giảm phát xảy ra do nhiều nguyên nhân, đó là:
- Cung lớn hơn cầu về lượng hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, làm cho giá cả giảm thấp
- Thu nhập giảm dẫn đến nhu cầu của dân cư buộc phải giảm theo, làm cho số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ “ bị thừa”, dẫn đến giá cả giảm
- Hàng hóa, dịch vụ cung ứng không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, dẫn đến phải
hạ giá mới có cơ hội tiêu thụ được…
Giảm phát làm cho hàng hóa tiêu thụ chậm, nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ Nếu không có giải pháp khắc phục, nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng thừa, sức sản xuất sẽ bị suy thoái, các doanh nghiệp và cả nền kinh tế mất khả năng cạnh tranh
- Một là, cần thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ năng động và hiệu quả
- Hai là, điều chỉnh tăng trưởng kinh tế
- Ba là, hạn chế tăng chi phí
Trang 21CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
Câu 1 : Trình bày chức năng và vai trò của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó nêu lên tầm
quan trọng của nó đối với mọi hoạt động của nền kinh tế?
Câu 2 : Trình bày nguồn gốc ra đời và tiến hoá của tiền tệ qua các hình thái của nó? Câu 3 : Trình bày lịch sử tiến hoá của các chế độ tiền tệ, hệ thống tiền tệ quốc tế và sự
tiến hoá của nó từ xưa đến nay?
Câu 4: Cho biết nội dung và ý nghĩa của quy luật lưu thông tiền tệ?
Câu 5: Cung cầu tiền tệ là gì? Cho biết các nhân tố ảnh hưởng đến mức cung cầu tiền tệ
trong nền kinh tế? Các trường hợp nào gây mất cân đối cung cầu trong nền kinh tế? Nêu giải pháp?
Câu 6: Lạm phát, giảm phát, thiểu phát là gì? Các nguyên nhân và hậu quả lạm phát?
Các loại lạm phát? Lạm phát là tốt hay xấu đối với nền kinh tế?
Câu 7: Nêu các biện pháp ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, liên hệ với tình hình lạm
phát của Việt Nam hiện nay?
Câu 8: Phân biệt giữa chỉ số CPI và PPI?
Trang 22CHƯƠNG 2 : TÍN DỤNG – NGÂN HÀNG 2.1 Tín dụng
2.1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò của tín dụng
Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay dựa
theo nguyên tắc hoàn trả
Quá trình vận động của tín dụng được thể hiện qua sơ đồ sau:
Định nghĩa tín dụng thể hiện ở 3 nội dung cơ bản:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng vốn từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời Đó là thời gian sử dụng vốn Nó là kết
quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo
sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng vốn đó
- Người đi vay phải hoàn trả đúng hạn cho người cho vay, cả vốn, gốc và lãi
a) Tập trung và phân phối lại vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội theo nguyên tắc hoàn
trả
Đặc điểm tuần hoàn vốn luôn dẫn đến tình trạng thừa và thiếu vốn tạm thời Thừa
vốn khi các tác nhân, thể nhân có thu nhập chưa cần chi tiêu và thiếu vốn khi họ cần chi
tiêu nhưng lại chưa có thu nhập Hai thái cực này là mâu thuẫn vốn có và nảy sinh thường
xuyên của nền kinh tế Mâu thuẫn này được giải quyết bằng hoạt động của các loại hình
tín dụng
Chức năng của tín dụng thể hiện hai nội dung cơ bản, đó là:
- Tập trung vốn: Tín dụng thông qua các cơ quan chức năng của mình là Ngân hàng
thương mại, Ngân hàng chuyên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng… tiến hành huy
động, tập trung mọi nguồn vốn trong xã hội để hình thành quỹ cho vay
- Phân phối lại vốn: Trên cơ sở quỹ cho vay đã có, tín dụng tiến hành phân phối cho các
doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu cần bổ sung vốn và đủ điều kiện vay vốn
Phân phối tín dụng được thực hiện bằng hai cách:
Người cho vay
(người sở hữu vốn)
Người đi vay (người sử dụng vốn)
Trang 23+ Phân phối trực tiếp: là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó là kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của Nhà nước và các công ty
+ Phân phối gián tiếp: Là việc phân phối được thực hiện thông qua các tổ chức trung gian, như ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, Công ty Tài chính
Cả hai nội dung trên của tín dụng đều phải thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi sau một thời hạn nhất định Bởi lẽ xét về tính chất sở hữu vốn thì vốn đó vẫn thuộc quyền sở hữu của người cho vay Mặt khác nguồn vốn cho vay là tạm thời nhàn rỗi
và người đi vay chỉ tạm thời thiếu Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo hiệu quả sử dụng và tiết kiệm vốn Chính vì vậy, nguyên tắc hoàn trả là một tất yếu của tín dụng Thực hiện tốt chức năng này có ý nghĩa quan trọng:
+ Tín dụng đã góp phần điều hòa lượng vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Từ đó làm giảm tới mức thấp nhất vốn nhàn rỗi, không có ích để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thỏa mãn nhu cầu vốn có của doanh nghiệp và cá nhân
+ Quá trình tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng đã giúp cho các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện mới trong môi trường cạnh tranh Do đó, chức năng này đã góp phần vào việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế quốc dân
b) Kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua tiền tệ
Phần lớn các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thị trường được thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng Cho nên, vốn cho khách hàng vay là vốn của người khác Hơn nữa, các khoản cho vay được hoàn trả đúng hạn là điều kiện tiên quyết để các tổ chức tín dụng tồn tại và phát triển Với lý do trên, kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng tiền đối với người đi vay là rất cần thiết
Trong quá trình tập trung và phân phối lại vốn các chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng kiểm soát lẫn nhau nhằm bảo vệ lợi ích của mình và tác động tích cực đến quá trình lành mạnh hóa các hoạt động kinh tế - xã hội
Trọng tâm của chức năng này là kiểm sóat đối với người đi vay Việc kiểm soát phải được tiến hành trong cả quá trình cho vay, tức là kiểm soát trước khi cho vay, trong khi phát tiền vay và sau khi cho vay đến lúc người vay hoàn trả xong nợ
Tín dụng cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh tế bằng tiền đối với người đi vay song tùy từng loại khách hàng để định ra phương thức kiểm soát cho thích hợp Đối với
Trang 24doanh nghiệp cần kiểm soát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính Đối với cá nhân cần kiểm soát hoạt động tiêu dùng của họ
Thực hiện đầy đủ chức năng này có ý nghĩa:
+ Đảm bảo cho các tổ chức tín dụng thu hồi vốn cho vay đúng thời hạn, nâng cao khả năng thanh toán Đó là yếu tố để các tổ chức tín dụng duy trì hoạt động bình thường và phát triển
+ Nhờ sự kiểm soát này mà các đơn vị vay vốn quan tâm đến việc sử dụng vốn: tiết kiệm
và có hiệu quả hơn
+ Các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng chấp hành tốt kỷ luật và nguyên tắc tín dụng, tránh tình trạng nợ nần dây dưa Từ đó, mang lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân
a) Góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
- Nhờ nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường và mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất, lưu thông hàng hóa
- Góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi để duy trì mối quan hệ giữa sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội, làm cho lưu thông hàng hóa không những được mở rộng ở trong nước mà còn ra thị trường quốc tế
- Góp phần điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại kinh tế của các doanh nghiệp, vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Từ đó sẽ phát huy được năng lực sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất
- Góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong từng chủ thể sản xuất kinh doanh, trong từng ngành….từ đó tạo ra những doanh nghiệp, tập đoàn lớn, làm nòng cốt cho sự phát triển kinh tế của quốc gia
- Bên cạnh những tác động trên, tín dụng quốc tế còn làm cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước thực hiện nhanh hơn
b) Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
- Nhà nước thường xuyên sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi ngân sách, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế - xã hội
- Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi được quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng
Trang 25Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nhà nước
- Nhà nước sử dụng tín dụng để điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối tiền hàng,
ổn định giá cả hàng hóa Như vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
- Nhà nước sử dụng tín dụng làm công cụ thực thi các quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực tài chính từ bên ngoài để đầu tư phát triển kinh tế trong nước
c) Tín dụng góp phần quan trọng vào việc làm giảm thấp chi phí sản xuất và lưu thông
- Thông qua hoạt động tín dụng, vốn trong nền kinh tế được luân chuyển nhanh, tức là làm tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ làm giảm chi phí lưu thông tiền tệ
- Vốn tín dụng được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho các doanh nghiệp, làm quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành liên tục, chu kỳ sản xuất được rút ngắn lại Đây là một yếu tố góp phần làm giảm tổn thất khi doanh nghiệp thiếu vốn liên quan đến cơ hội kinh doanh
- Giảm chi phí sản xuất, lưu thông của chính doanh nghiệp Nguyên tắc của tín dụng là trách nhiệm hoàn trả, thúc đẩy người vay vốn sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả hơn
- Bản thân chủ thể các quan hệ tín dụng phải tính toán cụ thể để hoạt động tín dụng đem lại lợi ích cao nhất và an toàn nhất Động lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thúc đẩy họ giảm đến mức thấp nhất chi phí kinh doanh, kể cả chi phí xử lý rủi ro
d) Tín dụnglà công cụ thực hiện chính sách xã hội và nâng cao đời sống dân cư
- Thông qua việc cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, tổ chức kinh tế - xã hội, làm cho họ được đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất hoặc tiêu dùng
- Các hộ nông dân, cá nhân sử dụng tín dụng như là một trong các phương tiện để cải thiện và nâng cao mức sống của mình Thông qua việc vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất nâng cao lợi nhuận và phân chia tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng hợp lý nhất
Trang 26bớt những chi phí về bảo quản hàng hoá, ngược lại người mua mặc dù chưa có tiền nhưng vẫn có được hàng hoá đưa vào chu kỳ sản xuất mới Hành vi mua bán chịu hàng hoá được xem là hình thức tín dụng, bởi lẽ người người bán chuyển giao cho người mua được
sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định và khi đến thời hạn đã được thoả thuận người mua phải hoàn trả lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu
Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của TDTM là giấy nợ, được gọi là kỳ phiếu thương mại hay gọi tắt là thương phiếu
Đặc điểm của thương phiếu: Tính trừu tượng, tính bắt buộc và tính lưu thông
* Ưu điểm, hạn chế của TDTM
- Ưu điểm: Một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của những doanh nghiệp tạm thời thiếu hụt vốn, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ nhanh hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ giảm chi phí giao dịch do không phải qua khâu trung gian mà qua quan hệ trực tiếp
- Hạn chế:
+ Quy mô tín dụng: Vì TDTM do các doanh nghiệp cung cấp và họ chỉ cung ứng khối lượng tín dụng trong giới hạn khả năng của mình Do đó nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thì người cho vay không thể đáp ứng đầy đủ được
+ Thời hạn cho vay: Bởi lẽ điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp có thể không trùng khớp với nhau và chỉ đáp ứng cho ngắn hạn
+ Phạm vi: Do TDTM được cung cấp dưới hình thức hàng hóa, vì thế doanh nghiệp chỉ cung cấp được tín dụng cho một số doanh nghiệp có cung cầu hàng hóa phù hợp nhau
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là Ngân hàng và bên kia
là các tác nhân (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội ) trong nền kinh tế quốc dân
Trong hình thức này, ngân hàng xuất hiện với vai trò vừa là người đi vay và vừa
là người cho vay
Tín dụng ngân hàng có những đặc điểm sau:
- Huy động vốn và cho vay được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền tệ
- Các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian tín dụng
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội
Trang 27Các hình thức cho vay của tín dụng ngân hàng là: Cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và đầu tư chứng khoán Giữa TDNH và TDTM có mối quan
hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau
Hoạt động TDTM sẽ tạo cơ sở để cung cấp TDNH điều này thể hiện thông qua các nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố thương phiếu của TDTM Ngược lại, hoạt động TDNH đã góp phần khắc phục các mặt hạn chế của TDTM
* Ưu điểm và hạn chế của tín dụng Ngân hàng
- Ưu điểm:
+ Khối lượng tín dụng: Có khả năng cung ứng những khoản vốn lớn đáp ứng đủ nhu cầu vay của khách hàng Do đối tượng của TDNH là tiền tệ, các hình thức huy động phong phú có thể huy động tiền tệ nhàn rỗi từ mọi chủ thể trong nền kinh tế
+ Thời hạn tín dụng: Ngân hàng có thể đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn, tạo điều kiện cho nhu cầu của người tích lũy và người đầu tư được đáp ứng phù hợp
+ Phạm vi tín dụng: Có khả năng huy động vốn và cho vay rất lớn, liên quan đến các chủ thể và các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế
- Hạn chế: Có độ rủi ro cao do việc ngân hàng cho vay với số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự có hoặc có sự chuyển hóa thời hạn và phạm vi tín dụng rất rộng
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với dân cư và các tổ chức kinh tế - xã hội
Biểu hiện dưới 2 hình thức:
+ Nhà nước là người đi vay: Bằng cách phát hành công trái để huy động vốn
+ Nhà nước là người cho vay để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ
- Mục đích: TDNN ra đời nhằm mục đích thoả mãn những nhu cầu chi tiêu của NSNN trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng chi, nhằm bù đắp những khoản chi cho đầu tư phát triển kinh tế, tăng thêm nguồn lực tài chính cho Nhà nước để thực thi các chính sách Mặt khác TDNN là công cụ để Nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế kém phát triển
*Ưu và nhược điểm của tín dụng nhà nước
- Ưu điểm: Nhà nước huy động vốn bằng cách phát hành các loại tín phiếu, trái phiếu qua
đó có thể thu hút một lượng tiền mặt lớn trong lưu thông nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trường Đây là cơ sở quan trọng hình thành, phát triển thị trường tài chính
Trang 28- Nhược điểm: Nếu mức độ huy động không hợp lý thì có thể dẫn đến tình trạng chen lấn đầu tư của tư nhân do chính phủ huy động vốn qua phát hành trái phiếu, gây sức ép tăng lãi suất khiến cho đầu tư của tư nhân giảm xuống
là phương thức thuê vận hành (operating lease) và phương thức thuê tài chính (capital lease)
- Thuê vận hành (operating lease): Theo Điều 2 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê
vận hành của các công ty cho thuê tài chính ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Thống đốc NHNN, cho thuê vận hành (cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản, theo đó Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho Bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê
- Thuê tài chính (capital lease): Theo Điều 1 Khoản 1 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP quy
định: Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê
Trang 292.1.3 Lãi suất tín dụng
Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ số phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất
Lãi suất tín dụng = lợi tức thu được x100%
Trong kỳ tổng số tiền cho vay
Trên cơ sở lãi suất đã xác định, có thể tính giá trị thu được của vốn cho vay sau một thời hạn nhất định
Giá trị thu hồi được = Vốn + Lợi tức
Căn cứ vào tiêu thức biến động của giá trị tiền tệ (căn cứ vào giá trị thực của lãi suất):
phân chia thành lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực
+ Lãi suất danh nghĩa là lãi suất chưa loại trừ tỷ lệ lạm phát
+ Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã trừ đi tỷ lệ lạm phát
Công thức: ir = in - ii
Với: ir, in, ii: lần lượt là lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát
2.1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
a) Cung cầu tín dụng
Cung tín dụng là lượng nguồn vốn được dùng để cho vay Cầu tín dụng là lượng vốn mà nền kinh tế cần vay Tương quan cung cầu tín dụng trong một thời kì nhất định là nhân tố quan trọng quyết định đến mức lãi suất Nếu cung tín dụng lớn hơn cầu tín dụng thì mức lãi suất tín dụng sẽ hạ xuống, còn cung tín dụng nhỏ hơn cầu tín dụng thì mức lãi suất sẽ tăng lên Quan hệ cung cầu tín dụng tác động và làm thay đổi lãi suất trên từng loại thị trường tín dụng: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, loại tiền cho vay, khu vực và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trang 30b) Tỷ lệ lạm phát
Nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến sự biến động của LSTD Bởi lẽ, sự tăng hay giảm của tỷ lệ lạm phát kéo theo sự biến động của giá trị tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người cho vay
Nếu tỷ lệ lạm phát tăng thì LSTD phải tăng theo Lúc đó, các tổ chức tín dụng mới thu hút được nguồn vốn tiền gửi Khi tỷ lệ lạm phát giảm lãi suất tín dụng cũng giảm Để đảm bảo hạch toán kinh doanh cho các tổ chức tín dụng
Ngược lại, người ta có thể sử dụng LSTD làm công cụ kiềm chế lạm phát Do đó, khi lạm phát tăng cao, Nhà nước điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi để hạ cơn sốt lạm phát
c) Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế
Hoạt động của các doanh nghiệp là nền tảng của hoạt động tín dụng Do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế là cơ sở để xác định lãi suất tín dụng hợp lý Thông thường mức LSTD nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân Đó là hài hòa lợi ích của người cho vay và người đi vay
d) Chính sách kinh tế của Nhà nước
Bằng các chính sách kinh tế, Nhà nước can thiệp vào thị trường tín dụng, nhằm duy trì sự vận động của lãi suất tín dụng cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Các chính sách ưu đãi cho vay tác động trực tiếp đến lãi suất là chính sách thuế, ưu đãi đầu tư, cho vay trọng điểm…
2.1.3.5 Ý nghĩa của lãi suất tín dụng
a) Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
- Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, Nhà nước có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền từ lưu thông về làm giảm tỉ lệ lạm phát tạo điều kiện để sức mua đồng tiền ổn định, đảm bảo cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
- Thông qua lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh khối lượng cho vay đối với các Ngân hàng thương mại, nghĩa là điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng vào lưu thông Từ đó làm
mở rộng hay thu hẹp sản xuất, tăng hay giảm công ăn việc làm
- Tăng hay giảm lãi suất tín dụng, sẽ ảnh hưởng đến sự tăng giảm số lượng ngoại tệ trong nước Vì vậy sẽ ảnh hưởng tới quan hệ cung cầu ngoại tệ, dẫn đến sự thay đổi tỷ giá do
đó đến xuất nhập khẩu hàng hóa trong từng thời kỳ
Trang 31- Lãi suất tín dụng còn được sử dụng để điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, thành phần… nhằm đảm bảo sự thích ứng của sản xuất hàng hóa, dịch vụ với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế
b) Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vi mô
- Tăng hay giảm lãi suất tín dụng, đặc biệt là lãi suất cho vay, làm cho các doanh nghiệp vay được ít hay nhiều vốn Từ đó, quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
- Lãi suất tín dụng là căn cứ để các chủ thể kinh tế lựa chọn cơ hội đầu tư Doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi tỷ suất lợi nhuận cao hơn lãi suất tín dụng Cá nhân chỉ gửi tiết kiệm khi lãi suất đem lại cao hơn các món đầu tư khác và cao hơn tỷ lệ lạm phát Như vậy, lãi suất tín dụng làm thay đổi tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng của từng doanh nghiệp, cá nhân, đồng nghĩa với việc là họ mở rộng hay thu hẹp đầu tư
- Lãi suất tín dụng là công cụ để thực hiện hoạt động của các tổ chức tín dụng Đảm bảo nguồn lực tài chính để thực hiện hạch toán kinh doanh của các tổ chức này Đó là điều kiện tồn tại và phát triển của các tổ chức tín dụng
c) Lãi suất tín dụng là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả
Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất tín dụng được coi là công cụ quan trọng để phân phối vốn hợp lý và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ Bằng cách đưa ra các mức lãi suất khác nhau có thể tạo ra được sự phân phối, điều chuyển vốn theo đúng mục đích mong muốn
Nguyên tắc hoạt động của tín dụng là người đó vay phải hoàn trả đầy đủ vốn gốc
và lãi đúng thời hạn Nếu người đi vay không trả được nợ đúng hạn phải chịu phạt theo mức lãi suất nợ quá hạn nên kích thích người đi vay sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, trả nợ đúng hạn mới giảm được chi phí và có lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh
d) Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng
Để tăng khối lượng nguồn vốn huy động, đồng thời mở rộng cho vay đối vay với khách hàng, các tổ chức tín dụng có thể nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay Chỉ
có tổ chức tín dụng nào có mức lãi suất linh hoạt, đủ sức hấp dẫn sẽ thu hút được nhiều vốn và mở rộng việc cho vay Như vậy, để nâng cao uy tín với khách hàng và tạo được uy thế cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác, NH cần có chiến lược khách hàng, dự báo
và phân tích tốt sự biến động của thị trường tín dụng trong nước và quốc tế
Trang 322.1.4 Ngân hàng thương mại
2.1.4.1 Khái niệm
NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về NHTM, song đều thể hiện các đặc trưng cơ bản:
- Là một tổ chức được phép nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả
- Sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay, chiết khấu và đầu tư
- Thực hiện các khoản thanh toán và các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng
2.1.4.2 Phân loại
a) Dựa vào hình thức sở hữu
- Ngân hàng sở hữu tư nhân: là ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn của chính họ Tại Việt Nam chưa có loại hình này
- Ngân hàng sở hữu nhà nước: là ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp
- Ngân hàng cổ phần: là loại hình ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần trong đó các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và
cá nhân cùng góp vốn kinh doanh
- Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên Ở Việt Nam, loại hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng các ưu thế của nhau
b) Dựa vào chiến lược kinh doanh
- Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng là tập đoàn, công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân
- Ngân hàng bán lẻ: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho khách hàng cá nhân
- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty và khách hàng cá nhân Hầu hết các NHTM Việt Nam đều thuộc loại hình ngân hàng này
2.1.4.3 Chức năng
a) Chức năng trung gian tín dụng
Làm trung gian tín dụng trong nền kinh tế, NHTM thực hiện các nghiệp vụ: