Bài giảng Lý thuyết tài chính tiền tệ - Bài 5: Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ cung cấp kiến thức về bảng cân đối tiền tệ rút gọn của ngân hàng trung ương; chức năng của ngân hàng trung ương và các hoạt động gắn với các chức năng đó; cơ chế hoạt động của chính sách tiền tệ; các công cụ của chính sách tiền tệ và việc sử dụng các công cụ đó trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ.
Trang 1BÀI 5 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ, PGS TS Nguyễn Hữu Tài chủ biên, NXB Đại học KTQD
2 Tiền tệ, ngân hàng và Thị trường tài chính, Frederic S Mishkin, NXB Khoa học
Kỹ thuật, 2001
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Bài này có 3 vấn đề chính cần hiểu rõ: quá trình cung ứng tiền tệ đơn giản, chức năng và hoạt động của NHTW, chính sách tiền tệ
Trước hết, để hiểu được quá trình tạo tiền đơn giản, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa bảng cân đối tiền tệ rút gọn của NHTW (NHTW), cách thức làm thay đổi cơ số tiền tệ, và thông qua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của hệ thống NHTM, lượng tiền cung ứng sẽ thay đổi như thế nào
Đối với hoạt động của NHTW, sinh viên cần hiểu và giải thích được các chức năng của NHTW, các hoạt động gắn với các chức năng đó, và giải thích được sự khác biệt
cơ bản về chức năng và hoạt động giữa NHTW với NH thương mại
Đối với vấn đề chính sách tiền tệ, ngoài việc hiểu và giải thích ý nghĩa mục tiêu của chính sách tiền tệ, sinh viên cần hiểu cơ chế sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
để điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
Phân tích nội dung bảng cân đối tiền tệ rút gọn của NHTW
Mô tả quá trình tạo tiền đơn giản trong hệ thống ngân hàng và công thức mô hình tạo tiền đơn giản
Phân tích các chức năng của NHTW và các hoạt động gắn với các chức năng đó
Phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa NHTW với NHTM
Phân tích cơ chế hoạt động của chính sách tiền tệ
Phân tích các mục tiêu của chính sách tiền tệ và mối liên hệ giữa các mục tiêu đó
Phân tích các công cụ của chính sách tiền tệ và việc sử dụng các công cụ đó trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Lựa chọn định hướng thực thi chính sách tiền tệ
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như các NHTW ở nhiều nước luôn phải đứng trước những
sự lựa chọn: ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay ưu tiên kiểm soát lạm phát vì 2 mục tiêu này thường xung đột nhau và số liệu kinh tế trên thực tế cho thấy, không phải lúc nào cũng dễ dàng để ra quyết định là nghiêng về tăng trưởng kinh tế hay là hạn chế lạm phát
Năm 2012 khép lại đối với Việt Nam với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 5,03% (thấp hơn mục tiêu của Quốc hội là 6,25%) và tỷ lệ lạm phát là 6,81% (cũng thấp hơn mục tiêu của Quốc hội là 10%) Số liệu quí I/2013 về tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (4,89%) và lạm phát (6,64%) trong đều thấp hơn so với các các mục tiêu mà Quốc hội đặt ra (tăng trưởng kinh tế 5,5% và kiểm soát lạm phát
ở mức 8%)
Với những số liệu cơ bản nêu trên, theo Anh (Chị), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên thực thi chính sách tiền tệ như thế nào để đạt được mục tiêu do Quốc hội đặt ra? Gợi ý:
1 NHNN nên thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt hay nới lỏng?
2 Để thực thi chính sách tiền tệ theo ý kiến của Anh (Chị), các công cụ của chính sách tiền tệ nên được sử dụng như thế nào?
Trang 35.1 Bảng CĐ tiền tệ rút gọn của NHTW và quá trình thay đổi cơ số tiền tệ
5.1.1 Bảng cân đối tiền tệ rút gọn của NHTW
Bảng cân đối tiền tệ rút gọn của NHTW có các khoản mục sau đây:
NHTW Tài sản Nợ
Tiền cho vay chiết khấu Dự trữ của các NHTM (R)
Cơ số tiền tệ (MB = C + R)
Các khoản mục bên Nợ:
Tiền lưu hành ngoài ngân hàng: đây là số tiền giấy do NHTW phát hành và hiện tại đang được các tổ chức, cá nhân không phải là ngân hàng nắm giữ Đây là khoản
nợ của NHTW vì nếu là trong chế độ bản vị vàng, NHTW có nghĩa vụ chuyển đổi các đồng tiền giấy đó ra vàng cho người nắm giữ tiền giấy khi họ có yêu cầu chuyển đổi Trong chế độ bản vị tiền giấy, NHTW không có nghĩa vụ chuyển đổi tiền giấy ra vàng, nhưng họ có trách nhiệm bảo vệ giá trị của đồng tiền giấy mà họ phát hành
Tiền dự trữ của các NHTM Tiền dự trữ bao gồm tiền mặt ở trong két của các NHTM và tiền gửi của NHTM tại NHTW Đây là khoản nợ của NHTW vì khi các NHTM có tiền gửi ở NHTW yêu cầu rút tiền mặt ra thì NHTW có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó
Các khoản mục bên Tài sản:
Chứng khoán: đây là các loại tài sản tài chính do NHTW nắm giữ Các loại chứng khoản chủ yếu là các loại trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc và một số loại giấy tờ có giá khác Các tài sản này đem lại thu nhập cho NHTW
Tiền cho vay chiết khấu: đây là khoản tiền mà NHTW cho các NHTM vay Các khoản vay chiết khấu thuần túy là các khoản tiền ứng trước, không cần tài sản đảm bảo, được NHTW cho vay và trừ đi ngay tiền lãi của khoản vay (vì vậy được gọi là chiết khấu)
NHTW có thể thay đổi cơ số tiền tệ thông qua 2 nghiệp vụ:
Thứ nhất là nghiệp vụ thị trường mở Đó là việc NHTW mua, bán các chứng khoán với các NHTM, từ đó làm thay đổi cơ số tiền tệ
Ví dụ, NHTW mua 100 tỷ tín phiếu kho bạc từ ngân hàng Đệ Nhất Như vậy, ta sẽ có thay đổi trong bảng CĐKT của NHTW và ngân hàng Đệ Nhất như sau:
NHTW
Trang 4Ngân hàng Đệ Nhất
Dự trữ Chứng khoán
+ 100 tỷ
- 100 tỷ
Kết quả của nghiệp vụ này là làm dự trữ của NHTM tăng 100 tỷ và cơ số tiền tệ tăng
100 tỷ
Thứ hai, nghiệp vụ cho vay chiết khấu Ví dụ, NHTW cho Ngân hàng Đệ nhất vay
100 tỷ Như vậy, ta sẽ có thay đổi trong bảng CĐKT của NHTW và Ngân hàng Đệ Nhất như sau:
NHTW
Ngân hàng Đệ Nhất
Kết quả của nghiệp vụ này là làm dự trữ của NHTM tăng 100 tỷ và cơ số tiền tệ tăng
100 tỷ
Quá trình tạo tiền trong hệ thống NHTM
Hệ thống các NHTM có một chức năng rất quan trọng đó là chức năng tạo tiền Sự thật là toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể làm được điều mà từng ngân hàng riêng
lẻ không thể thực hiện được Hệ thống ngân hàng có thể nới rộng việc cho vay nợ
từ đó mở rộng khối lượng các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế lên nhiều lần so với số dự trữ mới được tạo ra
Để hiểu được bản chất của quá trình tạo tiền gửi qua các ngân hàng, ta sẽ làm rõ các vấn đề sau:
o Mức cung tiền tệ M bao gồm tiền giấy ngoài ngân hàng (C) và những tiền gửi
có thể rút bằng séc trong ngân hàng (D) M = C + D
o Giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% và các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng cho vay hết số dự trữ có thể cho vay, tức là dự trữ vượt mức bằng không
Cơ chế của quá trình tạo ra tiền gửi cho các NHTM như sau:
NHTW mua vào 100 tỷ TPKB từ Ngân hàng Đệ Nhất Như vậy, ta sẽ có thay đổi trong bảng CĐKT của NHTW và Ngân hàng Đệ Nhất như sau:
NHTW
Trang 5Ngân hàng Đệ Nhất
Dự trữ Chứng khoán
+ 100 tỷ
- 100 tỷ
Kết quả của nghiệp vụ này là làm dự trữ của ngân hàng Đệ Nhất tăng 100 tỷ và cơ số tiền tệ tăng 100 tỷ Ngân hàng Đệ Nhất chưa phải tăng dự trữ bắt buộc nên cho ông
An nào đó vay hết 100 tỷ, ông An đem tiền gửi vào ngân hàng An Bình Bảng CĐKT của ngân hàng An Bình có dạng như sau:
Ngân hàng An Bình
Ngân hàng An Bình phải thực hiện dự trữ bắt buộc tăng thêm 10 tỷ, ngân hàng này cho ông Bảo nào đó vay 90 tỷ, ông Bảo đem tiền gửi vào ngân hàng Bảo Việt Bảng CĐKT của ngân hàng Bảo Việt thay đổi như sau:
Ngân hàng Bảo Việt
Ngân hàng Bảo Việt phải dự trữ bắt buộc tăng thêm 9 tỷ vào cho ông Công nào đó vay
81 tỷ, ông Công lại đem tiền gửi vào ngân hàng Công thương Bảng CĐKT của ngân hàng Công thương thay đổi như sau:
Ngân hàng Công Thương
Quá trình này được lặp lại cho tới ngân hàng thứ n trong hệ thống NHTM Lượng tiền cung ứng tăng lên trong hệ thống ngân hàng bằng tổng số dư tiền gửi tăng thêm trong
hệ thống NHTM Ta có phương trình sau:
M = D = 100 + 90 + 81 + … = 100 × 1/0,1 = 1.000 tỷ Như vậy, lượng tiền cung ứng tăng lên 1.000 tỷ Đây được gọi là quá trình tạo tiền đơn giản trong hệ thống ngân hàng
Số nhân tiền đơn giản
Chúng ta thấy rằng có một số nhân tiền khi có số tiền dự trữ mới tăng lên Tỷ lệ của lượng tiền cung ứng tăng thêm so với mức tăng thêm của tiền dự trữ gọi là số nhân của mức cung tiền tệ Trong trường hợp đơn giản được phân tích như ở đây,
số nhân của mức cung tiền tệ là:
1/0.1 = 10 = 1/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc = 1/ rD
Trang 6 Hai hạn chế của mô hình tạo tiền đơn giản
Mô hình tạo tiền đơn giản chỉ đúng với 2 giả thiết sau đây:
duy trì dự trữ vượt mức làm cho số tiền cho vay giảm xuống thì sẽ làm giảm số nhân tiền Trên thực tế các NHTM đều duy trì dự trữ vượt mức để đáp ứng yêu cầu thanh khoản hàng ngày của ngân hàng, vì vậy số nhân tiền trên thực tế sẽ
nhỏ hơn số nhân tiền của mô hình đơn giản
ngân hàng tiếp theo Giả thiết này không hoàn toàn phù hợp trên thực tế
Hai vấn đề trên làm cho số nhân tiền trên thực tế thấp hơn số nhân tiền trong mô hình đơn giản
5.3 Chức năng và các hoạt động chủ yếu của NHTW
Phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng
tiền cung ứng: đi liền với sự ra đời của NHTW thì,
toàn bộ việc phát hành tiền được tập trung vào
NHTW theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành
tiền và nó trở thành trung tâm phát hành tiền của
cả nước
Giấy bạc ngân hàng do NHTW phát hành là phương
tiện thanh toán hợp pháp, làm chức năng phương tiện thanh toán Do đó, việc phát hành tiền của NHTW có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước NHTW không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ, mà còn quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng, thực hiện chính sách tiền tệ, bảo đảm ổn định giá trị đối nội và giá trị đối ngoại của đồng bản tệ
NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW thực hiện một số nghiệp vụ sau đây:
Mở tài khoản nhận tiền gửi cho các ngân hàng và các tổ chức tín dụng Các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng đều mở tài khoản tiền gửi gồm có hai loại sau:
Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW nhằm bảo đảm nhu cầu chi trả trong thanh toán giữa các ngân hàng và cho khách hàng
Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Khoản tiền dự trữ này áp dụng đối với các ngân hàng và các
tổ chức tín dụng có huy động tiền gửi của công chúng Mức tiền dự trữ này được NHTW quy Đây là một công cụ của NHTW trong việc thực thi chính sách tiền tệ Do vậy, dự trữ bắt buộc này sẽ thay đổi theo yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Cho vay đối với các ngân hàng và tổ chức tín dụng: NHTW cấp tín dụng cho ngân
hàng và các tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm cho nền kinh tế đủ phương tiện thanh toán cần Mặt khác, thông qua việc cấp vốn và lãi suất tín dụng để điều tiết lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ NHTW cho vay qua nghiệp vụ tái cấp vốn cho các NHTM và các tổ chức tín dụng, nghiệp vụ chiết khấu hoặc tái chiết khấu
NHTW còn là trung tâm thanh toán của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Với trung tâm này, NHTW thực hiện các nghiệp vụ thanh toán như:
Trang 7Thanh toán từng lần: Mỗi khi có nhu cầu thanh toán, các ngân hàng gửi các chứng từ thanh toán đến NHTW, yêu cầu trích tiền từ tài khoản của mình để trả cho ngân hàng thụ hưởng
Thanh toán bù trừ: NHTW là trung tâm tổ chức
thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng, kể cả kho bạc
nhà nước Việc thanh toán bù trừ được tiến hành
giữa các ngân hàng theo định kỳ hoặc cuối mỗi
ngày làm việc Việc thanh toán được dựa trên cơ sở
trao đổi các chứng từ thanh toán nợ kèm theo bảng
kê khai thanh toán bù trừ của các ngân hàng hoặc
thực hiện bù trừ thông qua hệ thống vi tính, số dư
cuối cùng được thanh toán bằng cách trích tài khoản của người phải trả nợ tại NHTW
NHTW là cơ quan quản lý các hoạt động của cả hệ thống ngân hàng:
Xem xét và cấp và thu hồi giấy phép hoạt động cho các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Kiểm soát tín dụng thông qua cơ chế tái cấp vốn và tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Quy định các thể chế nghiệp vụ, các hệ số an toàn trong quá trình hoạt động cho các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Thanh tra và kiểm soát các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng áp dụng các chế tài trong các trường hợp vi phạm pháp luật, nhằm bảo đảm cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả
Quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán
NHTW có trách nhiệm đối với kho bạc nhà nước:
Mở tài khoản, nhận và trả tiền gửi của kho bạc nhà nước
Tổ chức thanh toán cho kho bạc nhà nước trong quan hệ thanh toán với các ngân hàng; Làm đại lý cho kho bạc nhà nước trong một số nghiệp vụ
Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có giá
Cho ngân sách nhà nước vay khi cần thiết
NHTW thay mặt cho nhà nước trong quan hệ với nước ngoài trên lĩnh vực tiền
tệ, tín dụng và ngân hàng:
Ký kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng với nước ngoài
Đại diện cho nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế mà nước đó là thành
viên như IMF, WB, ADB
Khái niệm:
Chính sách tiền tệ là việc NHTW sử dụng các công cụ và phương pháp để làm thay đổi dự trữ của các NHTM, từ đó làm thay đổi lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Trang 8Phân loại chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ mở rộng (còn gọi là bành trướng hay nới lỏng) là việc NHTW tác động để làm tăng lượng tiền cung ứng
Ngược lại là chính sách tiền tệ thắt chặt (thu hẹp) là việc NHTW tác động để làm giảm lượng tiền cung ứng
NHTW điều hành chính sách tiền tệ để tác động vào nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định từ trước Chính sách tiền tệ mở rộng là việc NHTW tác động làm tăng lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế Ngược lại với nó là chính sách tiền tệ thắt chặt, theo đó, NHTW tác động làm giảm lượng tiền cung ứng
Các mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là:
Mức công ăn việc làm cao: mức công ăn việc làm cao là một mục tiêu quan trọng vì
2 lý do:
Trong tình huống ngược lại có nhiều người thất nghiệp dẫn tới sự nghèo khổ, xuống cấp về đạo đức, lối sống, tội phạm gia tăng
Khi nền kinh tế có mức thất nghiệp cao, sức lao động và các nguồn lực khác bị lãng phí dẫn tới giảm sút về sản lượng
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế thường liên quan chặt chẽ với mức công ăn việc làm
cao Nếu nền kinh tế ở mức toàn dụng nhân công, sản lượng sẽ ở mức tiềm năng (cao nhất trong điều kiện có thể) Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập gia tăng làm cho đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện, và đó là điều mà tất cả mọi người đều mong muốn Mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại được quan tâm nhiều bởi các nhà hoạch định chính sách
Mức giá cả ổn định làm cho giá trị về mặt hiện vật
của tiền tệ được bảo đảm nếu giá cả tăng lên sẽ gây
ra lạm phát tạo nên những méo mó trong đời sống
kinh tế và gây nên sự không chắc chắn trong việc
lập kế hoạch hoạt động của cá nhân và các hãng
Lạm phát ổn định được coi là mục tiêu quan trọng
nhất đối với các NHTW Bởi vì nếu mục tiêu này
không đạt được thì khó có thể đạt được tăng trưởng
kinh tế và mức công ăn việc làm cao
Ổn định của thị trường tài chính và thị trường ngoại hối: NHTW tồn tại để hạn
chế các cuộc khủng hoảng tài chính và ngăn chặn những tác động tiêu cực tới nền kinh tế Khủng hoảng tài chính có thể làm cho luồng vốn giữa người cho vay và người vay giảm sút và làm thu hẹp đáng kể quy mô của nền kinh tế
Sự ổn định của thị trường tài chính thể hiện ở sự ổn định của lãi suất Lãi suất thay đổi lên xuống thất thường cũng sẽ làm cho việc tính toán, lập các dự án đầu tư khó khăn
và độ rủi ro cao hơn NHTW có thể can thiệp để ổn định mức lãi suất trên thị trường
ổn định tại một mức nào đó
Sự ổn định trên thị trường ngoại hối được thiết lập dựa trên sự ổn định của tỷ gía hối đoái Tỷ giá tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu, tới sức cạnh tranh của hàng hoá nội địa, tới lãi suất trên thị trường Do vậy tỷ giá ổn định sẽ giúp các cá nhân và công
ty lập kế hoạch sản suất và mua bán hàng hoá với nước ngoài dễ dàng hơn
Trang 95.4.3 Cơ chế hoạt động của chính sách tiền tệ
Quá trình NHTW kiểm soát dự trữ ngân hàng qua đó kiểm soát việc cung ứng tiền tệ
và tín dụng có tác động đến nền kinh tế như sau:
1) Bước đầu tiên, NHTW làm tăng dự trữ hiện có tại các ngân hàng để làm tăng mức cung tiền tệ Hành động này được thực hiện thông qua nghiệp vụ thị trường mở hoặc nghiệp vụ cho vay chiết khấu
2) Mỗi đồng tăng lên trong dự trữ ngân hàng làm cho tổng số tiền gửi có thể phát séc tăng lên nhanh chóng (như phần trên là gấp 10 lần số dự trữ tăng thêm) Mức cung tiền tệ tăng lên
3) Việc mở rộng mức cung tiền tệ làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn hơn và việc vay tiền trở nên dễ hơn (lãi suất thấp hơn) và làm tăng số lượng tín dụng đối với các khu vực kinh tế
4) Lãi suất giảm và việc tăng mức tín dụng sẵn có làm cho chi tiền của cá nhân và công cộng đặc biệt là đầu tư có xu hướng tăng lên Các quyết định về xây dựng nhà máy mới, đặt mua máy mới hay tăng dự trữ hàng tồn kho sẽ gia tăng khi lãi suất trở nên thấp đi
5) Sức ép của việc mở rộng tiền tệ, làm tăng mức tổng cầu sẽ làm tăng sản lượng, công ăn việc làm, tăng thu nhập và lạm phát
Một quá trình ngược lại sẽ xảy ra khi NHTW thực hiện việc thắt chặt cung ứng tiền tệ
5.4.4.1 Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW mua và bán các chứng khoán có giá, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc, nhằm làm thay đổi lượng tiền cung ứng Sở dĩ NHTW tiến hành đại bộ phận nghiệp vụ thị trường mở của mình với tín phiếu kho bạc là vì, thị trường tín phiếu kho bạc có dung lượng lớn, tính lỏng cao, rủi ro thấp
NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường sẽ làm
thay đổi cơ số tiền tệ (tiền đang lưu hành ngoài hệ
thống ngân hàng và tiền dự trữ trong hệ thống ngân
hàng) Đó là nguồn gốc chính gây nên sự biến động
trong cung ứng tiền tệ
Khi NHTW mua chứng khoán, làm tăng cơ số tiền
tệ, qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng
Khi NHTW bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ,
qua đó giảm lượng tiền cung ứng
Thị trường mở là công cụ quan trọng nhất của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, bởi những ưu thế vốn có của nó:
NHTW có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tự do
Linh hoạt và chính xác, có thể được sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điều chỉnh một lượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ
NHTW dễ dàng đảo ngược lại tình thế của mình
Thực hiện nhanh chóng, ít tốn kém về chi phí và thời gian
Trang 105.4.4.2 Chính sách chiết khấu
Chính sách chiết khấu là công cụ của NHTW trong việc thực thi chính sách tiền tệ, bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các NHTM Khi NHTW cho vay các ngân hàng làm tăng thêm tiền dự trữ cho hệ thống ngân hàng, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung ứng
NHTW kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá cả khoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu)
Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu, tức làm cho giá của khoản vay tăng, hạn chế cho vay các ngân hàng kinh doanh, làm cho khả năng cho vay đối với nền kinh tế của các ngân hàng kinh doanh giảm xuống, lượng tiền cung ứng giảm
Ngược lại, khi NHTW giảm lãi suất cho vay tái chiết khấu, giá của khoản vay rẻ hơn, khuyến khích cho vay các ngân hàng kinh doanh, làm cho khả năng cho vay của ngân hàng kinh doanh đối với nền kinh tế tăng lên, lượng tiền cung ứng tăng lên
NHTW quản lý các món cho vay chiết khấu bằng nhiều cách để khoản vốn cho vay của mình khỏi bị sử dụng không đúng và hạn chế việc vay đó Các ngân hàng đến vay chiết khấu ở NHTW thường phải chịu ba khoản chi phí: lãi suất chiết khấu, phí về việc phải làm đúng theo các điều tra của NHTW về khả năng thanh toán của ngân hàng khi đến vay chiết khấu, phí về việc rất có thể bị NHTW từ chối cho vay chiết khấu vì NHTW đang theo đuổi một chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm chống lạm phát Các NHTM cũng khá dè dặt khi đi vay chiết khấu từ NHTW bởi hai lý do: thứ nhất, nếu nó quá lạm dụng vay chiết khấu, đến khi thực sự cần vay từ NHTW có thể bị NHTW từ chối vì đã vay quá nhiều rổi, và không thể vay được từ nguồn nào khác nữa, rất có thể sẽ xảy ra khủng hoảng về tính thanh khoản dẫn tới ngân hàng bị phá sản Thứ hai, nếu thông tin về một ngân hàng phải vay từ NHTW thì đó có thể là biểu hiện của sự yếu kém, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng đi vay trên thị trường Ngoài việc sử dụng làm một công cụ để ảnh
hưởng đến cơ số tiền tệ và cung ứng tiền tệ,
chính sách chiết khấu còn quan trọng ở chỗ
nhằm tránh khỏi những cơn hoảng loạn tài chính
cho các NHTM Bởi vì, tiền dự trữ bắt buộc
được lập tức điều đến các ngân hàng nào cần
thêm tiền dự trữ hơn cả NHTW sử dụng công cụ
chiết khấu để tránh những cơn sụp đổ tài chính
bằng cách thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng, là một yêu cầu cực kỳ quan trọng để tiến hành chính sách tiền tệ thành công Ví dụ, như ngân hàng dự trữ liên bang Hoa Kỳ cho vay chiết khấu đối với ngân hàng Franklin National tháng 5 năm
1974, với số tiền 1,75 tỷ đôla (khoảng 5% tổng số dự trữ trong hệ thống ngân hàng),
đã tránh cho ngân hàng này khỏi sụp đổ Hay, ngân hàng dự trữ liên bang Hoa Kỳ cho vay chiết khấu đối với ngân hàng Continental Illinois năm 1984, với số tiền trên 5 tỷ đôla, đã ngăn chặn được sự sụp đổ của ngân hàng này
Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền
tệ của NHTW Nó không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng, mà còn để thực hiện vai