1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về làng của Nguyễn Văn Vĩnh

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về làng của Nguyễn Văn Vĩnh
Tác giả Nguyễn Lân Bình, Nguyễn Lân Thắng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại bài nghiên cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố hồ chí minh
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giờ đây thì câu trả lời cho câu hỏi “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” tuy không còn bị cặp kính ấu trĩ đầy thiên kiến một thời kéo khá dài coi là nhân vật phản diện chỉ “vì hợp tác với Tây” nhưng

Trang 1

và tôn vinh những đóng góp của ông là một điều tất yếu Giờ đây thì câu trả lời cho câu hỏi “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” tuy không còn bị cặp kính ấu trĩ đầy thiên kiến một thời (kéo khá dài) coi là nhân vật phản diện chỉ “vì hợp tác với Tây” nhưng vẫn còn rất nhiều điều cần tìm hiểu, nghiên cứu để nhận ra tầm vóc và những giá trị khai mở của một trong những người tiên phong, dấn thân trên bước đường đổi mới của đất nước trong bối cảnh dân tộc Việt Nam không chỉ là nô lệ của của chế độ thực dân mà còn là nô lệ với những giá trị

đã lỗi thời của quá khứ”.[1]

Nguyễn Văn Vĩnh “đã từng tổ chức được nhiều cuộc thuyết trình và tọa đàm, cả bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Nam, dù nhiều bản thuyết trình thật sự

có giá trị, song chúng vẫn khó có thể sánh được với những nghiên cứu của ông về các thiết chế, các phong tục và tập quán của các vùng miền ở Bắc Kỳ”

[2] Một trong những nghiên cứu ấy, đặc biệt phải kể đến cuốn sách “Lời người man di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người An Nam)” Muốn hiểu đúng về Nguyễn Văn Vĩnh và tác phẩm của ông, người đọc phải tự trang bị cho mình hệ kiến thức mới, đòi hỏi có cách tiếp nhận và nhìn nhận vấn đề vượt ra khỏi những suy nghĩ định kiến đã từng tồn tại trong quá khứ

Trang 2

Kể từ khi Nguyễn Văn Vĩnh bước vào con đường sự nghiệp với 30 năm lao động và cống hiến (1906 – 1936), ông đã để lại một khối lượng khổng lồ các di cảo, các bản dịch, bút tích Nhiều người biết và ấn tượng về Nguyễn Văn Vĩnh, cùng tác phẩm của ông Song để nghiên cứu một cách có hệ thống

về cuốn sách “Lời người man di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người

An Nam) do tác giả Nguyễn Lân Bình và Nguyễn Lân Thắng chủ biên thì còn chưa thấy Rải rác có các bài nghiên cứu trên báo, tạp chí và một số sách nghiên cứu thiết nghĩ chưa đủ khẳng định sức nặng của một công trình nghiên cứu giàu tính dân tộc này Bài nghiên cứu mong mở đầu phần để ngỏ ấy Tìm hiểu về làng của Nguyễn Văn Vĩnh trong cuốn sách, hứa hẹn những trải nghiệm thú vị và sâu sắc

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cuốn cách “Lời người man di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người An Nam)” là bước đầu tập hợp những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã nói, đã viết và là bước đi đầu tiên trên con đường dài nhiều cây số của việc tìm kiếm những di sản do Nguyễn Văn Vĩnh để lại Việc ra đời cuốn sách là bước đi kế tiếp sau tác phẩm phim tài liệu lịch sử, ra đời năm 2007 “Mạn đàm về người man di hiện đại”, là cuốn sách đầu tiên của Nguyễn Văn Vĩnh tính từ ngày ông qua đời tháng 5/1936

“Với cái nhìn đa chiều và khách quan có kèm dẫn chứng sinh động, Nguyễn Văn Vĩnh đã phân tích chi tiết thế nào là một cái làng, từ tín ngưỡng cho đến cơ cấu hành chính với những biện pháp chế tài linh hoạt Ông nhấn mạnh đến truyền thống trọng học sĩ và tình yêu sâu nặng của người Việt với đất đai” [3] Nguyễn Văn Vĩnh đã coi mình như “kẻ man di hiện đại” “Man di” vì ông xuất thân nghèo khổ chỉ là một cậu bé kéo quạt thông ngôn và không được đào tạo chính thống “Hiện đại” là bởi ông đã đào tạo mình cố

Trang 3

gắng nỗ lực trở thành một người hiểu biết nhờ tự học Đúng như người đời truyền tụng “thời thế sinh anh hùng”, trong bối cảnh giao thời của lịch sử gắn liền với thế hệ trí thức mới được giáo dục theo kiểu Pháp - Việt, thì việc Nguyễn Văn Vĩnh sinh ra và và rèn luyện, trở thành một người tài năng được coi như một thần đồng của dân tộc vậy

Đề cập đến nội dung cuốn sách, tác giả Dương Trung Quốc cho rằng:

“Cuốn sách vừa ra mắt chủ yếu bàn về thiết chế “làng của người An Nam”, cái tế bào sống, cái mô thức xã hội mà người Việt Nam ngàn đời khai thác như là một phương thức sống nhằm ưu tiên cho việc gìn giữ những giá trị truyền thống khỏi bị những tác động đồng hóa từ bên ngoài, mà nhìn rộng ra chính là bảo vệ nền tự chủ văn hóa và chính trị.” [4] Giới văn học đã có nhiều

ý kiến, nhận xét về Nguyễn Văn Vĩnh, một số bài viết trên các trang điện tử

đã từng xét đến các vấn đề ông đề cập Trong cuốn sách, ngoài 26 bài bàn về thiết chế làng xã, ông Nguyễn Lân Bình còn đưa thêm 3 bài khác, trong đó Nguyễn Văn Vĩnh lý giải một hiện tượng rất thú vị Đó là chuyện “ở những vùng cấy được lúa mùa, phụ nữ đẹp hơn những vùng chỉ cấy được lúa chiêm Đồng chiêm theo cách gọi của người nông dân là đồng trũng Theo học giả, ở những vùng cấy được lúa mùa thì vụ mùa là vụ chính Tới dịp tiết trời lạnh, hiếm mưa, khan nước người nông dân vùng này không phải chịu cảnh lội ruộng khổ sở cấy lúa Vì lẽ ấy, họ ăn và chơi tết thảnh thơi hơn rất nhiều so với người nông dân vùng đồng chiêm trũng Cũng từ đây mới nảy sinh thói quen đã đi vào ca dao, dân ca:

“Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc tháng ba rượu chè”

Nhưng hẳn nhiên người nông dân vùng đồng chiêm không thể bắt chước người nông dân vùng cấy lúa mùa: chính sự khó nhọc của khí hậu và

Trang 4

địa lý đó mà phụ nữ ở đồng chiêm thường xấu và cũng ít tài lẻ hơn phụ nữ ở đồng mùa Và cũng nhờ cái sự thư thả của đồng áng, mà theo cụ Nguyễn Văn Vĩnh: phụ nữ ở đồng mùa cũng thích chuyện cầu cúng, hội hè như lên đồng,

đi chùa đi hội hơn.”[5] Báo Phụ Nữ đã giành sự ưu ái cho cuốn sách: “Khi đọc phong tục và thiết chế của người An Nam, chúng ta sẽ hình dung ra sự hiểu biết uyên thâm của ông với văn hóa nước nhà Đây là những bài báo đã in trên báo L’Annam Noveau (Nước Nam mới) do Nguyễn Văn Vĩnh viết bằng tiếng pháp; tác giả Phạm Toàn và Dương Tường chuyển ngữ tiếng Việt” Có thể nói, tập sách này “đem lại cho chúng ta nhiều thông tin rất hữu ích Giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về nông thôn Việt Nam với các sinh hoạt, văn hóa, kinh tế… đầu thế kỷ XX” [6]

Dương Trung Quốc đã khẳng định “có thể coi Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà xã hội học tiên phong” khi bàn về tập quán “chơi họ” : Nguyễn Văn Vĩnh phân tích về tập quán “chơi họ” rất phổ biến ở nông thôn, được coi là “ một di sản có từ thời xa xưa” rất đặc sắc Nhưng từ sự phân tích rất chi tiết theo cách tính toán của sổ sách hiện đại thì, theo ông “chơi họ” chỉ có khả năng đáp ứng những nhu cầu rất hạn hẹp của những cá nhân sống chung đụng…Chính sự giản dị đã ngăn cản không thể phổ cập phương thức này để dùng vào những nhu cầu thương mại hiện đại Lĩnh vực mà luật lệ lý tính cần hơn sự tin cậy cảm tính”.[7]

Khi nhắc đến Nguyễn Văn Vĩnh, người ta thường có hai cách nhìn khác nhau về con người và sự nghiệp của ông Một con người có tầm tư tưởng lớn, luôn hướng tới sự cách tân dân chủ như Nguyễn Văn Vĩnh đã có những đóng góp lớn lao trong nhiều lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, văn học… nhưng vẫn chưa được đánh giá sâu sắc và toàn diện Thậm chí trong nhiều giai đoạn, lịch sử đã hiểu sai khi cho rằng Nguyễn Văn Vĩnh là “kẻ bồi bút”,

là “tay sai” cho Pháp, hay nặng nề hơn là người đã cắt đứt nền văn hóa Hán

Trang 5

Nôm của dân tộc Theo nhà văn Vũ Bằng, chính quyền vì “không chịu nổi Nguyễn Văn Vĩnh nên mới nghĩ ra chiêu trò tiêu diệt Nguyễn Văn Vĩnh” Bởi ông đã phản bác chế độ quân chủ lập hiến của triều Nguyễn và đả phá chính sách cai trị của thực dân Pháp Ông quyết liệt thực hiện chủ ý của mình qua những bài báo “Niềm say mê của ông là báo chí và trở thành diễn đàn cho việc tranh luận, trao đổi quan điểm, ý kiến Với ông, đó là phương tiện để qua

đó có thể tấn công vào mọi vấn đề trong xã hội và chính trị của thời đại mà ông tồn tại Người ta thấy nếu ở một trang báo này ông viết bài để bảo vệ luận thuyết về chế độ trực trị liên quan đến nước Pháp và Đông Dương, thì ở trang báo sau, ông lại viết về những người nông dân đã chống lại sự bóc lôt của bè

lũ quan lại, hay về những người phu kéo xe đã chống lại sự bạo hành của một tên thực dân Pháp Ông có thể phác họa một bức tranh mê hồn về văn hóa của nông thôn Việt Nam, và ngày hôm sau lại viết và đăng lên một tiểu luận với chất lượng cao ngất về nền văn học Pháp…”.[8; 10] “Khi đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh, những người thuộc phái “định kiến” cố xoay vào mâu thuẫn của Nguyễn Văn Vĩnh với một số nhà yêu nước thời đó, nhất là với Phan Bội Châu nhưng họ chỉ trích dẫn một nửa sự thật” Sau này, lịch sử đã ghi nhận vai trò quan trọng đặc của Nguyễn Văn Vĩnh trong sự hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ Cho đến nay, theo thống kê của tác giả Nguyễn Lân Bình, đã

có đến 16 cơ quan thông tấn và báo chí đưa tin về sự xuất hiện của bộ sách [9 ]

Nguyễn Văn Vĩnh đã từng bị lịch sử lên án kịch liệt và cuối cùng đã trả lại sự tôn vinh xứng đáng cho những đóng góp của ông Một số những bài viết, những ý kiến vừa trình bày trên đây mang tính nhận định khái quát về một số vấn đề trong cuốn sách “ Lời người man di hiện đại (Phong tục và thiết chế của nguời An Nam)” Thật sự vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào khảo sát những vấn đề về làng được đặt ra trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Vĩnh

Trang 6

III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu đi sâu khảo sát và nghiên cứu tập 1 cuốn sách “Lời

người man di hiện đại: Phong tục và thiết chế của người An Nam” Cái nhìn khách quan của Nguyễn Văn Vĩnh khi mô tả về làng là một nét độc đáo Người viết cố gắng khảo sát và tập hợp các quan điểm của ông về phong tục

và thiết chế về làng trên các bài báo tập hợp trên tờ L’ Annam Nouveau

Bên cạnh đó, lấy một số tác phẩm khác làm thao tác đối sánh như

“Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, “Việc làng” của Ngô Tất Tố, “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong phạm vi đề tài này, người viết sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống

Trên cơ sở những ghi chép, mô tả của Nguyễn Văn Vĩnh về phong tục

và thiết chế của người An Nam, người viết đi vào khảo sát, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đã đặt ra theo quan điểm của mình một cách khách quan, nghiêm túc Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng nhằm cụ thể hóa, sau đó khái quát hóa các nội dung của vấn đề đã nêu Người viết sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu quan điểm, cách tiếp cận về làng của Nguyễn Văn Vĩnh với một số tác giả khác như Ngô Tất Tố, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh Phương pháp này giúp người viết có cái nhìn toàn diện về mặt tích cực, hạn chế của cuốn sách với một số tác phẩm khác Phương pháp hệ thống,

hệ thống các nghiên cứu đặc trưng của Nguyễn Văn Vĩnh, về các phong tục

và thiết chế của người An Nam một cách khá đầy đủ, và mang màu sắc toàn diện

Trang 7

V ĐÓNG GÓP CỦA BÀI NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu tác phẩm, với mong muốn làm nổi bật những giá trị cơ bản trong nghiên cứu làng cổ truyền Bắc Bộ Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 của Nguyễn Văn Vĩnh và góp phần khẳng định lại tên tuổi một học giả tài năng của đất nước

VI CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương I: Giới thiệu vài nét về Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề làng xã trong giai đoạn 1930 – 1945

Chương II: Những vấn đề cơ bản đặt ra trong nghiên cứu làng của Nguyễn Văn Vĩnh

Chương III: Những đóng góp, giá trị nổi bật trong nghiên cứu làng của Nguyễn Văn Vĩnh

Trang 8

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ NGUYỄN VĂN VĨNH VÀ VẤN ĐỀ LÀNG

XA TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945

1.1 Sơ lươc về tiểu sử và con người

Nguyễn Văn vĩnh sinh ngày 15/6/1882 tại làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay thuộc huyện Phú Xuyên – Hà Nội Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, không phải từ gia đình Nho học hay khoa bảng gì

Từ một cậu bé 8 tuổi nghèo khổ, làm công việc kéo quạt cho một lớp học thông ngôn của người Pháp, ông đã thi đỗ khóa học chính thức năm 12 tuổi và được hiệu trưởng cho phép học lại khóa học thông ngôn do tuổi còn quá nhỏ Năm 15 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được đưa đi làm thông ngôn tại tòa

sứ Lào Cai (1897) Ông được điều chuyển từ tòa sứ Hải Phòng về tòa sứ Bắc Giang khi mới 20 tuổi Bốn năm sau, ông chuyển về tòa Đốc lý Hà Nội Năm

1906, ông được cử đi Hội chợ thuộc địa Marseile – Pháp Trở lại Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh thôi làm công chức của tòa Đốc lý Hà Nội Từ thời điểm này cho đến khi qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh không giữ bất kỳ vị trí nào trong

hệ thống cai trị của chính quyền

Năm 1935, kinh tế đất nước suy thoái chính phủ bảo hộ đã không thể chịu đựng được cái gai trong mắt là Nguyễn Văn Vĩnh, chúng quyết định dập tắt ngòi bút của ông bằng cách: “xiết nợ…để Nguyễn Văn Vĩnh phải phá sản!” Ông đã quyết định chọn con đường đi đào vàng để trả nợ và tiếp tục được tự do sáng tác “Ngày 1/5/1936 sau một đêm mưa gió,người ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh một thân một mình trên con thuyền độc mộc giữa dòng

Trang 9

sông Sê Băng Hiêng, toàn thân đã tím đen, nhưng một tay vẫn giữ chặt cái bút

và tay kia là quyển sổ đang viết giở Thuyền cập vào chân cầu Sê Pôn, họ đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh lên trạm y tế của thị xã Sê Pôn… Nhưng… vô vọng! Nhà chức trách báo về gia đình rằng: Nguyễn Văn Vĩnh chết vì sốt rét” [10; 20]

Một tuần sau, đám tang Nguyễn Văn Vĩnh được tổ chức tại Hà Nội với những người đưa tiễn “dài hàng cây số”

1.1.2 Con người

“Chẳng quan mà quý, chẳng phú mà hào, giữa trời Nam gió tung mây, gan óc dễ đâu vùi chín suối; có lưỡi như cồng, có bút như thép trong làng báo

mở cờ khua trống, văn chương âu cũng đủ nghìn thu”

(Câu đối viếng của Tuần Báo Đông Tây)

“Người công dân vĩ đại” Nguyễn Văn Vĩnh đã đem hết tài đức của mình cống hiến cho dân tộc Ở vào giữa giai đoạn giao thời của đất nước, việc giữ vững lòng tự tôn dân tộc là một điều khó Nhưng với Nguyễn Văn Vĩnh, ông lại đem chính lòng tự tôn ấy để xây thành nền tảng cho những tư tưởng cải cách Ông chỉ mong sao cho đất nước ngày càng phát triển Nhà văn Vũ Bằng đã nhận xét: “Không phải nói, ai cũng biết ông Vĩnh là nhà hộc rộng, vấn đề gì cũng biết Điểm đó, ông phải là một điểm đặc biệt, vì chung quanh ông cũng có những người như thế Nhưng khác một điều là những người kia thì không áp dụng được cái biết của mình làm lợi ích cho người khác Đàng này, ông Nguyễn Văn Vĩnh học và hành ngay Nói đến ông Vĩnh, người ta nhớ ngay loạt bài đả kích chủ trương quân chủ của Phạm Quỳnh theo sát với Tây, mà hầu như đều quên rằng chiến dịch làm cho từ Bắc đến Nam sôi nổi, hăng say, chiến dịch khích động lòng yêu nước của toàn dân lúc ấy, chiến dịch làm cho Pháp giật mình, vì không ngờ ông Vĩnh lại được dân chúng tin yêu đến thế, chính là chiến dịch tẩy chay Hoa kiều bằng một bài báo ký tên

Trang 10

“Quan Thành” Những lời đe dọa, khi thì sỗ sàng, khi thì mềm dẻo của nhà cầm quyền Pháp hồi đó kéo dài không ngớt trong cuộc đời ông Vậy mà thà chịu khổ sở, thiếu thốn hiểm nghèo chớ không chịu vị tình người Pháp hay vì tiền của họ mà thay đổi lập trường, chí hướng…” [11] Ấy chính là phẩm chất hơn người của Nguyễn Văn Vĩnh

Ông là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã từ chối làm thượng thư và hơn một lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng Vào thời người ta ganh đua nhau mua quan bán tước, cái thời được ngồi mâm trên là sung sướng nhất của đời người “ một miếng giữa làng bằng một sang xó bếp” ấy, Nguyễn Văn Vĩnh đã chối từ nó Điều này làm cho tất

cả giới văn sĩ trong nước thêm phần kính nể ông Nhân cách của ông nằm ở chính chỗ đó “Nguyễn Văn Vĩnh xứng đáng là một trong số các nhà văn lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỉ XX Tôi đồng ý với cách đặt vấn đề của Tạp chí Xưa và Nay (số 1 – Xuân 1996, tr 13): “… đánh giá một nhân vật lịch sử là một việc làm không đơn giản” Vì lý do ấy, tôi xin trích một vài ý của Phan Khôi, là một học giả sắc sảo, từng sống một thời với Nguyễn Văn Vĩnh, đã viết một bài vào dịp ông Vĩnh qua đời năm 1936, mà tạp chí trên đã đăng lại Phan Khôi đã cân nhắc về văn nghiệp và thái độ chính kiến của ông Vĩnh, rồi đặt bút ngay ở những dòng đầu: “Tôi phục ông Vĩnh ở chỗ có chí tự lập, không mộ hư vinh” Phan Khôi đã kể qua một vài điều mà thời ấy có kẻ yêu, người gét ông Vĩnh, nên có người muốn đúc tượng ông để đời ngưỡng mộ, có

kẻ thì lại có ý ngược hẳn Riêng tôi rất mong ước sẽ còn nhiều người tiếp tục nghiên cứu về nhà học giả này Phan Khôi đã kết luận: “Trong mắt tôi, ông Nguyễn Văn Vĩnh là một trang hào kiệt, Mạnh Tử có nói: đến như kẻ sĩ hào kiệt thì dù không có Văn Vương cũng dấy lên Trong câu nói ấy thấy người hào kiệt đầy cái khí phách tự lập đúng như cái khí phách của ông Nguyễn Văn Vĩnh chúng ta”.[12; 136]

Trang 11

“Chúng ta đã ca ngợi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà báo, nhà văn và nhà thuyết trình các chủ đề giáo dục, nhưng như thế vẫn chưa đủ Hầu như chúng

ta chẳng nói được gì về phẩm chất người của ông, về sự ngay thẳng chính trực của ông trước những thử thách, về triết lý sống biết cam chịu và cổ vũ mọi người của ông, vì trái tim yêu thương và nồng nàn ấy, mà dù có gặp bất hạnh thì chỉ càng được thanh lọc chứ chẳng chịu trở thành chua chát”.[13; 207]Một cuộc đời “lộng lẫy và nhiêu khê” (chữ dùng của nhà văn Vũ Bằng) của Nguyễn Văn Vĩnh phải chăng được hun đúc từ mảnh đất quê hương Phượng Dực Nơi đây đã sản sinh ra những bậc anh tài cho dân tộc như Nguyễn Văn

Tố, Phạm Duy Tốn… một làng quê in đậm truyền thống hiếu học và bồi dưỡng nhân tài

1.2 Sự nghiệp

Sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh trải dài trên nhiều lĩnh vực “Ông là người xướng xuất lên phong trào diễn thuyết, phong trào viết báo Nam báo Pháp; phong trào phổ thông chữ Quốc ngữ và truyền bá văn minh văn hóa Âu Tây; phong trào đem cái hay cái đẹp của văn minh văn hóa Nam diễn ra cho người Âu Tây biết; phong trào mở hội giúp những người thanh niên đi du học; phong trào Phật giáo, phong trào thể thao,…nhất nhất bao nhiêu những thứ đó, ông cũng là thủ xướng hay ít ra cũng là 1 người lính tiên phong hăng hái”.[14; 41]

“Nước Nam ta sau này hay dở cũng ở như chữ Quốc ngữ”

Đó là lời khẳng định bất hủ của Nguyễn Văn Vĩnh, mà bây giờ và mai sau nó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn Nhắc tới chữ Quốc ngữ, người ta nghĩ ngay tới Nguyễn Văn Vĩnh Ông là người có công đầu trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ vào Việt Nam, mà hoạt động đầu tiên đó là những công trình dịch thuật như các tác phẩm của một số đại văn hào Pháp Nguyễn Văn Vĩnh

là người đầu tiên dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Pháp Có ý kiến cho rằng;

Trang 12

“Bản dịch Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh rất đặc sắc vì ông không chỉ dịch câu

mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó – một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm), Trung Hoa (bằng chữ Nho) và Pháp mới có thể làm được Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của cụ Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền

bá kiến thức và văn hóa phương Tây trong dân Việt và đẩy xã hội chủ nghĩa

đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ Quốc ngữ” [15; 29-30] Các tác phẩm dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh đã giúp cho người dân Việt Nam tiếp xúc với những tư tưởng mới của phương Tây và hiểu sâu sắc hơn nền văn hóa của dân tộc mình Về điểm này, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người đầu tiên bắc chiếc cầu nối giữa 2 nền văn hóa Đông – Tây Văn học dịch thuật đã đóng một vai trò quan trọng và lót đường cho quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Nguyễn Văn Vĩnh đã “vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam” với việc truyền bá chữ Quốc ngữ

Nhà văn Nguyễn Ngọc Phan nhận định: “Nguyễn Văn Vĩnh là người rất có công với Quốc văn Nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch…còn

là vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học (Đông Dương tạp chí) vào buổi mà đối với văn chương, mọi người hãy còn bỡ ngỡ” [16; 69] Con người

“lắm công nhiều việc” ấy đã khiến cho nhà văn Vũ Bằng thấy “sợ”: “Thú thật, cho đến bây giờ, tôi sợ nhiều người nhưng chưa sợ gì như sợ cái tài viết của ông… Ông viết tin, viết xã luận, làm thơ, khảo cứu, phóng sự và dịch tiểu thuyết thì quả không chê được”.[17] Nguyễn Văn Vĩnh đã làm chủ 7 tờ báo với bút hiệu nổi tiếng “ Tân Nam Tử” (người Nam mới).Theo thống kê của ông Nguyễn Lân Bình, “Nguyễn Văn Vĩnh đã viết tới 2500 bài báo, riêng trong tờ Nước Nam mới, tờ báo tiếng Pháp và cũng là tờ báo cuối cùng Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, ông đã viết tới 500 bài”.[18] Nếu không yêu nước thì ông

Trang 13

viết làm gì để đeo vào cổ cái gông cùm của chế độ và buộc phải bỏ xứ sang Lào để rồi vĩnh biệt ở nơi rừng thiêng, nước độc?!

Góp phần vun đắp sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, ông còn thể hiện mình

ở vai trò một nhà diễn thuyết tài ba với giọng nói “sang sảng ầm ầm, rõ ràng từng chữ” Ông luôn tìm đọc sách, ra sức học hành và có thể diễn thuyết về bất kỳ vấn đề gì tại các cuộc họp hội Trí Tri và Đông Kinh Nghĩa Thục G.S Phạm Huy Lê, Chủ tịch hội Sử học Việt Nam đã nhận xét: “Nếu đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh mà chỉ dừng lại ở việc cụ là thủy tổ của làng báo tiếng Việt, là người có công phát triển chữ Quốc ngữ và là nhà dịch thuật xuất sắc thì chưa đầy đủ và thỏa đáng Điều xứng đáng hơn cũng là đóng góp lớn nhất của cụ, chính là về tư tưởng Đó là một trong những nhà tư tưởng dân chủ của Việt Nam mang tính khai sáng Cụ cũng là người biết dùng văn học và văn hóa để thấm sâu vào lòng người, truyền bá những tư tưởng tiến bộ vượt thời đại.[19] “Nguyễn Văn Vĩnh, năm 1907,chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc

Kỳ - Đăng cổ Tùng Báo, năm 1909, cùng Phan Kế Bính dịch toàn bộ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa từ Hán ra Quốc ngữ, năm 1913, dịch toàn bộ Truyện Kiều từ Nôm ra Quốc ngữ, chủ bút Đông Dương Tạp Chí, là cơ quan Ngôn luận quy tụ được toàn bộ các chí sĩ nổi danh và uy tín nhất cùng thời, năm

1917, Chủ bút báo Trung Bắc Tân Văn – tờ báo Nhật báo đầu tiên trong lịch

sử Báo chí Việt Nam, từ 1900 – 1920 dịch hàng loạt các tác phẩm tiến bộ Văn học Pháp ra Quốc ngữ: của La Fontaine, V.Hugo, A.Dumas, H.de.Balzac, Moliere…năm 1920, là người Việt Nam đầu tiên dựng sân khấu kịch nói tại Nhà hát lớn để trình diễn các vở hài kịch của Moliere như: Trưởng giả học làm sang, Người biển lận,…năm 1924,cùng với những người Pháp dựng bộ phim truyện đầu tiên trong điện ảnh Việt Nam (phim câm) được quay tại cảnh quan Chùa Láng – Hà Nội, những năm 30 hoàn thành trọn bộ việc dịch Kim Vân Kiều ra tiếng Pháp”.[20]

Trang 14

Với 30 năm lao động và cống hiến, với vai trò là một dịch giả, một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội Nguyễn Văn Vĩnh đã khẳng định vị thế của ông trong nền Quốc văn hiện đại Việt Nam “Nguyễn Văn Vĩnh có thể coi là một ông tổ của văn học thế hệ 1913”.[21; 179, 187] Kiến trúc sư Tô Văn Y (Bảo Lộc – Lâm Đồng) đã viết dòng câu đối kính tặng Nguyễn Văn Vĩnh:

“Công rạng rỡ nếp gia phong con cháu mấy châu ngàn đời vẫn nhớ

Ơn mở mang nền Quốc ngữ người dân nước Nam muôn thuở không quên”

1.2 Giai đoạn 1930 – 1945 với vấn đề làng

Khái quát lịch sử nghiên cứu làng Việt, đặc biệt là về làng Việt ở vùng Bắc Bộ có thể tính từ đầu thế kỷ XX Những nghiên cứu sớm nhất được thực hiện bởi các học giả người Pháp, nhằm mục đích cho sự cai trị của chính quyền thực dân như “ Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” của P Gourou (Pari, 1936) Các học giả Việt Nam cũng có những cố gắng trong nghiên cứu về làng Việt Trong giai đoạn 1930 – 1945, một số công trình có thể điểm qua như: “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (1937), “Sở hữu công ở Bắc Kỳ: Góp phần nghiên cứu lịch sử pháp luật và kinh tế công điền công thổ của nước An Nam” của Vũ Văn Hiền (Pari, 1939), “Phong tục và thiết chế của người An Nam” của Phan Kế Bính (1945) Từ đó, ta nhận thấy đã có xu hướng chuyển dịch những quan tâm của tầng lớp trí thức tân học đối với làng xã,trong đó có Phạm Quỳnh hay Nguyễn Văn Vĩnh Mỗi tác giả khi nghiên cứu về làng với một khía cạnh khác nhau

Làng trong những nghiên cứu của Nguyễn Văn Vĩnh

Năm 1921, Nguyễn Văn Vĩnh nhận làm “ Chánh Hương hội” của làng ở quê hương ông, làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông Ông nói: “Bởi lẽ trong suốt 9 năm tôi điều hành Hội đồng làng xã, tôi đã có cơ hội tiếp thu những kinh nghiệm làng xã của người An Nam” [22; 73] Ở vị trí này ông đã có

cơ hội quan sát và miêu tả chân thực về làng Các bài viết về làng của Nguyễn

Trang 15

Văn Vĩnh in trên tờ báo An Nam mới đã được tác giả Nguyễn Lân Bình tập hợp trong bộ sách “ Lời người Man di hiện đại” với các vấn đề như: “Phong tục và thiết chế của người An Nam”, “Tập quán phong tục và tôn giáo của người An Nam”, Nguyễn Văn Vĩnh phân tích, phê phán những mặt hạn chế

và sự lạc hậu của một số tập quán cổ hủ trong dân gian, các kiến nghị cho việc cải cách đối với một số phong tục tập quán và lối sống của người An Nam; “Cuộc sống nông thôn và hoạt động sản xuất thâm canh với hình thức công cộng địa phương”, viết về một số chính sách cải cách nông thôn của chính quyền, các loại hình chuyên canh với từng đối tượng cây trồng, vật nuôi

và sản xuất đại trà đối với một số loại hàng hóa đặc thù ở các vùng miền trong

cả nước “Có tới hằng trăm nghiên cứu do ông tiến hành về các thiết chế và các tập quán, phong tục của người dân nước Nam Chúng ta không đề cao số lượng những công trình nghiên cứu mà chúng ta cần nhìn thấy các mối liên hệ hữu cơ giữa các dữ liệu tản mát, nhưng đã được kết nối lại, để dựng lên thành một tòa lâu đài, vinh danh các thành bang của đất nước An Nam này”.[23; 194]Viết về làng với ông là một niềm đam mê trong suốt thời gian từ 25 tuổi “kéo dài gần như không ngừng nghỉ cho tới khi ông vĩnh biệt Chính những hoạt động này đã giúp ông trở nên sung mãn suốt cả toàn bộ cuộc đời của mình”

[24; 193] Ông đã tìm thấy chính mình trong các bài viết về làng xã Trong tác phẩm “lời người Man Di hiện đại (Phong tục và thiết chế của người An Nam)”, các bài viết không theo thứ tự những số báo có bài viết trên tờ báo do chính ông sáng lập L”Annam Novaeu (Nước Nam mới), với mục đích để độc giả sẽ dễ hình dung theo khái niệm thông thường: làng xã, dân cư, tập quán và một số điều kiện liên quan đến sinh hoạt của người nông dân

Trang 16

CHƯƠNG 2:

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐẶT RA TRONG NGHIÊN CỨU LÀNG CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH

2.1 Những vấn đề về phong tục

Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, ăn sâu vào đời sống xã hội,

được mọi người công nhận và làm theo Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc thường

có những phong tục, những đặc trưng khác nhau, người ta gọi đó là bản sắc dân tộc Những phong tục tốt đẹp, người ta gọi là “thuần phong mỹ tục”, những phong tục xấu, lạc hậu người ta gọi là “đồi phong bại tục” Phong tục Nguyễn Văn Vĩnh đề cập tới được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại

2.1.1 Những phong tục thường ngày của làng

2.1.1.1 Tục tang ma và truyền nghề

Nguyễn Văn Vĩnh khẳng định: “Những phong tục tập quán mang tính chất đạo lý và gia đình thường gây tò mò cho các nhà nghiên cứu” Phan Kế Bính đã ưu ái dành 8 chương với 87 trang trong “Việt Nam phong tục” để bàn những phong tục trong gia tộc như cha mẹ với con cái, đạo làm con hay tang

ma, cải táng… Ở đây, Nguyễn Văn Vĩnh bàn về đám tang trên góc độ khi con cái chết trước cha mẹ Đó được coi như một điều bất hạnh đối với gia đình người đó Thói thường cha mẹ chết trước con cái, người ta sẽ làm lễ tiễn đưa

họ như một sự kiện thông thường Những bậc cha mẹ thường muốn được phụng dưỡng chăm sóc và khi chết đi được chôn cất bởi con mình Bởi thế, khi người con chết đi, họ chưa hoàn thành trách nhiệm và bổn phận với bậc sinh thành Đám tang của người con trai phải được tổ chức trong im lặng và giữ ở mức tối thiểu các nghi lễ tang ma Nguyễn Văn Vĩnh đã kể lại một tục

Trang 17

lễ mà bây giờ ta ít thấy Ở một số nơi, khi người con chết trước cha mẹ, lúc đặt tử thi vào quan tài, họ sử dụng một loại nghi thức được coi như “sự trừng phạt” Họ cho những thi thể này ăn vận đồ tang và làm như người đó đã làm tang lễ tiễn đưa các bậc phụ mẫu ra đi Họ coi như người chết trẻ đó đã hoàn thành nghĩa vụ của một người con Theo quan niệm Nho giáo, việc không có con trai là một điều khó chấp nhận Khi mất đi người con ấy, họ đau lòng và

có phần trách móc là dễ hiểu Đành rằng, tục chịu tang mang một dấu ấn riêng của từng làng, nhưng nhiều nơi nhiều tục còn rườm rà Phan Kế Bính đã phê phán phong tục tang ma ở nhiều nơi và thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “ Nên nghĩ cách nào cho tiện mà giảm bớt phiền văn, bỏ bớt sự ăn uống, thì người giàu đỡ tốn của, người nghèo khỏi vay công lĩnh nợ, không đến nỗi mất cơ nghiệp vì làm ma” [25; 45] Nguyễn Văn Vĩnh không ủng hộ, không lên án Ông

mô tả lại những câu chuyện, tục lệ đó một cách khách quan

Những tục lệ mang tính chất của ngành nghề cũng được Nguyễn Văn Vĩnh nhắc tới Ông lý giải tập tục đó được thiết lập riêng nhằm mục đích bảo vệ, giữ gìn các công thức, bí kíp gia truyền cho việc sản xuất trong làng, tránh sự nhòm nhó của những người ở ngoài làng Tính cố kết cộng đồng gắn liền với tình làng nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết qua các quan hệ và thế hệ trong gia đình, trong làng Bởi ‘thuyền theo lái, gái theo chồng” Người con gái khi lấy chồng ngoài làng sẽ đem những công thức sản xuất trong gia tộc cho nhà chồng biết Những bí kíp sẽ chỉ được truyền lại cho nam giới và phụ

nữ đã kết hôn, không bao giờ truyền lại cho thiếu nữ chưa kết hôn Đó là những cách thông thường khi thế hệ trước truyền nghề lại cho thế hệ sau Bởi thế, đôi khi nhờ vào tính cách đặc trưng của một làng, người ta có thể nhận biết được làng Chúng ta đã từng nghe những câu tục ngữ như: “Trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Linh”, “ Văn chương Xuân Mỹ, lý sự Thủy Khê”,… Hay như ở nước ta tồn tại rất nhiều làng nghề truyền thống: làng

Trang 18

chiếu cói Nga Sơn (Thanh Hóa), làng lụa Hà Đông (Hà Nội), làng nấu rượu Kim Sơn (Ninh Bình), làng gốm Gia Thủy (Ninh Bình) hay làng nem Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh)… Đó cũng như một cách để bảo tồn những làng nghề truyền thống với thời gian và làm đặc sắc hơn nền văn hóa của từng làng

đi sâu đánh giá những vấn đề đằng sau cánh cửa của nghi lễ trang trọng kia Còn với Nguyễn Văn Vĩnh, ông trên chỉ trên phương diện là người xem và

mô tả lại các diễn biến của buổi lễ tế

Lễ Nam giao là nghi thức bắt buộc nhằm ca ngợi tình yêu, lòng ngưỡng mộ với những cái cao đẹp và vĩ đại trong cuộc sống Lễ Nam giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ, vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao; tức là lễ Trời Đất, nhằm khẳng định uy quyền của triều đình và cầu mong cho mưa thuận gió hòa Bởi thế, trong buổi lễ sẽ xuất hiện một ông Vua mặc chiếc long bào Đó là một vị quan chức trong làng, hóa trang trong bộ “áo thụng đại diện cho vua làm lễ Nguyễn Văn Vĩnh miêu tả chi tiết mang đồ tế: “Đồ cúng tế được đặt trên một cái mâm và người ta phải nâng mâm lên ngang tráng, nửa con mắt của người nâng mân phải cố định vào miếng gương nhỏ được gắn vào cái vương miện bằng gỗ sơn son thiếp vàng”

Trang 19

Bởi họ quan niệm đó là hình ảnh của con người dâng hiến tâm hồn trong sạch với thần linh Theo Nguyễn Văn Vĩnh “nó vượt lên trên hết thảy những gì tầm thường và dung tục” Một khi nghi thức quan trọng được tiến hành trang trọng

và ấn tượng, đến độ người phương Tây coi người An Nam là “man di”, cũng phải ngạc nhiên Nguyễn Văn Vĩnh đã so sánh sự trang nghiêm ấy với buổi tế của vị chủ tế Alexandre Đại đế do bất cẩn, đã làm đổ chiếc lư hương, nhưng ông thà để những đốt ngón tay bị nướng chín chứ không chịu “buông lơi” nó Alexander đã cố giữ chiếc lư hương đó để không làm ảnh hưởng tới không khí trang nghiêm của buổi lễ, bởi mỗi vật thể trong buổi cúng tế đều được coi

là linh thiêng Tế là hình thức thờ phụng mặt đất, dâng đồ cúng tế với trầu têm

và rượu gạo Tế diễn ra hai lần trong năm, do các vị Nho sĩ trong làng và các quan chức thực hiện nhằm tôn vinh Thành hoàng làng

Tế được sinh ra cùng thời với “Văn chỉ” trong làng “Cùng với sự phát triển và hưng thịnh của Nho giáo, Nho học một hệ thống các Văn miếu, Văn từ được thiết lập từ trung ương đến địa phương Vào thời cuối Lê đầu Nguyễn, khắp các tỉnh trấn đều có Văn Miếu, khắp các huyện, tổng, xã, làng đều có Văn từ, Văn chỉ” [26] Văn chỉ là ngôi đền thờ cúng các vị Nho sĩ quá

cố trong làng Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” có chép: “ Mỗi làng

có một văn từ hoặc văn chỉ Đàn lộ thiên gọi là văn chỉ, có lợp mái gọi là văn

từ Văn từ văn chỉ để thờ riêng các bậc khoa hoạn trong làng Có làng hiếm văn học, chưa có người hiển đạt, thì thờ đức Khổng Tử gọi là Tiên thánh sư,

để làm chủ trương cho việc văn học trong làng” [27; 41] Nguyễn Văn Vĩnh đồng quan điểm với Phan Kế Bính khi cho rằng một số người đã sai lầm khi gọi Văn chỉ là nơi thờ đức Khổng Tử ở các làng xã Tại Văn chỉ, ngôi đền thường thấy ở các làng xã, lễ hiến sinh được thực hiện hai lần một năm và chỉ nhằm mục đính vinh danh các vị Nho sĩ xưa trong làng “Mỗi năm tháng 2, tháng 8 hai kỳ gọi là xuân thu vịnh đình, có nơi cả làng tế, có nơi chỉ người có

Trang 20

chân trong hội tư văn mới được dự tế”[28; 142] Nguyễn Văn Vĩnh nói văn chỉ không phải đền thờ Khổng Tử, bởi chỉ có vua và quan chức hàng tỉnh mới được làm lễ hiến sinh tôn thờ Khổng Tử trong những nghi lễ quốc gia Do đó, nghi lễ này chỉ dành cho đại diện cấp cao của nhà nước Trong cuốn “Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam”, tác giả Toan Ánh có mô tả về cấu trúc văn chỉ:

“Lớp trong cùng (của văn từ, văn chỉ) thờ đức Khổng Tử được tôn làm Thiên Thánh Sư…lớp này gồm một ban xây thay cho hương án, 2 bên có những câu đối và ở trên, nếu là Văn chỉ thì viết ngay vào tường”.[29;58] Nói thờ Khổng Tử

là theo ý Phan Kế Bính, làng nào không có người hiển đạt, thì thờ Khổng Tử

để làm chủ chương cho việc văn học trong làng Tại nhiều vùng quê, trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc, khi văn chỉ bị phá hủy, các cụ cao niên trong làng

đã mang bia văn chỉ về thờ tại các đình làng, miếu để tiếp tục duy trì thờ tự

Từ xưa, các văn chỉ là nơi tôn vinh Nho học, diễn ra các hoạt động tế tự ban

bố các chính sách khuyến học, nhiều văn từ lớn còn có chức năng làm trường học, nơi khảo hạch sĩ tử và đón rước Tiến sĩ vinh quy bái tổ Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh nói rằng “ trong những ngôi làng không có tầng lớp Nho sĩ sinh sống thì không có văn chỉ”

Trang 21

riêng, kèm theo cỗ bàn ăn uống: hội của giáp, của thôn, của tư văn Những người già đến 60 tuổi phải làm cỗ mời những người già khác; các bà già cũng

có những cỗ bàn riêng”.[30; 255]

Trong tập phóng sự “Việc làng” của Ngô Tất Tố, chuyện ăn uống này cũng được khai thác ở nhiều góc độ Đó là lời chăng chối của cụ Thượng khi xót xa cho bản thân và thằng con trai mình: “Ấy là bởi gánh việc làng Cái làng Lão Việt nhà tôi có thể đại diện cho cả hương thôn già cỗi của nước Việt Nam Vì nó là chỗ chứa hủ tục Bất kì hủ tục nào, làng tôi đều có đủ cả Vì thế

mà tôi suốt đời còm cọm, chỉ để đóng góp là vừa Bây giờ tôi sắp nằm xuống, lại sắp để lại cho thằng con tôi một cái gánh nặng Những sự linh đình ông thấy ở ngoài sân kia, sẽ là món nợ mà một đời nó chưa chắc trả hết”.[31; 13 – 14]Mỗi khi có việc gì đó của làng, lại xuất hiện việc tụ tập ăn uống Một ông vì mua được chức quan nơi “góc chiếu sân đình” đã phải bán trâu, bán ruộng, vay nợ khắp chốn để khao làng Những hủ tục đẩy người dân vào cảnh điêu đứng khốn cùng, thậm chí có người khuynh gia bại sản cũng chỉ vì miếng ăn cho làng Đơn giản chỉ một cuộc họp bàn về thể chế thường niên, làng cũng

mổ một con lợn hoặc vài ba con chó, chi phí được cộng luôn vào tổng số thuế kia Khi một nhà bị mất cắp cũng phải mở tiệc đãi làng để vừa ăn vừa bàn tính

sự việc Chi phí thường là tương đương có khi còn cao hơn giá trị kinh tế của vật bị mất cắp Đó là lý do tại sao trước một vụ trộm người ta thường tìm cách giấu đi Một sự mâu thuẫn cá nhân cũng được các vị hào lý hội họp ăn uống

để phân xử “Mọi cơ hội đều được tận dụng để ăn uống” Nếu muốn giải quyết ổn thỏa bất kì công việc gì, đầu tiên là phải đãi ăn Nguyễn Văn Vĩnh

đã mô tả lại một câu chuyện thú vị: “Muốn nhìn thấy một người hạnh phúc, hãy nhìn một anh chàng nhà quê nốc rượu trong cái ấm sành và dùng hàm răng chắc khỏe, cắn rôm rốp cái giẻ sườn của con chó vàng Cảm giác thăng hoa đến độ anh ta vươn vai, giãn xương kêu răng rắc, dường như là để chứng

Trang 22

tỏ cái công dụng của chất kích thích tuyệt hảo kia, ảnh hưởng thế nào với các

bộ phận trong cơ thể” Nó cho thấy sự thích thú và hào hứng thế nào của việc được đãi ăn

Đằng sau bữa tiệc linh đình ấy là cả một “món nợ chung thân” mà người khổ chủ có khi phải nai lưng trả nợ suốt đời Hẳn bạn đọc còn nhớ anh chàng phu xe trong “Việc làng” của Ngô Tất Tố: “ lệ làng ta là vậy…một người nằm xuống dù giàu nghèo đều phải giết một con lợn đãi “phe” một bữa dấm nghém…Đời con không biết lúc nào trả xong nợ ấy Bây giờ đã vậy, không biết rồi khi về già không kéo nổi cái xe kia nữa thì làm thế nào?”.[32; 127]

Tiệc ăn uống cũng được mở khi đón tiếp vị quan chức xuống thông báo chỉ

dụ Bàn công việc thì ít mà chè chén với họ là trên hết Một vụ việc có thể kéo dài hằng năm, cốt chỉ để được đãi ăn Để giành được một vị trí cao trong làng, người đó trước hết phải khao làng Ca dao ta có câu: “Bụng lép vì đình, bụng phình vì chùa “Nếu anh chưa đến ăn tại nhà người khác, thì cha hoặc ông nội

a đã ăn ở nhà người ta hồi nào rồi, và anh có nghĩa vụ trả cái bữa mà họ đã ăn hồi nào đó” Món “nợ miệng”ấy đã có từ rất lâu, giai đoạn 1930 – 1945 nước

ta đương còn rất nhiều Người nông dân dù không muốn, nhưng vẫn phải è cổ chấp thuận: “Thiếu nợ vua chứ không ai thua lệ làng” Ta thấy được bộ mặt của những kẻ tạo ra và duy trì phong tục ấy, dựa vào nó để kiếm lời, củng cố quyền lực trên mồ hôi thậm chí cả xương máu của dân đen Những người nông dân đã chán ngấy tranh cãi về việc bãi bỏ tục này Họ lên kế hoạch cấm các buổi tiệc cá nhân lớn và ăn uống tại đám ma, nhưng không thực hiện được Cuộc trao đổi, đánh chén này diễn ra như một thông lễ bắt buộc mà nếu không có nó, sẽ bị coi như làng chết

Trang 23

2.1.1.4 Cách sống ở nông thôn

Nguyễn Văn Vĩnh đã vẽ ra phần nào cuộc sống thường ngày của người dân trong làng Cái gọi là “quyền con người” đã không được người dân hài lòng Ông so sánh một số nét văn hóa và tập tục của cư dân An Nam với người phương Tây Họ bỡ ngỡ trước cảnh người chồng khoác tay vợ và có cử chỉ âu yếm khi trên đường Họ coi người tập thể dục là những “sinh vật lạ” và cười phá lên khi thấy một người trầm ngâm sáng tác văn thơ Ngược lại, người phương Tây coi họ là mọi rợ và trơ chẽn khi tự ý vào nhà người khác

Có người do ngấm lối sống phương Tây đã không thể sống được trên chính quê hương mình

Người dân bản địa có những phong tục riêng mà dù muốn hay không, người ta cũng phải chấp nhận Không ai được phàn nàn khi họ khóc than, tổ chức các nghi lễ ồn ào trong đám tang Ngay cả tiếng nhạc réo rắt của cây sáo buộc trên cánh diều hè cũng không ai được than phiền Mọi người sẽ phải nhường nhịn nhau nếu muốn cùng chung sống trên một làng.Theo Nguyễn Văn Vĩnh, giữa người dân Châu Âu và Châu Á có sự đối lập về đạo lý và cách sống Người phụ nữ khi nhìn thấy người phu nghèo tắm ao thì ngoảnh mặt đi, nhưng nhìn thấy người thợ đấu trần truồng lao động thì trong đầu không hề gợi ý nghĩ phàm tục Chính “sự trần trụi của nghèo đói trên đất nước chúng ta không làm mất đi sự kín đáo, e lệ” của chính những người dân quê mộc mạc

2.1.2 Tín ngưỡng – tôn giáo trong làng xã cổ truyền Việt Nam

2.1.2.1 Lễ hội

Lễ hội là phần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người nông dân trong làng “Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng “Lễ” là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn

Trang 24

kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống”[33] Nói như Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam”: “

Cư dân Việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cư dân nông nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp

để người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ mùa màng đã qua, vừa cầu xin thần linh cho mùa màng sắp tới Dần dà, biến thiên thời gian đã lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dân gọi

là lễ hội”.[34; 97]

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, lễ hội của người dân thường gắn liền với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng Những người theo Phật giáo tổ chức lễ hội vào dịp đầu hè hằng năm để cầu xin thần thánh một năm yên bình, tránh xa mọi bệnh tật Khi khoa học chưa có biện pháp để giải quyết vào những đợt hạn hán lớn hay côn trùng phá hoại, thì tìm đến và tổ chức những buổi lễ hội sẽ là hy vọng duy nhất của người nông dân “Người nông dân được tái tạo trong nhiều lễ hội, lễ hội công cộng, bán công cộng hay lễ hội của nhóm, lễ hội tư… những trò chơi đa dạng nói lên những giai đoạn trong cuộc đời của thần, khiến người dân quê vui thú: trò đấu vật, đá cầu, kéo co, hát ghẹo nam nữ, đua thuyền, trò diễn nghề nông, thi nấu cơm, chơi cò người, đám rước chữ, hát chèo, chọi gà…”[35; 254 - 255] Gía trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh Ngày lễ hội là thời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng Đó là

“một sinh hoạt tập thể long trọng, thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi người, cho mỗi một con người Những quy cách và những nghi thức của

lễ hội mà mọi người phải tuân theo, tạo nên niềm cộng cảm của toàn thể cộng

Trang 25

đồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó thấy mình vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với một sức mạnh lớn hơn.”[36; 180 - 181] Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa ra những lý do nhiều người vội kết luận về tôn giáo của một làng khi họ chỉ nhìn thấy một cơ sở vật chất chung của làng

Họ cho rằng dân tộc An Nam theo đạo Phật khi nhìn thấy ngôi chùa Những người khác nhìn thấy quán Văn chỉ thì nghiêng về đạo Khổng, hay thờ tổ tiên Cũng có ý kiến khẳng định mỗi làng đều có vị thánh riêng bảo hộ cho làng Thực tế, làng nào cũng có một cái đình là nơi sinh hoạt văn hóa chung, hoặc

là nơi để hội họp, giải quyết các vấn đề trong làng “Bàn về tôn giáo của người Việt Nam người ta thường cho rằng có 3 tôn giáo: Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo Song thật ra thì tôn giáo của ta phức tạp hơn thế nhiều Ba tôn giáo ấy do ở Trung Quốc truyền sang, không những ảnh hưởng nhau mật thiết, mà lại còn dung hòa với các tín ngưỡng và tế tự lộn xộn, trong ấy không thể nào phân biệt được phần nào thuộc về loại nào Theo đại khái thì trước khi

có cơ đốc giáo du nhập, người nước ta đồng thời sung bái cả Trời, Phật, các thần linh ở trong vũ trụ, các quỷ thần hay là linh hồn người chết.”[37; 221]

2.1.2.2 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng

Thờ Thành hoàng làng là một nét đặc sắc trong tín ngưỡng của người

An Nam “Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ

vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành.”[38] Người Việt có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, do vậy hầu hết ở mỗi làng quê đều lập đình hoặc đền, miếu thờ vị Thành hoàng của làng mình Thành hoàng là người có công với dân, với nước lập làng hay sáng lập ra một nghề (ông tổ của nghề) Mà theo Nguyễn Văn Vĩnh, “Thành hoàng của một ngôi làng là nhân vật của lịch sử, hoặc theo huyền thoại, hạt nhân đầu tiên có công sáng tạo ra ngôi làng theo

Trang 26

một cách ngẫu nhiên, mà cũng có thể mơ hồ, dựa theo ý tưởng của một vị đức cao vọng trọng nào đó…” Nguồn gốc xuất thân của Thành hoàng làng như trong Việt Nam phong tục có chép: “Xét về cái tục thờ Thành hoàng này từ đời Tam quốc trở về vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thành hoàng ở thành đô , kế đến nhà Tống, nhà Minh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh , Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy để làm chủ tể cho việc ấm tí một phương mà thôi Kế sau triều đình tính biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy Từ đó dân gian dần dần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình Làng nào có sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào không có thì cầu lấy một vị thần linh khác rước về nhà thờ Hoặc nơi thì nhân việc mộng mị, việc bói toán, việc tá khẩu, tin là một sự linh dị mà thờ Hoặc nơi thì vì một sự ngẫu nhiên, cho là thiêng liêng mà xin duệ hiệu để thờ Té ra làng nào cũng có đền, xã nào cũng có miếu Đến cả những xã mới lập, trước tiên cũng nghĩ đến việc thờ thần”.[39; 96 - 97]

Bản chất của tín ngưỡng thờ Thành hoàng là liên kết cộng đồng làng

xã, cầu mong đời sống ổn định ấm no cho làng và thờ thần bảo vệ làng Không có tiêu chuẩn cụ thể để trở thành Thành hoàng của làng “Động vật cũng được thường xuyên thần thánh hóa Một số trường hợp khác hiếm thấy hơn thậm chí thần thánh là những người còn sống như một ông quan cấp cao, hoặc một nhân vật đã có tầm ảnh hưởng lớn, đã giúp đỡ dân làng trong một dịp nào đó, vì thế, dân làng tôn người đó làm Thành hoàng thay thế cái ông

Trang 27

Thành hoàng cũ vốn đã không làm gì để bảo vệ họ” Bởi Thành hoàng là những vị có công với dân, nên đó chính là “đức tin với người dân và là biểu tượng đối với học giả” Lập Thành hoàng như một nguyên tắc thống trị của triều đình Thành hoàng chính là ông Thần làng được du nhập từ Trung Hoa, sang nước ta phần nào biến đổi Tại sao các Thần làng được phong tước vương với chức danh “Thành hoàng”? Trong giai đoạn này, giai cấp phong kiến muốn thâu tóm vương quyền, họ muốn quản lý người dân một cách triệt

để cả về mặt thần quyền Đây chính là phương thức quản lý tinh vi của giai cấp phong kiến Thành hoàng đã vô tình trở thành một trong những quan chức của Nhà nước để bảo vệ làng Một làng hay một tổ chức mới thành lập ngay lập tức được đặt dưới sự bảo trợ của thần thánh Vì “dân ta tin rằng: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có Thành hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc sự thần một thịnh”.[40; 97]Thành hoàng không thờ ở miếu hay đền , mà ở đình “Trời lấy đình để nuôi muôn vật Đất lấy đình để chứa muôn loài Người lấy đình làm nơi tụ họp” (Ngô Thì Nhậm) Theo GS Hà Văn Tấn: “Đình có nguồn gốc từ ngôi nhà chung của làng xã (thời tiền sử hoặc sơ sử) Đình là một thiết chế văn hóa du nhập từ Trung Hoa, người Việt Nam đã tiếp nhận và biến đổi trở thành nơi thờ cúng

Độc lập với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng còn có một loại nghi lễ độc đáo khác Đó là tín ngưỡng chính thức được Văn chỉ thực hiện dành riêng cho người quá cố nổi tiếng trong giới học giả trí thức Tín ngưỡng này thực hiện một tháng 2 lần vào lúc trăng khuyết và trăng tròn của mùa xuân và mùa thu, được đưa vào bởi Văn Phả và sự trợ giúp của các vị quan chức trong làng

và các văn sĩ

Ngày mùng một (lễ Sóc vọng) và ngày mười lăm hàng tháng âm lịch, người gác đình thắp đèn, hương, đánh chuông và trống, đại diện cho cả

Trang 28

làng cúi lạy trước bàn thờ Cửa đình mở cả ngày để dân vào lễ còn bình thường thì không Vào ngày thường, họ thắp một ngọn nến và ba thẻ hương thờ trong đình Người gác đình có thể là người làm thuê hay ông một ông già không nơi nương tựa muốn cống hiến đời mình và bảo vệ ngôi đình Trong thời gian trông coi đình, người đó không được giao du với bên ngoài Có làng đặt ra quy định rất nghiêm ngặt, phải luôn ở trong đình, cấm tất cả liên hệ với thế giới bên ngoài, thực hiện chế độ ăn chay tuyệt đối Các nhân vật chức sắc trong làng chỉ có thể nhận được quyền ưu tiên sau một năm trông coi đình Ta không khó để bắt gặp một ngôi đình khi về các làng quê hay bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam Chỗ nào đất đai và vị trí thuận lợi, tiện cho dân hội họp thì người ta cho xây đình Đình theo Nguyễn Văn Vĩnh là nơi “bảo vệ các

vị thần thánh” Đình thường trồng nhiều cây cối cho sầm uất, nơi nào lắm cổ thụ, tức là nơi thắng cảnh và là đình miếu lâu đời Nguyễn Văn Vĩnh đã ghi lại dấu ấn khi được vinh dự đứng đầu Hội đồng hương xã, điều hành buổi lễ tại đình Chính Nguyễn Văn Vĩnh là người chủ trương khôi phục lại sự thờ phụng, để mang lại hòa khí và sự phát triển ổn định Ông đã dựng lại không khí trang nghiêm của buổi lễ mà từ 20 năm nay người dân nơi đây không được chứng kiến

2.1.2.3 Phật giáo dân gian

Phật giáo là một tôn giáo phổ biến trong đời sống tâm linh của người dân ta Ở đây, Nguyễn Văn Vĩnh không nói tới những tín đồ theo Phật giáo Mỗi làng thường có ít nhất một ngôi chùa Phật giáo Đó là “tài sản quý báu,

là nơi lưu giữ các áng văn trên những tấm bia cổ, những tiêu đề và những bản truyền miệng hiếm cần được gìn giữ” Ngôi chùa đó là tài sản của cộng đồng, bởi dân làng đã góp tiền để xây dựng nên Nơi đây thờ phụng Đức Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát (Quan Âm) Trụ trì là người đứng đầu tu sĩ trong chùa,

là bậc thầy của các môn đồ Phật giáo Người đó có quyền lợi ngang hàng với

Trang 29

những người sáng lập và chủ sở hữu ngôi chùa.Vì nguyên tắc tu sĩ Phật giáo không sở hữu bất kỳ cái gì cho riêng mình Cuộc sống của các nhà sư được đặt dưới sự bảo hộ của các tín đồ trung thành với Phật giáo Họ thiết lập các khoản chi phí cá nhân, chứng minh công lao của nhà sư giành cho chùa

2.1.3 4 Chuyện bói toán

Bói toán là một phương pháp “lai Tàu lai ta” được Nguyễn Văn Vĩnh tìm hiểu khá kĩ Người viết xin trích đoạn trong nghiên cứu của ông: “ Nếu có

ai đó hỏi tôi: người dân nước nào ham hố hơn cả trong việc tiên đoán tương lai, hoặc hỏi rằng dân tộc nào sở hữu nhiều phép thuật bói toán nhất, tôi sẽ trả lời không chút ngần ngại rằng: đó là dân Trung Hoa! Xin bạn hãy biết rằng, chỉ mấy năm trước đây thôi, số lượng những người làm thầy bói đông vô kể tại cái đất nước cộng hòa tự xưng là hiện đại này” Khi chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và cả một số phong tục “lạ” đã du nhập vào nước ta Các phương pháp bói toán cũng từ đó mà sang “Đây chính

là tổ quốc của tất thảy các loại hình mê tín dị đoan mà người ta có thể tưởng tượng được ra và cũng không thể nào tưởng tượng ra được” Khi các loại hình

đó xâm nhập vào nước ta, có cách không thay đổi, có cách đã bị biến đổi ít nhiều, có kiểu trước khi hòa nhập vào nước ta đã bị thay đổi những chi tiết không quan trọng Nguyễn Văn Vĩnh gọi đó là những phương pháp bói toán

“lai Tàu lai ta” là vì cớ đó Mỗi kỳ có thư báo từ Hồng Kông tới, hàng “bầy đàn” những người đợi xem bói, bói chữ viết, bói chữ ký, những người xem địa lý, thầy bói đủ loại đến xem như phong trào vậy Cuốn Kinh Dịch nổi tiếng và cổ nhất của Trung Hoa đã đặt những viên đá tảng đầu tiên cho thuật bói toán tại nước này Những thầy bói toán vô cùng sùng bái “bát quái” của Phục Hy Người Trung Hoa tự hào vì sự ra đời của Kinh Dịch và tin rằng các

vị thánh trên trời không ngừng bịa ra các phương pháp để đặng tiên đoán cho tương lai Các phương pháp đó ngày nay vẫn được sử dụng rất phổ biến, lên

Trang 30

tới 50 phương pháp Trong đó, phương pháp rất phức tạp có, đơn giản có Nó xâm nhập từ Trung Hoa sang theo cao trào, có khi bị lãng quên ngay ở Trung Hoa, nhưng lại được duy trì bởi người An Nam

Nguyễn Văn Vĩnh đã kể ra một cách bói toán thú vị bằng chân gà trống (bói bằng động vật) Ông đã phỏng vấn những người hành nghề bằng phương pháp này và biết được đây là môn khoa học bắt nguồn từ Trung Hoa Trước khi bói, họ khấn bà tiên Cửu Thiên Huyền Nữ, tác giả của phương pháp này Cũng có ý kiến khác cho rằng đây là phương pháp do Nguyễn Thị Châm, người gốc Hải Dương đặt ra Khi đất nước có chiến tranh, bà đã trốn và định

cư bên nước Tàu Bà đã nghĩ ra cách bói toán bằng chân gà trống để đoán biết tin tức của quê hương Phương pháp này được bà truyền dạy lại cho những người xung quanh, ta hay gọi là thầy giò Ở Hà Nội bây giờ còn khoảng bốn hoặc năm chục những ông thầy giò như thế Họ tụ tập tại các ngôi chùa “Đồ đoàn của họ chỉ có một cái hòm hình chữ nhật sơn then đen, bên trong có cả

bộ chân gà trống tiêu biểu và một cuốn sách nhỏ hành nghề bói toán bằng động vật” Nguyễn Văn Vĩnh đã mô tả rất chi tiết từng công đoạn của cách bói này, mà người viết xét thấy có nhiều thủ tục rườm rà, kết luận tiên đoán thiếu căn cứ

Những phong tục, tập quán của dân ta, chủ yếu bắt nguồn từ Trung Hoa “An Nam ta kể từ lúc có nước đến bây giờ thì đã ngoại bốn ngàn năm Song về đời Hồng Bàng thì còn là một nước tối cổ, tục khi đó hẳn cũng như Mường Mán bây giờ Kế đến hồi Tàu sang cai trị, thì những văn minh của Tàu mới dần dần truyền bá sang nước ta Bấy giờ ta mới có học hành, có giáo hóa thì phong tục ta cũng mở mang ra ít nhiều Từ đời Ngô Quyền gây nền độc lập, rồi kế đến Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê cho chí Nguyễn triều nước ta

đã thành ra nước tự chủ; mà trong cách chính trị, cách giáo dục điều gì cũng

là noi theo của Tàu, cho nên phong tục ta bây giờ phần nhiều do ở Tàu mà ra

Trang 31

cả”.[41; 7] Trong những phong tục đó, hủ bại có, tốt đẹp có, nhưng Nguyễn Văn Vĩnh không lên án cũng không hô hào Ông làm công tác thu thập chúng Người nông dân nhờ vào những ngày lễ, hội tập tục mà nghỉ ngơi và thờ cúng thần linh sau những ngày làm việc “Dưới biểu hiện tẻ nhạt và nghèo nàn, cuộc sống trong làng rất sôi động và phong phú; nó đem đến cho người dân quê lợi ích và sự đam mê Những hiện tượng muôn vẻ của đời sống chính trị, tôn giáo và xã hội đem lại cho người nông dân cơ hội để thỏa mãn ước mơ chinh phục, những cỗ bàn phong phú, hận thù của thất bại, chua chát của mối nhục phải chịu, thú vị của những mưu mô và thủ đoạn, những hội hè náo nhiệt

mà cả làng đồng lòng tham gia, tất cả những cái tránh cho người nông dân phải suy nghĩ về điều kiện sống tồi tàn, để tính toán về những món lợi cỏn con, nghĩ suy về những món nợ đang đeo đẳng mà phần lớn thu nhập nhỏ nhoi phải dồn vào công nợ”.[42; 247] Trong “Người nông dân châu thổ Bắc Kì”

có chép: “Là yếu tố chủ yếu của cảnh quan, làng còn đóng vai trò hàng đầu trong đời sống tâm linh và xã hội của người nông dân Nông dân không phải

là những cá thể cô độc, không phải là một công dân bất kì của một xã hội chỉ tham gia từ xa vào đời sống của xã, như cư dân của nông thôn Pháp, ngược lại đời sống tôn giáo, chính trị và xã hội của làng xã Việt Nam rất sôi nổi và thường nhật, và mọi người nông dân đều tham gia một cách chân thành, nhiệt tình với tham vọng sẽ giữ được vai trò ngày một lớn hơn”

2.2 Những vấn đề về thiết chế

Thiết chế là hệ thống các quy chế, chương trình có tính quy định về sử

dụng các cơ sở vật chất cũng như các tổ chức, các hoạt động liên quan đến một phạm vi cụ thể trong cộng đồng làng

Trang 32

2.2.1 Các loại hình tổ chức làng xã

2.2.1.1 Khái niệm làng

“Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy Làng được hình thành, được tỏ chức chủ yếu dựa vào 2 nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ Một mặt, làng có sức sống mạnh liệt, mặt khác xét về cấu trúc, làng là cấu trúc động, không có làng bất biến Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của những mối liên hệ làng và siêu làng” [43; 130] Làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ là hình thức công xã nông thôn với những đặc thù riêng của làng, hình thức công xã nông thôn “nửa kín, nửa hở” (chữ dùng của GS Trần Quốc Vượng) Những đặc thù riêng của làng thể hiện ở chế độ ruộng đất, các loại hình tổ chức xã hội, phong tục, tín ngưỡng, thiết chế của làng

“Làng mạc ở châu thổ Bắc Kì khiến cho người ta phải chú ý Nhìn từ mọi phía, nó hiện lên thành một mảng màu thẫm, có ranh giới rõ ràng của những bờ rào mọc xung quanh Mỗi ngôi làng không xuất hiện trong cảnh quan như một tập hợp của nhà cửa, mà là một khối cây xanh Nó được bao bọc bằng một rào tre với những ngọn cây dày đặc tạo thành một lũy chắc chắn, những cành tre rung rinh đem lại một khung cảnh xanh tươi và trang trọng cho ngôi làng… Người ta tính ở châu thổ Bắc Kì khoảng hơn 7.000 làng, chiếm diện tích 1.100 km2, nghĩa là gần 7,5 % tổng diện tích của đất đai: những con số đó cho thấy tầm quan trọng địa lý của làng; mặt khác, các bản

đồ phụ lục về làng cũng cho thấy vị trí đáng kể của làng trong châu thổ”.[44; 216]

Trang 33

2.2.1.2 Tập hợp người theo địa vực thôn, xóm, giáp

Ban đầu, làng được phân chia thành các thôn, xóm, giáp, ngõ theo cách thức phân chia rành mạch giữa các đơn vị này với nhau Chính quyền tỉnh phân chia đến thôn Đó là một trong những hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của nông thôn người Việt “Thôn là một xóm có thể có đình, chùa

và những tập quán riêng”, [45; 250] độc lập với phong tục tập quán chung Vì lẽ

đó, có sự chanh chấp giữa các thôn trong làng với nhau Thôn này phân cách với thôn khác bằng một khoảnh đất riêng biệt trong không gian cư trú Khi đăng ký suất đinh ở thôn gốc, họ vẫn là người của thôn dù sống ở thôn khác Nhiều thôn hợp lại thành một làng và có xu hướng tách biệt nhau về hành chính Các thôn đôi khi đối lập nhau về cách thức phân chia đất đai, các công việc chung của chính quyền Các thôn đều có thể có hoặc không các viên chức cấp xã Có thôn thường muốn giành những hoạt động chính trong xã, nhưng có thôn không màng tới Số lượng nông thôn không giới hạn trong xã,

có thể từ hai, ba hoặc lên năm, tám trong một xã Một thôn có thể bao gồm nhiều xóm và giáp Khi một thôn có tầm quan trọng trong xã và có chút độc lập khỏi xã thì được coi là một thôn riêng biệt của làng

Xóm là một sự phân chia địa lý của làng hay của thôn: ví dụ những ngôi nhà 2 bên một con đường, một cái hố hay một rặng tre hợp thành một xóm Nó có nguồn gốc là một phần đất, rồi trở thành một phần lãnh thổ theo những quy ước chung Xóm tham gia vào việc thờ cúng trong làng bằng đồ cúng tế riêng Có sự chênh lệch về nhân khẩu giữa các xóm: “có xóm có tới

100 nhân khẩu, nhưng có xóm chỉ có được 2 người” Có xóm vì quá ít hoặc không có nhân khẩu phải xóa sổ Có một phong tục hình thành trước đó là dù xóm ít hay nhiều nhân khẩu, xóm đó vẫn phải đóng góp vào việc thờ cúng

Trang 34

chung theo tỉ lệ chia đều “Lĩnh”là người đại diện và mang lễ vật cho xóm trong các buổi lễ hay họp xã Người này có nhiệm vụ đi thu các khoản đóng góp cá nhân hay hay quản lý tài sản, đất đai ruộng đất hoặc ao chuôm Người dân trong xóm sẽ tụ họp ăn uống tại nhà của Lĩnh

Mỗi làng có nhiều giáp mà số lượng có thể lên tới hai mươi Nguồn gốc “giáp”chắc chắn là một sự phân chia về mặt địa lý, bởi cái tên giáp được đăng kí lúc đầu là bao gồm của một khối dân cư Có những giáp mà các thành viên của nó phân bố trong tứ phía của làng và hiển nhiên là không bị bắt buộc phải tham gia vào công việc thờ cúng chung Các buổi lễ đặc biệt của giáp thường được tổ chức ở đền hay chùa nằm trong địa phận của giáp Đặc điểm nổi bật của giáp là sự tồn tại của nhiều lứa tuổi tức con đường tiến thân của mỗi cá nhân qua các tuổi kế tiếp nhau Giáp không hoàn toàn giống các hình thức tổ chức khác trong làng Bởi nó có nhiều khả năng nhất để khuôn mọi người vào một thân phận chung Đây là những người tiểu nông tư hữu thuộc nhiều thành phần giai cấp có thể đối lập nhau, cư trú trong những xóm ngõ có thể xa nhau trên địa vực của làng xã, xuất thân có thể từ những dòng họ khác nhau Nhưng khi đã là thành viên của giáp thì cùng chung một thân phận (thời điểm trình làng, tuổi lên đinh, tuổi lên lão làng…) Giáp hay còn gọi nôm na là phe Ngõ là một lối đi hay một con đường nhỏ theo đúng nghĩa đen của nó Mỗi lối đi đó thường mang tên của giáp hay xóm Giáp mang tên kí tự, ngõ mang tên dân dã của người An Nam

2.2.1.3 Tập hợp người theo nghề nghiệp

Phường có thể bao gồm những người có gốc gác khác nhau, nhưng làm cùng một nghề Phường là một đơn vị hành chính trong một thành phố, cũng như làng là một đơn vị hành chính trong một tỉnh Phường trong thành phố thường là một đơn vị hành chính tách biệt không như làng là nơi cư dân

Trang 35

định cư thường làm cùng một loại ngành nghề Phường có thể mang tên của làng gốc và thờ vị Thành hoàng của làng đó Những người có xuất xứ từ làng được tiếp nhận tại tòa thị chính và hưởng quyền ưu tiên như nhau Người có phẩm hàm tại phường có quyền dùng phẩm hàm đó tại làng gốc của mình Làng Việt còn có các hội theo chức nghiệp và theo lứa tuổi Hội Tư văn xuất hiện rất sớm, có thể có từ thế kỷ XV duy trì và phát triển vào các thế

kỷ XIX, XX Đây là hội của các đồ nho chữ Hán Một số làng có thêm hội Tư

võ hội Làng binh của những người đi lính và các quan võ về làng Hội theo lứa tuổi có hội Lão hay hội Đồng niên

2.2.2 Bộ máy lãnh đạo làng xã

2.2.2.1 Bộ máy tự trị - tự quản

Mỗi làng đều có một bộ máy lãnh đạo riêng, duy trì đời sống của dân làng một cách có tổ chức Hội Tu Văn hoặc hội Học sĩ, bảo tồn truyền thống văn chương Hội quy tụ những người tự cho mình có học, có phẩm hàm văn chương, có một chức quan, thực chất hoặc danh dự Tại những làng không có những nhân vật như trên, họ tiếp nhận cả người đang hoặc đã từng làm việc cho xã Đó là các Chánh, Phó tổng, Lý trưởng

Văn phả (Học sĩ đoàn) gồm những người có bằng cấp đại học hoặc đã từng tham gia ít nhất 1 lần các cuộc thi văn chương Các thành viên Văn phả được xếp thứ tự theo sổ sách và trong cuộc họp theo trật tự được xem xét kĩ lưỡng Đầu tiên là thứ hạng các phẩm cấp về văn chương Những người thi trượt cũng được xếp hạng theo trình độ đã được ghi nhận Những người vào được ba vòng thì xếp trên người chỉ vào được hai vòng, người qua hai vòng thì xếp trên người chỉ tham gia một vòng Người này lại xếp trên người chỉ tham gia vòng thi loại cấp tỉnh Các phẩm cấp tương đồng nhau lấy tuổi tác làm tiêu chí Văn trưởng là người có phẩm cấp cao nhất lãnh đạo Văn phả, gọi

Trang 36

là Hội Trưởng học sĩ Thông thường Văn trưởng là người chủ trì các hoạt động lễ nghi của làng xã, viết điếu văn tại lễ tang theo phong tục từng làng

Võ phả (Đoàn nhà binh), là nơi tham gia của những người có cấp bậc trong quân đội Binh lính được triều đình phong hàm qua các bài thi lí thuyết

và thực hành quân sự Nguyễn Văn Vĩnh đã chỉ ra, trong số các cử nhân quân

sự, gọi là cử võ người duy nhất còn sống trên toàn cõi Bắc Kỳ là ngài Nguyễn Đình Tốn Ngoài các cấp bậc giành được trong các cuộc thi, các hội viên Võ phả được xếp thứ tự theo cấp bậc đã đạt được trong cuộc đời binh nghiệp, trong các đội lính cơ, lính tuần hay lính vệ Tại các nghi lễ dành cho quần chúng, họ được xếp riêng một nơi, theo trật tự riêng, không lẫn lộn vào hàng ngũ của dân sự

Các Bô lão bao gồm tất cả công dân trên 60 tuổi Họ “long trọng bước vào cái tầng lớp đáng kính bằng một buổi lễ dâng các đồ cúng tế hoặc bằng việc nộp cho làng một khoản tài chính nào đó” Có khi người ta tổ chức một

lễ thượng thọ 60 tuổi mời cả làng tới dự Ở đây, ta lại bắt gặp tục trả nợ miệng khi tục lệ khoản đãi làng được tính đến từng chi tiết Người được lên Bô lão

sẽ tùy theo khả năng tài chính của con cái mà phóng tay làm cỗ to hay nhỏ đãi làng

Cuối cùng là Kì Mục, thật ra là các thân hào, nói văn vẻ theo Nguyễn Văn Vĩnh là các trưởng lão Đó là những vị đã từng nắm một chức vụ nào đó trong làng xã, như Chánh phó tổng, Lý trưởng, Phó lý Có cả những người đã

từ nhiệm sau thời gian quy định, mà không nhận được chức quan danh dự nào Bởi nếu có chức quan thì họ sẽ vào hội Tu Văn Những người bị cách chức do bị kết án hoặc bị kỷ luật không được phong Kỳ Mục Các chức vụ hành chính mới được hình thành từ công cuộc cải cách làng xã như: Chánh, Phó Hương hội, Thư kí, Thủ quỹ, Chưởng bạ và Tộc biểu chỉ được công nhận

Ngày đăng: 07/05/2021, 12:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Trung Quốc, “Lời người man di hiện đại”. http://tannamtu.com/a/news?t=7&id=1021546 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời người man di hiện đại
Tác giả: Dương Trung Quốc
3. An Bình, “Những cuốn sách đầu tiên của Nguyễn Văn Vĩnh”. http://citinews.net/xa-hoi/nhung-cuon-sach-dau-tien-cua-nguyen-van-vinh-PFUTX7Q/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuốn sách đầu tiên của Nguyễn Văn Vĩnh
Tác giả: An Bình
4. Dương Trung Quốc, “Lời người man di hiện đại”. http://tannamtu.com/a/news?t=7&id=1021546 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời người man di hiện đại
Tác giả: Dương Trung Quốc
5. Dương Kim Thoa, “Nguyễn Văn Vĩnh và những bài báo về thiết chế”. http://tannamtu.com/a/news?t=74&id=1018806 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh và những bài báo về thiết chế
Tác giả: Dương Kim Thoa
8. Trích trong bài viết bằng tiếng Pháp và tiếng Anh “Người man di hiện đại” của Christopher Gocha, giảng viên của trường Đại học Montreal – Canada. Bài đăng trên tạp chí RFHOM số 332 và 333 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người man di hiện đại
Tác giả: Christopher Gocha
Nhà XB: tạp chí RFHOM
Năm: 2001
9. Lê Tâm, “Muốn sửa những cái nhìn thiên kiến”. http://tannamtu.com/a/news?t=news&id=1033254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn sửa những cái nhìn thiên kiến
Tác giả: Lê Tâm
10. Nguyễn Lân Bình, (2013), Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh là ai
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2013
11. Vũ Bằng, (1993), “40 năm nói láo”, Nxb Văn hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông Tin
Năm: 1993
12. Nguyễn Lân Bình, (2013), Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh là ai
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2013
15. Nguyễn Lân Bình, (2013), Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh là ai
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2013
16. Vũ Bằng, (1993), “40 năm nói láo”, Nxb Văn hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông Tin
Năm: 1993
17. Vũ Bằng, (1993), “40 năm nói láo”, Nxb Văn hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông Tin
Năm: 1993
21. Thanh Lãng, “Bảng lược đồ văn học Việt Nam” (Quyển Hạ), Nxb Sài Gòn, không ghi năm xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng lược đồ văn học Việt Nam
Tác giả: Thanh Lãng
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
22. Nguyễn Lân Bình, (2013), Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh là ai
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2013
23. Nguyễn Lân Bình, (2013), Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Nxb Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Vĩnh là ai
Tác giả: Nguyễn Lân Bình
Nhà XB: Nxb Tri Thức
Năm: 2013
26. Hoa Phượng, “Đôi nét về văn từ văn chỉ Việt Nam”. http://hoidisan.vn/di-san-van-hoa-viet-nam/di-tich-va-thang-canh/438-doi-net-ve-van-tu-van-chi-viet-nam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về văn từ văn chỉ Việt Nam
Tác giả: Hoa Phượng
27. Phan Kế Bính, (2011), Việt Nam phong tục, Nxb Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2011
29. Toan Ánh, (2005), “Nếp cũ Việt Nam”, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
30. Piere Gourou, (1936), “người nông dân châu thổ Bắc Kỳ”, Hội Khoa học SLịch sử Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: người nông dân châu thổ Bắc Kỳ
Tác giả: Piere Gourou
Năm: 1936
56. Sổ địa bạ là gì?, 18/5/2012. http://danluat.thuvienphapluat.vn/so-dia-ba-la-gi-41450.aspx Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w