1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu các loại hình du lịch của sinh viên

117 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 686,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---oOo--- ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG – 2008 TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH CỦA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-oOo -

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP TRƯỜNG – 2008

TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH CỦA SINH VIÊN

Chủ nhiệm đề tài NGUYỄN NHƯ HẢO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH NHÂN HỌC KHOÁ 2005 – 2009

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-oOo -

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP TRƯỜNG – 2008 TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH CỦA SINH VIÊN

Người hướng dẫn khoa học :

TH.S NGUYỄN ĐỨC LỘC

Chủ nhiệm đề tài:

NGUYỄN NHƯ HẢO

SV Ngành Nhân Học Khoá 2005 – 2009

Các thành viên:

NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP

SV Ngành Địa Lý Khoá 2005 – 2009

VŨ THỊ HOA

SV Ngành Địa Lý Khoá 2005 – 2008

HOÀNG THỊ HƯƠNG

SV Ngành Địa Lý Khóa 2005 – 2009

TP HỒ CHÍ MINH - 2008

Trang 3

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN TP HỒ CHÍ MINH 19

1.1 Sơ lược về trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn 19

1.2 Sơ lược về vấn đề học tập và hoạt động ngoại khoá của sinh viên 21

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH TRONG SINH VIÊN 25

2.1 Thực trạng về mức sống và nhu cầu giải trí của sinh viên 25

2.2 Xác định nhu cầu và tiềm năng du lịch trong sinh viên 30

CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH CỦA 33

3.1 Loại hình du lịch tham quan/ dã ngoại 33

3.2 Loại hình du lịch nghiên cứu, học tập 39

3.3 Du lịch giải trí 42

KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 53

3.1 Kết luận 53

3.2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 58

Trang 4

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Sinh viên là những người có nhu cầu về du lịch rất lớn Cùng với việc học tập, nghiên cứu, sinh viên cũng có những hoạt động ngoại khóa phong phú

và đa dạng Ngoài mục đích tìm hiểu thực tế, học hỏi bổ sung kiến thức, những hoạt động ngoại khoá của sinh viên còn nhằm mục đích giải trí và vui chơi Bên cạnh những hình thức giải trí như xem tivi, nghe nhạc, đọc báo, internet… thì giải trí bằng cách đi chơi, dã ngoại là một hình thức rất được sinh viên ưa thích, thu hút sinh viên tham gia nhiều Bởi đây là hình thức dễ dàng nhất để có thể vừa học tập thực tế vừa giải trí sau những giờ học căng thẳng Sinh viên có nhiều hình thức du lịch đặc sắc và đa dạng, mang nét đặc trưng riêng của sinh viên, chẳng hạn như tham quan, dã ngoại, du lịch nghiên cứu, học tập, du lịch giải trí … Nhưng không phải sinh viên nào cũng tìm cho mình được một loại hình du lịch thích hợp hay có thể sắp xếp được thời gian và chi phí để đi du lịch Vì trên thực tế, đối với sinh viên việc đi du lịch là điều rất khó khăn Sinh viên có nhu cầu nhưng khó có thể thực hiện được nhu cầu của mình Chính vì thế, nhiều sinh viên đã chọn cách đi du lịch với tập thể như đi

du lịch với tổ chức Đoàn – Hội, lớp/ khoa, các nhóm du lịch nhằm mục đích giảm chi phí và tiết kiệm thời gian mà thu được hiểu quả cao Tuy nhiên, phần lớn sinh viên vẫn chưa biết được hướng giải trí thích hợp

Bản thân cũng đang là sinh viên và thích đi du lịch, nhưng chưa sắp xếp được thời gian cũng như chưa độc lập được vấn đề kinh tế nên chưa có điều kiện để giải trí bằng cách đi du lịch với mục đích học hỏi thực tế Chính vì vậy, tôi muốn tìm hiểu các loại hình du lịch để chọn cho mình một hướng du lịch thích hợp cho bản thân Nhằm mục đích tiết kiệm thời gian cũng như chi phí

Chính vì những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu về thực trạng các loại hình du lịch của sinh viên Từ đó, thấy được tầm quan trọng của vấn đề này và đề ra những giải pháp phát triển Bên cạnh đó, áp dụng và phát triển các loại hình du lịch này cho sinh viên để hướng

Trang 5

họ đến một sân chơi lành mạnh, trang bị thêm những kiến thức về văn hóa, xã hội, đất nước, con người Việt Nam phù hợp nhu cầu thực tế ngày nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, hoạt động du lịch từ lâu đã phát triển Ơ Việt Nam, du lịch chỉ mới phát triển trong thời gian gần đây Có rất nhiều công trình nghiên cứu sưu tầm về du lịch nói chung và các loại hình du lịch nói riêng Ở Việt Nam có nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề du lịch chẳng hạn như PGS TS Trương Quốc Bình, PGS TS Phạm Trung Lương, Vũ Thế Bình, TS Thu Trang Công Thị Nghĩa, Nguyễn Thị Chiến, Lê Thị Vân….Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này thường tập trung vào du lịch nói chung, các vấn đề về du lịch, thị trường du lịch mà không có công trình nào nghiên cứu về các loại hình du lịch của sinh viên

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về du lịch ở nước ta hiện nay, nhưng chúng tôi không thể tìm hiểu hết được tất cả những công trình, tác phẩm đó mà chỉ có thể tiếp cận được một số tác phẩm Chẳng hạn như một số tác phẩm viết

về du lịch văn hoá như “Du lịch văn hóa ở Việt Nam” của TS Thu Trang Công Thị Nghĩa (Nxb Trẻ, 2001), “Luật di sản văn hóa” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2004), “Cộng đồng quốc gia văn hóa Việt Nam” của GS Đặng Nghiêm Vạn (NXB Đại học Quốc gia, TP HCM), Giáo trình:"Văn hoá du lịch" của Lê Thị Vân chủ biên (Nxb Hà Nội, 2006), “Non nước Việt Nam” của Tổng cục du lịch Việt Nam (Hà Nội, 2004)… Một số tác phẩm viết về du lịch lễ hội như

“Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” của Dương Văn Sáu (Trường

Đại học Văn hóa Hà Nội, 2004) … Một số tác phẩm viết về du lịch sinh thái

như tài liệu:"Du lịch sinh thái – Ecotourism" của GS – TSKH Lê Huy Bá (Nxb

Đại học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh)… Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận được một số tác phẩm viết về vấn đề du lịch nói chung và những lí luận về du lịch

như “Nhân học du lịch” do ThS Trương Thị Thu Hằng biên soạn (Khoa Nhân

học, trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Tp Hồ Chí Minh), Giáo

trình “Nhập môn khoa học du lịch” do Trần Đức Thanh chủ biên, Giáo trình

“Địa lý du lịch” của nhóm tác giả PTS Nguyễn Minh Tuệ, PGS PTS Vũ Tuấn

Trang 6

Cảnh, PGS PTS Lê Thông, PTS Phạm Xuân Hậu, PTS Nguyễn Kim Hồng;

"Kinh tế du lịch và du lịch học" do Đổng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình chủ

biên (Nxb Trẻ, 2000); "Kinh tế du lịch" của Robert Lanquar do Phạm Ngọc

Uyển, Bùi Ngọc Chưởng dịch (Nxb Thế giới Hà Nội, 2002) Các tác phẩm này,

có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề giảng dạy du lịch ở các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp về du lịch ở Việt Nam Và cũng là những tác phẩm được chúng tôi dùng làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu đề tài

Ngoài ra, còn có những bài viết về du lịch trên các báo: Du lịch, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Sài Gòn Guide … trong thời gian qua Những website:

Trong số các tác phẩm và tài liệu, bài viết chúng tôi tìm hiểu được, không có tác phẩm nào đề cập đến vấn đề du lịch của sinh viên chỉ có một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề sinh viên đang nghiên cứu như:

“Nhập môn khoa học du lịch” của Trần Đức Thanh; Giáo trình: “Địa lý du lịch” của nhóm tác giả biên soạn, Giáo trình: “Văn hóa du lịch” do Lê Thị

Vân chủ biên, sách: "Du lịch văn hoá ở Việt Nam" của TS Thu Trang Công Thị Nghĩa, bài viết: “Du lịch văn hóa: Xu thế mới của Việt Nam” của tác giả

Minh Quang trên báo Điện tử Vietnamnet, ngày 8/6/2004

Trang 7

Công trình đầu tiên chúng tôi tìm hiểu là giáo trình: “Nhập môn khoa

học du lịch” của Trần Đức Thanh, tác giả cho rằng: “Hoạt động du lịch có thể được phân thành các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra Các tiêu chí được đưa ra phụ thuộc vào mục đích phân loại và quan điểm chủ quan của tác giả Do đó, cho đến nay chưa có bảng phân loại nào được coi là hoàn hảo…” 1

Qua đó, thấy được rằng chưa có sự phân loại các loại hình du lịch nào là hoàn thiện và là chuẩn mực chung Vì vậy, tác giả đã phân chia du lịch thành các loại hình cơ bản nhất Tác giả phân loại theo môi trường tài nguyên trong đó có du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên Phân loại theo mục đích của chuyến đi, trong đó tác giả đã phân chia ra nhiều loại hình du lịch nhỏ như Du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, du lịch nghiên cứu (học tập), du lịch hội nghị, du lịch thể thao kết hợp, du lịch chữa bệnh, du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh

…… Tuy nhiên, đối với sinh viên, chúng tôi tìm hiểu được sinh viên đi du lịch chủ yếu với các loại hình du lịch tham quan, dã ngoại; du lịch giải trí; du lịch nghiên cứu, học tập Ngoài ra, tác giả còn phân loại theo lãnh thổ hoạt động du lịch quốc tế, du lịch nội địa, du lịch quốc gia Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch bao gồm du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê Phân loại theo phương tiện giao thông với loại hình du lịch xe đạp,

du lịch ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch bằng tàu thuỷ, du lịch máy bay Phân loại theo loại hình di trú với loại hình khách sạn, Motel, nhà trọ thanh niên, Camping, Bungalow, làng du lịch Phân loại theo lứa tuổi du khách Phân loại theo độ dài chuyến đi Phân loại theo hình thức tổ chức: bao gồm du lịch tập thể, du lịch cá thể và du lịch gia đình Phân loại theo phương thức hợp đồng với loại hình du lịch trọn gói và du lịch từng phần

Như vậy, có rất nhiều loại hình du lịch được phân chia theo nhiều cách khác nhau Vì vậy, tuỳ mục đích của chuyến đi mà xếp chuyến du lịch vào loại hình cụ thể, phù hợp với chuyến đi của mình Đối với sinh viên, họ thường đi

du lịch với các loại hình du lịch tham quan, dã ngoại; du lịch giải trí; du lịch

1Trần Đức Thanh (2000), “Nhập môn khoa học du lịch”, NXB ĐHQG Hà Nội,

tr 63

Trang 8

nghiên cứu, học tập Ngoài ra, còn kết hợp với loại hình du lịch được phân theo hình thức tổ chức Trong giáo trình này, tác giả đã đề cập đến các tiêu chí để phân loại loại hình du lịch và chúng tôi cũng học tập theo cách phân loại của tác giả để tiến hành tìm hiểu đề tài của mình

Đối với bài viết: “Du lịch văn hóa: Xu thế mới của Việt Nam” của tác

giả Minh Quang trên báo Điện tử Vietnamnet, ngày 8/6/2004 Tác giả cho rằng:

“Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển vì đem lại giá trị

lớn cho cộng đồng xã hội, và vì thế mà loại hình du lịch này trở thành một nội dung chính của hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á – Thái Bình Dương”

Tác giả còn cho rằng: “Du lịch văn hóa: Sự lựa chọn của các nước đang

phát triển” Ở các nước đang phát triển hoặc kém phát triển, thường dựa vào

nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho

sự phát triển của cộng đồng xã hội Vì “Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào

những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục, tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ”

Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương”

Tác giả còn đề cập đến vấn đề: Du lịch ở Việt Nam có theo xu hướng du lịch văn hóa hay không? Một quan chức của Vụ hợp tác quốc tế thuộc Tổng

cục du lịch đã phát biểu trong hội nghị này: “Du lịch văn hóa là xu hướng của

nhiều nước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất

Trang 9

tốt cho xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy, phải được xem là hướng phát triển của du lịch Việt Nam”

Như vậy, theo tác giả bài viết này thì Du lịch Việt Nam phát triển theo loại hình du lịch văn hóa Tuy nhiên, với đối tượng là sinh viên nói chung và sinh viên Nhân văn nói riêng thì sinh viên có rất nhiều các loại hình du lịch chứ không riêng gì du lịch văn hóa Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Chẳng hạn như chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam Bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị:

50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường di sản Miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận)… là những hoạt động của du lịch văn hóa thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Trong số đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam, lễ hội được tổ chức thường xuyên hai năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế 2006 là lần thứ tư Việt Nam có dịp giới thiệu với du khách về lễ hội dân gian của miền Trung đặc biệt là Nhã nhạc cung đình Huế – một di sản phi vật thể được UNESCO công nhận và Lễ tế Đàn Nam Giao – một lễ hội vương triều thất truyền từ hàng chục năm nay Với các vấn đề được đề cập ở trên, chúng tôi thấy để phát triển được du lịch ở Việt Nam, sinh viên cần phải biết đi du lịch đúng cách và phải biết kết hợp các loại hình du lịch để vừa phát huy được những thế mạnh du lịch của Việt Nam, vừa phù hợp với nhu cầu và sở thích của mình

Còn cuốn sách “Du lịch văn hóa ở Việt Nam” của TS Thu Trang Công

Thị Nghĩa, tác phẩm này không hề đề cập đến du lịch của sinh viên Nhưng tác giả đã xác định được sinh viên là bộ phận khách hàng tiềm năng, vì vậy tác giả

đã chọn đối tượng nghiên cứu là sinh viên, sau đó đưa ra những nhận xét về du lịch ở Việt Nam Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các nội dung: Điều kiện cần

có của người hướng dẫn du lịch; Định nghĩa sản phẩm du lịch tổng quát; Những tiềm năng sáng tạo của sản phẩm du lịch Việt Nam; Du lịch Việt Nam

từ năm 2000

Trang 10

Tác phẩm này không nghiên cứu hẳn các loại hình du lịch nhưng chỉ nói những điều cần thiết để ngành du lịch phát triển Do đó, chúng tôi đã dựa vào những điều kiện đó để đưa ra những kiến nghị để phát triển du lịch ở sinh viên

Ở chương một, tác giả đề cập tới “Điều kiện cần có của người hướng dẫn du

lịch” Trong chương này, tác giả yêu cầu người hướng dẫn phải có trình độ tri

thức tổng quát về tất cả các lĩnh vực, nhất là đối với hướng dẫn viên du lịch ở Việt Nam Người hướng dẫn phải trang bị kiến thức văn hóa tổng hợp thật nghiêm túc, nhiều khi phải đi vào chuyên ngành Điều căn bản là đội ngũ

hướng dẫn phải có trình độ đại học “Tuyến du lịch văn hóa tất nhiên cũng có

nhiều giá khác nhau Đáng chú ý là đôi khi những nước có rất nhiều di tích văn hóa, lịch sử, nghệ thuật lâu đời nhưng tại chỗ họ lại không đáp ứng nhu cầu của khách trí thức, hay chuyên ngành Do đó, những nhà làm khoa học nhân văn đã sẵn sàng đóng vai hướng dẫn” 2 Tác giả cũng đề cập đến: Sinh viên tốt nghiệp nhiều khoa khác nhau như Khảo cổ, Lịch sử, Văn học, Ngôn ngữ, Ngoại giao, Kinh tế, Thương mại, Xã hội học, Kiến trúc, Địa lý, Nhân chủng học và nhất là tốt nghiệp ngoại ngữ nếu học từ một đến hai năm về kỹ năng hướng dẫn thực hành thì đều có đủ trình độ để trở thành hướng dẫn viên du lịch Người hướng viên du lịch đặc biệt phải có trình độ ngoại ngữ tốt và vốn kiến thức

phong phú Ngoài ra, “Khi trang bị kiến thức, người hướng dẫn cần biết qua về

những nền văn minh, chế độ, tôn giáo của đối tượng du khách, họ từ nước nào đến Chẳng hạn từ Pháp, từ Anh hay Tây Ban Nha tuy cùng là Âu châu, nhưng

có nhiều điều khác nhau, từ phong cách sinh hoạt, đời sống chính trị, văn hóa

và văn minh, lịch sử cũng có nhiều khác biệt Biết người biết ta, mỗi dân tộc đều có niềm tự hào riêng, biết để tránh những mặc cảm, đôi khi có những sự tôn trọng, tự ti không đúng Những tri thức của người có trình độ sẽ tạo tự tin cho mình, với những đức tính trung dung” 3 Từ đó, người hướng dẫn có những cung cách phục vụ thích hợp với từng du khách

Trang 11

Trong chương ba, tác giả nghiên cứu chuyên sâu về: Những tiềm năng sáng tạo sản phẩm du lịch của Việt Nam Tác giả đã khảo sát ý kiến của sinh viên về vấn đề du lịch Sau đó tổng hợp khoảng 300 lời đề nghị của sinh viên

xoay quanh đề tài: “Làm thế nào để phát triển du lịch Việt Nam?” Trong số

những ý kiến đó, có một số ý kiến rất quan trọng để phát triển du lịch Việt Nam Chẳng hạn như:

- Làm quảng cáo về Việt Nam

- Hạ thấp giá để lăng xê du lịch Việt Nam

- Tổ chức các cuộc thi trong phạm vi du lịch

- Mời những bữa ăn kiểu Việt Nam khi có dịp ở các nơi

- Tổ chức những buổi trình diễn folkore (ca múa dân gian đích thực)

- Tổ chức tại Việt Nam những lễ hội lớn quốc tế

- Phát hành, làm công việc phổ biến lịch sử Việt Nam

- Tổ chức cho du khách ở trong các gia đình người Việt Nam

- Tổ chức các tuyến theo lịch sử kiến trúc

- Tổ chức cho đi làm ruộng

- Tổ chức cho thực tập nấu ăn Việt Nam, làm đồ gốm, hội họa

- Tổ chức những nhà theo kiểu thuần túy Việt Nam cho du khách thuê

- Có giá đặc biệt cho sinh viên

- Tổ chức những chuyến du lịch cho giới trẻ (mọi lứa tuổi)

- Sáng tạo những nhà thanh niên (kiểu khách sạn rẻ tiền cho giới trẻ)

- Tổ chức cho những nhà kinh doanh nước ngoài hiểu biết văn hóa Việt

- Sáng tạo các loại thi giải quốc tế như: Thả diều, đốt pháo bông, hội tụ các loại xe đạp

Từ những lời đề nghị đó của sinh viên, tác giả đã rút ra được một vài nhận xét:

Trang 12

- Du lịch là một phương tiện để giao lưu văn hóa

- Giải trí trong du lịch là phần đa số được định nghĩa trong các hình thức thể thao, thi đấu các môn khác có tính cách văn hóa

- Rút ra một vài ý hay có thể áp dụng ngay trong kinh doanh du lịch

Như vậy, tác phẩm này đã đi sâu nghiên cứu du lịch ở Việt Nam theo hướng đưa ra những yêu cầu cần thiết để phát triển du lịch Việt Nam Những yêu cầu đó không chỉ áp dụng cho một loại hình du lịch mà áp dụng cho tất cả các loại hình du lịch Du lịch Việt Nam muốn phát triển được phải thực hiện các yêu cầu mà tác giả đã đề cập đến và muốn phát triển du lịch trong sinh viên cũng cần phải có những yếu tố đó

Qua việc đọc các tài liệu tiếp cận được, chúng thấy nhận thấy đã có một vài tác phẩm viết về du lịch và đặc biệt là các loại hình du lịch nhưng đa phần vẫn mang tính chất giới thiệu, tìm hiểu một cách chung nhất các loại hình du lịch mà chưa có tác phẩm nào đi sâu nghiên cứu về các loại hình du lịch của sinh viên Đây chính là tính mới mẻ của đề tài chúng tôi

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chọn và giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các loại hình du lịch của sinh viên năm 3, năm

4 trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp Hồ Chí Minh Việc lựa chọn đối tượng sinh viên do chúng tôi xác định sinh viên là tầng lớp trí thức trẻ, những người hiện tại chưa có nguồn thu nhập nhưng lại có những nhu cầu về

du lịch cao, đây chính một bộ phận khách hàng tiềm năng lớn cho ngành du lịch Xác định địa bàn nghiên cứu là trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn vì:

- Nhận thấy nhu cầu du lịch của sinh viên trong trường rất lớn Không những thế, sinh viên trong trường có rất nhiều loại hình du lịch khác nhau Vì thế, nhóm nghiên cứu muốn tập hợp các loại hình du lịch đó lại để học tập và phát triển

Trang 13

- Nhóm nghiên cứu đề tài đang là sinh viên năm III, nên việc chọn địa điểm nghiên cứu trên là phù hợp với điều kiện học tập và tìm hiểu của nhóm tác giả

4 Cơ sở lí luận và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Thao tác hóa khái niệm

Để thực hiện đề tài “Tìm hiểu các loại hình du lịch của sinh viên” trước

hết cần xác định rõ một số thuật ngữ liên quan đến nội dung của đề tài như: du lịch, lữ hành, các loại hình du lịch, du khách, … Từ đó sẽ tạo nên một cách hiểu đồng nhất về các quan điểm trong đề tài

Cũng như các thuật ngữ khác, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, hoàn cảnh… mà con người đưa ra những định nghĩa khác nhau về du lịch và những vấn đề liên quan

Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn tứ tiếng Pháp, “tour” nghĩa là đi vòng

quanh, cuộc dạo chơi Trong Tiếng Việt, được dịch thông qua tiếng Hán: “du”

có nghĩa là chơi, “lịch” có nghĩa là từng trải

Theo tổ chức du lịch quốc tế (trong hội nghị Manila – 1980) du lịch

được định nghĩa: “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải

di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển

cá nhân về các phương tiện kinh tế – xã hội, văn hóa và tinh thần, cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” 4

Theo các học giả Trung Quốc: “Du lịch là một hiện tượng kinh tế – xã

hội, nảy sinh trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định, là sự tổng hòa tất cả các quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của mọi người dẫn tới” 5

Tóm lại, du lịch vừa là một ngành kinh tế vừa là một hiện tượng xã hội

Trang 14

- “Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi

của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng

- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh” 6

Cũng cần phân biệt khái niệm du lịch và lữ hành, ở đây cần nhấn mạnh

rằng lữ hành không phải là du lịch “Sự khác biệt chủ yếu trong nội hàm của

hai khái niệm này trước hết là mục đích khác nhau, lữ hành phần lớn có mục đích chính trị, kinh tế, tôn giáo, khoa học kỹ thuật, thưởng ngoạn phong cảnh,

du lãm đơn nhất; còn du lịch là sự phát triển tự nhiên của cơ sở vật chất và văn hóa của loài người, là dấu hiệu về việc sự phát triển của sản xuất và sinh hoạt

đã bước vào giai đoạn lịch sử mới Thứ hai là nội dung hoạt động khác nhau, hoạt động lữ hành khá đơn giản, thỏa mãn việc đi lại, ăn ở là được, còn du lịch không những yêu cầu cao hơn về ba mặt ấy (mau lẹ, thuận tiện, an toàn, thoải mái, vệ sinh) mà còn yêu cầu thỏa mãn các nhu cầu du lãm, vui chơi, mua sắm Ngoài ra, ảnh hưởng của chúng đối với xã hội cũng khác nhau, lữ hành thì số người có hạn, khu vực có hạn, nội dung đơn nhất không có ảnh hưởng lớn đối với xã hội; còn du lịch hiện đại đã trở thành hoạt động mang tính đại chúng, trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến” 7

Trong du lịch không thể thiếu du khách Vậy du khách là gì? Cũng đã có

rất nhiều định nghĩa về du khách, chúng ta có thể khái quát như sau: Du khách

là “người từ nơi khác đến với/ hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ

những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/ hoặc

Trang 15

của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch

vụ của các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống…

Cần phải phân biệt hai loại du khách cơ bản Những người mà chuyến

đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về các điều kiện, tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hóa được coi là du khách thuần túy Ngược lại, có những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác như công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn, hội họp…trên đường đi hay tại nơi đến, những người này sắp xếp được thời gian cho việc tham quan, nghỉ ngơi Khi đó, họ mới được coi là du khách Để nói lên sự kết hợp đó, chuyến đi của họ được gọi là

du lịch công vụ, du lịch thể thao, du lịch tôn giáo” 8

Chưa có nghiên cứu du lịch nào có thể khẳng định chắc chắn thế nào là loại hình du lịch Mà chỉ có thể thông qua hoạt động du lịch để chia ra các loại hình du lịch Có nhiều cách phân loại khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, quan điểm của người nghiên cứu: theo mục đích chuyến đi, theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch, theo phương tiện giao thông, theo loại hình lưu trú, theo độ dài chuyến đi, …

- Phân loại theo môi trường tài nguyên: Tùy vào môi trường tài nguyên mà

hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm lớn là du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên

- Phân loại du lịch theo mục đích chuyến đi:

Bao gồm các loại hình:

+ Du lịch tham quan: tham quan là hành vi quan trọng của con người để nâng

cao hiểu biết về thế giới xung quanh Hoạt động tham quan là một trong những hoạt động để chuyến đi được coi là chuyến du lịch

+ Du lịch giải trí: Mục đích chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc

thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe

8 Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (chủ biên), (2001), Sđd, tr.20.

Trang 16

+ Du lịch lễ hội: Lễ hội là một yếu tố rất hấp dẫn du khách Khôi phục các lễ

hội truyền thống, tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan, đoàn thể quần chúng, xã hội mà còn là một hướng quan trọng của du lịch

+ Du lịch tôn giáo: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo Từ xa

xưa, du lịch tôn giáo là loại hình du lịch khá phổ biến Ngày nay, du lịch tôn giáo được hiểu là các chuyến đi của du khách chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các nghi lễ tôn giáo của tín đồ, hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo của người dị giáo Điểm đến của các luồng du khách này là chùa chiền, nhà thờ, thánh địa…

+ Du lịch nghiên cứu (học tập): Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích

học tập, nghiên cứu Loại hình du lịch này ngày càng trở nên phổ biến do nhu cầu kết hợp học tập lý thuyết với tìm hiểu thực tiễn, học đi đôi với hành Nhiều môn học, ngành học cần có hiểu biết thực tế như địa lý, địa chất, lịch sử, khảo

cổ, môi trường, sinh học, … Thông thường hướng dẫn viên du lịch là các thầy

cô giáo phụ trách chuyên môn ở các trường

+ Du lịch thăm thân: Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích thăm thân

- Phân loại theo lãnh thổ hoạt động:

+ Du lịch quốc tế: bao gồm du lịch đón khách và du lịch gửi khách

+ Du lịch nội địa: Các hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi du lịch,

nghỉ ngơi và tham quan

+ Du lịch quốc gia: Hoạt động du lịch của một quốc gia từ việc gửi khách ra

nước ngoài đến việc phục vụ khách trong và ngoài nước tham quan, du lịch trong phạm vi nước mình

- Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch bao gồm:

+ Du lịch miền biển: Du khách tham gia các hoạt động du lịch biển như tắm

biển, thể thao biển, … ngoài ra còn có lặn biển

+ Du lịch núi:

Trang 17

+ Du lịch đô thị: Các thành phố, trung tâm hành chính có sức hấp dẫn với các

công trình kiến trúc lớn có tầm cỡ quốc gia và quốc tế

+ Du lịch thôn quê: Du khách đi du lịch thôn quê để tận hưởng không khí trong

lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng nhằm phục hồi sức khoẻ

- Phân loại theo loại hình di trú: Bao gồm Khách sạn, Motel, Nhà trọ thanh

niên, Camping, Bungalow, Làng du lịch

+ Camping: Là một khu vực mà ở đó người ta phân lô theo một quy hoạch nhất

định Tại các lô này, bằng các vật liệu khác nhau người ta tạo nên các nền (ví

dụ bằng xi măng, bằng chất dẻo, bằng gỗ hoặc tre nứa, … ) Đoàn du khách

có thể chọn thuê một địa điểm để dựng lều trại Loại hình du lịch này thường được thanh niên sinh viên ưa chuộng.9

- Phân loại theo độ dài chuyến đi: Những chuyến du lịch được thực hiện

trong thời gian dưới một tuần lễ được coi là du lịch ngắn ngày Du lịch dài ngày có thể tiêu tốn thời gian đến gần một năm

- Phân loại theo hình thức tổ chức: bao gồm du lịch tập thể, du lịch cá thể và

du lịch gia đình

- Phân loại theo phương thức hợp đồng: Bao gồm du lịch trọn gói và du lịch

từng phần

Đây là những khái niệm về các loại hình du lịch được phân theo các

hình thức khác nhau Ngoài ra, chúng ta còn có khái niệm Điểm du lịch là

“những chỗ hoặc cơ sở mà khách du lịch hướng đến và lưu trú, điểm du lịch có thể là những chỗ không có dân cư

Trong kinh tế du lịch, điểm du lịch là một nơi, một vùng hay một đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với dân ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên” 10

Chính vì vậy, trong đề tài chúng tôi nghiên cứu, chúng tôi sẽ áp dụng định nghĩa các loại hình du lịch được phân theo mục đích của chuyến đi bao

9 Trần Đức Thanh (2000), sđd, tr.85

10 Trần Đức Thanh (2000), Sđd, tr.112.

Trang 18

gồm du lịch tham quan, dã ngoại, du lịch giải trí, du lịch nghiên cứu học tập,

… kết hợp với phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch bao gồm du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê; kết hợp với phân loại theo loại hình lưu trú bao gồm Camping (Cắm trại) Ngoài ra, còn kết hợp với phân loại theo độ dài chuyến đi bao gồm du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày; phân loại theo hình thức tổ chức bao gồm du lịch tập thể, du lịch cá thể và du lịch gia đình Đây là các cách phân loại loại hình du lịch mà chúng tôi sẽ sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

4.2 Giả thuyết nghiên cứu:

Để có thể giải quyết được vấn đề một cách sâu sắc và xác định hướng nghiên cứu của đề tài, đồng thời đáp ứng một cách đấy đủ và hoàn chỉnh nội dung đề tài, chúng tôi đưa ra một số giả thuyết có tính chất khái quát như sau:

- Sinh viên có nhu cầu lớn về giải trí bằng hình thức du lịch, điều này phản ánh đúng thực tế vì sinh viên muốn có thêm thật nhiều kiến thức nhất là kiến thức về vấn đề học tập, thì không có gì dễ hơn bằng con đường đi du lịch Đây là nhu cầu hết sức cần thiết đối với sinh viên hiện nay

- Sinh viên có nhiều hình thức du lịch đa dạng và phong phú Nhưng các hình thức này không được phổ biến rộng rãi trong sinh viên Tuy nhiên, hoạt động du lịch của sinh viên chỉ lại tập trung vào một số loại hình gắn liền với việc học tập, nghiên cứu tìm hiểu của sinh viên

Tóm lại, việc thực hiện đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ thực hiện tại một địa điểm, điển hình là trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp

Hồ Chí Minh Giới hạn nghiên cứu không phải là khái quát về du lịch mà chỉ gói gọn trong các loại hình du lịch của sinh viên, với các loại hình chủ yếu như

du lịch Cắm trại, du lịch biển, du lịch thôn quê… Mặt khác, chúng tôi nêu ra thực trạng của loại hình du lịch này, tìm ra hướng giải quyết, đồng thời đưa ra một mô hình dự kiến có thể áp dụng ở một số nơi

Trang 19

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo sát, sưu tầm về các loại du lịch của sinh viên là một công việc không dễ, đòi hỏi người nghiên cứu phải thực hiện một cách tỉ mỉ và sâu sắc Do đó, trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp của Nhân học nhằm giải quyết vấn đề hiệu quả và tối ưu nhất như sau:

- Phương pháp quan sát tham dự: (Particcipant Observation) yêu cầu

người nghiên cứu phải tham gia vào trong đời sống cộng đồng mà mình nghiên cứu Vì địa bàn nghiên cứu là trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, là nơi nhóm nghiên cứu học tập Vì vậy, nhóm nghiên cứu có nhiều cơ hội để tham gia vào các chuyến tham quan, du lịch của sinh viên các khoa trong trường Quan sát các chuyến du lịch của sinh viên, do sinh viên tự tổ chức, ghi chép lại, cùng tham gia chuyến du lịch Trong quá trình tham quan chuyến du lịch chúng tôi luôn chú ý quan sát số lượng, thái độ của các sinh viên tham gia Chẳng hạn, chuyến cắm trại/ dã ngoại do BCH Đoàn trường tổ chức tại Củ Chi, chuyến du lịch kết hợp với thực tế của khoa địa lý tổ chức cho sinh viên đi Vũng Tàu, chuyến du lịch cắm trại của sinh viên Khoa Nhân học, …

- Phương pháp phỏng vấn sâu (In-dept interviewing) (còn gọi là phương

pháp phỏng vấn sâu Dân tộc học): là phương pháp lấy thông tin từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định Trong phương pháp này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nhỏ hơn là chuyện trò không chính thức, phỏng vấn sâu không cơ cấu (không có danh mục câu hỏi soạn sẵn) và phỏng vấn sâu cơ cấu hoá (có danh mục các câu hỏi sẽ hỏi) Tuỳ theo từng vấn đề, từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể mà nhóm nghiên cứu dùng các phương pháp phỏng vấn sâu thích hợp Để thực hiện phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các sinh viên trong trường đã từng tổ chức

du lịch và các trưởng nhóm du lịch trong trường, các sinh viên đóng vai trò là hướng dẫn viên du lịch trong các “tour” do họ tổ chức Từ đó thấy được thực trạng các loại hình du lịch của sinh viên trong nghiên cứu du lịch

Trang 20

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin định lượng: thông qua khảo

sát, thống kê bằng kĩ thuật bảng hỏi Đối tượng khảo sát của đề tài là sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Chúng tôi đưa ra những

số liệu khảo sát định lượng chỉ mang tính tương đối Do vấn đề về thời gian

và kinh phí, nên khi thực hiện phương pháp này, chúng tôi đã chọn mẫu một

số khoa trong trường như khoa Xã Hội Học, Nhân học, Ngữ văn Trung Quốc

để từ đó đưa ra những số liệu cụ thể

- Phương pháp so sánh đối chiếu: nhằm so sánh các loại hình du lịch do

sinh viên tự tổ chức với các loại hình du lịch do các công ty du lịch lữ hành

tổ chức về hình thức, nội dung và phương thức thực hiện du lịch Từ đó làm nổi lên các loại hình du lịch do sinh viên tự tổ chức Để có thể thực hiện được tốt phương pháp này, chúng tôi cố gắng tìm đọc các vấn đề liên quan đến du lịch trong các tác phẩm của TS Thu Trang Công Thị Nghĩa, PGS TS Trương Quốc Bình, Nguyễn Thị Chiến … cũng như trên các website: http://Vietnamtourism.com.vn, http://Saigontourism.com.vn, http:// Vietnamtourism.gov.vn cũng như các nghiên cứu về chúng

6 Đóng góp mới của đề tài:

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đưa ra một số đóng góp mới đó

là tìm hiểu được một số loại hình du lịch của sinh viên, mang những nét đặc trưng riêng của sinh viên Ngoài ra, chúng tôi cũng chỉ ra được hoạt động du lịch của sinh viên trong trường phát triển như thế nào Qua đó, thấy được nhu cầu, thực trạng của vấn đề du lịch và đưa ra các loại hình du lịch của sinh viên Sau đó, đưa ra giải pháp du lịch trong sinh viên

7 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn

- Ý nghĩa lí luận: Đề tài chúng tôi nghiên cứu góp phần bổ sung vào cách phân loại loại hình du lịch nói chung và phân loại các loại hình du lịch của sinh viên nói riêng Tìm hiểu về các loại hình du lịch sinh viên, cũng như các hình thức du lịch, từ đó đưa ra một số mô hình du lịch của sinh viên

Trang 21

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đưa ra được các loại hình du lịch của sinh viên, qua đó áp dụng việc phát triển hoạt dộng du lịch cho sinh viên trong trường và các trường khác Là cơ sở để cho các công ty du lịch có thể thiết kế các tour phục vụ nhu cầu, sở thích của sinh viên Đề tài còn giúp cho các nhóm du lịch trong trường định hướng để phát triển du lịch cho nhóm mình

Là cơ sở để các cá nhân muốn tổ chức tour du lịch cho bạn bè tham khảo

8 Nội dung của đề tài:

Trong nội dung của đề tài, ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo Chúng tôi chia đề tài ra làm ba chương:

Chương 1: Giới thiệu sơ lược về trường và sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Tp Hồ Chí Minh Chúng tôi tập trung tìm hiểu về trường và sơ lược về sinh viên trong trường như là quê quán, giới tính, ngành

học Qua đó, thấy được vấn đề học tập cũng như là mức sống của sinh viên

Chương 2: Trong chương 2, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về đặc điểm nhu cầu và tiềm năng du lịch trong sinh viên trường Đại học khoa học xã hội – Nhân văn Trong đó, chúng tôi tập trung tìm hiểu về vấn đề học tập, hoạt động của sinh viên Sau đó, tìm hiểu kĩ về thực trạng mức sống và nhu cầu giải trí của sinh viên Từ đó, rút ra được một số cơ sở để lí giải cho một số loại hình du lịch của sinh viên

Chương 3: Trong chương 3, chúng tôi tìm hiểu về các loại hình du lịch của sinh viên với một số loại hình chủ yếu như du lịch tham quan, dã ngoại; du lịch giải trí; du lịch nghiên cứu học tập

Kết luận và kiến nghị: Qua việc tìm hiểu các loại hình du lịch của sinh

viên, chúng tôi đưa ra một số đề xuất và kiến nghị

9 Kết quả đạt được:

- Để sinh viên thấy được sự phong phú đa dạng của các loại hình du lịch của Việt Nam nói chung và của sinh viên nói riêng

- Đề xuất được những loại hình du lịch mẫu dành cho sinh viên

- Nhưng rộng mô hình du lịch sinh viên cho các trường Đại học khác

Trang 22

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN TP HỒ CHÍ MINH 1.1 Sơ lược về trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn

Trường Đại học khoa học xã hội & Nhân văn có hai cơ sở để đào tạo sinh viên Cơ sở 1 tọa lạc tại số 10 – 12 Đinh Tiên Hoàng, phường Bến Nghé, quận I, nơi trực tiếp đào tạo sinh viên năm 3, năm 4, sinh viên cao học, sinh viên nước ngoài và sinh viên hệ tại chức Cơ sở 2 ở tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức, nơi đào tạo số lượng sinh viên năm 1, năm 2, tại đây cơ sở vật chất cũng đầy đủ, đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên Ngoài ra, trường cũng mở các lớp, câu lạc bộ ngoại khóa tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên về học tập và giải trí

Trường có lịch sử phát triển trên 50 năm, trải qua nhiều biến động về hình thức tổ chức, hoạt động đào tạo đã thay đổi cả về chất và lượng Năm 1955, trường được thành lập với tên gọi là Trường Đại học Văn khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, lúc này trường chỉ là một trường nhỏ trong viện đại học Sài Gòn Nhưng đến tháng 10 năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, trường tiếp tục lại

có nhiều thay đổi về mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo, nhưng trường vẫn không tách khỏi viện đại học Sài Gòn Mãi đến tháng 4/1977, trường Đại học Văn khoa hợp nhất với Trường Đại học Khoa học thành trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, sự kết hợp của nhiều trường, nhiều ngành đào tạo Như vậy, sau 22 năm thành lập và phát triển, với hai lần thay đổi về tên gọi và hình thức, mô hình đào tạo, thì đến ngày 30/ 3/ 1996, Đại học Văn khoa tách ra khỏi Trường Đại học Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, thành lập nên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Từ đó đến nay, trường phát triển độc lập trong hệ thống các trường Đại học thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Cùng với sự phát triển của các trường Đại học ở Việt Nam nói chung và các trường ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trường đại học Khoa học xã hội

Trang 23

& nhân văn đóng vai trò quan trọng trong nền giáo dục Đại học của Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội Đây là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học có chất lượng cao ở phía Nam và đang phấn đấu vươn lên ngang tầm với các trường đại học trong khu vực và thế giới

Trường có tất cả 20 khoa/ bộ môn, trong đó có hai bộ môn mới được thành lập vào năm 2007, đó là bộ môn Văn hoá học và bộ môn Công tác xã hội Trong đề tài này, chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm 3 và năm 4 Vì vậy, số liệu chúng tôi đưa ra là số lượng của sinh viên hai khoá 2004 – 2008 và khoá 2005 – 2009, chúng tôi không tìm hiểu về số lượng sinh viên của 2 Bộ môn Văn hoá học và Công tác xã hội vì cả hai đều là sinh viên năm nhất Dưới đây là số liệu cụ thể:

BẢNG 1: SỐ LƯỢNG SINH VIÊN Ở CÁC KHOA TRONG TRƯỜNG CÁC KHOÁ 2004 – 2008 VÀ 2005 - 2009

SINH VIÊN

SỐ LƯỢNG SINH VIÊN NAM

SỐ LƯỢNG SINH VIÊN

Trang 24

Nguồn: Phòng đào tạo – trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn

Trường có trên 500 giảng viên, Cán bộ công nhân viên với 250 Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ, Thạc sĩ Cán bộ giảng dạy của trường được đào tạo trong nước và nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Qui mô đào tạo của trường là trên 20.000 sinh viên, học viên thuộc các loại hình đào tạo khác nhau, trong đó trên 12.000 sinh viên chính qui, 1.300 học viên sau đại học

1.2 Sơ lược về vấn đề học tập và hoạt động ngoại khoá của sinh viên

Trường đại học Khoa học xã hội & nhân văn là trường có số lượng lớn sinh viên theo học, được tập hợp từ mọi miền đất nước Chỉ tính riêng sinh viên hai khoá 2004 – 2008 và khoá 2005 – 2009 có tổng số 5496 sinh viên, trong đó

có 1372 sinh viên nam và 4124 sinh viên nữ Như vậy, nếu xét về số lượng sinh viên toàn trường, chưa kể sinh viên cao học, sinh viên hệ tại chức, thì có thể là trên 10.000 sinh viên Tuy nhiên, sinh viên trường có đặc điểm là số lượng nữ

Trang 25

luôn nhiều nam do đặc thù đào tạo của trường – đào tạo khối ngành xã hội Mỗi năm số lượng sinh viên lại tăng thêm do nhu cầu đào tạo tăng và số ngành đào tạo cũng tăng

Trong tổng số 20 khoa/ bộ môn, hai khoa có số lượng sinh viên nhiều nhất là khoa Đông Phương với 496 sinh viên, trong đó có 496 sinh viên nữ, chỉ

có 41 sinh viên nam và khoa Ngữ Văn Anh với tổng số 554 sinh viên với 109 sinh viên nam và 445 sinh viên nữ Khoa có số lượng sinh viên ít nhất là Khoa Việt Nam học với số lượng 46 sinh viên, trong đó có 30 sinh viên nam và 16 sinh viên nữ Do đặc điểm, khoa Việt Nam học là khoa dành cho sinh viên người nước ngoài và là khoa mới được thành lập

Sinh viên trong trường có nhiệm vụ quan trọng là học tập và nghiên cứu khoa học Sinh viên các hệ đào tạo của Trường được học tập thông qua nhiều hình thức khác nhau: Nghe giảng, thảo luận chuyên đề (seminar) trên lớp; đọc sách, nghiên cứu tại các thư viện; tham dự cá buổi thuyết trình chuyên đề (ngoại khoá); tham gia các câu lạc bộ sinh hoạt học thuật, học theo nhóm; đi du khảo, khảo sát thực tế, thu thập tư liệu viết báo cáo; tham gia các hội thảo khoa học, các chương trình nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên hoặc các chương trình Nghiên cứu khoa học do trường hoặc nước ngoài; trao đổi học thuật, du học theo hình thức học bổng toàn phần, bán phần hoặc theo các chương trình trao đổi sinh viên, giao lưu,… Việc học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên nhận được sự quan tâm giúp đỡ từ rất nhiều phía như ban giám hiệu nhà trường, chi uỷ ban chủ nhiệm các khoa/ bộ môn…… Chính vì vậy, sinh viên luôn được hỗ trợ rất nhiều, có điều kiện để học tập và nghiên cứu khoa học cũng như là các hoạt động vui chơi, giải trí Dù lịch học của từng khoa/ bộ môn khác nhau nhưng luôn theo chương trình đào tạo chung của nhà trường

Theo lịch học của trường, học kỳ I được bắt đầu vào đầu tháng 9, đây là thời gian mà sinh viên các khóa phải trở lại trường học sau một tháng nghỉ hè, cũng là thời gian nhập học của sinh viên năm nhất mới bắt đầu vào trường Kết thúc học kỳ một vào cuối tháng 1, đầu tháng 2, đây là thời gian sinh viên đã thi

Trang 26

hết học kỳ Khoảng thời gian này sinh viên thường tổ chức các chuyến du lịch ngắn ngày với nhiều mục đích khác nhau, có thể là đi du lịch theo nhóm bạn

bè, cũng có những chuyến du lịch do lớp tổ chức… Sau đó là kỳ nghỉ tết Nguyên đán kéo dài 2 tuần đầu tháng 2 Bắt đầu học kỳ II vào giữa tháng 2, trong học kỳ này, sinh viên có rất nhiều hoạt động của khoa, lớp, tổ chức Đoàn – Hội: các chuyến thực tập, thực tế được tổ chức, các cuộc thi dành cho sinh viên, các hội trại… Cũng trong học kỳ 2, sinh viên có một hoạt động nổi bật là tuần lễ khoa học sinh viên diễn ra vào cuối tháng 5, đây là một hoạt động thu hút được sự quan tâm và sự tham gia của sinh viên các khoa Kết thúc học kỳ II

là cuối tháng 6 đầu tháng 7 Nhưng trước khi kết thúc năm học, sinh viên phải trải qua một kỳ thi hết sức gay go và thử thách Những sinh viên năm cuối đại học sẽ thi tốt nghiệp và bảo vệ khoá luận tốt nghiệp trong tháng 7 Đây cũng là khoảng thời gian khổ cực của sinh viên năm cuối chuẩn bị ra trường Cùng với

kỳ thi tuyển sinh của cả nước, kỳ thi tuyển sinh đại học diễn ra vào đầu – giữa tháng 7 Sinh viên được nghỉ hè một tháng vào đầu tháng 8 Đó là toàn bộ hoạt động học tập của sinh viên trong một năm học Mỗi năm có những hoạt động khác nhau, nhưng lịch chung là như vậy, không thể khác được

Hiện nay trường đang tồn tại 2 hình thức đào tạo, đó là đào tạo theo biên chế hai học kỳ – sinh viên năm 3, năm 4 đang học theo hình thức này Còn đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ có 3 học kỳ – có học kỳ hè, sinh viên năm 1, năm 2 đang học tại cơ sở Thủ Đức đang học theo học chế tín chỉ Vì vậy, những sinh viên muốn rút ngắn thời gian học từ 4 năm xuống còn 3 năm rưỡi vẫn được, do

có học kỳ hè nên sinh viên có thể đăng ký học vượt môn, đây chính là lợi thế của sinh viên các khóa 2006 và 2007

Nhìn chung, theo lịch học của trường thì như vậy nhưng khoảng thời gian giữa các kỳ hay sau mỗi kỳ thi, sinh viên đều có thời gian nghỉ Chính vì thế, sinh viên có thể sắp xếp được thời gian để tổ chức cũng như là tham gia các chuyến du lịch Điều này giúp cho sinh viên giải tỏa bớt căng thẳng sau các kỳ thi

Trang 27

Ngoài học tập, nghiên cứu khoa học, các sinh viên của trường còn tham gia hoạt động văn – thể – mĩ và các hoạt động xã hội, cộng đồng nhằm phát huy các khả năng của mình cũng như tăng cường những kiến thức về xã hội, kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm và tương trợ cộng đồng Ngoài ra, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên trường thường xuyên tổ chức các hoạt động như: Hội diễn văn nghệ, hội thao sinh viên, lễ hội văn hoá, công tác xã hội như phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi các thương binh nặng tại các trung tâm điều dưỡng, giúp đỡ người nghèo, trẻ em tàn tật, neo đơn, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, các chiến dịch: "Mùa hè xanh", "Xuân tình nguyện", " Hiến máu nhân đạo",… Các chiến dịch “Mùa hè xanh”, “Xuân tình nguyện” … là các chiến dịch giúp sinh viên có thể tìm hiểu được những vùng đất mới do đặc điểm mặt trận của những chiến dịch này thường là ở các tỉnh Tuy cũng có mặt trận thành phố nhưng với số lượng sinh viên ít Như vậy, cùng với việc tình nguyện, sinh viên có thể được tham quan ở những địa điểm đến Đây cũng là một hình thức giải trí hay và thu hút được sự quan tâm của sinh viên Qua đó, tạo môi trường cho sinh viên có điều kiện đi tìm hiểu thực tế Ap dụng được những kiến thức đã học trong giảng đường vào thực tế Ngoài ra, đây cũng những hoạt động giúp sinh viên có thời gian để giải trí, giải tỏa căng thẳng

Ngoài những hoạt động do trường, khoa và các tổ chức Đoàn – Hội thực hiện thì sinh viên cũng có hoạt động dã ngoại rất phong phú và đa dạng Đó là việc sinh viên có những hình thức du lịch đặc sắc với nhiều loại hình du lịch khác nhau Tuy nhiên, không phải sinh viên nào cũng có thể đi du lịch vì nhiều vấn đề như thiếu kinh phí, thiếu thời gian …… Chính vì vậy, chúng tôi mới đi sâu tìm hiểu về nhu cầu và tiềm năng du lịch của sinh viên với mong muốn tìm

ra được những nhu cầu thiết thực của sinh viên trong vấn đề du lịch, cũng như

là các tiềm năng du lịch ở sinh viên

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH

TRONG SINH VIÊN 2.1 Thực trạng về mức sống và nhu cầu giải trí của sinh viên

Sinh viên là những người chưa chủ động được về vấn đề tài chánh cho mình Vì vậy, họ thường phải suy nghĩ, tính toán rất nhiều trước khi quyết định một vấn đề nào đó chẳng hạn như đi chơi, du lịch… Khi chúng tôi tiến hành khảo sát 115 sinh viên của 3 khoa Nhân học, Xã hội học, Ngữ văn Trung Quốc

về số tiền hàng tháng mà các bạn sinh viên nhận được từ phía gia đình thì có 38,2% sinh viên nhận được dưới 1 triệu đồng một tháng, có 51,3% sinh viên nhận được từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng một tháng, có 7,8% sinh viên nhận được trên 1,5 triệu đến 2 triệu một tháng, chỉ có 2,6% sinh viên nhận được trên

Nguồn: Khảo sát sinh viên, tháng 03/2008

Như vậy, tỉ lệ sinh viên nhận được dưới 1 triệu/ tháng cũng rất lớn Còn phần lớn sinh viên, trung bình hàng tháng sinh viên có khoảng từ 1,5 triệu cho

Trang 29

đến 2 triệu đồng Nhưng trong thời giá hiện nay, với số tiền đó, không đủ cho sinh viên chi tiền học và tiền sinh hoạt hàng tháng, ngoài ra, tiền để học thêm cũng không đủ thì tiền dành cho du lịch là hơi khó khăn Vì phần lớn sinh viên quê ở các tỉnh phía bắc ở các vùng như Trung du miền núi phía bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc trung bộ, Nam trung bộ, Tây nguyên nên vấn đề về kinh tế cũng không đầy đủ bằng các sinh viên ở Đông nam bộ hay Tây nam bộ Đây cũng là một trong những lí do quan trọng khiến nhiều sinh viên ít đi du lịch Phần lớn sinh viên của trường có quê quán ở miền Bắc và miền Trung, chỉ

có một bộ phận sinh viên quê ở miền Nam hay sinh sống, định cư ở Miền Nam Trong tổng số 115 sinh viên khảo sát có 7,8% sinh viên sống ở các tỉnh Trung

du miền núi phía Bắc; 29,6% sinh viên sống ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng; 12,2% sinh viên sống ở các tỉnh Bắc Trung bộ; 18,3% sinh viên sống ở các tỉnh Nam Trung bộ; 6,1% sinh viên sống ở các tỉnh Tây Nguyên; 16,5% sinh viên sống ở các tỉnh Đông Nam bộ; 9,6% sinh viên sống ở các tỉnh Tây Nam bộ

Bảng 3: Bảng phân phối tần suất về quê quán của sinh viên

Trang 30

Nguồn: Khảo sát sinh viên, tháng 03/2008

Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng phần lớn sinh viên có quê quán ở các vùng Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam trung bộ, Tây Nguyên Trong đó, có 29,6% sinh viên thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Hồng Như vậy, phần lớn sinh viên là xa nhà, sống xa gia đình Không những thiếu thốn tình cảm của gia đình mà vấn đề kinh tế cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với các sinh viên khác Nhưng trên thực tế, những sinh viên ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung có xu hướng thích đi du lịch, để khám phá vùng đất Nam bộ, một vùng đất đối với họ là rất mới Nhưng khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu 115 sinh viên thuộc các khoa Xã hội học, Nhân học; Ngữ văn Trung Quốc chỉ có 25,2% sinh viên đi làm thêm trong thời gian rảnh rỗi; còn 74,8% sinh viên không đi làm thêm

Bảng 4: Bảng phân phối tần suất về sinh viên đi làm thêm khi có thời gian rảnh

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/2008

Chính vì điều đó, chúng tôi thấy được rằng, sinh viên có nhu cầu giải trí rất cao Do thời gian rảnh rỗi sinh viên làm các việc như 45,2% trong tổng số 115 sinh viên được nghiên cứu học bài; 20,4% trong tổng số 115 sinh viên thư giãn bằng cách nghe nhạc, xem tivi, chơi thể thao, … có 33% trong tổng số 115 sinh viên dành thời gian rảnh rỗi để học thêm; có 19,1% trong tổng số 115 sinh viên dành thời gian rảnh rỗi để đi du lịch

Sinh viên đi làm thêm

khi có thời gian rảnh Tần số Tỉ lệ %

Trang 31

Bảng 5: Những việc sinh viên làm khi có thời gian rảnh rỗi

Học bài 45,2% 54,8%

Thư giãn 20,4% 9,6%

Học thêm 33% 67%

Du lịch 19,1% 80,9%

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/2008

Chẳng những có nhu cầu đi du lịch mà ngạc nhiên là sinh viên dành thời gian để đi du lịch là rất lớn Trong tổng số 115 trường hợp được nghiên cứu có 89,6 % sinh viên đi du lịch ở đại học và chỉ có 10,4% sinh viên không

đi du lịch ở đại học

Bảng 6: Bảng phân phối tần suất về số lượng sinh viên đi du lịch từ khi vào đại học

Số lượng sinh viên đi du

lịch từ khi vào đại học Tần số Tỉ lệ %

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/ 2008

Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng, sinh viên dù có ít tiền nhưng cũng đã dành thời gian và tiên bạc để đi du lịch Sinh viên chọn hình thức giải trí băng cách đi du lịch là cách để bổ sung thêm kiến thức và học hỏi thực tế Chính vì vậy, chúng tôi có tìm hiểu về thời gian học tập của sinh viên, qua đó thấy được việc đi du lịch của sinh viên có ảnh hưởng gì tới việc học của họ hay không

Trang 32

Thời gian học của sinh viên cũng khác so với năm 1 và năm 2 Khi tiến hành khảo sát chỉ có 17,4% sinh viên học dưới bốn ngày; có đến 70,4% sinh viên có thời gian học từ 4 đến 6 ngày; chỉ có 12,2 % sinh viên có thời gian học đến 7 ngày Thời khóa biểu của sinh viên năm 3, năm 4 cũng không quá căng thẳng

Số lượng sinh viên học cả tuần cũng không nhiều, do các bạn đi học thêm…

Bảng 7: Bảng phân phối tần suất về thời gian học một tuần của sinh viên

Thời gian học của sinh viên Tần số Tỉ lệ %

Dưới 4 ngày 20 17.4

Từ 4 đến 6 ngày 81 70.4

7 ngày 14 12.2 Tổng số 115 100.0

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/2008

Dù khó khăn về tiền bạc, khó khăn về thời gian,… Nhưng sinh viên vẫn dành thời gian để đi du lịch Ngoài ra sinh viên cũng là những người thiếu thốn

về tình cảm, do họ là những người xa nhà, xa gia đình Chính vì vậy, sinh viên thường có xu hướng tìm kiếm những giải pháp để thích nghi với cuộc sống qua việc chuyên tâm vào vấn đề học tập, làm thêm Có một bộ phận thì tham gia vào các chuyến du lịch để tạo mối bạn bè và giải trí sau những giờ học tập căng thẳng Đó là toàn bộ thực trạng của sinh viên về mức sống cũng như nhu cầu giải trí trong sinh viên Sinh viên có nhu cầu giải trí rất lớn, nhất là giải trí bằng hình thức du lịch

Trang 33

2.2 Xác định nhu cầu và tiềm năng du lịch trong sinh viên

Sinh viên có nhu cầu về du lịch rất cao Trong tổng số 115 sinh viên được nghiên cứu có 54,8% sinh viên thích đi du lịch; còn 45,2% sinh viên không thích đi du lịch

Bảng 8: Bảng phân phối tần suất về sự yêu thích du lịch của sinh viên

Sự yêu thích du lịch của sinh viên Tần số Tỉ lệ %

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/2008

Nhưng, khi nghiên cứu về vấn đề đi du lịch của sinh viên thì trong tổng số

115 sinh viên được nghiên cứu có 89,6% sinh viên có đi du lịch từ khi vào đại học, chỉ có 10,4% sinh viên không đi du lịch từ khi vào đại học Như vậy, dù không thích đi du lịch nhưng các bạn sinh viên vẫn tham gia các chuyến du lịch

do khoa, lớp, đoàn – hội tổ chức Dù không thích nhưng vẫn đi du lịch với những mục đích khác nhau như bổ sung kiến thức thực tế, giải trí… Đó chính

là nhu cầu của sinh viên, nhu cầu được giải trí sau những giờ học căng thẳng và sinh viên nhận thấy rằng đi chơi, dã ngoại là hình thức giải trí thoải mái nhất

Bảng 9: Bảng phân phối tần số về số lượng sinh viên đi du lịch từ khi vào đại học

Số lượng sinh viên đi du

lịch từ khi vào đại học Tần số Tỉ lệ %

Trang 34

Không 12 10.4

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/2008

Trong đó, sinh viên thường thích đi du lịch theo loại hình du lịch sinh thái nhất chiếm đến 22,6%; tiếp đến là du lịch tham quan và du lịch dã ngoại, cắm trại mỗi loại chiếm 20,9%; có 16% sinh viên thích loại hình du lịch trọn gói; 12,2% sinh viên thích loại hình du lịch thăm quê, thăm người thân; có 9,6% sinh viên thích loại hình du lịch văn hoá

Bảng 10: Bảng phân phối tần suất về loại hình du lịch sinh viên thích nhất

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/ 2008

Như vậy, sinh viên quan tâm nhất đến loại hình du lịch sinh thái, có thể đây

là loại hình du lịch phổ biến trong sinh viên Sau đó là du lịch tham quan và du

Trang 35

lịch cắm trại, dã ngoại Chính vì vậy, sinh viên có nhu cầu rất lớn về du lịch Mục đích đi du lịch của sinh viên cũng đa dạng và phong phú

Bảng 11: Mục đích du lịch của sinh viên

Tiếp thu được nhiều kiến thức 61,7% 37,3%

Giải trí sau những giờ học căng thẳng 80,9% 19,1%

Tự tin và mạnh dạn hơn trong cuộc sống 47,8% 52,2%

Tạo được nhiều mối quan hệ, bạn bè 66,1% 33,9%

Nguồn: Khảo sát sinh viên – tháng 03/2008

Có 61,7% sinh viên cho rằng đi du lịch sẽ tiếp thu thêm nhiều kiến thức; 80,9% sinh viên cho rằng đi du lịch để giải trí sau những giờ học căng thẳng; 47,8 % sinh viên cho rằng đi du lịch giúp tự tin và mạnh dạn hơn trong cuộc sống; có 66,1% sinh viên cho rằng đi du lịch giúp tạo được mối quan hệ bạn bè

Do học hành căng thẳng nên phần lớn sinh viên chỉ muốn đi du lịch đơn thuần

là giảm bớt căng thẳng, giảm stress Qua du lịch, sinh viên cũng mở rộng những mối quan hệ bạn bè, tạo sự tự tin trong giao tiếp, đây là một trong những

kĩ năng phần lớn sinh viên còn thiếu

Như vậy, sinh viên có nhu cầu đi du lịch nhằm mục đích giải trí sau những giờ học căng thẳng, qua đó cũng tiếp thu được nhiều kiến thức, tạo được nhiều mối quan hệ bạn bè Chứng tỏ, nhu cầu được đi du lịch là rất lớn Và sinh viên cũng là một bộ phận khách hàng lớn của các công ty du lịch, công ty lữ hành vì đây là đối tượng có nhu cầu và tiềm năng về du lịch

Trang 36

CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH CỦA

SINH VIÊN 3.1 Loại hình du lịch tham quan/ dã ngoại

Như đã trình bày ở trên, trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi dùng cách phân loại về loại hình du lịch của Trần Đức Thanh làm cơ sở để nghiên cứu Chính vì vậy, loại hình du lịch tham quan/ dã ngoại của sinh viên thực chất là một hình thức đi chơi, cắm trại Loại hình này rất được sinh viên ưa thích Không những thế, loại hình du lịch này rất được các tổ chức đoàn thể ở trường như tổ chức Đoàn – Hội, lớp/ khoa, nhóm bạn bè hay thậm chí là do một cá nhân thực hiện

Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn là một trong những trường Đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh có hoạt động Đoàn Thanh Niên, Hội

Sinh Viên phát triển mạnh Chính vì vậy, hoạt động Đoàn – Hội ở các khoa, bộ

môn trong trường cũng phát triển một cách mạnh mẽ Hoạt động du lịch ở tổ chức Đoàn – Hội trong trường cũng như trong các khoa, bộ môn diễn ra rất sôi nổi

Tổ chức Đoàn thanh niên, Hội sinh viên của trường hằng năm đã tổ chức các hội trại truyền thống với mục đích tập huấn cán bộ Đoàn - Hội Nhờ những hội trại như vậy, mà sinh viên trở nên đoàn kết hơn, gắn bó với nhau hơn Tuy nhiên, song song với mục đích tập huấn cán bộ Đoàn – Hội thì cũng cho các bạn sinh viên có thời gian tham quan thắng cảnh, di tích lịch sử Tuỳ từng địa điểm cụ thể mà sinh viên có được hình thức du lịch phù hợp Nhìn chung, các hội trại do Đoàn thanh niên – Hội sinh viên trường tổ chức, đã mang tên là hội trại chỉ có thể là theo hình thức cắm trại kết hợp với tham quan Địa điểm đến thường là các di tích lịch sử hay các khu du lịch có khu đất rộng dành riêng cho việc cắm trại Theo tìm hiểu của chúng tôi, một năm tổ chức Đoàn – Hội có tổ chức từ ba hội trại trở nên như Hội trại tập huấn cán bộ Đoàn, hội trại tập huấn cán bộ Hội, hội trại sức trẻ Nhân văn, hội trại cán bộ Đoàn năm nhất, hội trại cán bộ Hội năm nhất… Chẳng hạn như hội trại tập huấn cán bộ Đoàn được tổ

Trang 37

chức vào đầu năm học 2007 – 2008 tại khu di tích địa đạo Củ Chi, đối tượng là các cán bộ Đoàn ở các khoa, bộ môn Đơn vị đứng ra tổ chức là ban chấp hành đoàn trường cùng kết hợp với liên chi hội sinh viên trường Ngoài những nội dung chương trình như cắm trại, thi văn nghệ, đốt lửa trại, chơi trò chơi lớn ban đêm, các bạn sinh viên còn được nghe kể về lịch sử của vùng đất Củ Chi, quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù của đồng bào nhân dân khu vực này tại nhà truyền thống của huyện Củ Chi Ngoài ra, sinh viên còn được tham quan đền Bến Dược, địa đạo Củ Chi … Hoạt động này đã tạo sự thích thú từ phía sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm nhất Những tân sinh viên mới bước vào giảng đường đại học, lần đầu tiên tham gia một chương trình lớn ở trường đại học Tất cả các hội trại được tổ chức đều có hình thức như nhau, có khác chăng là địa điểm đến và tên chương trình, tên hội trại Tuy nhiên, những hội trại như vậy đã đáp ứng được nhu cầu của sinh viên là được giao lưu với bạn bè, tăng thêm tình đoàn kết, đặc biệt nhất là việc được đến một địa điểm mới, khám phá một vùng đất mới Đó là hoạt động thường kỳ của Đoàn thanh niên – Hội sinh viên trường, hàng năm đều phải tổ chức Và luôn thu hút được sự tham gia nhiệt tình từ sinh viên

Ngoài ra, các khoa cũng có tổ chức cho sinh khoa mình đi chơi, dã ngoại Chẳng hạn như khoa Lịch Sử, vào đầu năm học, Ban chấp hành đoàn – hội sinh viên khoa lịch sử cùng ban cán sự lớp năm 1, năm 2 tổ chức cho sinh viên năm 1, năm 2 đi thăm quan các bảo tàng ở Thành phố Hồ Chí Minh Đi tham quan bảo tàng đã trở thành truyền thống của sinh viên khoa Lịch sử Trong vòng ba năm liên tiếp từ 2005 đến 2007, Ban chấp hành đoàn khoa Lịch

sử đã tổ chức được ba chuyến tham quan bảo tàng Lần một năm 2005 và lần hai năm 2006, do chưa có kinh nghiệm tổ chức, Ban chấp đoàn khoa Lich sử đã

tổ chức các chuyến tham quan đến bảo tàng Chứng tích chiến tranh, bảo tàng

Hồ Chí Minh, nhưng không có một chương trình cụ thể chi tiết, chỉ cùng sinh viên đến bảo tàng tham quan rồi về, chứ không có bất kỳ một chương trình chi tiết Trong các lần đi này, sinh viên phải tự đi xe buýt và đi bộ đến Bảo tàng Chuyến đi bảo tàng lần 3 được tổ chức vào ngày 28/10/2007, do được hỗ trợ từ khoa – 10.000 đồng/ sinh viên, và sinh viên còn đóng thêm 40.000 đồng/ sinh

Trang 38

viên nên ban chấp hành đoàn khoa lịch sử đã tính toán thuê xe cho sinh viên từ Thủ Đức lên thành phố và đến bảo tàng Đây là một chuyến du lịch ngắn ngày – du lịch trong ngày, lịch trình chi tiết cụ thể như sáng đi tham quan Dinh thống nhất, bảo tàng lịch sử Hồ Chí Minh, buổi trưa sinh viên sẽ ăn trưa tại công viên văn hoá Tao Đàn và chơi một số trò chơi nhỏ, mục đích là để sinh viên năm nhất và năm hai có cơ hội trao đổi kinh nghiệm học tập với sinh viên năm 3 và năm 4 Ngoài ra, còn tạo sự đoàn kết, gắn bó giữa các sinh viên Chương trình đi bảo tàng lần ba có khác so với hai lần trước là việc thuê xe cho sinh viên đi để chủ động phương tiện đi lại, buổi trưa không để sinh viên về nữa mà tập trung sinh viên ở công viên ăn uống, chơi trò chơi và trao đổi kinh nghiệm học tập giữa các sinh viên Đây là dịp để các sinh viên khoá trên giải đáp thắc mắc về học tập, cũng như là trao đổi một số thắc mắc của sinh viên năm 1 và năm 2 Qua chuyến du lịch này mới thấy được vai trò tổ chức của ban chấp hành đoàn khoa, cũng như là liên chi hội sinh viên của khoa Lịch sử Dù

là chuyến du lịch ngắn ngày nhưng phải sau hai lần tổ chức thì khoa lịch sử mới có kinh nghiệm trong vấn đề tổ chức Vì không phải là một tổ chức du lịch chuyên nghiệp do vậy tổ chức được chuyến đi là đã thực hiện được mục đích

đề ra nhằm nâng cao vốn hiểu biết, thu thập thêm kiến thức, tạo điều kiện cho sinh viên thân thiết, đoàn kết hơn Qua tìm hiểu của chúng tôi thì hoạt động du lịch ở khoa Lịch sử cũng phát triển hơn so với các khoa khác trong trường Hoạt động du lịch là một sân chơi dành cho sinh viên, phục vụ cho nhu cầu thích du lịch tìm hiểu về quê hương đất nước, con người Việt Nam của sinh viên bằng hình thức tham quan, dã ngoại

Hoạt động du lịch với hình thức tham quan/ dã ngoại ở khoa Địa lý cũng rất mạnh, là hoạt động rất được chú trọng ở khoa Địa lý Với mục đích tạo sự giao lưu và sự đoàn kết, thân thiết giữa các đoàn viên, hội viên, sinh viên ở các chi đoàn, lớp trong khoa, giúp đỡ các sinh viên năm nhất làm quen với nhau và trao đổi kinh nghiệm học tập với các sinh viên khoá trước, tạo tính kỷ luật cho mọi sinh viên thông qua những nội quy, những trò chơi lớn của chương trình Ban chấp hành đòan khoa Địa lý kết hợp liên chi hội sinh viên khoa địa lý đã tổ chức các chuyến du lịch cắm trại cho sinh viên tham gia với tên gọi là hội trại

Trang 39

truyền thống Đặc điểm chung của các hội trại là chi phí rẻ, phù hợp với sinh viên, thu hút sự nhiệt tình tham gia của các bạn sinh viên Đối tượng chủ yếu là sinh viên năm nhất và năm hai Các chuyến du lịch Cắm trại với ý nghĩa là hội trại tập huấn của khoa Địa lý là một ví dụ điển hình Trong hai chuyến du lịch ngắn ngày theo loại hình du lịch cắm trại được tổ chức vào tháng 10/ 2006 và tháng 11/2007, ban tổ chức đã xây dựng một chương trình chi tiết cụ thể Địa điểm cắm trại phù hợp, chọn các địa điểm gần như Củ Chi và Vườn Cò – Q9 Mỗi thành viên tham gia hội trại ở Củ Chi đóng 100.000 đồng/ sinh viên với thời gian là hai ngày một đêm, còn ở Vườn Cò – Q9 là 70.000 đồng/ sinh viên với thời gian là một ngày Đối với sinh viên đây là một chi phí hợp lí Một đặc điểm nổi bật trong hai chuyến du lịch này là sinh viên phải mua sẵn đồ ăn, mang theo xong nồi tới nơi tự nấu ăn Ngoài những hoạt động khung thì ban tổ chức đã có những cuộc thi nhằm tái hiện lại những truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam Chẳng hạn như hình thức tái hiện lại đám cưới truyền thống của người Việt Nam

Sau mỗi chuyến đi, ban tổ chức họp lại và phân tích ưu khuyết điểm, những

gì đã làm tốt và những gì chưa thực hiện được Các bạn cho rằng ưu điểm chính

là:"Công tác tổ chức, chuẩn bị rất tốt; sinh viên chơi rất nhiệt tình; đạt được

mục đích đã đề ra" Và cũng có những khuyết điểm như: "không chủ động được thời gian cho đa số sinh viên (nhiều sinh viên còn học cả ngày thứ bảy);Công tác tuyên truyền cho chuyến đi còn kém nên số lượng sinh viên tham gia chưa nhiều" Ngoài ra, phương hướng phát triển hoạt động du lịch bằng

hình thức tham quan, dã ngoại ở khoa Địa lý trong thời gian tới là vẫn được tổ chức và vận động sinh viên cả 4 khoá tham gia, địa điểm có thể xa hơn và không bó hẹp ở phạm vi thành phố, làm tốt công tác tuyên truyền… Qua việc tìm hiểu hoạt động du lịch bằng hình thức tham quan, dã ngoại ở khoa Địa lý rất phát triển và tổ chức phù hợp với sinh viên Vì những người tổ chức cũng là sinh viên nên họ hiểu được nhu cầu của sinh viên Do vậy, đã thu hút được sự tham gia nhiệt tình từ phía sinh viên trong khoa cũng như sinh viên trong từng lớp

Trang 40

Hoạt động du lịch bằng hình thức du lịch tham quan dã ngoại của các khoa khác cũng có phát triển và áp dụng thực hiện cho sinh viên Chẳng hạn như khoa Ngữ văn Pháp, Ngữ văn Nga, Triết học, Ngữ văn Trung Quốc, Ngữ văn Anh Nhìn chung, hoạt động du lịch chủ yếu theo loại hình du lịch cắm trại với mục đích tập huấn cán bộ Đoàn – Hội, hay cắm trại nhân các ngày lễ như 30/4, 22/12… Đối tượng tham gia không chỉ là những cán bộ Đoàn – Hội trong khoa mà còn mở rộng đến tất cả các sinh viên Loại hình du lịch chủ yếu

là cắm trại kết hợp với tham quan Chẳng hạn, khoa Ngữ Văn Nga tổ chức cho sinh viên đi du lịch cắm trại ở Vườn Xoài – Đồng Nai nhân ngày 22/12 với chủ

đề "Mùa xuân người cầm súng" kết hợp với việc tham quan khu du lịch Vườn

Xoài Mỗi thành viên tham gia đóng 70.000 đồng/ sinh viên cho chuyến du lịch kéo dài hai ngày một đêm này Mục đích giao lưu trao đổi kinh nghiệm giữa bí thư các chi đoàn Hay chuyến du lịch dã ngoại ở Củ Chi với thời gian một ngày, mỗi thành viên tham gia đóng 50.000 đồng/ sinh viên, kết hợp với thăm quan đền Bến Dược, địa đạo Củ Chi Khoa Ngữ Văn Pháp ít tổ chức du lịch cho sinh viên tham gia Tuy nhiên, Đoàn khoa Ngữ văn Pháp cũng tổ chức như chương trình cắm trại ở Đảo Dừa Lửa có sự kết hợp với Đoàn khoa Địa lý vào

tháng 3/ 2006, mang tên "L'amitie'sans from tie're" Mục đích tạo mối quan hệ

giao lưu giữa sinh viên hai khoa Tuy nhiên, chuyến đi không thu hút được sinh viên tham gia, do sinh viên khoa Ngữ Văn Pháp có đặc điểm là thích đi chơi theo nhóm, còn một phần sinh viên thì ham học, không muốn đi đâu, chỉ lo học Để thu hút được sinh viên tham gia phải tổ chức hấp dẫn, có địa điểm rõ ràng, thời gian hợp lí và không có quá nhiều ràng buộc

Hoạt động du lịch bằng hình thức tham quan, dã ngoại của khoa Quan

hệ Quốc tế cũng không phát triển lắm Đó là việc sinh viên đi du lịch theo nhóm, ít đi du lịch theo tổ chức Đoàn – Hội hay theo lớp/ khoa Chương trình học của sinh viên khoa Quan hệ quốc tế rất nặng, học cả tuần, không có thời gian nghỉ Vì vậy, sinh viên chỉ đi chơi những dịp nghỉ lễ hay những chuyến du lịch dã ngoại ngoại ngắn ngày và địa điểm gần Tuy nhiên, tổ chức Đoàn – Hội khoa Quan hệ quốc tế cũng có tổ chức cho sinh viên cả bốn khoá đi du lịch cắm trại kết hợp với tham quan khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi nhưng không thu

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w