1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Chuyen de Ngu van

31 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ dạy tiếng Việt bậc THCS
Tác giả Trần Thị Thanh Thu
Người hướng dẫn Giáo viên Ngữ văn
Trường học Trường THCS Thuận Lợi
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Phú
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 158,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Caâu hoûi, baøi taäp phaân tích ngöõ lieäu: Ñaây laø loaïi caâu hoûi maø giaùo vieân duøng ñeå phaân tích caùc ví duï: caâu, töø, ñoaïn vaên tröôùc khi qui naïp kieán thöùc veà moät ba[r]

Trang 1

PHỊNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG PHÚ

TRƯỜNG THCS THUẬN LỢI

-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP TRONG GIỜ DẠY TIẾNG

VIỆT BẬC THCS

-Người thực hiện: Trần Thị Thanh Thu

Giáo viên Ngữ văn - Trường THCS Thuận Lợi

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP TRONG GIỜ DẠY

Trang 2

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài:

Môn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là một môn học có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS,góp phần hình thành những con người có ý thức tự lực, biết rèn luyện để có tính tự lập, biết sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy, để giao tiếp

Tiếng Việt là một phân môn của môn Ngữ văn, là một phân môn có vị trí quantrọng trongviệc hình thành vốn kiến thức về ngôn ngữ cho học sinh, phát triểnnăng lực tư duy của học sinh Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là tiếng nói củamột dân tộc, là công cụ để giao tiếp, là công cụ tư duy Giờ dạy Tiếng Việt gópphần xây dựng và nâng cao ý thức coi trong, tình cảm quí trọng đối với ngônngữ dân tộc, giữ gìn và phát triển vốân từ Tiếng Việt, rèn luyện nói đúng, viếtđúng ngữ pháp Tiếng Việt, nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Việt trong cácphong cách chức năng Nhà trường phổ thông, nơi đào tạo thế hệ tương lai củađất nước, giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp giữ gìn và phát triển TiếngViệt, vì vậy dạy Tiếng Việt cho HS là việc rất cần thiết

Tiếng Việt dạy ở bậc THCS là Tiếng Việt (TV) thực hành Chương trình

TV đề cao quan điểm giao tiếp, coi trong thực hành, phát huy vốn TV sẵn cócủa học sinh

Trên cơ sở đó, giáo viên Ngữ văn cần vận dụng sáng tạo các thành quảcủa việc nghiên cứu TV, những phương pháp giảng dạy tiếng mẹ đẻ để có thểrèn luyện phát triển ngôn ngữ cho HS, giúp các em có thói quen nói đúng, viếtđúng tiến tới nói hay, viết hay Với yêu cầu và nhiệm vụ như vậy, rõ ràng vai

Trang 3

dạy môn TV ở trường THCS nói riêng, ở trường phổ thông nói chung sẽ tácđộng tới sự nghiệp giữ gìn và phát triển tiếng nói của dân tộc.

Nhìn lại thực trạng dạy và học TV trong trường THCS hiện nay có thể nhận thấyrằng chương trình và sách giaó khoa tuy đã được cải tiến, chương trình đã giảmtải, tăng thực hành, gắn với đời sống nhưng do đội ngũ giáo viên được đào tạokhông đồng đều, còn nhiều hạn chế về trình độ, nhiều người không dám thoát likhỏi sách giáo khoa khi đứng trên bục giảng, hệ thống câu hỏi, bài tập chưahiệu quả dẫn đến việc giảng dạy Tiếng Việt chất lượng chưa cao Rất nhiều HSkhi đã tốt nghiệp mà vẫn đọc, nghe, đặc biệt là nói và viết tiếng Việt còn quáyếu Trong thực tế, HS cũng chưa có ý thức học môn TV, coi thường học tậptiếng mẹ đẻ, hơn nữa phân môn TV đối với các em là môn học có phần khôkhan, các em ít chú tâm

Trước tình hình đó, đòi hỏi người GV dạy Ngữ văn phải đổi mới phươngpháp dạy học, phải có những cải tiến trong phương pháp dạy Tiếng Việt, nhất làcách xây dựng hêï thống câu hỏi và bài tập Trong giờ dạy Tiếng Việt, TiếngViệt vừa là công cụ, vừa là đối tượng nội dung giờ dạy Hiệu suất sử dụng TVcủa GV và HS quyết định chất lượng giờ dạy Muốn vậy GV phải có nhữngphương pháp chuyển tải kiến thức sao cho đạt hiệu quả cao Một trong nhữngphương pháp dạy Tiếng Việt là cách sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập

Với suy nghĩ như vậy, tôi xin trân trọng giới thiệu với đồng nghiệp một vài kinhnghiệm trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ dạy TiếngViệt để mọi người tham khảo và đóng góp ý kiến

2 Đối tượng nghiên cứu: Giáo viên dạy Ngữ văn THCS, học sinh học môn

Ngữ văn trường THCS Thuận Lợi

Trang 4

3 Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Tiếng Việt thuộc môn Ngữ văn THCS.

4 Thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2006-2007 đến năm học 2009-2010.

5 Mục đích nghiên cứu: Tìm ra những cách xây dựng hệ thống câu hỏi ,

bài tập trong giờ dạy Tiếng Việt thế nào cho có hiệu quả để nâng cao chấtlượng giờ dạy môn Tiếng Việt, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kĩhơn, nắm vững kiến thức về Tiếng Việt

6 Kế hoạch nghiên cứu: Điều tra thực trạng dạy và học môn Ngữ văn ở

trường THCS Thuận Lợi từ năm học 2006-2007 đến năm học 2007-2008.Nghiên cứu chương trình Ngữ văn THCS nói chung và phân môn Tiếng Việt nóiriêng Viết sáng kiến kinh nghiệm và triển khai các sáng kiến đó cho các GVtrong tổ chuyên môn Ngữ văn trường THCS Thuận Lợi Kiểm tra đánh giá kếtquả sau khi đã triển khai

7.Phương pháp nghiên cứu: Điều tra kết quả dạy phân mônTiếng Việt của

các GV, kết quả học phân môn Tiếng Việt của HS trong từng năm học, lấysố liệu về kết quả chất lượng bộ môn Ngữ văn qua từng năm Phân tích, đốichiếu kết quả trước và sau khi triển khai sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

A CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:

Trong giờ dạy Tiếng Việt, việc hình thành các khái niệm và qui tắc ngữpháp phải được tiến hành chính trong các hoạt động giao tiếp và luôn hướng tớiviệc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong hoạt động thực hànhcũng phải luôn chú trọng tới các hoạt động tạo lập, phân tích, lĩnh hội và sửachữa các sản phẩm lời nói của hoạt động học tập, phân tích, lĩnh hội và sửachữa các sản phẩm lời nói của hoạt động giao tiếp Vì thế, trong giờ dạy tiếng

Trang 5

Việt giáo viên điều khiển hoạt động học tập, tiếp nhận kiến thức về Tiếng Việtbằng một loạt các thao tác: phân tích ngữ liệu, gợi mở , phân tích, dẫn dắt, quinạp kiến thức Nghệ thuật và tài năng của GV là phải biết phân bố thời gianphù hợp cho từng phần của bài, lúc nào cần đặt cho HS câu hỏi suy nghĩ, thảoluận, lúc nào gợi mở, dẫn dắt, phân tích Tuỳ theo từng nội dung bài học mà cónhững câu hỏi, bài tập khác nhau Hệï thống câu hỏi và bài tập tốt sẽ khơi gợicho người học sự hứng thú Dạy học Tiếng Việt là dạy bằng cách đặt câu hỏichứ không phải bằng cách giải thích Hệ thống câu hỏi phải có nhiều cấp độ, cócâu hỏi gợi mở, có câu hỏi dẫn dắt

B THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG

THCS THUẬN LỢI + Thuận lợi: Trong nhiều năm gần đây, các phương pháp dạy học Tiếng Việt

đã được vận dụng tốt theo hướng tích cực Nhất là từ khi thực hiện chương trìnhthay sách giáo khoa từ năm học 2002-2003 Việc đổi mới chương trình và sáchgiáo khoa , đổi mới phương pháp giảng dạy đã khiến cho giáo viên phải đổi mớicách dạy học, đầu tư nhiều cho bài dạy Trong nhiều năm qua Ngành cũng cónhiều sự quan tâm đối với chất lượng và hiệu quả giờ dạy, cụ thể là tổ chứcchuyên đề cho GV, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, thực hiện phongtrào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, phát động phong trào viết sángkiến kinh nghiệm, tổ chức thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh Riêngtrường THCS Thuận Lợi chất lượng giảng dạy của GV hàng năm tăng lên nhờcó sự học hỏi của cá nhân, có sự quan tâm của nhà trường dã tích cực tổ chứccác chuyên đề, thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy Qua khảo sát, chấâtlượng bộ môn Ngữ văn của trường những năm gần đây có nhiều chuyển biến

Trang 6

tích cực Đa số GV năng lực chuyên môn tương đối đồng đều Chất lượng HShọc môn Ngữ văn ngày càng tiến bộ, tỉ lệ học sinh đạt trung bình trở lên bộ mônNgữ văn ngày càng tăng Năm học 2006-2007 đạt 85% trung bình trở lên, nămhọc 2007-2008 đạt 87% trung bình trở lên, năm học 2008-2009 đạt 89,6% trungbình trở lên.

+ Khó khăn: Trường mới thành lập nên cơ sở vật chất còn thiếu thốn Trường

còn thiếu phòng chức năng Phương tiện dạy học dành cho bộ môn Ngữ văn còn

ít ỏi Về phía học sinh(HS) ý thức học tập môn Ngữ văn chưa cao, nhất là phânmôn Tiếng Việt Điểm các bài kiểm tra có tỉ lệ trung bình trở lên rơi vào phầnvăn và tập làm văn, riêng phân môn Tiếng Việt kết quả điểm kiểm tra chưađược cao Qua khảo sát cho thấy tỉ lệ bài kiểm tra phần Tiếng Việt ở các khốilớp chỉ đạt 55-60% trung bình trở lên Tỉ lệ điểm điểm yếu kém còn khoảng35-40% Giáo viên hầu hết đã nắm được phương pháp giảng dạy Tiếâng Việtnhưng hiệu quả giờ dạy chưa cao do chưa linh hoạt trong việc chuyển tải kiếnthức, chưa linh hoạt trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập do đó chưaphát huy được tính tích cực ở tất cả các đối tượng HS

C MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

MỘT SỐ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP

TRONG GIỜ DẠY TIẾNG VIỆT:

I 1 Vai trò và cách đặt câu hỏi, bài tập cho mỗi loại:

1.Câu hỏi, bài tập phân tích ngữ liệu: Đây là loại câu hỏi mà giáo viên dùng để

phân tích các ví dụ: câu, từ, đoạn văn trước khi qui nạp kiến thức về một bài họctừ ngữ, ngữ pháp nào đó Loại câu hỏi này dùng sau khi GV đưa ra ngữ liệu Khiphân tích ngữ liệu, GV tuỳ vào từng đặc điểm của từng ngữ liệu mà có nhữngcâu hỏi thích hợp Để HS phân tích được ngữ liệu, GV phải chọn hệ thống câu

Trang 7

hỏi theo một định hướng cho sẵn, dẫn dắt HS tìm thấy những đặc điểm cơ bảncủa hiện tượng từ ngữ, ngữ pháp rồi đúc kết những đặc điểm đó thành địnhnghĩa chính xác.

- Các câu hỏi, bài tập trong SGK phần phân tích ngữ liệu ở bài học Tiếng Việtnào cũng có GV dạy Ngữ văn đa phần vận dụng các câu hỏi này để phân tích vídụ Thậm chí có GV chỉ sử dụng tất cả các câu hỏi trong sách GK mà không cócâu hỏi nào thêm, tức là rất trung thành với SGK Tuy nhiên, không phải tất cảcác câu hỏi đều có thể vận dụng và có một số bài còn thiếu câu hỏi dẫn dắt,phân tích Trên cơ sở bài tập SGK đã cho, GV cần có những câu hỏi khác thêmvào để dẫn dắt HS tìm hiểu cụ thể các ngữ liệu cho phù hợp

Ví dụ:

+ Lớp 6- Bài “Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ” Tuần 5 Tiết19: Trong bài có ví dụ về một bài thơ “Những cái chân” Ví dụ này đối với HSlớp 6 khó thực hiện được, với các em là khó hiểu Đó là những câu hỏi sau:-Tra từ điển để biết các nghĩa của từ “chân”

- Tìm thêm một số từ khác cũng có nghĩa như từ “chân”?

-Tìm mối liên hệ giữa các nghĩa của từ “chân” Trong bài thơ từ “chân” đượcdùng với những nghĩa nào?

Những câu hỏi HS khi chuẩn bị bài khó xác định được ý trả lời Vì thế có thểthay bằng 4 ví dụ sau:

1 Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh.(Tố Hữu)

Trang 8

2 Cỏ non xanh tận chân trời (Nguyễn Du)

3 Cái bàn có bốn chân.

4 Bạn Nam có chân trong đội tuyển học sinh giỏi văn của trường.

-Sau đó GV nêu câu hỏi cho HS phân tích ngữ liệu: Tìm hiểu và so sánh nghĩacủa các từ “ chân” trong các ví dụ trên?

Như vậy HS sẽ dễ dàng phân biệt được sự khác nhau về nghĩa của từ “chân”,kết luận được đó là từ nhiều nghĩa, hiểu được từ “chân” nào có nghĩa gốc, từ

“chân” nào có nghĩa chuyển, từ đó qui nạp được kiến thức về từ nhiều nghĩa vàhiện tượng chuyển nghĩa của từ một cách sâu sắc hơn

+Lớp 7 -Bài “ Từ đồng nghĩa” Tuần 9 Tiết 35:

- Bài tập 1(Mục I): Đọc bản dịch thơ Xa ngắm thác Núi Lư của Tương Như

Dựa vào kiến thức đã học, hãy tìm các từ đồng nghĩa với mỗi từ rọi, trông.

- Với nội dung bài tập như vậy, ta thấy HS chưa học định nghĩa “Từ đồngnghĩa” mà đã cho tìm từ đồng nghĩa thì chưa hay, chưa hợp lí nên thay bằng câu

hỏi khác: Tìm những từ có nghĩa tương tự với các từ : rọi, trông Sau khi HS tìm

xong, trên cơ sở đó GV sẽ qui nạp kiến thức về khái niệm từ đồng nghĩa, nhưvậy sẽ hay và hợp lí hơn

Ở phần bài tập 2 (Mục I) cho như sau: Từ “trông” trong bản dịch thơ “Xa ngắmthác Núi Lư” có nghĩa là: “nhìn để nhận biết” Ngoài nghĩa này ra, từ “ trông”còn có những nghĩa sau:

a Coi sóc, giữ gìn cho yên ổn

b Mong

Tìm các từ đồng nghĩa với mỗi nghĩa của từ “ trông”?

Trang 9

-Với nội dung bài tập như vậy, HS sẽ khó hiểu vấn đề và sẽ khó rút ra được kết

luận: Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc vào nhiều nhóm từ đồng nghĩa khác nhau.

(SGK) Do đo,ù GV có thể đưa ra một bài tập cụ thể hơn đó là cho ngữ liệu bằng

một câu trong văn cảnh cụ thể, sau đó cho HS tìm hiểu nghĩa của các từ “trông”trong các ví dụ, xác định được từ “trông” là từ nhiều nghĩa sau đó mới rút ra kếtluận như trong SGK đã nêu Cụ thể thay bài tập như sau: GV cho HS quan sát vídụ:

Tôi trông chị tôi về trông nhà cho tôi đi học

1 2

* Em hãy cho biết nghiã của hai từ “trông” trong ví dụ trên?

+ Trông1: Mong

+ Trông 2: Coi sóc, giữ gìn cho yên ổn

*Nghĩa của chúng có giống nghĩa của từ “trông” trong bản dịch bài “Xa ngắmthác Núi Lư” mà em vừa phân tích ở trên không? ( Không giống, từ “trông”trong bản dịch đó có nghĩa là“nhìn để nhận biết”.)

* Như vậy, qua ba từ “trông” vừa tìm hiểu, em cho biết từ “trông” có phải là từnhiều nghĩa không? (Đúng, từ “ trông” là một từ nhiều nghĩa)

* Hãy tìm những từ đồng nghĩa với ba từ “trông” trong các ví dụ em vừa phântích? (HS tìm)

+Trông(“nhìn để nhận biết”.): ngắm, nhìn, ngó, xem, nhòm…

+ Trông(mong): đợi, chờ, ngóng…)

+ Trông(coi sóc, giữ gìn cho yên ổn): giữ, bảo vệ, coi, giữ gìn …

Trang 10

* Từ đó, em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa từ nhiều nghĩa và từ đồng

nghĩa? (Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc vào nhiều nhóm từ đồng nghĩa khác

nhau.)

Khi đưa ra ví dụ cụ thể như vậy HS sẽ hiểu rõ hơn về từ đồng nghĩa, đồng thời

GV cũng ôn lại được kiến thức về từ nhiều nghĩa ở Lớp 6

Trong sgk, tất nhiên đã có sẵn hệ thống ngữ liệu được chọn lọc, đó là những vídụ rất cụ thể và sinh động, có thể nói đó là phần “xanh tươi” nhất trong sgk.Các ngữ liệu ấy được các nhà biên soạn sách lựa chọn, mang tính thẩm mĩ vàtính giáo dục cao Tuy vậy, vì những điều kiện hạn chế nhất định, sgk còn cóthể có một số ngữ liệu chưa phù hợp, có ví dụ còn khó đối với HS, trong nhữngtrường hợp ấy, GV có thể dùng các ngữ liệu khác thay thế Các câu văn, từ ngữ

GV lựa chọn có thể lồng vào đó một nội dung giáo dục rất thời sự đối với HSchứ không nhất thiết phải mang tính văn chương Trong sách GK cũng có bàiđưa ra các ngữ liệu không đủ theo nội dung khái niệm Vì thế để giúp HS hiểutường tận nội dung bài học GV cần thêm ngữ liệu vào

Ví dụ:

+Lớp 7-Bài Điệp ngữ-Tuần 14-Tiết 55: Trong SGK phần ngữ liệu chỉ có câu

hỏi, bài tập như sau: Ở khổ thơ đầu và khổ thơ cuối bài Tiếng gà trưa có những

từ ngữ nào được lặp lại?

Trong SGK chưa có ví dụ về lặp một cụm từ hay lặp lại cả câu, nếu chỉ phân tích ngữ liệu này xong đã vội vàng cho HS qui nạp kiến thức về điệp ngữ thì HSsẽ hiểu lơ mơ về điệp ngữ, có khi chỉ hiểu điệp ngữ là cách lặp đi lặp lại nhiều lần một từ Vì vậy, GV cầ bổ sung thêm hai ví dụ sau:

VD1.Mai sau

Trang 11

Mai sau

Mai sau

Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh.( Nguyễn Duy)

-Lặp lại ngữ: mai sau

Vd2:Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất?

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai?(Ca dao)

-Lặp lại cả câu: Khăn thương nhớ ai

Qua việc cho HS phân tích các ngữ liệu này, GV sẽ giúp HS dễ dàng kết luận về điệp ngữ( lặp đi lặp lại nhiều lần một từ ngữ, có khi cả câu nhằm để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh)

+Lớp 7- Bài “Thêm trạng ngữ cho câu”: Bài 21, Tuần 24 Tiết 85:

Theo định nghĩa SGK: Về ý nghĩa, trạng ngữ được thêm vào câu để xác định

thời gian, nơi chốn, mục đích, nguyên nhân, phương tiện, cách thức diễn ra sự việc nêu trong câu

Nhưng ngữ liệu đưa ra không có phần trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích,cách thức, phương tiện mà chỉ có trạng ngữ chỉ nơi chốn, thời gian Vì thế, trongphần ngữ liệu cần bổ sung các trạng ngữ này GV có cho thêm các ví dụ sau đểgiúp HS tìm hiểu về trạng ngữ:

1 Vì cố gắng, nỗ lực nhiều trong học tập nên cuối năm Lan đạt học sinh giỏi

(có chứa trạng ngữ chỉ nguyên nhân)

2 Để cha mẹ vui lòng em cố gắng học hành chăm chỉ (có chứa trạng ngữ chỉ

mục đích)

Trang 12

3 Sẽ sàng, chị ngồi xuốâng cạnh tôi (có chứa trạng ngữ chỉ cách thức)

4 Bằng chiếc xe đạp cũ kĩ, ngày ngày mẹ tôi chở rau ra chợ bán (có chứa trạng

2 Câu hỏi, bài tập tạo tình huống có vấn đề: Loại câu hỏi, bài tập này thường

vận dụng trong phần tìm hiểu ngữ liệu, qui nạp kiến thức hoặc sau khi HS đãnắm được kiến thức mới Đây là loại câu hỏi, bài tập có ba đặc trưng cơ bản:làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của HS, từ đó kích thích hành động trí tuệ, hàmchứa nhiệm vụ nhận thức, có nghĩa là thoả mãn nhu cầu tìm tòi tri thức ngữpháp mới của HS, phù hợp với khả năng nhận thức của HS

Tình huống có vấn đề thường được cụ thể bằng một câu hỏi hay bài tập có vấnđề Muốn có tình huống có vấn đề, GV cần làm xuất hiện những mâu thuẫngiữa cái đã biết và cái chưa biết trong tư duy của HS về những hiện tượng, kháiniệm, qui tắc ngữ pháp… để tạo ra động lực thúc đẩy quá trình tư duy của HS.Câu hỏi tạo tình huống có vấn đề phải ngắn gọn, sáng sủa, làm rõ mục tiêu trảlời, đảm bảo được tính độc lập, sáng tạo của HS để HS được tự mình tham giatrực tiếp vào quá trình tìm tòi, sáng tạo, đảm bảo cho HS nắm vững kiến thức, kĩnăng và làm quen với phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ

Trang 13

Trong SGK loại câu hỏi tạo tình huống còn rất ít, do đó đòi hỏi GV phải nghiêncứu thêm tài liệu, bài dạy để có những câu hỏi , bài tập tạo tình huống có vấnđề vưà hay, vừa bổ ích.Ví dụ:

+ Lớp 9- Bài Khởi ngữ- Tiết 93: Sau khi cho HS qui nạp kiến thức về khởi ngữ,

GV có thể đưa ra một bài tập tạo tình huống sau:

-Xét 2 ví dụ

a Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động

b Hôm đó, trước mặt con, anh không ghìm nổi xúc động.

* Câu hỏi: Ở ví dụ a như đã phân tích ở phần trên thì từ “anh”(1)là khởi ngữ.Vậy ở ví dụ b, thành phần đứng trước chủû ngữ “anh” có được coi là khởi ngữkhông? Vì sao?

-Với tình huống này buộc HS phải suy nghĩ xem trong ví dụ b có chứa khởi ngữkhông? Thành phần câu này đứng trước chủ ngữ “ anh” làm nhiệm vụ gì?( Đókhông phải là khởi ngữ vì nó không nêu lên cái đề tài được nói đến trong câumà chỉ là thành phần được thêm vào trong câu để xác định thời gian, địa điểmdiễn ra sự việc nêu ra trong câu Đây là trạng ngữ.)

+Lớp 7 -Bài “ Câu đặc biệt” Bài 20, Tuần 23 Tiết 82: Sau khi tìm hiểu xong khái niệm về câu đặc biệt, GV đưa ra 2 ví dụ sau tạo tình huống:

1 Một đêm mùa xuân Trên dòng sông êm ả, con đò của bác Phán từ từ trôi.

(Nguyên Hồng)

(Ví dụ này có trong sách GK phần tìm hiểu khái niệm câu đặc biệt)

2 Bạn viết bài thơ ấy vào thời điểm nào?

- Một đêm mùa xuân.

Trang 14

* Câu hỏi tạo tình huống: Trong ví dụ 1, các em đã biết câu đặc biệt là “Mộtđêm mùa xuân” Vậy câu trả lời “Một đêm mùa xuân” trong ví dụ 2 có phải làcâu đặc biệt không? Vì sao?

- Khi đưa ra câu hỏi này, HS buộc phải suy nghĩ xem trong trường hợp ví dụ 2,

câu “Một đêm mùa xuân” có phải là câu đặc biệt không HS buộc phải quan sát, xem lại khái niệm, phân tích để đi đến kết luận: Câu “Một đêm mùa xuân”

trong ví dụ 2 không phải là câu đặc biệt mà là câu rút gọn chủ ngữ, vị ngữ (Câu

rút gọn này có thể phục hồi chủ ngữ, vị ngữ, đầy đủ là : “Mình viết bài thơ ấy

vào một đêm mùa xuân”) Còn câu ĐB ở ví dụ 1 là câu không cấu tạo theo mô

hình chủ ngữ- vị ngữ, dùng để xác định về thời gian.Như vậy, GV vừa củng cốđược kiến thức mới vừa ôn tập được kiến thức về câu rút gọn cho HS

+Lớp 8- Bài “Trợ từ, thán từ” Tuần 5 Tiết 20: Sau khi HS đã qui nạp kiến thức về trợ từ, thán từ, GV đưa ra bài tập tạo tình huống sau:

1 Nó ăn những hai bát cơm.

2 Những bông hoa ấy rất đẹp

* Qua phân tích, tìm hiểu ta biết ở ví dụ 1 từ “những” là trợ từ Vậy từ “những”

trong ví dụ 2 có phải là trợ từ không? Vì sao? ( Những ở ví dụ 2 là lượng từ Vìtừ này chỉ lượng nhiều hay ít của sự vật chứ không có tác dụng nhấn mạnh)

- Sở dĩ có các câu hỏi tạo tình huống này là để HS phân biệt trợ từ với lượng từ( những); hoặc phân biệt trợ từ với động từ( đến)v…v

VD: - Tôi đến trường.( Đến: Động từ)

- Tôi xem bộ phim ấy đến năm lần rồi (Đến: Trợ từ)

+Lớp 9- Bài “Tổng kết ngữ pháp”Tuần 31 Tiết 153: Sau khi ôn tập xong các kiến thức về số từ, lượng từ, danh từ, GV đưa ra bài tập:

Trang 15

Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya

Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng (Nguyễn Du)

* Có ý kiến cho rằng từ “nửa” là lượng từ? Em có đồng ý với ý kiến trên

không? Vì sao?( Từ “nửa” là danh từ chỉ đơn vị, thường đứng sau số từ (“một nửa, hai nửa”ø), nó không phải là lượng từ)

3 Câu hỏi, bài tập so sánh, đối chiếu với các hiện tượng từ ngữ, ngữ pháp khác: Loại câu hỏi , bài tập này sử dụng trong quá trình hình thành xong kiến

thức cho HS Để giúp HS nắm vững hơn đơn vị kiến thức vừa học, GV cần đưa

ra những câu hỏi so sánh, đối chiếu với các kiến thức đã học có liên quan, tìm rađiểm giống nhau và khác nhau giữa chúng Trong SGK tuy cũng có bài có loạicâu hỏi này nhưng rất ít Vì thế GV nên có sự sáng tạo, đưa ra các câu hỏi vàbài tập thêm để giúp HS củng cố kiến thức, giúp các em nhớ lâu hơn.Ví dụ: + Lớp 6- Bài “Câu trần thuật đơn không có từ “là” Tuần 30 Tiết 118,

Câu hỏi so sánh, đối chiếu: Tìm điểm khác nhau giữa Câu trần thuật đơn không có từ “là” và Câu trần thuật đơn có từ “là”?

+ Lớp 6 - bài “Số từ, lượng từ” Tuần 13 Tiết 50: Sau khi học xong khái niệm vềsố từ, lượng từ, GV đưa thêm câu hỏi: Giữa số từ và lượng từ có điểm nào giốngvà khác nhau?

+Lớp 6 Bài “ Hoán dụ”, Tuần 28 tiết 101:

Sau khi cho HS phân tích ngữ liệu và qui nạp kiến thức về Hoán dụ, GV đưa

thêm câu hỏi so sánh, đối chiếu: Em so sánh xem giữõa ẩn dụ và hoán dụ có

điểm gì giống và khác nhau?

+Lớp 7 bài Đại từ- Tuần 4 Tiết 15: Sau khi tìm hiểu xong định nghĩa về đại từ,

GV đưa thêm câu hỏi so sánh:

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Sách “Thiết kế bài giảng Ngữ văn” 6,7,8,9, Nguyễn Văn Đường- Nhà xuất bản Hà Nội-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn
Nhà XB: Nhà xuấtbản Hà Nội-2005
3. Sách “Ngữ pháp Tiếng Việt” Đỗõ Thị Kim Liên-NXBGD, Hà Nội - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: NXBGD
5. Sách “ Những vấn đề dạy và học Tiếng Việt”- Nguyễn Đức Tồn-NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội -2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề dạy và học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB ĐạiHọc Quốc Gia Hà Nội -2001
7. Sách “Ngữ pháp Tiếng Việt” –Nguyễn Kim Thản- NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: NXBGD
1.Sách giáo khoa, Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, NXBGD, Hà Nội-2002 Khác
4. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 6- 1998, số 8- 1999, Bộ giáo dục đào tạo Khác
6. Tài liệu đổi mới phương pháp dạy văn ở trường THCS, Hà Nội tháng 12 năm 1999, Bộ Giáo Dục Khác
8. Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt - Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nhà XBGD - 1997 Khác
9. Phương pháp dạy học Tiếng Việt bậc trung học cơ sở- Bùi Tất Tươm- NXBGD-2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w